1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm

83 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cơ sở khoa học cho việc đề xuất một loại cây trồng dùng để sản xuất bột thực vật làm thức ăn chăn nuôi trong tương lai giống 6,59-như các nước đã và đang làm, chúng tôi tiến hành đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây sắn không chỉ cho củ mà nó còn có khả năng sản xuất lá rất cao Lá sắn

giàu protein, caroten, xanthophil Do đó, có thể dùng lá sắn để sản xuất bột lá

bổ sung vào thức ăn hỗn hợp của vật nuôi Ở nhiều nước trên thế giới, bột lá được xem như một thành phần không thể thiếu được trong thức ăn của gia súc, gia cầm

Ở nước ta, khoảng mười năm gần đây, người ta chủ yếu sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh để nuôi gia súc và gia cầm, nhưng trong thức ăn đó, bột lá hầu như không có Nhiều nhà khoa học ở trên thế giới và trong nước, đã nghiên cứu và kết luận rằng vật nuôi được ăn khẩu phần có bột lá thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột lá Ở một số nước trên thế giới việc sản xuất bột lá thực vật đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến như: Colombia, Thái Lan, Ấn Độ, Philippin Các loại thực vật thường được trồng để sản xuất bột lá

ở các châu lục như sau: Ở Châu Á (Philippin, Ấn Độ) là keo dậu; Châu Âu là cỏ mục túc và Châu Mỹ (Braxin, Colombia) là sắn

Việt Nam chưa có ngành công nghiệp sản xuất bột lá, nhưng trong tương lai rồi sẽ phải có Về loại thực vật có thể sử dụng để sản xuất bột lá, chúng tôi suy nghĩ tới cây sắn Cây sắn sau khi cắt có khả năng tái sinh cao, năng suất chất xanh lớn

Lá sắn giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein; tỷ lệ protein có trung bình từ 7,00% trong lá sắn tươi (Nguyễn Khắc Khôi, 1982 [23]), ngoài ra nó còn chứa một lượng đáng kể xanthophil có tác dụng làm tăng màu lòng đỏ trứng gà Lá sắn dễ làm khô (phơi nắng hoặc sấy), dễ bảo quản Tuy nhiên trong lá sắn có chứa độc tố HCN gây ảnh hưởng đến gia súc gia cầm Để có cơ sở khoa học cho việc đề xuất một loại cây trồng dùng để sản xuất bột thực vật làm thức ăn chăn nuôi trong tương lai giống

6,59-như các nước đã và đang làm, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng

của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”

Trang 2

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định năng suất, sản lượng lá, củ tươi, sản lượng dinh dưỡng (sản lượng VCK, protein) của sắn ở các phương thức trồng sắn khác nhau (lấy củ, lấy củ-lá, lấy lá) và phương thức trồng sắn lấy lá được bón phân đạm với các mức khác nhau

- Xác định được ảnh hưởng của các phương pháp chế biến khác nhau, thời gian bảo quản tới sự hao hụt các chất dinh dưỡng và khả năng loại bỏ độc tố trong

lá sắn

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho ngành khoa học thức ăn và dinh dưỡng gia súc những thông tin cơ bản và hệ thống về cây sắn, bao gồm phương thức trồng, bón phân, chế biến, thành phần hóa học của củ và lá sắn Những thông tin này, có thể được sử dụng để giảng dạy và làm tài liệu tham khảo cho các đề tài khác cùng lĩnh vực Góp phần bổ sung thêm những kiến thức về cây sắn, với mục đích sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc và gia cầm

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thúc đẩy ngành trồng trọt sản xuất thức ăn tại chỗ cung cấp cho ngành chăn nuôi tạo nên sự phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Giống sắn KM94

- Các thí nghiệm được tiến hành tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

5 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài đã xác định được sản lượng lá, củ sắn tươi, VCK, protein của các phương thức trồng sắn khác nhau (lấy củ, củ + lá, lá) và mức bón đạm thích hợp cho trồng sắn thu lá

Đề tài đã nghiên cứu và đề xuất được phương pháp chế biến lá sắn gây ít tồn hại đến các chất dinh dưỡng và loại bỏ được tối đa độc tố có trong lá sắn

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học, thành phần hóa học của củ và lá sắn

Ngày nay sắn được trồng hầu hết ở các nước có vĩ độ từ 300N đến 300S và tập trung chủ yếu ở 106 nước thuộc Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Thái Bình Dương (P Silvestre, 1990 [34]; Gomez G, 1979 [74])

Ở Việt Nam, cây sắn là một cây màu truyền thống và quan trọng của nhân dân

ta, nhất là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc

Quá trình trồng thích nghi và chọn lọc tự nhiên đã hình thành lên nhiều giống sắn địa phương có đặc điểm hình thái, năng suất và chất lượng khác nhau, phù hợp với từng vùng khí hậu, sinh thái khác nhau trong cả nước Do đó các giống sắn của

ta rất đa dạng và phong phú Hiện nay, có khoảng trên 30 giống sắn phổ biến đang được trồng ở các vùng khác nhau trên khắp nước ta (Trần Thế Hanh,1984 [13]; Howeler, 1992 [80]; Đinh Văn Lữ, 1972 [29])

Củ sắn (rễ sắn): Là tổ chức dự trữ dinh dưỡng chính của cây sắn Khi trồng

bằng hạt thì cây sắn có 1 rễ cọc phát triển và cắm thẳng đứng xuống đất như cây 2

lá mầm và các rễ phụ lúc đầu phát triển ngang, sau đó phát triển theo phương thẳng đứng thành rễ cái Đối với sắn trồng bằng hom thì chỉ có rễ phụ mọc ra từ vết cắt của hom và phát triển tương tự như rễ phụ của sắn trồng bằng hạt Tất cả các loại rễ này đều phát triển thành củ sắn (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [33] Một số rễ sẽ trở nên mỏng đi và chỉ có chức năng hút nước và chất dinh dưỡng, còn rễ phát triển thành

củ thì chức năng này không đáng kể

Trang 4

Thân sắn: Là loại cây thân gỗ, hình trụ, có chia đốt và có lóng, sinh trưởng

lâu năm, cây cao từ 1-5m Thân và cành già đã hóa gỗ có mầu trắng bạc, xám, nâu hoặc hơi vàng Thân được cấu tạo gồm 4 lớp (trong cùng là lớp lõi xốp, tế bào rất to; tiếp đến là tầng gỗ; mô mềm của vỏ và cuối cùng là tầng bần)

Lá sắn: Là loại lá đơn mọc xen kẽ, thẳng hàng trên thân cây Lá gồm 2 phần:

Cuống và phiến lá Lá có thùy sâu, dạng chân vịt, thùy thường có cấu tạo số lẻ từ

3-9 thùy (cá biệt có 11 thùy) (Rogers và cs, 1973) [102] Lá gần cụm hoa có số thùy giảm dần và thậm chí không chia thùy, lá phía trên thường có biểu bì bóng như sáp Cuống lá dài từ 5-30cm (một số giống cuống dài 40cm) và có các mầu sắc khác nhau phụ thuộc vào giống sắn và chủ yếu là mầu hồng, vàng, xanh vàng, đỏ tươi Theo Claiz, (1979); H.Herchey (1988) (Trích Phạm Sỹ Tiệp, 1999 [47]) thì một trong những đặc điểm của cây sắn khác với cây ngũ cốc khác là cây sắn đồng thời phát triển thân lá và tích luỹ tinh bột vào củ Như vậy, sản phẩm quang hợp được chia cho sự phát triển của cả lá và củ Điều này cho thấy nếu cây có điều kiện thuận lợi để phát triển diện tích lá tối ưu thì sự phát triển củ cũng đạt đến mức tối ưu Nếu bằng một trong những lý do nào đó như bón phân đạm quá nhiều hay cây bị che tán thì sản phẩm quang hợp được sẽ chỉ tập trung vào nuôi dưỡng giúp cho sinh trưởng của lá dẫn đến sẽ có ít sản phẩm được dành cho củ và ngược lại

Hoa sắn: Hoa thuộc loại hoa chùm, đơn tính có cuống dài mọc ra từ chỗ phân

cành, ngọn thân Những cụm hoa gồm một trục dài 2-10cm và nhiều trục bên hợp thành nên gọi là chùy Hoa cái thường nở trước hoa đực từ 5-7 ngày

Quả sắn: Có kích thước từ 1-1,5cm, 1 quả thường có 3 hạt Mầu quả đa dạng

phụ thuộc vào giống Hạt sắn hình trứng tiết diện hơi giống hình tam giác Quả sắn thành thục sau khi thụ phấn 75-90 ngày Hạt sắn nặng từ 95-136 mg, màu nâu đen, trơn nhẵn, có đường gân mầu nâu Hạt sắn nẩy mầm ngay sau khi được thu hoạch, quá trình này mầm mất khoảng 16 ngày (Ghosh và cs, 1988) [72]

1.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển

1.1.2.1 Giai đoạn mọc mầm và ra rễ

Giai đoạn này tính từ khi trồng đến sau trồng khoảng 2 tháng Giai đoạn này cây chủ yếu chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ hom trồng để hình thành mầm và rễ Vì vậy, tốc độ mọc mầm và ra rễ phụ thuộc vào khí hậu và chất lượng hom giống

Trang 5

Nhiệt độ tối thích cho sắn mọc mầm là từ 25-300C, còn nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn so với nhiệt độ tối thích không nhiều thì sắn mọc mầm với tốc độ chậm, nhưng ở nhiệt độ cao trên 370C và dưới 170C thì sắn không mọc mầm

Sau khi trồng 10-12 ngày, những lá đầu tiên đã bắt đầu hình thành (Conceicão,

1979 [69]) Sau 30 ngày thì lá thật mới hình thành và mới có thể tự quang hợp giúp cây sinh trưởng, bắt đầu hình thành các rễ đâm sâu xuống đất 40-50cm để hút dinh dưỡng và nước Một số rễ bắt đầu phát triển thành củ ở giai đoạn 60-90 ngày sau trồng (Cock và CS, 1979) [67]

1.1.2.2 Giai đoạn sinh trưởng của thân và lá

Sự tăng trưởng của chiều cao và bề ngang cây được quyết định bằng sự sinh trưởng của mô phân sinh thượng tầng và mô phân sinh đỉnh

Sau khi trồng từ 4-6 tháng thì chỉ số diện tích lá đạt được cao nhất Tuy nhiên, chỉ số này phụ thuộc vào nhịp độ xuất hiện lá mới, tuổi thọ trung bình của lá, điều kiện môi trường và giống sắn Theo Hozyo (1984); Wargiono, (1986) (trích Wargiono, 2002 [112]) thì lá và thân sắn sinh trưởng mạnh nhất vào giai đoạn này, tất cả các chất dinh dưỡng cây nhận được từ môi trường đều được tổng hợp cho phát triển thân và lá nên dinh dưỡng của các phần trên mặt đất lúc này là cao nhất Theo Sudaryanto (1992) [103] thì từ tháng thứ 3-7, cứ 2 ngày sẽ xuất hiện một lá mới để thay thế các lá già vì vậy có thể thu cắt hàng tuần là 4 lá không ảnh hưởng gì tới năng suất cây trồng

Khoảng nhiệt độ tối thích cho sắn sinh trưởng từ 20-300C Trong khoảng nhiệt độ này thì thời gian để hình thành một lá đầy đủ chỉ kéo dài 2 tuần Ở nhiệt độ cao hơn và thấp hơn thì thời gian hình thành kéo dài hơn

Sau khi lá xuất hiện và dài khoảng 1cm, dưới điều kiện bình thường chúng sẽ đạt được kích thước tối đa sau 10-12 ngày Kích thước của lá tăng dần theo tuổi của cây đến khoảng 4 tháng tuổi và sau đó giảm dần Tuổi thọ của lá phụ thuộc vào đất trồng, mức độ bị che bóng, nước và nhiệt độ (Cock và CS, 1979 [67]) Tuổi thọ của lá kéo dài từ 40 đến 120 ngày nhưng thông thường từ 60-120 ngày

Sắn cũng có khả năng phân cành như các cây thân gỗ khác Thông thường sau trồng 3 tháng thì cây bắt đầu phân cành Tùy vào giống khác nhau mà khả năng

Trang 6

phân cành là khác nhau, thường cây sắn có thể phân từ 1-4 cấp cành khác nhau Ở giai đoạn 120 đến 150 ngày sau trồng, lá bị chắn sáng bởi các tán cây nên kích thước tán và lượng vật chất khô (VCK) ở lá và thân là đạt tối đa (Howele và cs,

1983 [79]; Távora và cs, 1995 [105])

1.1.2.3 Giai đoạn hình thành và phát triển của củ

Sau 28 ngày trồng thì các hạt tinh bột đã bắt đầu hình thành ở nhu mô rễ củ, nhưng không xác định được rõ là rễ sẽ hình thành củ hay rễ thông thường Sau 42 ngày thì bắt đầu phân biệt được rễ củ, sau 60-90 ngày thì xác định được số lượng củ

sẽ hình thành sau này Sau 90-120 ngày thì xác định được số lượng và kích thước chiều dài của củ sau này

Kích thước củ được hình thành, lượng vật chất khô tích lũy lớn nhất và phát triển nhanh nhất ở giai đoạn từ 6-9 tháng, sau đó tăng chậm và ổn định (Távora và

cs, 1995 [105]; Poressin và cs, 1998 [96]) cho biết từ tháng thứ 7 sau trồng trở đi thì dinh dưỡng chỉ tập trung vào phát triển củ Nếu nhiệt độ nhỏ hơn 170C thì cây, củ,

lá sẽ ngừng sinh trưởng, riêng lá thì có khả năng rụng dần nhưng chúng sẽ phát triển trở lại khi đầu xuân trời bắt đầu ấm lên Thân cây ở giai đoạn này bắt đầu bị lignin hóa (Conceicão, 1979 [69])

Sau giai đoạn từ 300-360 ngày thì lá bắt đầu giảm dần, tất cả lá sẽ rụng hết, cành non không phát triển nữa chỉ có quá trình tập trung tinh bột về củ và lượng vật chất khô sẽ đạt được cao nhất ở củ vào giai đoạn này Khi cây tròn 12 tháng là kết thúc một chu kỳ sống nhưng nó có thể phát triển ở chu kỳ tiếp theo và tiếp tục sinh trưởng thân, cành, lá và củ

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây sắn

Ảnh hưởng của nhiệt độ:

Nhiệt độ thích hợp cho sắn mọc mầm và ra rễ từ 20-270C Nếu nhiệt độ nhỏ hơn 160C sắn sẽ không mọc mầm Cây vẫn mọc mầm và ra rễ tốt khi nhiệt độ lên tới 300C và sau đó giảm dần khi nhiệt độ tăng đến 390C Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng cao hay giảm thấp quá cây bắt đầu ngừng sinh trưởng và có thể chết

Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng thân lá là từ 24-290C (Conceicão, 1979) [69], sắn cũng có thể chịu đựng được ở nhiệt độ từ 16 đến 380C (Cock, 1984)

Trang 7

[68] Ở phạm vi nhiệt độ từ 20-240C thì tuổi thọ của lá giảm nhưng lại làm tăng số

lá mới hình thành Ở nhiệt độ dưới 160C thì khả năng ra lá, tỷ lệ lá, lượng VCK tích

tụ vào củ giảm (Cock và cs, 1975) [66]

Nhiệt độ thích hợp để tích lũy dinh dưỡng vào củ tùy thuộc vào nhiệt độ ngày và đêm Thông thường nhiệt độ 290C là thích hợp cho sắn tích lũy dinh dưỡng vào củ, nhưng ở nhiệt độ này vào ban ngày thường làm tăng cường độ hô hấp nên chỉ còn lại một tỷ lệ nhỏ dinh dưỡng được tích lũy vào củ

Ẩm độ:

Cây sắn có thể sống được cả ở những nơi có lượng mưa dao động từ 500-5000

mm và ở những nơi có mùa khô từ 4-6 tháng

Ở giai đoạn cây mọc mầm và ra rễ đòi hỏi phải có độ ẩm từ 65 đến 75% Còn ở giai đoạn sinh trưởng của thân và lá thì cũng yêu cầu về độ ẩm cao nhưng khi bị hạn kéo dài thì diện tích lá giảm, năng suất thân lá giảm 38%, năng suất củ giảm 14% Trong điều kiện khô hạn kéo dài, thiếu nước sẽ làm tăng lượng HCN trong cây Ngược lại lượng mưa cao có tác dụng làm giảm HCN (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [33]

Ánh sáng:

Trong điều kiện ngày dài, thân sắn sẽ tăng khả năng sinh trưởng Khi tăng khoảng thời gian chiếu sáng từ 12 giờ lên 16 giờ/ngày thì tác giả Bolhuis (1966) [60] cho biết các giống sắn đều nhậy cảm với ánh sáng và có tác dụng làm tăng năng suất củ, tăng số nhánh/cây Tuy nhiên, độ dài ngày ngắn làm tăng cường độ tích lũy tinh bột về củ và độ dài ngày thích hợp nhất để tích lúy tinh bột về củ là 12 giờ/ngày (Bolhuis, 1966) [60] Nếu ngày dài thì thích hợp với phát triển thân, lá nhưng hạn chế tích lũy tinh bột về củ

Nếu cây bị che bóng 60% ánh sáng so với không che bóng, năng suất củ giảm tới 36% (Otoo, 1983)

Trang 8

Các tác giả Asher và cs (1980) [53], Ciat (1980) [64]; Putthacharoen và cs (1998) [98] đều cho biết: cây sắn hấp thu nhiều nhất N, sau đó là K, Ca, Mg, P và S

Cứ 1000 kg củ sắn có 5,87 kg N; 0,98 kg P; 7,71 kg K; 1,18 kg Ca; 0,69 kg Mg Còn 1000 kg thân và lá sắn có 15,70 kg N; 1,99 kg P; 13,66 kg K; 7,16 kg Ca; 2,26

kg Mg Vì vậy, nếu trong thành phần dinh dưỡng đất thiếu nguyên tố nào thì sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của cây và làm giảm năng suất của cây sắn

1.1.4 Thành phần hóa học và ảnh hưởng của một số phương pháp chế biến đến thành phần hóa học của củ và lá sắn

1.4.1.1 Thành phần hóa học của củ và lá sắn

a Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của củ sắn

Củ sắn tươi chứa 23,36-33,12% vật chất khô, 1 kg vật chất khô của củ sắn có

3087 kcal, tỷ lệ tinh bột từ 65-80% (P.Silvestre, 1990 [34]; Best và cs, 1992 [57]) Theo các tác giả nước ngoài như Maner J.H, 1987 [92]; P.Silvestre, 1990 [34] thì trong 1kg củ sắn tươi có từ 903- 1193 Kcal năng lượng trao đổi Còn các tác giả trong nước như Nguyễn Văn Thưởng (1992) [46]; Bùi Văn Chính (1995) [5] thì ở Việt Nam, các giống có năng lượng trao đổi cao, 1 kg củ sắn tươi có năng lượng dao động từ 1034-1187 Kcal/kg Ở củ sắn khô cả vỏ, năng lượng trao đổi dao động

từ 3087- 3138 Kcal/ kg, còn ở sắn khô bóc vỏ trung bình từ 3115-3196 Kcal/ kg Các giống, dòng sắn khác nhau thì có tỷ lệ tinh bột cũng khác nhau Theo Hoàng Kim (1999) thì các giống KM 98-1, KM 98-5, KM 98-6 đạt năng suất tinh bột là 12,41; 13,02 và 13,69 tấn/ha Tỷ lệ tinh bột trong củ sắn tươi ở các tháng 4, 6,

8, 10, 12 sau khi đặt hom tương ứng là: 3,0; 16,5; 20,0; 21,0 và 28,0% (Hoài Vũ, 1980) [51]; (Đinh Văn Lữ, 1972) [29] Theo các tác giả như Hoài Vũ (1980) [51]; Bùi Thị Buôn (1985) [3] thì thu hoạch sắn sau khi đặt hom 10-12 tháng là lúc củ sắn

có tỷ lệ tinh bột cao nhất Nếu để qua thời gian 12 tháng, tỷ lệ tinh bột giảm nhưng

tỷ lệ protein thô và xơ thô tăng lên

Một số giống sắn của Việt Nam có tỷ lệ tinh bột cao hơn các giống có tỷ lệ cao nhất trên thế giới Ví dụ: Giống sắn vỏ vàng của nước ta có tỷ lệ tinh bột là 34,20% và cao hơn 2,09% so với giống sắn Soliđa Balanca của Colombia (một trong những giống sắn cho tinh bột cao nhất thế giới) (Hoài Vũ, 1980 [51])

Trang 9

Theo Hutaga-Lung (1973); Sheswell (1978) (Trích theo P.Silvestre, 1990 [34])thì trong VCK của củ sắn có tới 80-90% dẫn xuất không đạm Trong dẫn xuất không đạm, xơ thô chiếm 3,2-4,5%, tinh bột chiếm 80% Trong tinh bột của sắn có khoảng 20% amilose và 70% amilopectin Johnson (1965) và Raymon (1965) (Trích Maner J.H, 1987 [92]).

Theo nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như: Best (1992) [57]; Trần Ngọc Ngoạn (1990) [32]; Phạm Văn Biên (2002) [58] thì tỷ lệ protein trong củ sắn thấp và thường dao động từ 1,47 đến 5,18% tuỳ theo giống, địa điểm trồng, thời gian thu hoạch và phương pháp chế biến bảo quản củ Theo Từ Quang Hiển và cs (1998) [16] thì củ của các giống sắn bản địa của Việt Nam chỉ có protein từ 2,44 đến 4,13% Các giống sắn có tỷ lệ protein cao thường từ 3,78-4,61%, các giống có

tỷ lệ protein thấp chỉ từ 2,4%-2,75% (Nguyễn Nghi, 1984 [30])

Tỷ lệ acid amine trong củ sắn cũng được nhiều người nghiên cứu xác định Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] tỷ lệ acid amine không thay thế của củ sắn thấp và không cân đối Hầu hết các acid amine không thay thế trong củ sắn đều có thang giá trị hóa học thấp từ -33,50 đến - 71,8% Tỷ lệ glycine và agrinine quá cao: + 63,3%

và 80,8% Các tác giả khác như Maner (1973) và Creswell (1978) (Trích theo Maner J H (1987) [92]) cho biết tỷ lệ acid amine trong củ sắn thấp và không cân đối: Tỷ lệ lysine và triptophan trong củ sắn chiếm 1,55 và 8,50% trong protein, còn methionine và cystine rất thấp, tương ứng là 0,33% và 0,25% trong protein, tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của FAO là 2,2%

Tỷ lệ lipit trong củ sắn thấp, chỉ đạt 1,6-1,8% so với vật chất khô (trích Gomez

G, 1979 [74]) Theo Nguyễn Văn Thưởng (1992) [46] thì tỷ lệ lipit trong củ sắn Việt Nam đạt cao hơn, tỷ lệ này thường dao động từ 2-2,5% trong vật chất khô Tuy nhiên kết quả phân tích của Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] thì tỷ lệ lipit thô trong củ sắn

là rất thấp chỉ từ 0,15 đến 1,74%

Chất khoáng trong củ sắn cũng tương đối thấp Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] thì tỷ lệ Ca đạt từ 0,11-0,25%, P đạt 0,08-0,12% trong vật chất khô Trong các thành phần khoáng thì K chiếm tỷ lệ cao nhất trong củ sắn, thường từ 0,57-0,58% trong vật chất khô Theo tác giả trên thì tỷ lệ Co, P, K, Zn, Mn, Cu tính theo VCK

Trang 10

trong củ sắn rất thấp so với nhu cầu của gia súc Do đó, khi sử dụng nhiều sắn trong khẩu phần ăn phải chú ý bổ sung các nguyên tố trên

b Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của lá sắn

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thưởng (1992) [46]; Từ Quang Hiển (1982) [14], Pham Van Bien (2002) [58] thì lá sắn có thành phần các chất dinh dưỡng khá phong phú Mặc dù hàm lượng tinh bột rất ít (từ 1,8 đến 3,2%), tỷ lệ DXKN của lá có từ 3,7-6,4% Từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn rau xanh cho người và gia súc Theo Bùi Văn Chính và cs (2001) [7] thì trong ngọn lá sắn tỷ lệ VCK chiếm 25,5%, năng lượng trao đổi là 2549 kcal/kg VCK

Theo các tác giả trên và một số tác giả khác như Đinh Văn Lữ (1972) [29], Dương Thanh Liêm (1999) [27], tỷ lệ protein thô trong VCK của lá sắn tương đối cao, dao động từ 20-29,9% Còn theo W.S Alhasan và Odei (1982) (Trích Nguyễn Nghi,

1984 [30]) thì lá sắn giàu protein hơn so với củ sắn, tỷ lệ protein trong lá sắn từ 32% trong vật chất khô Còn theo Từ Quang Hiển và cs (1998) [16] thì protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06 đến 29,80% trong vật chất khô Lá của các giống sắn trong nước có tỷ lệ protein cao là Xanh Vĩnh Phú, sắn Dù, Chuối trắng, KM 60, Chuối đỏ, 205 Theo Liu Jian Ping (2000) [88] thì bột lá sắn có tỷ lệ protein là 27,50%, còn chế biến sắn cả cuống thì tỷ lệ protein giảm xuống còn 20,30% Tuy nhiên, giống sắn và thời điểm thu lá khác nhau thì tỷ lệ protein là khác nhau Tác giả cũng cho biết protein trong lá sắn cao hơn hẳn các loại cây thức ăn khác, như tỷ lệ protein trong VCK của cỏ hòa thảo là 12,60%; ngô 11,90% nhưng thấp hơn so với đỗ tương là 45,70%

23-Adrian và Peyrot (1970) (Trích theo Job, A.T, 1975) [83]) khi so sánh thành phần acid amine trong lá sắn với thành phần acid amine trong trứng gà, thấy: Tỷ lệ acid amine thiết yếu trong lá sắn tương đối đầy đủ và cân đối Tuy nhiên, methionine vẫn là yếu tố hạn chế trong protein của lá sắn, tỷ lệ methionin chỉ đạt 1,2g% trong protein, chỉ bằng 67% tỷ lệ methionine trong protein của trứng gà (3,65g%) Vì vậy, không nên sử dụng bột lá sắn khi khẩu phần nghèo methionine Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] thì tỷ lệ acid amine trong lá cao hơn trong củ sắn và cân đối so với trứng gà Tuy nhiên, tỷ lệ methionin và histidine trong lá cũng thấp,

Trang 11

tương ứng là 1,99 và 1,14% Tỷ lệ lizin trong lá tương đối vao (5,68%) đáp ứng đầy

đủ nhu cầu dinh dưỡng trong 1 kg thức ăn của gia súc gia cầm Theo Creswell (1978) (Trích Maner, J H (1987) [92]; Gomez, G (1983) [75]) thì tỷ lệ lysine trong

lá cao hơn (7,2g) với tiêu chuẩn thức ăn của FAO (4,2g%) Theo Hoài Vũ (1980)[51] thì protein của lá sắn có đầy đủ và cân đối các acid amine thiết yếu hơn hẳn các các loại rau tươi khác Ví dụ: Tỷ lệ lysine, methionine và của lá sắn tươi là 0,34; 0,14; (g/100g) Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; rau ngót là 0,16; 0,13; bột cỏ

là 0,102; 0,186; ngô là 0,48; 0,12 Theo Duong Thanh Liem (1998) [87] thì thành phần acid amine của bột lá sắn cũng tương tự như của bột cỏ alfalfa

Adrian và cs (1970) (Trích theo Nguyễn Nghi,1984 [30]) cho biết methionin thường là yếu tố hạn chế của bột lá sắn, trong khi đo tỷ lệ lysine và arginine trong protein của lá sắn lại tương đối cao, tương ứng 4,45 và 4,35mg% nếu được bổ sung methionin sẽ làm cân đối tỷ lệ acid amine trong hỗn hợp và làm tăng tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn Trong lá sắn tỷ lệ acid amine cao hơn và cân đối hơn so với củ sắn Tuy nhiên, yếu tố hạn chế vẫn là methionine và histidine, tương ứng là 1,99 và 1,14%, so với thang giá trị hóa học chỉ đạt - 47,6 và - 50,4% (Từ Quang Hiển và cs 1998 [17])

Tỷ lệ vitamin trong lá sắn cũng cao Theo Hoài Vũ (1980) [53] thì tỷ lệ caroten trong lá sắn tươi là 3,00mg%, vitamin B1 là 0,25mg %, B2 là 0,66mg %,

PP là 0,66mg % Đặc biệt, vitamin C trong lá sắn khá cao (295mg%).Theo Từ Quang Hiển (1983) [15], trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7mg% caroten Theo Dương Thanh Liêm (1998) [87] thì tỷ lệ caroten trong bột lá sắn phụ thuộc quá trình chế biến, sấy ở nhiệt độ 1000C giữ được caroten cao nhất là 351 mg/kg Thành phần khoáng đa lượng và vi lượng của lá sắn nói chung cao hơn so với củ Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] thì tỷ lệ khoáng tổng số của các loại sắn Xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, Chuối vỏ đỏ, Chuối vỏ trắng, KM 60, Sắn dù,

205 thường từ 6,60 đến 7,80% trong VCK Còn các giống sắn H34, 202 lần lượt

là 5,62 và 5,80% Tỷ lệ Ca từ 0,77 đến 0,91% còn tỷ lệ P từ 0,12 đến 0,28% Tỷ

lệ Ca dao động từ 0,74-1,13%; P từ 0,25 đến 0,38%; K từ 1,52 đến 1,71% Trong

lá sắn tỷ lệ Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0-655,2mg trong 1kg chất khô

(Nguyễn Khắc Khôi (1982) [23]; Ravindran (1984) [100])

Trang 12

c Độc tố HCN trong sản phẩm sắn

Một trong những yếu tố quan trọng gây hạn chế sử dụng các sản phẩm từ củ

và lá sắn làm lương thực và thức ăn gia súc là trong các bộ phận của cây có chứa cyanogen glucoside Đó là Linamaroside và Lotostraloside Quá trình tổng hợp Linamaroside từ valin còn Lotostraloside được tổng hợp từ izoleuxin Hai chất này khi thuỷ phân đều tạo ra xeton và axít cyanhydric Chính vì vậy, axít cyanhydric tự

do hầu như không có trong mô thực vật, mà chỉ tồn tại ở dạng hợp chất liên kết giữa axetin và axít cyanhydric Cũng vì thế mà các heteroside nói trên còn gọi là glucoside hydroxinitrin

Theo Nambisan (1985) [96], thì Linamaroside có tên hoá học là 2 Hydroxyl-2 Methylpropan-Nitrilaglucoside, có công thức C10H17O6N Còn chất Lotostraloside

có công thức hóa học là C11H18O6N (Trần Ngọc Ngoạn, 2007 [33]) Trong đó, Linamaroside chiếm từ 93-96% còn Lotostraloside chiếm 4-7% (Lê Đức Ngoan,

2005 [31]) Nhưng Gomez G (1991) [77] cho biết: ở sắn, chất Linamaroside chiếm

80 ppm HCN trong chất tươi, sắn không đắng có từ 30-180 ppm HCN trong chất tươi, giống sắn đắng có từ 80-400 ppm HCN trong chất tươi, còn sắn rất đắng có từ 275-500 ppm HCN trong chất tươi Theo Sinha và Nair (1968) (Trích P.Silvestre,

1990 [34]) thì sắn ngọt là những giống sắn có tỷ lệ HCN nhỏ hơn 80 ppm trong chất tươi Nhóm sắn đắng là những giống sắn có tỷ lệ HCN lớn hơn 80 ppm

Trong cây sắn, sự phân bố HCN trong các bộ phận khác nhau là rất khác nhau Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] thì phân bố HCN được chia ra như sau: các bộ phận trên mặt đất có 29,3%; trong đó chủ yếu độc tố nằm ở thân là 27,2% còn lại ở lá chỉ

Trang 13

có 2,1% Lượng độc tố ở các bộ phận dưới mặt đất chiếm 70,7% tổng lượng độc tố trong cây Trong đó gốc già dưới đất có 8,9% và rễ củ chiếm 61,8%, tập trung chủ yếu ở vỏ và hai đầu củ sắn

Theo Oke (1969) [95] thì ở động vật thường gặp 2 triệu chứng ngộ độc HCN

đó là ngộ độc cấp tính làm cho con vật chết rất nhanh và ngộ độc mãn tính con vật thường có biểu hiện không rõ ràng Theo Lê Đức Ngoan (2005) [31] khi cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ hydrocyanic axít và thường xuyên thì ở gia súc cũng xuất hiện dấu hiệu ngộ độc, nhưng gan vẫn có khả năng giải độc HCN nhờ vào lưu huỳnh trong acid amine để tạo ra chất thiociannat ít độc hơn HCN Maner (1987) [92] cho biết quá trình sử dụng lưu huỳnh để giải độc làm giảm hấp thu và sử dụng các acid amine chứa lưu huỳnh (methionine, cystine) và các chất dinh dưỡng khác lấy từ thức ăn như sulfure, vitamin B12, sắt, đồng và Iode, v.v sự thiếu hụt này xảy ra ngay cả khi khẩu phần thức ăn có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng trên P Slivestre (1990) [34] đã cho biết: Tỷ lệ độc tố HCN có thể gây chết động vật khoảng 2,5mg/kg khối lượng

cơ thể Theo Humphreys, 1988 dẫn theo Lê Đức Ngoan (2005) [31] thì liều ngộ độc tối thiểu là 2-2,3 mg/kg khối lượng cơ thể, còn theo Butler (1973) là 4,4 và Tewe (1995) là 3,5 nhưng theo Dư Thanh Hằng và cs (2005) [70] thì ở mức 6-15 mg/kg khối lượng cơ thể vẫn không thấy ngộ độc Tuy nhiên, theo các tác giả trên thì mức

độ gây ngộ độc còn tùy thuộc vào dạng glucoside có trong thức ăn giải phóng HCN nhanh hay chậm và mức độ hấp thu nhanh hay chậm thì ở mức độ này hay lớn hơn cũng không gây ra triệu chứng ngộ độc

1.1.4.2 Ảnh hưởng của một số phương pháp chế biến đến thành phần hóa học của

củ và lá sắn

a Một số phương pháp chế biến củ và lá sắn

* Một số phương pháp chế biến củ sắn

Các phương pháp chế biến sắn dựa vào làm khô trực tiếp

* Chế biến và bảo quản sắn lát phơi khô hoặc sấy khô:

Sắn sau khi thu hoạch được rửa sạch, bóc vỏ hoặc không Thái lát thủ công bằng tay hoặc bằng máy Sau đó sắn được phơi trên sàn, nong, nia, cót hoặc tốt nhất là trên sân xi măng Sau khi phơi khô sắn phải để nguội rồi mới đem cất trữ

Trang 14

* Chế biến sắn khô-nghiền bột

Người ta để cả củ hay thái lát rồi phơi khô hoặc sấy khô trong các lò sấy thủ công hay lò sấy điện Sau khi sắn khô thì nghiền thành bột và cất trữ

* Chế biến tinh bột từ sắn khô:

Củ sắn khô được cắt thành miếng và được nghiền sơ bởi lực ép liên tiếp sao cho các miếng sắn không bị nghiền quá kỹ Sau đó khối sắn được ngâm trong nước

để xử lý tách tinh bột

* Chế biến sắn viên

Đây là phương pháp của Thái Lan Sắn được rửa sạch rồi nghiền nhỏ sau đó được ép đùn qua hệ thống trục ngang Trong quá trình ép sắn bị mất nước và được

ép thành các viên dài từ 1-2cm và bảo quản khi độ ẩm nguyên liệu là 13%

Các phương pháp chế biến sử dụng nước

* Phương pháp ngâm củ sắn tươi để chế biến bột sắn:

Ở những nơi sẵn nguồn nước, có thể chế biến bột sắn bằng cách ngâm củ sắn tươi dưới nước 10-15 ngày đến khi của sắn mềm Sau đó, vớt củ đem phơi khô và bảo quản nơi khô ráo Khi sử dụng thì bóc vỏ, lấy bột bên trong

* Sản xuất tinh bột sắn ướt

Củ sắn phải được thu hoạch và chế biến ngay trong 24 giờ sau thu hoạch để

sản xuất được tinh bột sắn có chất lượng cao nhất Sắn được bóc vỏ, mài xát sắn thành bột nhão, lọc bột để tách bã sắn khỏi bột sắn, lắng đọng nước lọc để thu hồi tinh bột, phơi hoặc sấy tinh bột (có độ ẩm dưới 13%), bảo quản tinh bột trong chum, vại có nắp đậy kín hoặc túi nilon

* Chế biến hạt sắn

Từ sắn khô được loại đi cát bụi và được nghiền thành bột sau đó phun nước

để sản phẩm có độ ẩm khoảng 18% Hạt sắn được chế biến bằng cách ép trong các

rá sắt có lỗ và làm tăng nhiệt độ lên 820C do đó sắn được hồ hóa và tạo ra các hạt có khả năng kết dính tốt Sau đó hạt được thổi gió qua để giảm độ ẩm đi 3-4% và sau

đó bao gói sản phẩm

* Chế biến bột Tapioca

Từ sắn khô người ta làm ẩm tới 40-50%, sau đó được rây mịn để tạo viên bột

và có thể gel hóa các hạt, hoặc có thể làm các hạt bằng tay hoặc máy Tiếp theo là

Trang 15

gel hóa viên bột ở 60-800C hoặc dùng hơi nước 1500C thổi vào sản phẩm Cuối cùng sản phẩm được sấy bằng khí nóng ở 400C cho đến khi sản phẩm cuối cùng còn

* Làm giàu protein cho nguyên liệu sắn:

Sắn khô được cắt nhỏ có đướng kính từ 2-4mm, làm ẩm đến 45% và hấp Sau khi hấp để nguội nguyên liệu xuống 400C, sắn được trộn với dung dịch (Rhizopus oryzae MUCL 28627) và 3,4g ure; 1,5g KH2PO4; 0,8g MgSO4.7H2O và 22,7g acid citric tính trên 100g chất khô Tạo cho môi trường có độ ẩm 60%, pH là 3,5 và được trải đều trên các khay có đục lỗ, đặt trong phòng kín và lên men trong 65 giờ

* Chế biến bột Mussequè

Đây là phương pháp của Anggola Sắn tươi sau khi rửa sạch, thái lát và để thành đống cho lên men trong 3 tuần Sau đó sản phẩm được nghiền và rây bằng rổ Lượng bột ẩm sau khi thu được có thể đem phơi nắng để cất hoặc nướng, rang

Trang 16

* Chế biến bột lá sắn:

Theo Dương Thanh Liêm (1998) [87] thì bột lá sắn được chế biến như sau: Lá sắn được thu gom thì loại bỏ hết cuống lá, phơi héo tại ruộng trong một ngày cho giảm bớt nước Sau đó lá sắn được tiếp tục phơi nắng trên sân hoặc đưa vào hệ thống sấy ở nhiệt độ 60-1000C cho khô dòn Lá sau khi khô dòn được đưa đi nghiền thành bột, trải mỏng bột lá cho bay hơi nước và HCN Cho bột lá sắn vào bao nhưng để hở miệng túi sau 2 tuần mới đóng gói để trong thời gian này, HCN tiếp tục thoát ra ngoài

* Chế biến cao lá sắn:

Lá sắn được nghiền nhỏ sau đó lọc bỏ bã và đun nước dịch lá sắn ở nhiệt độ

800C, khi thấy có váng nổi lên thì với lấy và loại bỏ nước có thể cho 10-20g axit citric/100 lít nước dịch lá sắn khi bắt đầu thấy váng nổi lên thì sẽ thu được sản phẩm triệt để hơn Sản phẩm thu được có thể sử dụng trực tiếp cho gia súc gia cầm hoặc xấy khô nghiền bột để trộn vào thức ăn hỗn hợp

* Phơi khô thân, lá sắn non

Sắn trồng dầy với mục đích để thu lá, sau trồng 3-3,5 tháng thu cắt lứa đầu, sau đó cứ khoảng 1,5-2 tháng thu cắt một lần Thân cây sắn còn non, phơi cả thân,

lá sắn (để nguyên cả cây hoặc băm nhỏ trước khi phơi) khi khô thì đánh đống hoặc nghiền thành bột để dự trữ

b Ảnh hưởng của chế biến đến thành phần hóa học của củ sắn

Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và cs (2000) [91] thì khi chế biến củ sắn và bã sắn bằng phương pháp ủ sẽ làm giảm tỷ lệ độc tố của củ và bã sắn Ở củ sắn lượng HCN ban đầu là 131,1 mg/kg thì sau 28 ngày chỉ còn 25,6 mg/kg còn sau 100 ngày chỉ còn 11,5 mg/kg Đối với bã sắn, hàm lượng HCN ban đầu là 74,6 mg/kg thì sau 28 ngày chỉ còn 23,2 mg/kg và ở 100 ngày là 8,7 mg/kg Cũng theo tác giả thì sau thời gian 100 ngày ủ tỷ lệ vật chất khô có xu hướng tăng ở cả củ và bã sắn ủ, lần lượt từ 37,05 lên 37,5% và từ 16,0% lên 17,7% Tỷ lệ protein sau khi ủ có xu hướng giảm

từ 0,85% xuống 0,7% và từ 0,48 xuống 0,35% do sự phân giải của vi sinh vật, tuy nhiên không có sự sai khác thống kê về protein trước và sau khi ủ Riêng tỷ lệ xơ là giảm có ý nghĩa thống kê với P < 0,05 Tỷ lệ xơ giảm từ 0,98% xuống 0,86% ở củ

Trang 17

sắn và từ 1,89 xuống 1,64 ở bã sắn khi ủ yếm khí Điều này cho thấy ủ yếm khi không làm giảm giá trị dinh dưỡng của sắn

Theo Hoài Vũ (1980) [51] củ sắn tươi có khoảng 9,72 mg% HCN, dùng phương pháp thái sợi và phơi khô thì tỷ lệ HCN chỉ còn 2,16mg% Nếu chế biến thành bột sắn thì tỷ lệ HCN giảm thấp nhất chỉ còn 1,08 mg% Dùng các phương pháp ngâm nước, tỷ lệ HCN giảm không đáng kể, đặc biệt nếu sắn không được bóc vỏ Theo Nguyễn Thị Lộc (2001) [89], củ sắn ủ sau 30 ngày, tỷ lệ VCK tăng từ 37,5 lên 37,8 nhưng sau đó giảm dần, đến 120 ngày là 37,3% Khi ủ đến 60 ngày thì

pH khối ủ giảm xuống và ổn định ở mức 3,8 Tỷ lệ HCN giảm dần từ 112 mg/kg khi mới thu hoạch, đến 120 ngày ủ chỉ còn 44 mg/kg

Theo tác giả Bùi Văn Chính (1995) [5] thì tỷ lệ gluxit và protein giảm mạnh còn tỷ lệ xơ thường tăng trong hầu hết các phương pháp chế biến sắn

Theo Gomez và cs (1985) [76] thì củ sắn tươi có 35-40% VCK; 1-2% protein thô; 1,5-2% xơ thô 0,2-0,5 mỡ và 30-36% DXKN; Ca là 0,05%; Phot pho là 0,07% sau khi được chế biến thành bột sắn thì tỷ lệ VCK là 90%; protein là 3,1%; xơ là 3,4%; mỡ là 1,3% và dẫn xuất không đạm tăng lên đáng kể, chiếm 80% trong VCK;

Ca là 0,12% và P là 0,16%

c Ảnh hưởng của chế biến đến thành phần hóa học của lá sắn

Theo Nguyen Thi Hoa Ly và cs (2000) [91] thì tỷ lệ HCN trong lá sắn tươi từ 323-340 mg/kg, nhưng sau 28 ngày ủ HCN chỉ còn 68,2-88,4 mg/kg tương ứng 21,1-27,3% so với tỷ lệ ban đầu Khi ủ lá sắn với muối ăn 0,5% thì sau 28 ngày tỷ lệ VCK có xu hướng tăng dần từ 25,1% lên 26,8%, còn tỷ lệ protein và xơ có xu hướng giảm dần từ 6,84 xuống 6,82% và 4,69% xuống 4,08% Nếu ủ lá sắn kết hợp với 5% cám hoặc 5% bột củ sắn thì tỷ lệ VCK đều có xu hướng tăng, tỷ lệ xơ giảm, nhưng tỷ lệ protein thì ít bị biến động Cũng theo tác giả này, lá sắn được ủ chua sau

28 ngày thì tỷ lệ VCK tăng lên còn protein thì có xu hướng giảm Vật chất khô tăng

từ 28,73% lên 28,80% còn protein giảm từ 29,65% xuống 27,40% Nếu tiếp tục để lâu hơn nứa đến 56 ngày thì tỷ lệ protein chỉ còn 23,34%

Theo Dương Thanh Liêm (1998) [87], lá sắn khi phơi nắng nhanh tại Thái Lan thì tỷ lệ HCN trong lá là 1270 ppm còn caroten là 121 mg/kg, còn phơi nắng

Trang 18

trong nhà thì tỷ lệ HCN trong lá là 526 ppm, còn tỷ lệ caroten mất đi ít hơn so với phơi nắng ngoài tự nhiên Nếu sấy ở các nhiệt độ 60, 80 và 1000C thì sấy ở 1000C tỷ

lệ HCN sẽ giảm thấp nhất và còn lại là 495 ppm, đồng thời lại giữ được tỷ lệ caroten cao nhất trong các phương pháp (277 mg/kg) Đối với lá sắn Gòn thì tỷ lệ HCN thấp hơn nhưng tỷ lệ caroten thì cao hơn so với lá sắn Thái Lan Diễn biến về HCN và caroten của các phương pháp chế biến phơi nắng ngoài trời, phơi trong nhà, sấy ở 60, 80 và 1000C cũng tương tự như đối với lá sắn Thái Lan nhưng HCN

ở phương pháp phơi trong nhà chỉ còn 280 ppm và caroten là 251 mg/kg còn sấy ở

1000C thì HCN là 217 và caroten là 351 mg/kg

Các phương pháp bảo quản khác nhau cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ caroten và HCN của lá sắn Phơi khô cả lá rồi để nguyên bảo quản tốt hơn nghiền thành bột, vì HCN giảm nhanh hơn (Dương Thanh Liêm, 1998 [87])

Theo Bùi Văn Chính (1995) [6] ủ chua có thể làm giảm HCN từ 862,5 xuống 32,5 mg/kg VCK, còn sau phơi nắng 4 giờ thì tỷ lệ này còn là 260,6 mg/kg Lá sắn sau khi phơi khô và nghiền thành bột thì tỷ lệ HCN chỉ còn 90,2 mg/kg VCK Theo Wanapat (1999) [109] thì lá sắn được thu toàn bộ phần ngọn ở thời điểm 3-4 tháng sau trồng được phơi đến tỷ lệ nước còn 13,7% thì protein tiêu hóa là 22%, tổng các chất hữu cơ tiêu hóa là 65% Khi chế biến thành bột có độ ẩm 10% thì protein tiêu hóa giảm chỉ còn 18,3%; tổng các chất hữu cơ tiêu hóa giảm 5%

* Nhận xét chung:

Bột củ sắn có hàm lượng năng lượng cao từ 3087 đến 3196 kcal/kg VCK, nhưng tỷ lệ protein thấp từ 1,47 đến 5,18% Bột lá sắn có hàm lượng năng lượng thấp chỉ trên dưới 2549 kcal/kg VCK; nhưng tỷ lệ protein cao từ 23-32%; trong VCK các acid amine tương đối đầy đủ và cân đối Cả củ và lá sắn đều chứa độc tố HCN, đó là một yếu tố hạn chế cho việc sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn chăn nuôi Hàm lượng HCN trong củ sắn tươi từ 30 đến 400 ppm, còn trong lá sắn tươi từ 323 đến 1270 ppm Lượng độc tố có thể gây độc cho vật nuôi là từ 2-2,5 mg/kg khối lượng cơ thể 1270 ppm

Đối với củ sắn có thể chế biến bằng phơi khô trực tiếp hoặc có sử dụng nước hay bằng phương pháp lên men Đối với lá sắn có thể ủ chua, phơi khô, làm cao lá

Trang 19

để làm giảm độc tố và tăng chất lượng sản phẩm Củ sắn sau khi qua chế biến thì hàm lượng độc tố, protein, gluxit giảm xuống nhưng tỷ lệ xơ thường tăng lên Đối với lá sắn sau khi qua chế biến thì hàm lượng độc tố và protein, caroten giảm xuống

còn tỷ lệ vật chất khô lại tăng lên

1.2 Ảnh hưởng của một số kỹ thuật canh tác tới sản lượng và chất lượng của

củ và lá sắn

1.2.1 Mật độ trồng của các phương thức trồng sắn khác nhau

Mật độ và khoảng cách trồng sắn đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu Weite (1987) [113] cho rằng mật độ trồng sắn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố như: loại đất, mùa vụ trồng, đặc tính phân cành, sự hình thành

lá của giống Đối với đất có độ phì cao thì trồng sắn với mật độ thưa, đất nghèo dinh dưỡng thì trồng với mật độ dầy Còn theo đặc tính phân cành, lá thì giống phân cành nhiều, thân lá phát triển nhanh trồng với mật độ thưa và ngược lại Weite (1992) cho biết mật độ trồng thích hợp với các giống sắn ở phía Nam Trung Quốc thay đổi từ 10.000-15.000 cây/ha (Trích Nguyễn Viết Hưng, 2006) [19]

Theo tác giả Villamayor (1983) [107] mật độ trồng sắn chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm về hình thái của giống Nếu giống sắn nào phân nhánh ít và có tán gọn thì năng suất ít bị ảnh hưởng bởi khoảng cách, mật độ trồng Trái lại những giống

có khả năng phân cành cao, thân lá phát triển nhiều thì trồng với mật độ cao, năng suất sẽ giảm Mật độ trồng sắn thích hợp có thể thay đổi từ 13.000-20.000 cây/ha Tại Malayxia và Indonexia, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho biết mật độ trồng sắn thích hợp với những giống sắn có thân lá phát triển mạnh và phân nhánh nhiều

là từ 10.000-12.000 cây/ha sẽ cho năng suất cao nhất

Theo Trần Ngọc Ngoạn (2007) [33] nếu quần thể lá rậm rạp, các lá phía dưới

bị che khuất thì dinh dưỡng do cây đồng hóa phải sử dụng để duy trì sự sống từ đó làm giảm dinh dưỡng tích lũy ở củ dưới dạng tinh bột, đó là các giống có tiềm năng năng suất không cao Nếu trồng sắn thuần, với các cây có chiều cao cây trung bình, thân thẳng không phân cành, có thể áp dụng mật độ trồng 12.500 cây/ha, ngược lại nên trồng mật độ 10.000 cây/ha Theo tác giả Ociano (1980) [94] thì khoảng cách trồng sắn thích hợp nhất đối với giống sắn có mức độ phân cành ít, thân gọn là 17.700 cây/ha

Trang 20

Các tác giả khác nhau khi nghiên cứu về mật độ trồng giống sắn KM 94 ở Việt Nam đã thông báo kết quả như sau: theo Nguyễn Hữu Hỷ (1997) [20] khi nghiên cứu trồng sắn KM94, KM60 tại Đồng Nai với các mật độ 8.000; 10.000; 12.345; 13.840; 15.625 và 17.774 cây/ha thì tác giả cho biết KM94 nên trồng với mật độ từ 10.000 đến 15.625 cây/ha, còn giống KM60 thì trồng với mật độ từ 10.000 đến 17.778 cây/ha Nhưng vào năm 2001, khi trồng vào đầu mùa mưa trên đất đỏ ở vùng Đông Nam Bộ với mật độ là 10.000 cây/ha, khi tăng mật độ lên 17.780 cây/ha, năng suất giảm dần từ 30,10 tấn/ha xuống còn 27,28 tấn/ha đối với giống KM94, còn giống KM60 năng suất giảm dần từ 26,28 tấn/ha xuống còn 22,28 tấn/ha; trên đất xám thì trồng 11.080 cây/ha cho cả 2 giống KM94 và KM60 sẽ đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao Theo Nguyễn Viết Hưng (2006) [19] khi trồng sắn KM94 ở Sơn Dương, Tuyên Quang thì mật độ trồng 15.625 cây/ha cho năng suất sinh vật học cao nhất từ 78,74 đến 91,71 tấn/ha/năm, sau đó đến mức trồng 10.000 cây/ha là 58,40 đến 64,50 và thấp nhất ở mức trồng 8.333 cây/ha là 59,99 và 62,32 tấn/ha/năm Theo Lại Đình Hòe (2005) [18] thì mật độ trồng sắn KM 94 thích hợp nhất tại huyện Vân Canh- Bình Định là 12.500 cây/ha

Tác giả Tongglum (1987) [106] cho biết mật độ trồng sắn có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất củ sắn Mật độ trồng hay khoảng cách trồng phụ thuộc vào từng giống: Giống Rayong 2 mật độ trồng thích hợp từ 7.000-27.000 cây/ha, còn giống Rayong 3 là 10.000-15.000cây/ha

Rayong Field Crops Research Center, Annual Report, 1979 trích từ Wyllie (1979) [115] thông báo như sau: ở phương thức trồng sắn lấy lá và lấy lá củ thì trồng với mật độ 10.000 cây/ha cho năng suất củ là cao nhất

Wanapat (1997) [109] cho biết trồng sắn lấy lá với mật độ dầy và thu hoạch lần đầu sau khi trồng 3 tháng còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng/lần thì sản lượng VCK có thể đạt 12,6 tấn/ha/năm

Wanapat (2002) [110] khi thử nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.778 cây/ha để thu cắt lấy lá thì cho sản lượng VCK qua 3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn/ha/năm Còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây/ha thì cho sản lượng VCK dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn/ha/năm

Trang 21

Atchara Limsila (2002) [55] tổng hợp các kết quả nghiên cứu về khoảng cách cắt từ 1977 đến 1979 về dòng sắn Rayong 1, tác giả cho biết người ta có thể trồng sắn với nhiều mật độ khác nhau như 62.500; 50.000; 40.000; 31.250; 20.000; 10.000 cây/ha Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy sản lượng đạt từ 6,94 đến 8,85 tấn lá tươi/ha/năm và không có sự sai khác thống kê có ý nghĩa giữa sản lượng lá tươi được trồng với mật độ khác nhau

Theo Cadavid (2002) [62] thì trồng sắn CMC 92 lấy lá tại Colombia có mật độ

từ 20.000 đến 62.000 cây/ha thì sản lượng chất khô thu được khoảng trên dưới 24 tấn/ha/2 năm Theo Bernardo Ospina thì trồng sắn lấy lá đối với giống CM 4843-1 với mật độ 11.200 cây/ha ở vùng đất xám pha cát có thể thu 24,45 tấn VCK/ha/năm (91,4 tấn tươi); giống sắn CM 2758 với mật độ 112000 cây/ha trong 2 năm có thể thu 83,01 tấn chất tươi/ha; giống CM 523-7 là 86,81 tấn chất tươi/ha; giống MCol

2737 là 102,9 tấn/ha Nhưng trồng dòng HMC 1 với mật độ 48.000 cây/ha đạt 98,2 tấn chất tươi/ha/11 tháng Ông cũng kết luận trồng sắn lấy lá có thể trồng vơi mật

độ từ 48.000 đến 112.000 cây/ha với khoảng cách cắt là 3 tháng/lần, sản lượng lá thu được khoảng trên dưới 100 tấn/ha Tuy nhiên, ở mật độ này thu hoạch rất khó khăn và cây thường bị tổn hại trong quá trình thu hoạch Nên trồng với mật độ 48.000 cây/ha sẽ thuận lợi hơn Cần lưu ý là sản lượng chất tươi nói trên bao gồm

cả thân, cành, lá sắn Ở các thông báo khác; sản lượng lá sắn thấp hơn nhiều so với thông báo nêu trên là vì sản lượng này chỉ có riêng lá, không bao gồm thân, cành, ngọn sắn

Li Kaimian (2002) [85] khi nghiên cứu các mật độ trồng sắn lấy lá ở Trung Quốc với các mật độ 27.778; 15.625; 10.000 cây/ha, cho biết sản lượng VCK đạt cao nhất

ở mật độ trồng 15.625 cây/ha là 3,04 tấn/ha

Nguyễn Hữu Hỷ (2002) [20] khi nghiên cứu khoảng cách trồng đối với các giống KM94, KM140-2; KM98-5 và SM937-26 với các mật độ 12.345 cây/ha và ở 24,690 cây/ha và thu lá 3 lần vào các thời điểm 5 tháng, 7 tháng sau trồng và lần cuối vào lúc thu hoạch củ Kết quả cho thấy giống KM98-5 cho sản lượng VCK của

lá cao nhất ở mật độ 24,690 cây/ha, sau đó đến giống KM 94 nhưng sản lượng củ thì ngược lại Sản lượng củ và lá của các khoảng cách khác đều thấp hơn, trừ sắn KM140-2 có sản lượng củ cao nhất trong các giống sắn

Trang 22

Theo Wargiono (2002) [112] thì năng suất lá phụ thuộc vào số lần thu hoạch

lá Theo ông trồng sắn với mật độ 8.000 cây/ha thu hoạch lá hàng tuần từ tháng 3 đến tháng 7 (4 tầng lá/lần thu) sẽ cho năng suất cao nhất còn tiếp tục thu từ tháng thứ 7 trở đi sẽ làm giảm năng suất của củ

Theo Rayong Field Crops Research Center, Annual Report, 1979 trích theo Wyllie (1979) [115] cho rằng trồng sắn lấy lá với mật độ 31.250 cây/ha đạt sản lượng lá và củ cao nhất

Theo Wagiono (2002) [112] người ta thường trồng sắn xen với các cây trồng khác với mật độ 5.000 đến 10.000 cây/ha, còn trồng thuần sắn với mật độ 10.000 đến 12.000 cây/ha

Theo Wanapat (1997) [108] thì trồng xen sắn với mật độ 60 x 40 cm (41668 cây/ha) vào giữa hàng của cây keo giậu sẽ cải thiện được dinh dưỡng đất đồng thời lại vừa cung cấp thức ăn cho người và động vật

Theo Trần Ngọc Ngoạn (2007) [33] thì trồng sắn xen với lạc với mật độ trồng sắn là 1,2 x 0,8 m (10.417 cây/ha) và lạc được trồng xen 2-3 hàng gữa hai hàng sắn

sẽ cho năng suất tốt nhất

Theo Nguyễn Thế Đặng và cs (1999) [9], trồng lạc 1, 2 đến 3 hàng xen giữa 2 hàng sắn; sắn được trồng với các mật độ lần lượt là 1,0 x 0,6m (16.667 cây/ha); 1 x 0,8m (12.500 cây/ha) và 1,2 x 0,8 (10.417 cây/ha) thì công thức 16.667 cây/ha cho sản lượng sắn cao nhất và cho hiệu quả kinh tế nhất Do đó, nông dân thường hay lựa chọn mật độ này sau đó đến mật độ 12.500 cây/ha

Theo Lê Sĩ Lợi (1999) [28] khi trồng giống KM60 xen với lạc thì ở mật độ trồng sắn là 16.667 cây/ha và 12.500 cây/ha được xen lần lượt là 1 và 2 hàng lạc sẽ cho năng suất củ cao nhất

1.2.2 Vai trò và lượng phân bón cho sắn

Thái Phiên và cs (1998) [35] chỉ ra rằng: Độc canh sắn làm cho đất bị thoái hóa, tăng độ chua của đất, hàm lượng mùn trong đất giảm làm độ phì cũng như lý, hoá tính của đất bị suy giảm dẫn đến giảm năng suất Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các cây trồng khác Theo Reinhardt (2000) [36] thì để tạo ra 15 tấn sắn củ tươi và từ 15-18 tấn thân, lá thì cây sắn phải lấy một

Trang 23

lượng dinh dưỡng trung bình là 74 kg N, 16 kg P, 87 kg K, 27 kg Ca và 12 kg Mg Theo Howelerc (1999) nếu thu hoạch củ tươi và cả các bộ phận thân lá thì đã lấy đi 75% N, 92% Ca, 76,% Mg mà cây sắn lấy được trong quá trình sinh trưởng

Mặt khác, đất trồng sắn thường bị xói mòn làm mất đi nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững

Như vậy, nếu không có sự quan tâm hợp lý về dinh dưỡng đất sẽ làm cho đất giảm tỷ lệ mùn, tăng độ chua, tăng quá trình rửa trôi đất và đất trồng sắn sẽ dần bị cạn kiệt về dinh dưỡng Từ thực tế trên, để bón phân có hiệu quả, phải hiểu rõ đặc tính và mức bón của từng loại phân bón cho sắn Chúng tôi xin đưa ra một số thông tin về mức bón một số loại phân bón ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sắn như sau:

1.2.2.1 Phân đạm

Tỷ lệ nitơ tổng số trong đất khoảng 0,05-0,25 %, phần lớn nitơ nằm trong các hợp chất hữu cơ (chiếm 5 % trong mùn), do đó, đất càng giàu mùn thì nitơ tổng số càng nhiều (Cao Liêm và cs, 1975) [26]

Đạm cần cho cấu tạo các vật chất hữu cơ, đặc biệt trong phát triển thân, cành và

lá sắn non Theo Nguyễn Vy và cs (2006) [52] đạm có trong thành phần protein, các acid amine và các hợp chất khác tạo nên tế bào Đạm có trong thành phần chất diệp lục, nguyên sinh chất, ADN, ARN, nơi khu trú các thông tin di truyền của nhân bào và các men của cây (Ngô Thị Đào và cs, 2007) [8]

Cây sắn phản ứng mạnh với phân đạm, nhưng mức độ này còn phụ thuộc vào các phân bón khác bón theo, đặc biệt là kali

Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh (Đào Văn Bảy và cs, 2007) [1] Đủ đạm, chồi búp, cành lá cây phát triển nhanh Theo Duangpatra (1987) [71] thì đạm là nguyên tố rất cần thiết đối với sinh trưởng và phát triển của cây sắn Cây sắn hấp thu một lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, số rễ củ và năng suất củ Tuy nhiên, bón đạm làm giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ Sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất

là trên các loại đất nghèo dinh dưỡng Hàm lượng N trong thân lá tăng khi mức bón đạm tăng

Trang 24

Theo Howeler (1997) nếu bón dư thừa phân đặc biệt là đạm đối với một số giống sắn có tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật cao, tỷ lệ tinh bộ trong củ giảm làm năng suất củ tươi giảm, tăng tỷ lệ HCN, chỉ số thu hoạch thấp Bón quá nhiều đạm có thể làm thân, lá tăng 11% nhưng lại làm giảm năng suất của củ tới 41% (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [33] Việc cung cấp

dư thừa đạm dẫn đến cây sắn phát triển rất mạnh về thân lá, tỷ lệ nước trong lá cao, không bào lá lớn, lá non hơn dẫn đến cây sắn dễ bị sâu bệnh phá hoại Bón phân N dư thừa sẽ làm tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh dưỡng cân đối

cho cây sắn là rất cần thiết để đạt năng suất cao

Nếu thiếu đạm, khả năng sinh trưởng của cây giảm rõ rệt, thân, cành, lá nhỏ, lá

có mầu vàng Lúc này, lá già sẽ chuyển đạm nuôi các lá non nên lá già rụng sớm Cây thiếu đạm buộc phải hoàn thành chu kỳ sống nhanh, thời gian tích lũy ngắn, năng suất

củ và lá giảm rõ rệt

Lượng đạm bón tối ưu tùy thuộc vào đất và giống sắn Để bảo đảm bón cho sắn cân đối dinh dưỡng lượng N bón cho sắn thường được bón trong tổ hợp phân N P K, nhiều tác giả đã nghiên cứu và có những kết quả về mức bón N/ha như sau:

Những kết quả nghiên cứu khác nhau tại Ấn Độ, Thái Lan, Indonexia, Philippin và Trung Quốc cho thấy bón cân đối N P K với tỷ lệ 2:1:2 và 2:2:4 có thể làm tăng năng suất sắn lên 48% và nâng cao được tỷ lệ tinh bột so với không bón, đồng thời có thể duy trì được độ phì của đất Cũng theo các kết quả nghiên cứu tại các quốc gia này thì mức bón N từ 60 đến 100 kg N/ha Còn ở Malayxia, với nhiều công trình nghiên cứu trên đất than bùn, tiến sĩ Lian cho biết bón N thích hợp cho sắn là từ 150 đến 250 kgN/ha

Trần Công Khanh và cs (1998) [22] cho biết trên đất nâu đỏ ở Bình Long bón phân N cho sắn có hiệu lực rõ rệt so với không bón phân, ở mức bón N cho 1 ha là

160 và 120 kg/ha đem lại hiệu quả cao nhất

Theo tác giả Lê Hồng Lịch và cs (2000) [25] ở những vùng đất phiến thạch sét

và đất bazan nâu đỏ tại Đắc Lắc, lượng phân N bón cho sắn là 70 kg/ha, còn đất đỏ

và đất xám ở miền Đông Nam Bộ, thì mức bón phân N thích hợp cho sắn từ 80 đến

160 kg/ha đạt năng suất củ và hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 25

Theo Lozano (1981) [90] thì bón đạm cho những vùng đất cát thường từ

50-100 kg/ha/năm và phải bón vào thời điểm trồng và sau trồng từ 2-3 tháng Nếu sắn sinh trưởng sau khoảng thời gian chịu lạnh hay sau khoảng thời gian bị khô hạn kéo dài thì nên bón lượng phân đạm gấp đôi

Theo Hung (2002) [81] khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ N khác nhau trong

9 năm với các mức N là 0, 40, 80, 160 đến sản lượng sắn khi phân bón nền P K giữ nguyên ở mức 40: 80 thì sản lượng trung bình của củ sắn cao nhất ở mức bón 80 N

là 17,1 tấn/ha

Nguyễn Thế Đặng (2005) [12] khi nghiên cứu tổ hợp N.P.K cho nương sắn độc canh thì ở năm thứ 14, đạm vẫn là nguyên tố dinh dưỡng ảnh hưởng mạnh đến khả năng sinh trưởng và phát triển của 2 giống sắn Trên nền P K là 40-80 bón nhiều N làm suy giảm năng suất và các chỉ tiêu sinh lý khác của cây sắn thí nghiệm Bón đạm cho giống Xanh Vĩnh Phú từ 0-110 kg N còn KM60 từ 0-130 kg N/ha; kết quả cho thấy năng suất cao ở các mức bón đạm cao Nhưng bón cao hơn mức này thì các chỉ tiêu cấu thành năn suất không tăng mà giảm đi rõ rệt

Tác giả Sittibusaya (1984) [104] cho biết hơn 100 thí nghiệm trên đồng ruộng của nông dân tại Thái Lan và Trung Quốc đều cho thấy cây sắn phản ứng mạnh với mức bón phân đạm từ 50 đến 200 kg N/ha, nhưng cũng có sự khác nhau tuỳ theo giống (giống SC205 phản ứng với mức bón 200kgN/ha còn giống SC201 ở mức 50kgN/ha)

Theo Wargiono và cs (2002) [112] khi trồng sắn lấy lá với mật độ 25 x 25 cm thì bón đạm ure ở mức 100kg/ha (46 kg N/ha) và bón 1 tấn phân trâu bò/ha cho mỗi lần thu cắt Khi trồng với mật độ 60 x 60 cm thì bón 25 kg N/ha/lứa cắt

1.2.2.2 Phân lân

Photpho là một nguyên tố đa lượng đóng vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và động vật (Woodhouse và cs, 1973) [114] Photpho còn có tác dụng làm tăng cường phát triển bộ rễ cây (đặc biệt là thời kỳ đầu sinh trưởng) Cây

đủ photpho, bộ rễ phát triển sớm, lông hút xum xuê, là cơ sở tạo bộ rễ vững chắc để cây hút chất dinh dưỡng và phát triển tốt (Nguyễn Công Vinh, 2002) [49] Photpho giúp cho quá trình photphoril hóa cacbonhydrat để hình thành nên tinh bột

Trang 26

Nếu thiếu photpho sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của cây và làm giảm sản lượng nhưng không biểu hiện rõ về triệu chứng trên lá Tuy nhiên, thường thấy lá mỏng và thân nhỏ, lá hẹp và ít tán, trong một vài trường hợp thiếu lân thì có hiện tượng lá phía gần gốc bị vàng và rụng (Lozano, 1981) [90]

Kết quả nghiên cứu của Ashokan và cs (1985) [54] cho thấy cây sắn không giống như các cây trồng khác chúng chỉ hấp thu một lượng P2O5 rất thấp, nhưng P2O5 có tác dụng làm tăng tỷ lệ tinh bột và giảm axit cyanhydric (HCN) trong củ Theo tác giả Howeler (1997) nếu cung cấp P, K vượt mức giới hạn cho phép

sẽ ức chế đến sự hấp phụ các chất dinh dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca, Mg làm cho sắn sinh trưởng và phát triển kém, năng suất củ giảm

Theo Reibhardt (2000) [36] thì tỷ lệ photpho giữa bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất là như nhau Nếu thu hoạch chỉ lấy củ thì chỉ một lượng nhỏ photpho mất đi, còn thu cả củ, thân lá và lá rụng thì lượng photpho lấy đi từ đất sẽ mất đi gấp đôi Nhìn chung, cây sắn không cần nhu cầu về photpho cao và cũng không có phản ứng có ý nghĩa khi bón phân lân Khi không bón photpho thì vẫn giữ ở trên mức khủng hoảng photpho trong đất Do mức khủng hoảng P dễ tiêu trong sắn chỉ khoảng 5 ppm so với 10-15 ppm cho ngô Vì vậy, người ta quan tâm đến việc bón phân kali hơn là bón phân photpho

Theo Công Doãn Sắt và cs (2000) [37], khi nghiên cứu các mức phân lân từ 0; 60; 120 kg P2O5/ha trên đất đỏ, tác giả cho biết năng suất sắn cao nhất ở mức bón cao nhất còn không bón phân năng suất giảm rõ rệt

Theo Hung (2002) [81] khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ lân 0, 20, 40, 80

kg P2O5/ha trong 9 năm đến sản lượng sắn khi phân bón nền N K giữ nguyên ở mức 80: 80 thì sản lượng trung bình của củ sắn cao nhất ở mức bón lân cao nhất là 17,8 tấn/ha Lê Hồng Lịch và cs (2000) [25]; Trần Công Khanh và cs (1998) [22]trên các vùng đất nâu đỏ, đất đỏ, đất xám ở các tỉnh phía nam thì bón P ở mức 80 kg P2O5/ha đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất Theo Nguyễn Thế Đặng (2005) [12] thì mức bón P thích hợp cho các nương sắn ở các tỉnh vùng núi phía bắc là 40

kg P2O5/ha

Trang 27

1.2.2.3 Phân kali

Kali là một khoáng đa lượng vô cùng thiết yếu cho cây sinh trưởng Trong đất, tỷ

lệ K2O tổng số có thể từ 0,5-3 % (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976) [50] Đất nhiệt đới chứa kali ít hơn đất ôn đới, vì vùng nhiệt đới mưa nhiều, các ion K+ lại dễ bị rửa trôi Rất nhiều vùng đất ở Việt Nam cần phải bón phân kali (Lê Văn Căn, 1978) [4]

Kali làm tăng sức trương, tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào, kích thích sự hoạt động của các men, do đó, cây tăng cường trao đổi chất, tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, do vậy mà hạn chế tích lũy nitrat trong lá Nó còn giúp cây trồng tăng khả năng quang hợp, tăng cường sự hình thành bó mạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây, chống bệnh, chống rét (Nguyễn Vy và cs, 2006) [52] Kali còn có vai trò vận chuyển hydratcacbon từ thân,

lá về củ và làm tăng tỷ lệ tinh bột trong củ Khi bón đầy đủ đạm, lân nhưng thiếu K thì năng suất giảm rõ rệt (Nguyễn Thế Đặng và cs, 1999) [10]

Kali là nguyên tố được cây sắn hấp phụ nhiều nhất Kali giúp cho cây trồng không bị bội thực đạm, tránh hiện tượng lá thì nhiều, mà củ thì ít Cùng một lượng đạm, nếu ta tăng dần lượng phân kali, thì ở liều thấp kali cho năng suất rất cao Theo Reibhardt (2000) [36] thì khoảng 60% K nằm trong củ còn lại 40% nằm trong thân lá và lá rụng Nếu chỉ thu củ thì tỷ lệ N.P.K bị lấy đi là 1,8: 1,0: 3,8 còn thu cả củ, thân lá, lá rụng thì tỷ lệ này là 3,3: 1,0: 2,9 Khi nghiên cứu cùng nông dân về mức bón bón phân ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam thì mức bón N.P.K kinh tế nhất là tỷ lệ 3: 1: 3 kết hợp với 10 tấn phân chuồng/ha

Theo Công Doãn Sắt và cs (2000) [37] thì tại vùng đất xám thường bón phân

K cao hơn, ở mức bón 180 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất

Theo Hung (2002) [81] thì sản lượng trung bình của củ sắn cao nhất ở mức bón 160 kg K2O/ha là 18,1 tấn/ha Nếu 9 năm liên tiếp không bón K thì năng suất sắn trung bình chỉ đạt 2,8 tấn/ha Theo Trần Ngọc Ngoạn (2007) [33], thì không bón kali cho sắn liên tục, năng suất giảm từ 22,4 xuống 6,3 tấn/ha

Nguyễn Thế Đặng (2005) [12] khi nghiên cứu K cho nương sắn độc canh cho biết: bón nhiều K làm suy giảm năng suất và các chỉ tiêu sinh lý khác của cây sắn Tác giả cho biết bón K cho giống Xanh Vĩnh Phú là 130 kg K2O còn KM60 là 120

kg K2O/ha sẽ cho năng suất cao nhất

Trang 28

Theo Trần Công Khanh và cs (1998) [22]; Lê Hồng Lịch và cs (2000) [25] thì mức bón K thích hợp cho sắn là từ 80 đến 160 kg K2O/ha sẽ cho năng suất cao nhất Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [47] thì tại một số nước như Ấn Độ, Thái Lan, Indonexia, Philippin và Trung Quốc đều sử dụng mức bón K từ 80 đến 160 kg K2O/ha

1.2.2.4 Phân chuồng

Phân chuồng là hỗn hợp các chất do gia súc bài tiết ra cùng với chất độn chuồng Thành phần của phân chuồng phụ thuộc nhiều vào loài gia súc và phương pháp bảo quản Bón phân chuồng thường có tác dụng ngay, vì trong phân chuồng có một lượng đạm nhất định (Lê Văn Căn, 1978) [4] Tuy nhiên, phân chuồng chưa phải là loại phân hoàn chỉnh Vì vậy, khi dùng phân chuồng phải kết hợp với các phân giàu đạm, lân, kali để tăng độ phì nhiêu cho đất (Đào Văn Bảy và cs, 2007) [1]

Theo Reibhardt (2000) [36] thì bón riêng phân chuồng sẽ không đảm bảo dinh dưỡng cho sắn mà chỉ nên bón 5-6 tấn phân chuồng/ha và kết hợp với 60 kg N; 120

kg K2O; có thể không hoặc có bón 30-60 kg P2O5/ha

Lê Hồng Lịch và cs (2000) [25] khi trồng 8 giống sắn trên đất bazan thì bón 8 tấn phân chuồng và dùng phân N.P.K như sau 80: 60: 120 kg/ha

Nguyễn Thị Bồng (1997) [2] sử dụng 6 tấn phân bò và bón N.P.K là 60: 30:

60 cho năng suất củ/khóm và lá/khóm từ 3 đến 4,89 và từ 2 đến 2,98 kg/khóm Theo Chau Le Ha (1998) [63] khi trồng sắn lấy lá trên đất xám bạc màu, thu hoạch thân, lá sắn lần đầu sau trồng 70 ngày, bón phân bò, phân lợn, nước thải biogas từ phân bò, phân lợn thì năng suất lá đạt lần lượt là 5,3; 5,1; 6,7 và 6,4 tấn/ha

Theo Poungchompu và cs (2001) [97] khi không dùng phân chuồng và có dùng phân chuồng để bón cho sắn thì năng suất của sắn được bón phân chuồng sẽ cao hơn so với không được bón Năng suất lần lượt là 12,79 và 14,77 tấn/ha

Nguyễn Thế Đặng (2003) [11] khi tăng mức bón bón phân chuồng từ 0, 5, 10,

15 thì năng suất sinh vật học của sắn tăng từ 9,02 đến 30,25 tấn/ha Nhưng khi bón phân chuồng tăng từ 5, 10 và 15 tấn/ha và kết hợp với bón N K ở mức 80: 80 thì năng suất sinh vật học tăng từ 37,87 đến 47,75 tấn/ha Tác giả cũng cho biết khi bón riêng phân chuồng hoặc bón riêng phân khoáng thì năng suất thấp hơn so với bón kết hợp cả phân chuồng và phân khoáng

Trang 29

* Nhận xét chung:

Có rất nhiều mật độ trồng sắn khác nhau phụ thuộc vào giống sắn, chất đất, mục đích sử dụng (lấy củ hay lá, hay lá-củ) Nếu trồng sắn lấy củ người ta thường trồng với mật độ từ 8000 đến 17.000 cây/ha; Còn trồng với mục đích lấy lá có thể trồng từ 17.000 cây đến 112.000 cây/ha Tuy nhiên, không nên trồng nhiều hơn 48.000 cây/ha vì khi thu hoạch lá rất khó khăn và làm hỏng cây; Còn khi trồng sắn xen với các cây trồng khác thì tùy thuộc vào loại cây trồng xen với và giống sắn mà

có thể trồng với mật độ 5.000 đến 16.667 cây/ha

Phân N được bón cho sắn để lấy củ với mức bón từ 80-160 kg/ha, còn nếu bón riêng phân N với mục đích lấy lá thì có thể bón từ 50 đến 200 kg/ha Phân lân được bón với mức bón từ 40 đến 80 kg K2O/ha là có hiệu quả nhất Phân kali có vai trò rất quan trọng đối với cây sắn, nếu bón hỗn hợp N.P.K thì kali thường ở mức từ 80-

160 kg/ha Phân chuồng thường được bón từ 5-15 tấn/ha tùy vào loại đất, nhưng phải bón kết hợp với phân N.P.K thì mới đảm bảo dinh dưỡng cho sắn

1.3 Nhận xét chung phần tổng quan tài liệu

Trồng sắn lấy củ nhưng tận dụng tỉa lá sắn, trồng sắn với mục đích lấy lá và sử dụng bột lá sắn như một thành phần không thể thiếu được trong thức ăn hỗn hợp của gia súc, gia cầm là một hướng mới Để sản xuất, chế biến và sử dụng bột lá sắn

có hiệu quả cần phải nắm vững: (1) Đặc tính sinh vật của cây sắn; (2) Một số kỹ thuật canh tác then chốt (mật độ trồng, mức phân bón ); (3) Các phương pháp chế biến có thể bảo vệ tối đa các chất dinh dưỡng và giảm nhiều nhất độc tố trong lá sắn Chỉ khi nắm vững được các vấn đề trên thì việc sản xuất bột lá sắn và sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi mới đạt được hiệu quả kinh tế cao Đề tài nghiên cứu của chúng tôi là bước khám phá ban đầu về những vấn đề nêu trên trong điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết và thực tiễn chăn nuôi ở Việt Nam

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Cây sắn giống KM 94

Phân đạm ure

* Địa điểm nghiên cứu

Trung tâm thực tập thực hành trường Đại học Nông lâm, Thái Nguyên

* Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu trong 2 năm 2009-2010

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định sản lượng củ và lá sắn tươi, sản lượng VCK và protein của 3 phương thức trồng sắn (lấy củ, lấy củ - lá và lấy lá)

- Xác định mức bón đạm phù hợp cho sắn để có sản lượng lá sắn cao nhất

- Xác định được ảnh hưởng của phương pháp chế biến lá sắn đến thành phần

hóa học của bột lá sắn và sự biến đổi thành phần hóa học của bột lá sắn theo thời gian bảo quản

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nội dung các thí nghiệm

a Thí nghiệm 1: Nghiên cứu các phương thức trồng sắn khác nhau (lấy củ,

lấy lá-củ, lấy lá)

* Mục đích thí nghiệm

Xác định sản lượng củ và lá sắn tươi, VCK, protein của các phương thức trồng lấy lá, lấy củ-lá, lấy củ Kết quả thu được có thể sử dụng trong việc lập kế hoạch sản xuất thức ăn chăn nuôi

* Phương pháp thí nghiệm

- Thí nghiệm đối với giống sắn KM94 trồng với 3 mục đích khác nhau (lấy

củ ký hiệu là: C, lấy lá ký hiệu là: L, lấy củ-lá ký hiệu là: C-L) Mỗi loại trồng trên

1 ô riêng biệt với diện tích 30 m2 và được nhắc lại 3 lần Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

Trang 31

Vành

đai

Vành đai

Vành đai

- Lượng phân bón đối với phương thức trồng lấy C và lấy C-L:

10 tấn phân hữu cơ + 60 kg N + 40 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha/năm

Cách bón:

+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% P2O5

+ Bón thúc lần 1: Sau trồng 45 ngày bón 1/2N +1/2K2O kết hợp với làm cỏ và

vun nhẹ cho sắn

+ Bón thúc lần 2: Sau trồng 90 ngày bón số phân còn lại (1/2N +1/2K2O) kết hợp làm cỏ vun cao gốc cho sắn

- Lượng phân bón đối với phương thức trồng lấy lá:

10 tấn phân hữu cơ + 120 kg N + 40 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha/năm

Bón lót vào lúc trồng sắn ở năm thứ nhất và đầu năm thứ 2: 100% phân chuồng và 100% phân lân Phân kali được bón lót 25% cùng phân chuồng và phân lân, số còn lại được bón cùng với đạm sau mỗi lứa cắt Phân đạm được chia đều bón

sau trồng 45 ngày và sau mỗi lứa cắt

- Thu hoạch và chế biến:

* Đối với phương thức trồng lấy lá: Năm thứ nhất, thu cắt lứa đầu tiên sau khi trồng 4 tháng, sau đó cứ 2 tháng thu cắt một lần Lứa đầu tiên cắt cách mặt đất 50-60cm Lần cắt sau cắt cao hơn lần cắt trước 10-20cm Đầu năm thứ 2 cắt cây sắn

Trang 32

cách mặt đất 20-30 cm, bón phân để sắn tái sinh Sau khi cắt 3-4 tháng thì thu hoạch lứa đầu của năm thứ 2 Sau đó cũng cứ 2 tháng thì thu cắt lứa tiếp theo Đến lần thu hoạch cuối cùng của năm thứ 2 tận thu củ để tính sản lượng sinh dưỡng (sản lượng VCK và protein)

Tách toàn bộ lá sắn của mỗi ô khỏi cuống lá, cân lá sắn để tính năng suất lá sắn của từng ô Băm nhỏ lá, phơi khô, nghiền thành bột và cho vào túi ni lông bảo quản

* Đối với phương thức lấy C-L: sau khi trồng 4 tháng, cứ 20 ngày tỉa lá già và

lá bánh tẻ phía gần gốc 1 lần Tách toàn bộ cuống ra khỏi lá và cân khối lượng lá Thu hoạch củ vào tháng 12, đồng thời kết hợp tận thu lá

* Đối với phương thức trồng lấy củ: Thu hoạch củ vào tháng 12 và tận thu lá

- Các chỉ tiêu theo dõi:

Năng suất củ và lá sắn tươi (tạ/ha/lứa)

Thành phần hóa học của lá sắn: Vật chất khô (VCK), protein thô, litpit thô, xơ thô, dẫn xuất không chứa ni tơ, khoáng tổng số

Sản lượng củ và lá sắn tươi, VCK, protein thô (tấn/ha/2 năm)

- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu: Xem tại mục 2.3.4 từ trang 35 đến trang 38

b Thí nghiệm 2: Nghiên cứu mức bón đạm thích hợp

- Mục đích thí nghiệm: Xác định mức phân đạm thích hợp đối với sắn trồng thu lá Mức bón này cho năng suất cao, chi phí cho 1 đơn vị sản phẩm thấp so với các mức bón khác

Khái niệm về mức bón đạm: Khi nói mức bón đạm có nghĩa là nói đến khối lượng Nitơ (N) tính bằng kg được bón cho 1 ha/lứa cắt hoặc cho 1ha/1 năm

Trang 33

- Thu hoạch và chế biến: Giống như thí nghiệm 1

- Các chỉ tiêu theo dõi: cùng các chỉ tiêu của thí nghiệm 1

- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu: Xem tại mục 2.3.4 từ trang 35 đến trang 38

c Nghiên cứu chế biến và thời gian bảo quản

1 Công thức 1 (CT1) Để cá lá (đã bỏ cuống) phơi khô

2 Công thức 2 (CT2) Để cả lá, ngâm nước, phơi khô

3 Công thức 3 (CT3 Băm nhỏ lá (2- 3cm), phơi khô

4 Công thức 4 (CT4) Băm nhỏ lá, ngâm nước, phơi khô

6 Công thức 6 (CT6) Để cả lá, ngâm nước sấy khô

8 Công thức 8 (CT8) Băm nhỏ lá, ngâm nước, sấy khô

Trang 34

Mỗi lần thí nghiệm sử dụng 10 kg lá sắn (bỏ toàn bộ cuống) cho mỗi công thức thí nghiệm, thí nghiệm được lặp lại Đối với phương pháp có sử dụng ngâm nước thì tiến hành ngâm nước trong 4 giờ, sau đó để ráo nước và phơi cùng thời gian với các công thức còn lại Sau khi nghiền thành bột, lấy bột lá sắn của phương pháp chế biến thích hợp nhất (băm nhỏ lá, phơi khô) trong 8 phương pháp đã chế biến để theo dõi sự thay đổi các chất dinh dưỡng trong thời gian bảo quản từ 0 - 9 tháng

* Cách thức chế biến

- Tách lá sắn ra khỏi cuống lá

- Thái nhỏ: Lá sắn được thái nhỏ với chiều ngang từ 2- 3cm

- Ngâm nước: Lá sắn (để nguyên cả lá) hoặc sau khi băm nhỏ (tùy theo công thức thí nghiệm) được cho vào nước sạch, ngâm trong 4 giờ, vớt ra để ráo nước, sau

đó phơi hoặc sấy khô

- Phơi khô: theo dõi dự báo thời tiết để chọn thời gian thí nghiệm là những ngày nắng to Phơi lá sắn (để nguyên cả lá) hoặc đã băm nhỏ trên nền xi măng, theo dõi thời gian từ lúc bắt đầu phơi đến khi lá sắn khô ròn, bóp vụn được (lúc này lá sắn có độ ẩm khoảng trên dưới10%), nghiền lá sắn thành bột

- Bảo quản: Bột lá sắn sau khi nghiền được tải đều trên mặt ni lông cho tỏa hết hơi nóng, sau đó được cho vào túi ni lông, buộc chặt miệng túi để bảo quản

- Sấy: Sấy lá sắn (để nguyên cả lá hoặc băm nhỏ, ngâm nước hoặc không ngâm nước cho vào tủ sấy với nhiệt độ 60-650C, theo dõi thời gian từ lúc bắt đầu sấy đến khi lá sắn khô ròn, bóp vụn được (lúc này lá sắn có độ ẩm khoảng trên dưới10%), nghiền lá sắn thành bột

* Các chỉ tiêu theo dõi

Thời gian phơi sấy: từ khi bắt đầu phơi hoặc sấy đến khi lá sắn khô ròn, có thể bóp vụn được

Thành phần hóa học của BLS: VCK, protein thô, lipit thô, xơ thô, DXKN, khoáng tổng số, HCN, caroten của 8 công thức thí nghiệm và của BLS được bảo quản sau 3, 6, 9 tháng

- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu: Xem tại mục 2.3.4 từ trang 35 đến trang 38

Trang 35

2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

* Mẫu đất phân tích của khu vực thí nghiệm

Lấy mẫu đất theo tài liệu hướng dẫn của Viện chăn nuôi, 1977 Mẫu đất

được được phân tích tại Viện Khoa học Sự sống, Đại học Thái Nguyên với các chỉ tiêu: pH, nitơ tổng số, P2O5 tổng số, P2O5 dễ tiêu, K2O tổng số, K2O trao đổi, OM

* Số liệu về khí hậu thời tiết

Số liệu khí hậu thời tiết bao gồm: lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm của các tháng

trong năm được lấy từ Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên

* Theo dõi và tính tỷ lệ sống của sắn

Tỷ lệ sống của sắn được theo dõi sau khi sắn được trồng 30 ngày và được tính như sau:

Tỷ lệ sống (%) =

Tổng số hom sống ở thời điểm 30 ngày (hom)

x 100 Tổng số hom trồng ban đầu (hom)

* Phương pháp theo dõi năng suất củ, lá sắn tươi (thí nghiệm 1 và 2)

Khái niệm về năng suất: Đối với cây thức ăn xanh, có khả năng tái sinh, thu cắt được nhiều lứa trong năm thì năng suất là khối lượng chất xanh thu hoạch được của một lứa cắt trên một đơn vị diện tích Đơn vị tính là kg/m2/lứa hoặc tạ/ha/lứa Năng suất lá sắn tươi của từng lứa trong thí nghiệm 1 và 2 được theo dõi như sau: Thu và cân toàn bộ lá (đã tách cuống) của từng ô thí nghiệm, tính năng suất trung bình của từng ô Năng suất trung bình của công thức thí nghiệm được tính từ năng suất trung bình của 3 ô thí nghiệm

NSTB Ô1 + NSTN Ô2 + NSTB Ô3

NSTB (tạ/ha/lứa) = ––––––––––––––––––––––––––––

Năng suất trung bình của cả năm/ lứa được tính như sau:

NSTB năm (tạ/ha/lứa) = –––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Trang 36

* Phương pháp tính sản lượng lá sắn tươi, VCK, Protein (thí nghiệm 1 và 2) Khái niệm về sản lượng: Đối với cây thức ăn xanh, có khả năng tái sinh, thu hoạch được nhiều lứa trong năm thì sản lượng là tổng năng suất của các lứa cắt trong năm/1ha, tính bằng tấn/ha/năm

- Tính sản lượng theo 1 trong 2 công thức sau:

NSTB lứa 1 + NSTB lứa 2 +… + NSTB lứa n

1 Sản lượng(tấn/ha/năm) = ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

10 NSTB năm x số lứa trong năm

2 Sản lượng(tấn/ha/năm)=

10 Sản lượng VCK và Protein được tính bằng cách nhân sản lượng lá sắn tươi với

tỉ lệ VCK hoặc protein trong lá sắn Tính sản lượng theo các công thức sau:

1 Sản lượng VCK(tấn/ha/năm) = SL lá sắn tươi x tỉ lệ VCK trong LS tươi

2 SL Protein(tấn/ha/năm) = SL lá sắn tươi x tỉ lệ Protein trong lá sắn tươi

* Phương pháp lấy mẫu phân tích

Xem dự báo thời tiết, chọn ngày lấy mẫu là ngày có nắng, không mưa Lấy mẫu vào buổi sáng khi đã hết sương đọng trên lá, nhưng chưa có ánh nắng mặt trời Mỗi ô thí nghiệm được lấy mẫu tại 5 điểm, đó là 1 điểm nằm ở điểm giao nhau của

2 đường chéo của ô, 4 điểm còn lại nằm ở 4 điểm giữa của 4 nửa đường chéo của ô Xem hình vẽ

Thu toàn bộ lá sắn (bỏ cuống) của cây sắn thuộc điểm lấy mẫu, trộn đều và lấy mẫu ban đầu khoảng độ 2kg theo phương pháp lấy mẫu thức ăn (trải đều lá sắn tạo thành hình vuông trên 1 tấm nilông, kẻ 2 đường chéo, lấy mẫu ở 2 tam giác đối diện nhau, mẫu lấy được từ 2 tam giác này lại được trộn đều và được tiếp tục làm như trên cho đến khi chỉ còn đủ khối lượng mẫu ban đầu cần lấy (2kg)

Trang 37

Xem hình vẽ

Mẫu ban đầu được cho vào túi ni lông, nịt chặt miệng túi, mang về phòng thí nghiệm Thái nhỏ mẫu và lấy mẫu để phân tích khoảng 200g với phương pháp lấy mẫu như trên

* Phân tích thành phần hóa học của lá sắn, bột lá sắn (thí nghiệm 1,2,3)

* Phương pháp phân tích thức ăn: VCK, protein, lipit, xơ, DXKN, khoáng

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu các phương thức trồng sắn khác nhau

3.1.1 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm

Một số thành phần của đất như nitơ tổng số; P2O5 tổng số và dễ tiêu, K2O tổng số và trao đổi, pH và OM của đất đã được phân tích Kết quả được trình bày tại bảng 3.1

Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm

3.1.2 Khí tượng khu vực thí nghiệm từ 2009-2010

Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh đôi khi có sương muối, lượng mưa rất thấp, còn mùa hè thì nắng gay gắt, nhiệt độ cao và lượng mưa cũng cao, do đó sinh trưởng của thực vật ở các mùa vụ khác nhau có sự khác nhau Kết quả theo dõi về khí tượng tại Thái nguyên từ năm 2009 đến 2010 được trình bày tại bảng 3.2

Trang 39

Bảng 3.2: Giá trị trung bình về khí tượng Thái Nguyên từ năm 2009-2010

Ghi chú: - Tổng lượng mưa trung bình là 1700 mm/năm

- Nguồn: Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trong năm của khu vực là 24,20C Nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, 7, 8, 9 là 29,4; 29,3; 28,6 và 28,10C, trong đó, một số ngày trong các tháng, nhiệt độ lên trên 38, 390C Nhiệt độ trung bình thấp nhất là vào các tháng

1 và tháng 12 là 16,4 và 19,00C, trong đó có những ngày hoặc từng đợt ngắn ngày hay dài ngày nhiệt độ xuống dưới 100C, đồng thời đôi lúc có sương muối

Ẩm độ: Ẩm độ không khí trung bình các năm là 80,2 % Còn trong mùa khô hay mùa mưa thì độ ẩm không khí đều thuận lợi cho sắn sinh trưởng và phát triển, dao động từ 76,0 đến 85,5 %

Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình qua hai năm theo dõi là 1700 mm/năm Lượng mưa các tháng trong năm phân bố không đều, cao nhất vào các tháng mùa mưa (tháng 4, 5, 6, 7, 8 và 9) với mức là: 128; 387,2; 265,1; 307,7; 258,0 và 193,8mm Lượng mưa đạt thấp nhất vào các tháng mùa khô (tháng 1, 2, 3, 10, 11, 12) với mức trung bình là 47,1; 10,0; 41,4; 37,4; 1,3 và 22,4 mm Căn cứ vào kết quả theo dõi về khí tượng nói trên cho thấy: Không nên trồng sắn vào trước tháng 3, vì lượng mưa rất thấp, hom sắn có thể bị hỏng không nảy mầm được, nên trồng sắn vào nửa cuối tháng 3, đến tháng 4 có mưa xuân, lượng mưa đạt gần 130mm sẽ là điều kiện thuận lợi cho sắn nẩy mầm và phát triển Thu hoạch lá sắn lứa cuối cùng chậm nhất là vào tháng 10 Vì từ tháng 10 trở đi đến tháng 3 năm sau, lượng mưa thấp, nhiệt độ thấp, sắn tái sinh và phát triển rất chậm Để khai thác sắn tái sinh ở năm thứ 2,3 có hiệu quả tốt, tháng 2 hoặc 3 cần đốn sắn cách mặt đất 20-30cm Sau

đó bón phân chuồng và phân N,P,K cho sắn để sắn tái sinh tốt trong mùa mưa

Trang 40

Hình 3.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình từ năm 2009-2010

Hình 3.2 Đồ thị sự phân bố lượng mưa trung bình trong 2 năm (2009-2010) 3.1.3 Tỷ lệ sống của sắn thí nghiệm

Tỷ lệ sắn sống được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số hom sắn sống trên tổng số hom trồng Kết quả được trình bày tại bảng 3.3 và bảng 3.4

* Tỷ lệ sống của sắn ở thí nghiệm 1

0 5 10 15 20 25 30 35 40

Ngày đăng: 16/10/2017, 09:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm (Trang 38)
Hình 3.1. Biểu đồ nhiệt độ trung bình từ năm 2009-2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 3.1. Biểu đồ nhiệt độ trung bình từ năm 2009-2010 (Trang 40)
Bảng 3.3: Tỷ lệ sống của sắn thí nghiệm 1 sau trồng 30 ngày ở các phương thức - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Bảng 3.3 Tỷ lệ sống của sắn thí nghiệm 1 sau trồng 30 ngày ở các phương thức (Trang 41)
Bảng 3.6: Thành phần hóa học của củ và lá sắn ở các phương thức khác nhau (%)  Các phương thức  VCK - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Bảng 3.6 Thành phần hóa học của củ và lá sắn ở các phương thức khác nhau (%) Các phương thức VCK (Trang 43)
Hình 3.3. Biểu đồ năng suất lá sắn trung bình theo các lứa - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 3.3. Biểu đồ năng suất lá sắn trung bình theo các lứa (Trang 49)
Hình 3.4. Đồ thị sản lượng lá sắn tươi, VCK, Protein qua 2 năm thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 3.4. Đồ thị sản lượng lá sắn tươi, VCK, Protein qua 2 năm thí nghiệm (Trang 53)
Bảng 3.16: Thành phần hoá học của bột lá sắn ở các phương pháp chế biến (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Bảng 3.16 Thành phần hoá học của bột lá sắn ở các phương pháp chế biến (%) (Trang 58)
Bảng 3.17: Hàm lượng  β  caroten và HCN trong bột lá sắn - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Bảng 3.17 Hàm lượng β caroten và HCN trong bột lá sắn (Trang 59)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ protein, lipit và DXKN sau các thời gian bảo quản - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ protein, lipit và DXKN sau các thời gian bảo quản (Trang 62)
Bảng 3.19: Hàm lượng các acid amine trong protein của lá sắn - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Bảng 3.19 Hàm lượng các acid amine trong protein của lá sắn (Trang 62)
Hình 2: Phương thức trồng lấy lá - củ - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 2 Phương thức trồng lấy lá - củ (Trang 77)
Hình 1: Phương thức trồng lấy củ - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 1 Phương thức trồng lấy củ (Trang 77)
Hình 3: Phương thức trồng lấy lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 3 Phương thức trồng lấy lá (Trang 78)
Hình 5: Trồng đại trà tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên - Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức trồng sắn, các mức phân đạm, các phương pháp chế biến lá sắn khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn tại trường đại học nông lâm
Hình 5 Trồng đại trà tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w