Tuy nhiên, mới chỉ tìm thấy một nghiên cứu trong nước được công bố về thành phần hóa học của lá loài Heliciopsis lobata Merr.. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các anh chị kỹ thuật viên cùng bạn bè và gia đình
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Văn Ơn, người thầy đã tận tình hướng dẫn, hết lòng chỉ bảo, tạo điều kiện học tập, nghiên cứu tốt nhất cũng như động viên khích lệ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Thực vật - Trường Đại học Dược
Hà Nội: TS Hoàng Quỳnh Hoa, ThS Nghiêm Đức Trọng đặc biệt là DS Phạm Thị Linh Giang và DS Lê Thiên Kim cùng các chị kỹ thuật viên Chu Thị Thoa, Đỗ Thu Hiền, Phạm Mỹ Hạnh đã quan tâm giúp đỡ, dìu dắt và chỉ bảo cho em nhiều kinh nghiệm quý báu trong thời gian em làm thực nghiệm tại Bộ môn Em cảm ơn anh Hoàng Đức Luân, anh Hoàng Văn Hiến, anh Long Đức Lâm đã giúp em rất nhiệt tình trong quá trình thu mẫu nghiên cứu và điều tra tri thức sử dụng tại Bắc Kạn
Tiếp theo, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn K67 và các em K68, K69, K70 nghiên cứu khoa học tại Bộ môn Thực vật đã luôn đồng hành và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Cuối cùng là lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi muốn gửi tới gia đình, bạn bè những người luôn ủng hộ và động viên tôi trong học tập và cuộc sống
Thưa thầy cô, các anh chị và các bạn, mặc dù đã cố gắng nhưng báo cáo khóa luận của em chắc hẳn còn nhiều thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được ý kiến phê bình, nhận xét của thầy cô, các anh chị và các bạn để em có thể hoàn thiện hơn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Hoàng Thị Quyên
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÝ HIỆU
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về họ Quắn hoa (Proteaceae) và chi Heliciopsis Sleumer 2
1.1.1 Họ Quắn hoa (Proteaceae) 2
1.1.2 Chi Heliciopsis Sleumer .4
1.2 Tổng quan chi Heliciopsis ở Việt Nam 4
1.2.1 Đặc điểm sinh thái và phân bố 4
1.2.2 Đặc điểm hình thái 5
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Bàn tay ma 6
1.2.4 Những ứng dụng của cây Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 10
1.3 Đặc điểm tự nhiên - xã hội của địa bàn nghiên cứu 11
1.3.1 Tỉnh Bắc Kạn 11
1.3.2 Người Tày 13
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng, nguyên liệu và thiết bị nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng, nguyên liệu nghiên cứu 15
2.1.2 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất 16
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.2.1 Nghiên cứu về thực vật: 17
2.2.2 Nghiên cứu về hóa học: 17
2.2.3 Điều tra tri thức sử dụng: 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm thực vật 17
2.3.2 Nghiên cứu thành phần hóa học 18
2.3.3 Điều tra tri thức sử dụng cây Bàn tay ma 20
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ, BÀN LUẬN 21
3.1 Đặc điểm thực vật của cây Bàn tay ma 21
3.1.1 Đặc điểm hình thái 21
3.1.2 Tên khoa học của cây Bàn tay ma 23
3.1.3 Đặc điểm vi phẫu của cây Bàn tay ma 23
Trang 53.1.4 Đặc điểm bột dược liệu của cây Bàn tay ma 31
3.2 Thành phần hóa học cây Bàn tay ma 37
3.2.1 Định tính các nhóm chất hữu cơ bằng các phản ứng hóa học 37
3.2.2 Định tính bằng sắc ký lớp mỏng 40
3.3 Tri thức sử dụng cây Bàn tay ma 44
3.3.1 Tỷ lệ nhận biết, tên gọi và thông tin phân biệt các loài 44
3.3.2 Công dụng của cây Bàn tay ma 46
3.3.3 Bộ phận dùng, cách chế biến và sử dụng 47
3.3.4 Mức độ đã sử dụng cây thuốc 48
3.3.5 Thông tin khác 48
3.4 BÀN LUẬN 48
3.4.1 Về thực vật 48
3.4.2 Về hoá học 51
3.4.3 Về tri thức sử dụng 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
KẾT LUẬN 54
Về đặc điểm thực vật: 54
Về thành phần hóa học 54
Về điều tra tri thức sử dụng 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
trong lá loài H lobata
7
tay ma
38
sau khi triển khai
41
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Các đặc điểm hình thái cây Bàn tay ma đỏ 22
Hình 3.2 Các đặc điểm hình thái cây Bàn tay ma trắng 23
Hình 3.3 Vi phẫu rễ loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 24
Hình 3.4 Vi phẫu rễ loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 25
Hình 3.5.Vi phẫu thân loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 26
Hình 3.6 Vi phẫu thân loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 27
Hình 3.7.Vi phẫu gân lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 28
Hình 3.8.Vi phẫu phiến lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 29
Hình 3.9.Vi phẫu gân lá loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 30
Hình 3.10.Vi phẫu phiến lá loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 31
Hình 3.11 Đặc điểm bột rễ loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 32
Hình 3.12 Đặc điểm bột rễ loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 33
Hình 3.13 Đặc điểm bột thân loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 34
Hình 3.14 Đặc điểm bột thân loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 35
Hình 3.15 Đặc điểm bột lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer 36
Hình 3.16 Đặc điểm bột lá loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer 37
Hình 3.17 Ảnh chụp sắc ký đồ dịch chiết MeOH của các mẫu Bàn tay ma với hệ dung môi n-Hexan - Ethylacetat - Acid acetic (10:9:1) 40
Hình 3.18 Biểu đồ tỷ lệ nhận biết “đúng” cây của các khu vực điều tra 44
Hình 3.19 Biểu đồ tỷ lệ nhận biết số loài Bàn tay ma 45
Hình 3.20 Biểu đồ tỷ lệ người dân biết phân biệt hai loài Bàn tay ma 45
Hình 3.21 Biểu đồ tỷ lệ các câu trả lời về bộ phận dùng cây Bàn tay ma 47
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có nguồn dược liệu dồi dào với khoảng 5700 loài cây thuốc đã được xác định [16] Tuy nhiên, phần lớn các cây thuốc này vẫn được sử dụng theo kinh nghiệm truyền thống mà chưa được nghiên cứu đầy đủ Trong dân gian, đặc biệt là ở các cộng đồng dân tộc thiểu số còn lưu truyền rất nhiều cây thuốc, bài thuốc quý Đây là nguồn tài nguyên quý giá cần được duy trì, bảo tồn và phát triển Bàn tay ma là một vị thuốc dân gian được sử dụng phổ biến tại tỉnh Bắc Kạn Theo các tài tiệu về thực vật ở Việt Nam, cây thuốc này có tên khoa học là
Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer, họ Quắn hoa (Proteaceae) [4], [8], [12] Đây là
vị thuốc có giá trị sử dụng cao, thường dùng để chữa các bệnh lý về gan, thận, lao hạch,… [4], [8] Đặc biệt, Bàn tay ma là vị thuốc chính có mặt trong hầu hết các các đơn thuốc chữa bệnh về gan của các lương y nổi tiếng của tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn [9]
Hiện nay, trên thị trường, có nhiều loại dược liệu có nguồn gốc khác nhau đang được dùng làm thuốc với tên gọi Bàn tay ma (có thể phân biệt bằng cảm quan) Tuy nhiên, mới chỉ tìm thấy một nghiên cứu trong nước được công bố về
thành phần hóa học của lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer Các kiến thức về
đặc điểm thực vật, thành phần hóa học cũng như tri thức sử dụng về dược liệu này còn rất hạn chế
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật,
thành phần hóa học và điều tra tri thức sử dụng của cây Bàn tay ma tại Bắc Kạn” được thực hiện với các mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm thực vật, xác định tên khoa học và mô tả đặc điểm vi học của các mẫu cây Bàn tay ma được thu hái tại Bắc Kạn
2 Nghiên cứu thành phần hóa học của các bộ phận rễ, thân, lá của các mẫu cây Bàn tay ma thu hái tại Bắc Kạn
3 Điều tra tri thức sử dụng của các mẫu cây Bàn tay ma thu hái tại Bắc Kạn
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về họ Quắn hoa (Proteaceae) và chi Heliciopsis Sleumer
1.1.1 Họ Quắn hoa (Proteaceae)
Họ Quắn hoa (Proteaceae) hay còn gọi là họ Chẹo thui, họ Cơm vàng hay họ
Đũng,…[3] là một họ tương đối lớn, với khoảng 80 chi và 1.700 loài [36], [47] Tên
Proteaceae bắt nguồn từ tên thần Proteus của Hy Lạp, một vị thần có thể thay đổi
nhiều dạng, nó phản ánh sự đa dạng về mặt hình thái của họ thực vật này [36] Họ
Proteaceae hiện tại được chia ra thành 7 phân họ, bao gồm: Bellendenoideae, Caranarvonioideae, Eidotheoideae, Grevilleoideae, Persoonioideae, Proteoideae
và Sphalmioideae [25] Proteaceae là họ chủ yếu ở Nam bán cầu, ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, đôi khi là ôn đới của tất cả các châu với các trung tâm đa dạng chính ở Australia và Nam Phi, nó cũng phân bố ở miền trung châu Phi, Nam và Trung Mỹ, Ấn Độ, miền Đông và Đông Nam châu Á, các đảo của châu Đại Dương
[25], [36] Ở Việt Nam có 3 chi: Grevillea, Helicia, Heliciopsis với khoảng 15 loài
[3], [40]
Proteaceae nói chung là các cây thân gỗ hay cây bụi, ngoại trừ một số loài
thuộc chi Stirlingia là cây thân thảo Lá mọc so le, hiếm khi mọc đối hoặc vòng, lá
đơn hoặc kép Lá thường xanh, đa dạng về kích thước, hình dáng và đặc điểm mép
lá Không có lá kèm Cụm hoa mọc ở nách lá, cành, thân hoặc ngọn, thường không phân nhánh, hiếm khi phân nhánh Hoa nở theo chiều ngang thành từng cặp hoặc đôi khi đơn lẻ, cụm hoa chùm, đôi khi là bông hoặc tụ lại thành đầu Lá bắc của cặp hoa thường nhỏ, đôi khi cùng lớn lên với hoa và hóa gỗ Lá bắc của hoa thường nhỏ hoặc không có Hoa lưỡng tính hoặc hiếm khi đơn tính khác gốc, đối xứng tỏa tròn hoặc đối xứng 2 bên Hoa mẫu 3, 4 hoặc 5, bao hoa thường có dạng ống khi đang ra nụ, cánh hoa ngắn Nhị 4, đối diện bao hoa Chỉ nhị thường được gắn liền với bao hoa và không tách biệt Bao phấn thường 2 ô, mở theo chiều dọc Bầu trên, 1 ô, không hoặc có cuống Noãn 1 hoặc 2 (hoặc nhiều hơn), đính noãn treo hoặc đính noãn mép Quả đại, đóng hoặc hạch Hạt 1 hoặc 2 (hoặc vài đến
Trang 11nhiều), đôi khi có cánh Hạt không có nội nhũ hoặc chỉ để lại vết Phôi thường thẳng, lá mầm dày hay mỏng, giàu chất béo Rễ mầm ngắn ở dưới [25], [36]
Để thích nghi với các loại đất nghèo, rất nhiều loài trong họ này có hình thức
rễ phát triển theo mùa theo mùa đặc biệt được gọi là “rễ proteoid” Đây là những rễ ngắn, dày đặc, được sinh ra theo chiều ngang trên rễ bình thường và được gắn rất nhiều lông hút Chúng chủ yếu được hình thành trong mùa tăng trưởng và lụi dần vào cuối mùa rồi được thay thế lại vào năm sau Hoạt động của rễ proteoid cũng
tương tự như việc cộng sinh với nấm Mycorrhiza ở các họ khác, tạo ra một bề mặt
hấp thụ rất nhiều cho các chất dinh dưỡng và nước khan hiếm [36]
Cho đến nay, chưa có nghiên cứu tổng quan về các thành phần hóa học có trong họ thực vật rộng lớn này Tuy nhiên, có nhiều loài trong họ Proteaceae được nghiên cứu thành phần hóa học, đã phân lập và nhận dạng được một số chất, thuộc các nhóm chất khác nhau phổ biến là alcaloid [18], [42], [48], acid béo [46], glycosid, flavonoid [29], phenolic [44], cyanic [21] và steroid [14]… [11], [19], [36]
Họ Quắn hoa là một trong những họ thực vật có hoa nổi bật nhất ở Nam bán cầu Nhờ vẻ đẹp, sự độc đáo và tuổi thọ tương đối dài, những cây hoa họ Proteaceae
đã trở thành một loại cây trồng được ưa chuộng cho thị trường xuất khẩu Trồng
Proteaceae là một ngành công nghiệp phát triển mạnh, tạo ra công ăn việc làm ở các
đất nước mà những cây hoa này được trồng, thường là ở những vùng không sản
xuất nông nghiệp [23] Các loài có tầm quan trọng trong nghề trồng hoa là Banksia L.f., Leucadendron R.Br., Leucospermum R.Br và Protea L Các loài thuộc chi Aulax Berg., Grevillea R.Br ex Knight, Isopogon R.Br ex Knight, Mimetes Salisb, Paranomus Salisb, Serruria Salisb and Telopea R.Br được sử dụng ở mức độ thấp hơn [26] Ngoài việc công dụng làm cây cảnh, các loài Grevillea, Hakea Schrad & J.C.Wendl và Macadamia F.Muell được còn trồng để sản xuất thực phẩm, làm hàng
rào hoặc chắn gió [35]
Trang 12Có nhiều loài cây thuộc họ Proteaceae được sử dụng trong Y học dân gian của nhiều dân tộc ở các nước Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Châu Á và Đông Nam Á Nhiều nền văn hóa bản địa đã sử dụng các loài Proteaceae như là thực phẩm bổ sung, thuốc để chữa bệnh cho động vật, nó cũng là một nguồn thuốc nhuộm, củi và làm gỗ để xây dựng Các loại thuốc cổ truyền thu được từ rễ, vỏ cây, lá hoặc hoa của nhiều loài được sử dụng ngoài da hoặc dùng đường uống như thuốc bổ, thuốc kích thích, thuốc điều trị nhức đầu, ho, kiết lỵ, tiêu chảy, đầy bụng, loét dạ dày và
các bệnh về thận Tại Chile và New Zealand, loài Gevuina avellana được trồng để
lấy hạt, hạt này ăn được và được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm để dưỡng
da do các tính chất giữ ẩm của nó và nó cũng là một thành phần của kem chống nắng [14]
1.1.2 Chi Heliciopsis Sleumer
Cây gỗ, đơn tính khác gốc Lá đơn, mọc so le, nguyên hoặc chia thùy hoặc
lá kép lông chim Cụm hoa bông hoặc chùm, rất hiếm chia nhánh, hoa hay mọc thành từng cặp Lá bắc của cặp hoa thẳng, hình dùi hoặc hình mác, không rụng Lá bắc của hoa thường rụng sớm Bao hoa thẳng, mỏng Cánh hoa hình chùy đến elip, cuốn ngoài lúc đang còn nụ Nhị hoa gần như không có chỉ nhị, dính vào cánh hoa Bao phấn hình thuôn; hơi nhọn Nhị lép có trong hoa cái Hạt phấn nhỏ 3 thùy, có màng ngoài như lưới Tuyến mật 4, rời nhau Bầu nhụy có 2 noãn Núm nhụy chủ yếu là hình chùy Bầu lép có trong hoa đực Quả hạch, vỏ quả ngoài trơn, mỏng; vỏ quả giữa xốp, hoặc có nhiều sợi mềm xuyên tâm, đôi khi tiêu giảm khi chín; vỏ quả trong cứng, hóa gỗ, hiếm khi mỏng, mặt ngoài có lỗ lưới Hạt 1
và hình cầu hoặc hạt 2 và bán cầu, vỏ hột mỏng, lá mầm béo
Chi Heliciopsis có khoảng 10 loài, phân bố ở Đông Nam Á, Đông Hymalaya
Trung quốc có 3 loài, trong đó có 2 loài đặc hữu [25]
1.2 Tổng quan chi Heliciopsis ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm sinh thái và phân bố
Trang 13Ở Việt Nam, có 2 loài của Heliciopsis đã được mô tả trong các tài liệu thực vật là Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer và Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
[4], [8], [12]
Trong nhiều tài liệu về thực vật ở Việt Nam hiện nay, cây Bàn tay ma được
giới thiệu là loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer Cây còn có tên gọi khác là cây
Mừ phi (nghĩa là Bàn tay ma), Hang quang (nghĩa là Đuôi nai), Đìa chụn, Đũng,…[4], [8], [12], [25]
Sở dĩ có tên gọi là “Bàn tay ma” vì theo truyền thuyết của người Tày (Cao Bằng, Bắc Kạn), cây mọc ở các rừng thiêng, nơi an táng người chết, lá cây xẻ thuỳ như những bàn tay khổng lồ, canh giữ nơi an nghỉ của những người đã khuất [4]
Ở Việt Nam, loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer phân bố rải rác ở các
tỉnh miền núi phía Bắc, trong rừng núi đất ở Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh Cây mọc nhanh trong các rừng cây lá rộng thường xanh thứ sinh sau khai thác gỗ, trên đất feralit đỏ vàng có nhiều mùn và tầng đất thịt sâu Độ cao phân bố thường chỉ vài trăm mét song không vượt quá 800m Cây mọc từ hạt, sau
8-10 năm mới có hoa quả nhiều, tái sinh tự nhiên tốt từ hạt Loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer phân bố rộng hơn, cả ở miền Nam và miền Bắc Việt
Nam Trên thế giới cây được phân bố nhiều ở vùng núi tỉnhVân Nam (Trung Quốc) [4], [8], [12], [25]
1.2.2 Đặc điểm hình thái
1.2.2.1 Đặc điểm hình thái loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
Cây gỗ nhỡ, cao tới 7-8 m hay hơn Cành nhỏ và cuống lá non màu gỉ sắt, thường có lông nhung Lá mọc so le; cuống lá dài 0,5-5 cm; gồm 3 dạng: dạng xẻ sâu lông chim hình bầu dục (2-8 thuỳ), dạng xẻ sâu 3 thuỳ hình trứng, thuỳ hình tròn dài và dạng nguyên không xẻ thuỳ Lá đơn hình thuôn, dài từ 10 - 25cm, rộng
từ 5 - 7 cm, lá kép dài 20-60, rộng 20-40 cm, chia thùy 2-8 cặp, khoảng giữa các thùy hơi tròn
Trang 14Cụm hoa chùm, có nhiều lông Hoa đơn tính khác gốc, màu vàng, gần như không cuống Lá bắc của cặp hoa hình mác, khoảng 1 mm Cụm hoa đực dài 7-12
cm Cụm hoa cái dài 2-5 cm Bao hoa có màu vàng, nhiều lông Hoa đực có cuống nhỏ 1-2 mm hoặc gần như không có, bao hoa 0,8-1,2 cm; bao phấn 2 mm Không có tuyến dưới bầu; nhụy không có lông Hoa cái có cuống dài 3mm; bao hoa 1 cm, nhiều lông; nhị lép khoảng 1,5 mm Bầu nhụy hình trứng; vòi nhụy 8 mm, đỉnh hình chùy; núm nhụy hướng bên
Quả hình trứng hay hình bầu dục, dẹt, nhẵn, không có lông, dài 7-8 cm, vỏ quả ngoài dai, dày 2-3 mm, vỏ quả trong cứng, dày 3-4 mm Khi chín có màu nâu đen Hạt đơn độc, hình bầu dục Ra hoa tháng Sáu [4], [18], [12], [25]
1.2.2.2 Đặc điểm hình thái loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
Cây gỗ nhỡ, cao tới 5-8 m hay hơn Cành nhỏ và cuống lá non màu đỏ sẫm, lông tiêu giảm Lá có 2 dạng, lá đơn hay kép lông chim 2, 3 lần Cuống lá dài 1,5-2
cm đối với lá đơn, 2-8 cm đối với lá kép Phiến lá cứng, nhẵn, lông tiêu giảm, lá đơn hình mác ngược đến hình thuôn, dài từ 12 - 35cm, rộng từ 4 - 10 cm, lá kép dài 25-
60, rộng 15-50 cm, chia thùy 1-7 cặp, khoảng giữa các thùy hơi tròn Mép lá nguyên hay có gợn sóng, mũi lá hơi nhọn, đôi khi rất nhọn Gân cấp một và cấp 2 nổi rõ trên
cả hai bề mặt lá
Cụm hoa bông hoặc chùm, hiếm khi có nhánh, mọc ở cuối cành ngắn, nhiều lông Hoa đơn tính khác gốc, màu trắng hoặc vàng, gần như không cuống Cụm hoa đực dài 10-20 cm Cụm hoa cái dài 15-22 cm Hoa đực gồm 4 nhị và 1 noãn lép: cuống 5-7 mm; bao hoa dài 1,1-1,4 cm; bao phấn 2,5 mm; chỉ nhị ngắn; đỉnh hình chùy Hoa cái: cuống dài 8-10 mm; bao hoa 1,2 cm; nhị lép 1,5 mm, bầu nhụy hình trứng; vòi nhụy 1 cm, núm nhụy hướng bên
Quả màu nâu, hình elip, dài 3-4 cm, vỏ quả ngoài dai, dày 0,5 mm, vỏ quả giữa mềm dày 1,5 mm, gần như xẹp lại khi khô vỏ quả trong cứng, dày 0,5 mm Khi chín có màu nâu đen Hạt đơn độc, hình bầu dục Ra hoa tháng Sáu [12], [25]
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Bàn tay ma
Trang 15Hiện nay, ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới mới chỉ có các nghiên cứu về
thành phần hóa học của lá loài H lobata Từ lá loài này, 41 hợp chất đã đƣợc phân
lập và xác định cấu trúc bao gồm Arbutin và 12 dẫn xuất của nó, 8 hợp chất sterol, 8 hợp chất phenolic, 3 hợp chất flavonoid, 3 hợp chất hydrocarbon, 2 hợp chất inisitol, 1 họp chất triterpenoid, 1 ester và 1 hợp chất cinnamic (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Thành phần hóa học đã phân lập và xác định cấu trúc trong lá loài
Trang 17Trong các chất trên thì đáng chú ý nhất là Arbutin và các dẫn xuất của nó Các chất này có bản chất là các glycosid của hydroquinon Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu chứng minh các hoạt tính sinh học của các hợp chất này, trong đó 2 hoạt tính được ứng dụng rộng rãi nhất là hoạt tính kháng khuẩn (đạt hiệu quả điều trị trong điều trị các nhiễm trùng đường niệu) và hoạt tính ức chế tổng hợp hắc tố da melanin (ứng dụng trong các mỹ phẩm làm trắng da) Bên cạnh đó các chất này còn được chứng minh có hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm và chống ung thư Sự an toàn và ít tác dụng không mong muốn trong việc sử dụng arbutin và các dẫn chất của nó so với hydroquinon làm cho chúng trở thành một chất thay thế có giá trị cho hydroquinone Do đó, hiện nay, sự quan tâm đối với arbutin và dẫn xuất của nó ngày càng tăng đặc biệt trong ngành công nghiệp mỹ phẩm [22], [39]
Phenolic, flavonoid cũng là các hợp chất đáng chú ý Các phenolic nói chung
gốc này sinh ra trong tế bào bởi nhiều nguyên nhân và khi sinh ra cạnh DNA thì sẽ gây ra những ảnh hưởng nguy hại như gây biến dị, huỷ hoại tế bào, gây ung thư, tăng nhanh sự lão hoá Đồng thời chúng cũng tạo được phức với các ion kim loại
mà chính các ion kim loại này là xúc tác của nhiều phản ứng oxy hoá do đó phenolic và flavonoid là các hợp chất có khả năng chống oxy hoá cao Không chỉ vậy, flavonoid còn được chứng minh làm giảm tổn thương gan, bảo vệ chức năng
lượng glycogen trong gan tăng Sự tích luỹ glycogen có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chức năng giải độc gan Việc sử dụng một số dược liệu chứa flavonoid như Actiso, Bụp giấm,…trong điều trị viêm gan, xơ gan, bảo vệ tế bào gan rất hiệu quả [17]
Trong các thành phần hoá học của lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
thì các hợp chất sterol cũng chiếm hàm lượng tương đối cao Sterol có cấu tạo tượng tự cholesterol và có tác dụng làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần cũng như cholesterol LDL trong máu, giảm tỷ lệ tử vong trên các bệnh tim mạch [38] Trong đó, β-sitosterol là một sterol đã được chứng minh tác dụng hạ cholesterol
Trang 18máu trong nhiều thử nghiệm [24], [45] Daucosterol được xem là một chất có hoạt tính kháng khuẩn, kháng viêm, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, và cũng là một chất có nhiều trong các chế phẩm dùng để phòng các bệnh tim mạch và huyết
áp [27], [49]
1.2.4 Những ứng dụng của cây Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
Cây Bàn tay ma có nhiều tác dụng trong việc điều trị bệnh Theo kinh nghệm của dân gian, vị thuốc có vị nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, chống viêm, dùng trong các trường hợp viêm gan siêu vi trùng, vàng da, mắt vàng, đái ít, nước tiểu sẫm màu, ăn kém,…hoặc dùng trong trường hợp viêm thận, phù mặt, nước tiểu đỏ,… Ðồng bào người Dao dùng toàn thân Bàn tay ma với liều 60-90g, cắt nhỏ phơi khô sắc uống để chữa bệnh thấp khớp, nấu nước tắm cho phụ
nữ sau khi sinh đẻ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ và chống đau nhức Cây cũng được dùng để chữa lao hạch [4], [8]
Bàn tay ma là vị thuốc chính có mặt trong hầu hết các các đơn thuốc chữa bệnh về gan của các lương y nổi tiếng của tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn [9]
Dưới đây là một số bài thuốc dân gian, trong đó Bàn tay ma được xếp là đầu
Cách sử dụng: Sắc uống, ngày một thang, 10 -15 ngày một liệu trình
Bài thuốc chữa bệnh xơ gan cổ trướng (Đặc biệt là xơ gan do rượu, bụng
to, mắt vàng nhẹ, không ăn được, đái ít, chức năng thận suy giảm)
Trang 19- Rễ chua me : 10 gam - Bồng bồng rường : 10 gam
Bài thuốc chữa viêm gan virus
thay nước hàng ngày
hàng ngày
Bài thuốc chữa bệnh Gout:
Lấy 200 gam bàn tay ma sắc nước uống thay nước hàng ngày Uống 1 đến 2 tháng liền Có thể thêm vào đó tầm gửi cây Sau sau thì hiệu quả càng cao
1.3 Đặc điểm tự nhiên - xã hội của địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Tỉnh Bắc Kạn
1.3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện khí hậu: Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc Bộ Tỉnh nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông Nam Á, gần chí tuyến bắc hơn xích đạo Ở vị trí này, Bắc Kạn
có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt về nhiệt độ, lượng mưa, độ dài ngày và đêm Lãnh thổ Bắc Kạn nằm giữa hai hệ thống núi cánh cung miền Đông Bắc nên chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, thời tiết lạnh về mùa đông, hạn chế ảnh hưởng mưa bão về mùa hạ
Đặc điểm địa hình: Địa hình Bắc Kạn bị chi phối bởi những dãy núi cánh cung nổi về phía Đông, bao gồm những “nếp nổi” và “nếp lõm” xen kẽ nhau Địa hình tỉnh Bắc Kạn là địa hình núi cao, cao hơn các tỉnh xung quanh và bị chi phối bởi các mạch núi cánh cung (Ngân Sơn, Sông Gâm) kéo dài từ Bắc đến Nam ở hai phía Tây và Đông của tỉnh Xen giữa hai cánh cung là nếp lõm thuộc hệ thống thung lũng các con sông Mạng lưới sông ngòi Bắc Kạn tương đối phong phú nhưng
đa số là các nhánh thượng nguồn với đặc điểm chung là ngắn, dốc, thủy chế thất thường Sông ngòi có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân
Trang 20địa phương Ngoài hệ thống sông ngòi, Bắc Kạn còn nổi tiếng với hồ Ba Bể Đây là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất nước ta
Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là 485.941 ha, trong đó: Đất nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) là 413.044 ha, chiếm 85%; đất phi nông nghiệp là 21.159 ha, chiếm 4,35%; đất chưa sử dụng là 51.738 ha, chiếm 10,65% Đất đai tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao, thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và phục hồi rừng Nguồn tài nguyên lâm nghiệp: Diện tích rừng tự nhiên của Bắc Kạn vào loại lớn nhất trong các tỉnh vùng Đông Bắc Tài nguyên rừng của tỉnh khá đa dạng, phong phú Ngoài khả năng cung cấp gỗ, tre, nứa còn nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm, có giá trị và được coi là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc Hệ động vật của tỉnh Bắc Kạn có giá trị tự bảo tồn nguồn gen cao với nhiều loại đặc hữu và quý hiếm Còn về thực vật, qua điều tra cho thấy tỉnh Bắc Kạn có 280 loài thực vật, trong đó có 300 loài gỗ, 300 loài cây thuốc, 52 loài đã đưa vào sách đỏ Việt Nam Rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có nguồn dược liệu
tự nhiên rất phong phú và đa dạng với khoảng hơn 1000 loài, có nhiều loài có giá trị kinh tế, y tế như: Thổ phục linh, Kê huyết đằng, Cát sâm, Bình vôi, Ba kích, Hà thủ
ô, Sa nhân,…[51]
1.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thành phố (thành phố Bắc Kạn) và 7 huyện (Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pác Nặm) với 122 xã, phường, thị trấn
Dân số Bắc Kạn hiện có trên 308.300 người, gồm 7 dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay; trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80% Mật
độ dân số trung bình 63,45 người/km2
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn 2011-2013 ước đạt 12,3% Tổng giá trị gia tăng (theo giá hiện hành) năm 2013 ước đạt 6.276 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 ước đạt 20,4 triệu đồng, tăng 8,5 triệu đồng so với năm 2010 Tỷ lệ hộ nghèo ước tính còn 15,39% năm 2013
Trang 21Về văn hóa-xã hội: Hệ thống giáo dục và y tế của tình đang dần hoàn thiện, các hoạt động văn hóa, thể dục - thể thao ngày càng phát triển, góp phần nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trên địa bàn [51]
ăn quả …Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình vẫn được chú
ý Nổi tiếng nhất là nghề thổ cẩm với nhiều hoa văn đẹp và độc đáo
Về ẩm thực, trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo,… Đặc biệt có loại bánh bột hấp nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã
Về trang phục, bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bong tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không có thêu thùa, trang trí.Phụ nữa mặc váy hoặc quần, có
áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao búi tóc, quấn khăn thành chóp ngọn, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình)
Trang 22Về nơi ở, người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hang trăm nóc nhà Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6, 7 hàng cột Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá
cọ Xuung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếc nứa [1]
Trang 23CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nguyên liệu và thiết bị nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng, nguyên liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: về đặc điểm thực vật và thành phần hóa học là mẫu
cây Bàn tay ma (rễ, thân, lá) được thu hái tại Bắc Kạn:
11 năm 2016, và xã Lục Bình ( huyện Bạch Thông) vào tháng 4 năm 2017
tháng 12 năm 2016 và tháng 4 năm 2017
Người cung cấp tin về tri thức sử dụng cây thuốc: là người dân tại 3 xã của tỉnh Bắc Kạn: xã Lục Bình (huyện Bạch Thông), xã Lạng San (huyện Na Rì) và xã Yên Mỹ (huyện Chợ Đồn)
Xử lý nguyên liệu: Mẫu cây sau khi thu hái được tách thành các phần riêng:
rễ, thân, lá Sau đó rửa sạch, phơi trong bóng râm Khi dược liệu khô tương đối thì thái nhỏ và sấy khô ở 55˚C trong tủ sấy tĩnh đến khô Dược liệu được bảo quản
C, tránh ánh sáng
Các mẫu được ký hiệu theo Bảng 2.1
Bảng 2.1 Ký hiệu các mẫu Bàn tay ma trong nghiên cứu
Trang 242.1.2 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất
2.1.2.1 Hóa chất, dung môi, thuốc thử
Hóa chất và thuốc thử: Nước Giaven, acid acetic, xanh methylen, đỏ son
natri acetat, TT diazo, TT ninhydrin, TT fehling A, fehling B, TT lugol, bột Mg,
Dung môi: MeOH, EtOH 96%, Cloroform, ether dầu hoả, n-Hexan, acid
2.1.2.2 Dụng cụ
- Dụng cụ đo thể tích: Bình nón 50ml, 100ml, bình gạn 50ml, 100ml, cốc có
mỏ 100ml, ống đong 10ml, ống đong 25ml, pipet
- Dụng cụ làm phản ứng hóa học: Ống nghiệm lớn, ống nghiệm nhỏ, đũa thuỷ tinh, giấy lọc, phễu lọc
- Dụng cụ làm vi phẫu: Đĩa thuỷ tinh, đĩa petri, dao lam, chổi lông, lam kính, lamen
- Dụng cụ triển khai sắc ký: Bình triển khai sắc ký, bản mỏng Silicagel F254 (Merk), ống mao quản, bình xịt thuốc thử
- Dụng cụ làm tiêu bản: tấm nẹp bằng gỗ, bìa carton, báo, kim, chỉ,…
- Dụng cụ thu mẫu và điều tra tri thức tại thực địa: dao, kéo cắt cây, bao bì, túi nilon, thước dây, máy ảnh, phiếu điều tra, máy ghi âm,…
- Dụng cụ khác: Chày, cối sứ, rây 355, cồn kế,…
2.1.2.3 Thiết bị nghiên cứu
- Hệ thống máy sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao CAMAG bao gồm: Bộ máy phun mẫu bán tự động (dùng cho hệ thống sắc ký bản mỏng) Camag Linomat 5; Máy phun thuốc thử CAMAG, máy chụp ảnh bản mỏng và phân tích dữ liệu Camag
TLC Visualizer, 2 phần mềm winCATS và VideoScan
- Kính hiển vi (Nikon eclipse)
Trang 25- Kính lúp soi nổi (Nikon H550S)
- Bể siêu âm (WISD)
- Cân kỹ thuật Sartorius (TE3102S)
- Cân phân tích Shimadzu (AY220)
- Tủ sấy WiseVen (R) WOF
- Máy nghiền bột (Hammer Mill Grinder Herb)
- Nồi đun cách thủy
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu về thực vật:
của các mẫu cây Bàn tay ma thu hái tại Bắc Kạn
dưỡng của các mẫu cây Bàn tay ma
2.2.2 Nghiên cứu về hóa học:
cây Bàn tay ma bằng các phản ứng đặc trưng của các nhóm chất
2.2.3 Điều tra tri thức sử dụng:
Điều tra người dân tại xã Lục Bình (huyện Bạch Thông), xã Lạng San, (huyện Na Rì) và xã Yên Mỹ (huyện Chợ Đồn) về tri thức sử dụng cây Bàn tay
ma
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm thực vật
2.3.1.1 Đặc điểm hình thái
Phân tích hình thái: Quan sát mô tả và phân tích các đặc điểm thực vật, bao gồm:
Trang 26- Dạng sống, rễ, thân, lá (cách mọc, hình dạng, kích thước phiến lá, ngọn lá, gân lá, gốc lá, cuống lá)
- Hoa (kiểu cụm hoa, lá bắc, đài (hình dạng, bề mặt), tràng (hình dạng, tràng phụ), bộ nhị (số lượng, hình dạng, kích thước, liền/rời), bộ nhụy (số lượng, hình dạng, kích thước, lá noãn)); quả; hạt (số lượng, hình dạng, màu sắc)…
Làm mẫu tiêu bản: Thu hái, làm tiêu bản mẫu cây khô và lưu giữ tiêu bản tại Phòng tiêu bản - Bộ môn Thực vật - Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP/18506/17
và HNIP/18505/17)
Giám định tên khoa học: Tên khoa học được xác định bằng phương pháp so sánh hình thái đối chiếu với khóa phân loại và mô tả loài trong các tài liệu về thực vật trong và ngoài nước [4], [8], [12], [25] cũng như các tiêu bản mẫu mang mã số A00035489 (Phòng tiêu bản của vườn thực vật Arnold, đại học Harvard), S-G-7570 (Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Thuỵ Điển), K000799293 và K000799291 (Phòng tiêu bản của Vườn thực vật Hoàng gia Kew)
2.3.1.2 Phân tích đặc điểm vi phẫu
Vi phẫu rễ được cắt ngang ở đoạn rễ non gần đầu chóp rễ Vi phẫu thân được cắt ngang ở đoạn thân thứ 2, 3 tính từ đầu ngọn Tiêu bản vi phẫu lá được cắt ngang
ở vị trí khoảng 1/2-1/3 dưới gần gốc của lá trưởng thành Các lát cắt mỏng được tẩy
và nhuộm theo phương pháp nhuộm kép và lên tiêu bản vi phẫu Sau đó quan sát,
mô tả và chụp ảnh các đặc điểm vi phẫu qua kính hiển vi
2.3.1.3 Phân tích đặc điểm bột dược liệu
Rễ, thân, lá của từng loài được sấy khô, nghiền nhỏ thành bột, rây qua rây
355 lấy bột mịn Lên tiêu bản, quan sát, mô tả và chụp ảnh các đặc điểm qua kính hiển vi
2.3.2 Nghiên cứu thành phần hóa học
2.3.2.1 Định tính các nhóm chất hữu cơ bằng phản ứng hóa học
Định tính các nhóm chất hữu cơ có trong mẫu nghiên cứu bằng các phản ứng hóa học theo các tài liệu: [6], [13], [17]
Trang 272.3.2.2 Định tính bằng sắc ký lớp mỏng
Nguyên liệu: các mẫu rễ, thân, lá của Bàn tay ma đỏ và Bàn tay ma trắng sấy
Chiết xuất: Chiết xuất dược liệu bằng phương pháp ngâm ở nhiệt độ phòng:
cân chính xác khoảng 2(g) bột dược liệu, làm ẩm bằng MeOH,sau đó ngâm trong 20 (ml) MeOH, bề mặt dung môi chiết cách bề mặt dược liệu khoảng 2-3 cm Sau 72h, rút lấy dịch chiết Dịch chiết thu được đem cô đến cắn Hòa tan cắn trong chính xác 1ml MeOH để được dung dịch chấm mẫu Trước khi tiến hành chấm sắc ký, mẫu được ly tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong 5 phút
Lựa chọn điều kiện triển khai sắc ký
30 phút Kích thước bản mỏng 10 × 12cm
Vị trí tiêm mẫu cách mép dưới bản mỏng 8 mm, cách mép dung môi 3,0 mm Khoảng cách giữa vết ngoài cùng và mép ngoài bản mỏng là 15,0 mm Khoảng cách giữu 2 vết chấm cạnh nhau là 5mm Độ dài băng chấm 6,0 mm
+ Hệ 5: n-Hexan - Ethylacetat - Acid acetic (10:9:1)
+ Hệ 6: Ethylacetat - Acid formic - Nước (70:15:15)
+ Hệ 7: n-Butanol - Acid acetic - Nước (4:1:5)
+ Hệ 8: Chloroform – MeOH – Amoniac (50:9:1)
+ Hệ 9: n – Hexan - Chloroform – MeOH – Acid formic (4:13:2:1)
+ Hệ 10: Chloroform – Acid acetic (9:1)
Trang 28Triển khai sắc ký: Đưa bản mỏng đã chấm mẫu và làm khô vào bình sắc ký
đã bão hoà dung môi Sau khi triển khai lấy bản mỏng ra và sấy nhẹ cho bay hơi hết dung môi
đèn tử ngoại ở các bước sóng 254nm và 366nm trước và sau khi phun thuốc thử
2.3.3 Điều tra tri thức sử dụng cây Bàn tay ma
Địa điểm: Các hộ gia đình của người dân tại 3 xã của tỉnh Bắc Kạn: xã Lục Bình (huyện Bạch Thông), xã Lạng San, (huyện Na Rì) và xã Yên Mỹ (huyện Chợ Đồn)
Nội dung điều tra: thông tin cơ bản của người cung cấp tin (tên, tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, địa chỉ); thông tin về cây Bàn tay ma (nhận biết/không nhận biết được, tên địa phương (dịch nghĩa tiếng Kinh nếu có), nhận diện loài, bộ phận dùng, cách thu hái, chế biến, cách dùng, công dụng, thị trường)
Phương pháp điều tra: Phỏng vấn bán cấu trúc với bộ phiếu điều tra (Phụ lục 3), kèm theo mẫu cây tươi và ảnh màu của cây Bàn tay ma
Độ lớn mẫu điều tra: 15-16 người cung cấp tin cho từng địa điểm điều tra
Trang 29CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ, BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm thực vật của cây Bàn tay ma
3.1.1 Đặc điểm hình thái
3.1.1.1 Đặc điểm hình thái cây Bàn tay ma đỏ
Cây gỗ lâu năm, cao từ 10-20m, ít phân cành, tán hẹp, tập trung ở ngọn cây, phần thân và lá non màu nâu đỏ, có nhiều lông nhung bao phủ Phần vỏ thân và vỏ rễ phía trong lớp bần màu hồng đến đỏ và có nhựa mủ màu đỏ; phần gỗ màu hồng, có nhiều vân ngang màu đỏ nâu Lá đơn, mọc so le Cuống lá dài 10-20cm, đường kính 8-11mm, phình to ở gốc cuống Phiến lá hình bầu dục thuôn ở gốc, lá dài 60-120cm, rộng 40-80 cm, xẻ thuỳ sâu kiểu lông chim lẻ; gốc lá tròn, mép lá nguyên, ngọn lá hơi nhọn Mỗi lá có từ 13-17 thuỳ, thuỳ thuôn dài hình mác, dài 15-45 cm, rộng 9-14 cm Mặt trên lá trưởng thành nhẵn, gần như không có lông hoặc có lông mọc tập trung trên gân lá, mặt dưới màu nhạt hơn, có lông nhung bao phủ Gân lá lông chim, nổi cả
2 mặt, nổi ít ở mặt trên, nổi nhiều ở mặt dưới, bề mặt được bao phủ bởi lông (Hình 3.1)
Hoa, quả và hạt chưa thấy
Trang 30Hình 3.1 Các đặc điểm hình thái cây Bàn tay ma đỏ
Ghi chú:
1 Phần trên mặt đất 2-3 Rễ cây
4-5.Thân cây 6-7 Ngọn cây
8 Cành mang lá
9 Lá
10 Cuống lá 11-12 Gân lá 13-14 Mặt trên và mặt dưới của một thuỳ lá
3.1.1.2 Đặc điểm hình thái cây Bàn tay ma trắng
Cây gỗ lâu năm, cao từ 5-10m, rất ít phân cành, tán hẹp, tập trung ở ngọn cây, lông nhung tiêu giảm Phần vỏ thân và vỏ rễ phía trong lớp bần màu màu trắng hơi vàng; phần gỗ màu trắng ngà, có nhiều vân ngang màu vàng nhạt Lá mọc so le Cuống lá dài 5-10cm, đường kính 5-8mm, hơi phình ở gốc cuống Phiến lá hình bầu dục thuôn ở gốc, dài 40-80cm, rộng 20-40cm, xẻ thuỳ sâu kiểu lông chim lẻ (mỗi lá
có từ 13-17 thuỳ, mỗi thuỳ 15-45 cm, rộng 9-14 cm) hoặc ít chia thuỳ (mỗi lá có từ 2-4 thuỳ, mỗi thuỳ dài 3-13 cm, rộng 3-5cm), thuỳ thuôn dài hình mác hoặc đôi khi
lá nguyên, không chia thuỳ; gốc lá tròn, mép lá nguyên, ngọn lá hơi nhọn Mặt trên
Trang 31lá trưởng thành nhẵn, mặt dưới màu nhạt hơn, cả 2 mặt lá đều không có lông nhung Gân lá lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, hơi nổi ở mặt trên, không có lông Cụm hoa chùm, không phân nhánh, mọc ra từ thân, không có lông, cụm hoa dài 15-25 cm Hoa mọc thành từng đôi, chung cuống (Hình 3.2)
Quả và hạt chưa thấy
Hình 3.2 Các đặc điểm hình thái cây Bàn tay ma trắng
Ghi chú:
1 Phần trên mặt đất 2-3.Thân cây
4 Ngọn cây 5-6 Lá xẻ thuỳ nhiều
7 Lá xẻ thuỳ ít
8 Lá nguyên
9 Cuống lá
10 Cụm hoa chưa nở 13-14 cụm hoa đã nở
15 Cặp hoa chưa nở
3.1.2 Tên khoa học của cây Bàn tay ma
Đối chiếu với các khóa phân loại và mô tả thực vật cũng như các tiêu bản mẫu, các mẫu thực vật dùng trong nghiên cứu được xác định tên khoa học như sau:
- Mẫu Bàn tay ma đỏ: Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
- Mẫu Bàn tay ma trắng: Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
Trang 323.1.3.1 Đặc điểm vi phẫu rễ
- Vi phẫu rễ loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer:
Mặt cắt ngang rễ có dạng hình tròn Ngoài cùng là lớp bần (1) gồm nhiều lớp
tế bào hình chữ nhật, vách dày hóa gỗ, bắt màu xanh, sắp xếp đều đặn thành những vòng tròn đồng tâm và dãy xuyên tâm Dưới lớp bần là mô mềm vỏ (2) gồm 3- 6 lớp tế bào thuôn dài, vách mỏng, xếp sít nhau Tiếp theo là mô cứng (3) gồm nhiều
tế bào vách dày hóa gỗ sắp xếp lộn xộn, bao bên ngoài các bó libe - gỗ Các bó libe
gỗ có kích thước to nhỏ không đều nhau,với phần libe (4) phía ngoài và phần gỗ (5) phía trong.Giữa các bó libe - gỗ là tia ruột (7) tương đối hẹp Gỗ chiếm phần lớn diện tích của rễ, nằm xen kẽ với gỗ là các bó sợi mô cứng (6) Trong cùng là mô mềm ruột (8), chiếm một phần diện tích rất nhỏ gồm nhiều tế bào hình tròn, vách mỏng, kích thước to nhỏ khác nhau, sắp xếp lộn xộn (Hình 3.3)
Hình 3.3 Vi phẫu rễ loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
Trang 33- Vi phẫu rễ loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer:
Mặt cắt ngang rễ có dạng hình tròn Ngoài cùng là lớp bần (1) gồm nhiều lớp
tế bào hình chữ nhật, vách dày hóa gỗ, bắt màu xanh, sắp xếp đều đặn thành những vòng tròn đồng tâm và dãy xuyên tâm Dưới lớp bần là mô mềm vỏ (2) gồm 3- 6 lớp tế bào thuôn dài, vách mỏng, xếp sít nhau Tiếp theo là mô cứng (3) gồm nhiều
tế bào vách dày hóa gỗ, sắp xếp lộn xộn, bao bên ngoài các bó libe - gỗ Các bó libe
gỗ có kích thước to nhỏ không đều nhau với phần libe (4) phía ngoài và phần gỗ (5) phía trong Giữa các bó libe - gỗ là tia ruột (7) tương đối hẹp Gỗ chiếm phần lớn diện tích của rễ, nằm xen kẽ với gỗ là sợi mô cứng (6) Trong cùng là mô mềm ruột (8), chiếm một phần diện tích nhỏ gồm nhiều tế bào hình tròn, vách mỏng, kích thước to nhỏ khác nhau, sắp xếp lộn xộn (Hình 3.4)
Hình 3.4 Vi phẫu rễ loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
Trang 34- Vi phẫu thân loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer:
Mặt cắt thân có dạng tròn đều Bao phủ bên ngoài thân là rất nhiều lông che chở đơn bào (1) thuôn dài, sau đó là lớp biểu bì (2) gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, vách hóa cutin, bắt màu xanh Dưới lớp biểu bì là mô mềm vỏ (3) gồm 10- 18 lớp tế bào thuôn dài, vách mỏng, xếp sít nhau Dưới mô mềm vỏ là mô cứng (4)n gồm nhiều tế bào vách dày hóa gỗ xếp lộn xộn tạo thành một vòng nổi lõm không đều bao quanh với các bó libe - gỗ Các bó libe to nhỏ không đều với phần libe (5) phía ngoài và phần gỗ (6) phía trong Đan xen với gỗ là các bó sợi (7) Trong cùng
là mô mềm ruột (8) gồm nhiều tế bào hình tròn, vách mỏng, kích thước to nhỏ khác nhau, sắp xếp lộn xộn (Hình 3.5)
Hình 3.5.Vi phẫu thân loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
Trang 35- Vi phẫu thân loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer:
Mặt cắt ngang thân có dạng hình tròn Ngoài cùng là lớp bần (1) gồm nhiều lớp tế bào hình chữ nhật, màng hóa bần, bắt màu xanh, sắp xếp đều đặn thành những vòng tròn đồng tâm và dãy xuyên tâm Dưới lớp bần là mô mềm vỏ (2) gồm 10- 18 lớp tế bào thuôn dài, vách mỏng, xếp sít nhau Tiếp theo là mô cứng (3) gồm nhiều tế bào vách dày hóa gỗ, sắp xếp tạo thành một vòng nổi lõm không đều bao quanh với các bó libe - gỗ Các bó libe gỗ rất phát triển với phần libe (4) phía ngoài
và phần gỗ phía trong (5) Giữa các bó libe - gỗ là tia ruột tương đối hẹp Gỗ chiếm phần lớn diện tích của thân, nằm xen kẽ với các bó sợi (6) Trong cùng là mô mềm ruột (7) gồm nhiều tế bào hình tròn, vách mỏng, kích thước to nhỏ khác nhau, sắp xếp lộn xộn, bên trong có thể chưa các hạt tinh bột (8) (Hình 3.6)
Hình 3.6 Vi phẫu thân loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
Trang 363.1.3.3 Đặc điểm vi phẫu lá
- Vi phẫu lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer:
Phần gân lá: gân nổi cả 2 mặt, mặt trên nổi ít, mặt dưới nổi nhiều Ngoài cùng
là lông che chở đơn bào (1) thuôn dài, sau đó là lớp biểu bì (2) được cấu tạo bởi một lớp tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn, vách hóa cutin Ngay dưới biểu bì là mô dày (3) gồm 1 vài lớp tế bào vách dày, xếp sít nhau Tiếp theo là mô mềm (4) gồm 3-4 lớp tế bào to, hình tròn, vách mỏng, xếp lộn xộn Dưới lớp mô mềm là vòng mô cứng (5) gồm nhiều tế bào, vách dày hóa gỗ, sắp xếp lộn xộn, bao quanh các bó libe
- gỗ Các bó libe - gỗ xếp thành 1 vòng tròn và có 1 bó libe - gỗ nằm trong vòng tròn đó, mỗi bó gồm phần libe (6) phía ngoài và phần gỗ (7) phía trong Trong cùng
là mô mềm ruột (8) gồm nhiều tế bào vách mỏng, hình đa giác, kích thước to nhỏ không đều, xếp lộn xộn (Hình 3.7)
Hình 3.7.Vi phẫu gân lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
Trang 37Hình 3.8.Vi phẫu phiến lá loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
- Vi phẫu lá loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer:
Phần gân lá: gân nổi cả 2 mặt, mặt dưới nổi nhiều hơn Ngoài cùng là lớp
Trang 38cutin Ngay dưới biểu bì là mô dày (2) gồm bởi một vài lớp tế bào, vách dày, xếp đều sít nhau Tiếp theo là mô mềm (3) gồm 3-4 lớp tế bào to, hình tròn, vách mỏng, xếp lộn xộn Dưới lớp mô mềm là vòng mô cứng (4) gồm nhiều tế vách dày hóa gỗ, sắp xếp lộn xộn, bao quanh các bó libe - gỗ Nhiều bó libe - gỗ xếp thành 1 vòng tròn và có 1 bó libe - gỗ nằm trong vòng tròn đó, mỗi bó libe - gỗ gồm phần libe (5) phía ngoài và phần gỗ (6) phía trong Trong cùng là mô mềm (7) gồm nhiều tế bào vách mỏng, hình tròn, kích thước to nhỏ không đều, xếp lộn xộn (Hình 3.9)
Hình 3.9.Vi phẫu gân lá loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
Trang 39lớn, hình chữ nhật, vách mỏng, xếp khá đều đặn, chứa nhiều lục lạp (4) Cuối cùng
- Bột rễ loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer:
Bột dược liệu màu đỏ nâu, mùi thơm nhẹ, không vị Quan sát dưới kính hiển
vi thấy: Mảnh bần (1-2) màu đen gồm nhiều tế bào vách dày hình chữ nhật; mảnh
mô mềm (3) màu vàng nâu gồm những tế bào hình đa giác, vách mỏng, xếp sít nhau, bên trong có thể chứa hạt tinh bột; các đám tế bào mô cứng (4) màu nâu đỏ gồm nhiều tế bào vách rất dày, xếp sít nhau; mảnh mang màu (5) màu vàng sẫm hoặc nâu; bó sợi (6) gồm nhiều sợi dài, vách dày, khoang hẹp; nhiều mảnh mạch điểm (7); mạch xoắn (8); hạt tinh bột (9) hình tròn, kích thích to nhỏ khác nhau, nhiều hạt có rốn rất rõ (Hình 3.11)
Trang 40Hình 3.11 Đặc điểm bột rễ loài Heliciopsis lobata (Merr.) Sleumer
- Bột rễ loài Heliciopsis terminalis (Kurz) Sleumer
Bột dược liệu màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, không vị Quan sát dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần (1) màu đen gồm nhiều tế bào vách dày hình chữ nhật; mảnh mô mềm (2) màu vàng nâu gồm những tế bào hình đa giác, vách mỏng, xếp sít nhau, bên trong có thể chứa hạt tinh bột; các đám tế bào mô cứng (3) gồm nhiều
tế bào vách rất dày, xếp sít nhau; mảnh mang màu vàng sẫm hoặc nâu (4), bó sợi (5) gồm nhiều sợi dài, vách dày, khoang hẹp; nhiều mảnh mạch điểm (6); mạch xoắn (7-8); hạt tinh bột (9) hình tròn, kích thích to nhỏ khác nhau, nhiều hạt có rốn rất rõ (Hình 3.12)