1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Quản lý kế hoạch và sự chậm trễ tiến độ dự án xây dựng

39 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 631,94 KB
File đính kèm Quan ly Su Cham Tre Tien Do.rar (362 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUẢN LÝ KẾ HOẠCH VÀ SỰ CHẬM TRỄ TIẾN ĐỘ Phân loại sự chậm trễ Có thể chia ra thành 3 loại: 1. Sự chậm trễ có thể tha thứ khi nguyên nhân gây ra nằm ngoài sự kiểm soát và không có lỗi của bất kỳ bên nào. VD: Thời tiết xấu => NT thường được phép kéo dài thời gian thi công nhưng không có được gia tăng chi phí. 2. Chậm trễ không được tha thứ là loại chậm trễ do thất bại của nhà thầu trong việc hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng. Ví dụ như vật liệu không được mua sắm đúng hạn hoặc không trang bị đầy đủ thiết bị lao động => NT sẽ phải chịu trách nhiệm tài chính với chủ đầu tư vì sự chậm trễ. 3. Chậm trễ có thể được bồi thuờng là loại chậm trễ do thất bại của CDT trong việc thực hiện các điều khoản của hợp đồng. Vd: CDT không bàn giao mặt bằng thi công đúng thời hạn hoặc thất bại trong việc xem xét lại bản vẽ trong thời hạn hợp đồng cho phép => NT có thể gia tăng thời gian công việc của mình và có thể yêu cầu đền bù cho những chi phí phát sinh.

Trang 1

TS LUONG DUC LONG 1

Trang 2

Giới thiệu

• Trong ngành công nghiệp xây dựng, “ thời gian là tiền bạc”

Dự án xây dựng đòi hỏi một lượng lớn vốn , nhân công, vật

tư, thiết bị Dự án càng kéo dài thì chi phí của nhà thầu cũng như chủ đầu tư càng tăng

• CDT sẽ phải chịu phí tổn khi đưa nguồn vốn vào xây dựng Các khoản vay dành cho mục đích xây dựng sẽ chịu lãi suất cao hơn so với các đầu tư tài chính dài hạn Thế nhưng tài sản thế chấp cố định (công trình) sẽ không tồn tại cho đến khi

dự án được hoàn thành Ngoài ra, dự án sẽ chưa được đưa vào sử dụng và do đó không thể sinh ra lợi nhuận

• Nhà thầu, khi dư án kéo dài, tổn thất cho việc thi công và giám sát sẽ lớn hơn Chi phí cho nhân công và vật liệu cũng

sẽ leo thang => Khả năng hoàn thành dự án của nhà thầu sẽ

Trang 3

Tiến độ theo hợp đồng

• Xây dựng một kế hoạch, một cách phổ biến, là đưa ra một khoảng thời gian thực hiện công việc => mang lại tính linh động và cụ thể, trong trường hợp cần thiết phải thoả thuận lại ngày hoàn thành dự án

• Nếu nhà thầu được cho một khoảng thời gian cố định để thực hiện công việc, ví dụ như 420 ngày, họ phải bắt tay ngay vào công việc khi khoảng thời gian này bắt đầu có hiệu lực

• Tuy nhiên, nhà thầu thường sẽ không thể bắt đầu ngay khi hợp đồng được kí kết Vấn đề giải phóng mặt bằng và tài chính cho dự án sẽ gây trở ngại, buộc nhà thầu phải đợi vài tuần trước khi thực sự bắt đầu làm việc Thông thường HĐ có nói rõ nhà thầu sẽ nhận được một thông báo khởi công trong vòng từ 30 ngày từ khi HĐ có hiệu lực, và họ bắt buộc phải bắt đầu công việc sau khoảng 5 ngày từ lúc nhận được thông báo Khi này, thời gian thi công của nhà thầu thường bắt đầu khi nhận được thông báo khởi công của CDT

Trang 4

• HĐ cần thiết lập như thế nào thời điểm hoàn thành là đạt được Khi tính toán đến những thiệt hại kinh tế từ việc hoàn thành trễ, việc này đã không nên được xác định bằng cơ sở giả thuyết.

• Cách thông thường để đánh giá nhà thầu có hoàn thành dự án

là “hoàn thành cơ bản” Hoàn thành cơ bản chỉ đạt được khi mà

dự án đã hoàn thành đủ để CDT có thể sở hữu và đưa công trình vào sử dụng theo mục đích đã đề ra ban đầu Có thể còn rất nhiều công việc sót lại mà theo hợp đồng nhà thầu bắt buộc phải thực hiện, nhưng nếu nhà thầu đạt được công việc hoàn thành cơ bản trong thời hạn đã nêu trong HĐ, thì có thể xem như đã tuân thủ đúng theo hợp đồng

• Thực tế rằng CDT không thể phạt tiền đối với nhà thầu trong trường hợp đã hoàn thành cơ bản CDT đã nhận được những gì thoả thuận trong HĐ, đó là quyền sở hữu và sử dụng hữu ích

Tiến độ theo hợp đồng

Trang 5

• Đôi khi trong HĐ sẽ nói rõ rằng nhà thầu phải hoàn thành đầy đủ

dự án sau số ngày đã được quy định Điều này có nghĩa là tất cả các công việc bắt buộc phải được hoàn thành, khi đó thì chủ đầu tư mới chính thức chấp nhận và thanh toán đầy đủ chi phí

• Trường hợp như trên => không công bằng đối với nhà thầu Có rất nhiều công việc cần phải làm từ khi hoàn thành cơ bản cho đến khi hoàn thành toàn bộ và dự án được CDT chấp thuận Trong đó lại

có nhiều vấn đề nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà thầu Tại sao nhà thầu phải chịu trách nhiệm về tài chính? trong khi CDT vẫn có được việc sử dụng hữu ích từ dự án

=> Hoàn thành dự án sẽ được hiểu theo luật là hoàn thành cơ bản Còn nếu như hợp đồng đã ràng buộc rõ dự án chỉ được chấp nhận khi đã hoàn thành toàn bộ sau một khoảng thời gian nhất định, thì

sự bắt buộc phải được tuân theo

Trang 6

Tiến độ xây dựng của nhà thầu

• Hiện nay, tiến độ ngang đã dần được thay thế bởi tiến

độ găng (CPM) được tích hợp trong máy tính Phương pháp CPM, các công tác đưa vào được máy tính xử lí

thành hệ thống mạng lưới công việc Tiến độ theo CPM

có khuynh hướng phân chia các công tác mang tính chi tiết nhiều hơn so với những biểu đồ ngang => nhà thầu

có nhiều khả năng để giám sát tiến trình dự án và sắp xếp hợp lí các công tác khác nhau

• Thuật ngữ “găng” là một đường hay chuỗi các công tác ảnh hưởng then chốt đến thời gian hoàn thành dự án Trong đó công tác GANG thay đổi thời gian thi công thì

sẽ ảnh hưởng thời điểm hoàn thành dự án VD: Ctac đổ

Trang 7

• Phương pháp CPM đã mang lại rất nhiều hữu ích Thông thường NT tạo ra một tiến độ “as- planned” trước khi bắt đầu công việc Khi công việc tiến triễn, một tiến độ “as-built” được duy trì => NT có thể giám sát một cách cẩn thận tiến trình củaNT.

• CPM đưa ra một công cụ mạnh mẽ để thu thập các công tác trễ tiến độ, các ảnh hưởng lên đường găng, và ảnh hưởng lên thời gian hoàn thành thực tê của dự án

• Nhà thầu lập tiến độ hoàn toàn vì mục đích sử dụng của họ CDT và nhà thầu trước đây có chung quan điểm rằng nhà thầu

là người chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng kế hoạch và sắp xếp các công việc CDT sẽ không tham gia vào tiến độ này miễn là dự án hoàn thành đúng hạn

Tiến độ xây dựng của nhà thầu

Trang 8

Có thể tha thứ

Có thể bồi thường

Không đồng thời Đồng thời

Trang 9

Phân loại sự chậm trễ

Có thể chia ra thành 3 loại:

1 Sự chậm trễ có thể tha thứ khi nguyên nhân gây ra nằm ngoài

sự kiểm soát và không có lỗi của bất kỳ bên nào VD: Thời tiếtxấu => NT thường được phép kéo dài thời gian thi công nhưngkhông có được gia tăng chi phí

2 Chậm trễ không được tha thứ là loại chậm trễ do thất bại củanhà thầu trong việc hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng Ví

dụ như vật liệu không được mua sắm đúng hạn hoặc khôngtrang bị đầy đủ thiết bị lao động => NT sẽ phải chịu trách nhiệmtài chính với chủ đầu tư vì sự chậm trễ

3 Chậm trễ có thể được bồi thuờng là loại chậm trễ do thất bạicủa CDT trong việc thực hiện các điều khoản của hợp đồng Vd:CDT không bàn giao mặt bằng thi công đúng thời hạn hoặc thấtbại trong việc xem xét lại bản vẽ trong thời hạn hợp đồng cho phép => NT có thể gia tăng thời gian công việc của mình và có thể yêu cầu đền bù cho những chi phí phát sinh

Trang 10

1 Các chậm trễ không đồng thời: Theo cách đã nêu.

2 Các chậm trễ xảy ra đồng thời:

a Nếu sự chậm trễ có thể tha thứ hoặc sự chậm trễ có thể được

bồi thường xảy ra đồng thời với sự chậm trễ không thể tha thứ

=> NT sẽ không được phép kéo dài thời gian hoàn thành hoặc yêu cầu tăng thêm chi phí trong phần thời gian của sự chậm trễ không thể tha thứ Lý do là dù sao di nữa NT cũng sẽ bị chậm trễ bởi vì những thiếu sót của của chính NT

b Nếu sự chậm trễ có thể tha thứ xảy ra đồng thời với sự chậm trễ

có thể bồi thường => NT có quyền kéo dài thời gian hoàn thành

dự án, nhưng không được phép tăng chi phí do sự chậm trễ tha

thứ được Tóm lại, NT sẽ không thể làm công việc, bất kể

(notwithstanding) những thiếu sót của CDT

Phân loại sự chậm trễ (theo thời điểm)

Trang 11

Ví dụ

• Nhà thầu không thể cung cấp đủ máy móc cần thiết để thi công trong 10 ngày đầu tiên Và tiếp theo sau đó trời bắt đầu đổ mưa to bất thường liên tục 10 ngày Tại thời điểm hết mưa, nhà thầu mới có đủ máy móc thi công cấn thiết và sẵn sàng thi công Với vai trò người phân xử bạn xử lý tình huống này như thế nào?

Trang 12

Quyền gia hạn thời gian của nhà thầu

• Quyền được gia tăng thời gian thi công của nhà thầu phụ thuộc vào các điều khoản của hợp đồng

• Nếu trong HĐ không đề cập đến quyền được gia hạn thời gian thì CDT sẽ tranh luận rằng nhà thầu buộc phải hoàn thành dự án theo đúng tiến độ bất chấp tất cả các sự mọi việc thể xảy ra CDT sẽ không nhất thiết ưu thế trong

cuộc tranh cãi, vì đôi khi tòa án nhận định rằng những sự kiện vượt quá khả năng (thiên tai, sự cố bất thường)sẽ giải thích cho việc không thể hoàn thành HĐ.Tuy nhiên =>

mở ra khả năng tranh luận cho CDT.

• Quyền được gia hạn thời gian hoàn thành hợp đồng của nhà thầu thường dựa trên định nghĩa của Sự chậm trễ có thể tha thứ.

Trang 13

Sự chậm trễ có thể tha thứ

• Sự chậm trễ có thể tha thứ xuất phát từ những nguyên nhân không thể kiểm soát và không có lỗi của bất kỳ bên nào Hầu hết các hợp đồng xây dựng ghi rõ những sự

cố mà nhà thầu có thể gia hạn thời gian hoàn thành hợp đồng

• Nếu HĐ không có điều khoản quy định rõ quyền gia hạn thời gian thì sẽ có một sự bối rồi về những gì, trường

hợp nào, những tình huống nào sẽ biện minh cho sự gia hạn thời gian hoàn thành hợp đồng Tòa án nhiều khả năng chỉ tha thứ sự chậm trễ do thảm họa tự nhiên.

 Một điều khoản gia hạn thời gian hoàn thành HĐ là một kết quả tất yếu của nhà thầu.

* Điểm quan trọng: “Không thể dự báo trước được”

Quyền gia tăng thời gian của nhà thầu

Trang 14

Sự đòi hỏi về “Thông báo của nhà thầu”

• Hầu hết những hợp đồng đều có điều khoản cho phép gia hạn thời gian cho những chậm trễ có thể tha thứ và nhà thầu được yêu cầu phải đưa chủ đầu tư kịp thời Thông báo của sự chậm trễ

• Ví dụ AIA document A201 yêu cầu nhà thầu đưa ra văn bản

thông báo về sự cố trong vòng 20 ngày bắt đầu tính từ ngày chậm trễ nếu không thì quyền được gia tăng thời gian sẽ bị

tước bỏ Nhiều hợp đồng yêu cầu nhà thầu phải thông báo

trong thời gian ngắn hơn

• Nếu nhà thầu ko thông báo về excusable delay, nhà thầu có bị tước quyền gia hạn thời gian không? (khi CDT biết sự việc? Khi CDT không biết sự việc?) Lập luận của CDT như thế nào?

Trang 15

Thiệt hại của CDT do sự chậm trễ của NT

Trong ngành công nghiệp xây dựng “ thời gian là tiền bạc”

Định nghĩa chậm trễ không thể tha thứ

• Chậm trễ không thể tha thứ là sự chậm trễ do nhà thầu xây dựng (phương pháp, thầu phụ, cung ứng ).

• Bằng phương pháp loại trừ, Chậm trễ không thể tha thứ thể được định nghĩa là nằm ngoài những chậm trễ được bồi thường (do lỗi chủ đầu tư) hay những chậm trể được tha thứ (không phài là lỗi của bên nào).

Trang 16

Khoản bồi thường thiệt hại được định trước

• Nếu nhà thầu chậm hoàn thành dự án xây dựng, thật khó khăn

để tính toán chính xác số tiền mà CDT bị mất do việc hoàn

thành trễ

=> theo lệ sẽ có quy định bồi thường “thiệt hại định trước”

trong hợp đồng xây dựng

• Chủ đầu tư không cần phải chứng minh những thiệt hại thực tế

là gì Chỉ cần chứng minh được số ngày hoàn thành trễ theo hợp đồng, sau đó số ngày này được nhân với khoản bồi

thường định trước cho mỗi ngày để ra số tiền

• Trong ngành xây dựng thường đề cập đến việc bồi thường thiệt hại như là một “hình phạt” Điều này thật là châm biếm vì bồi thường định mức do thiệt hại không tự dộng được thực thi, và 1 điều mà làm cho nó không thể thực thi là thực tế rằng chúng

Thiệt hại của CDT do sự chậm trễ của NT

Trang 17

• Để việc bồi thường thiệt hại có thể thi hành, đòi hỏi cần phải có cùng 2 điều kiện sau:

(1) Thiệt hại thực tế khó khăn để đo lường.điều này hầu như luôn xảy ra khi tính những thiệt hại do chậm trễ trên 1 dự án xây dựng.

(2) Số tiền quy định phải phản ánh một nỗ lực công bằng, tại thời gian thực hiện hợp đồng, để đánh giá những thiệt hại gì có thể xảy ra Số tiền ấy không thể được định dùng như một khoản tiền phạt dọa dẫm

Trang 18

Thiệt hại thực tế (Actual Damages)

• Nếu một hợp đồng không nói tới việc bồi thường thiệt hại, thì nhà thầu không phải chịu trách nhiệm pháp lý cho việc hoàn thành trễ của họ trong dự án?

• Trong trường hợp này, CDT được phép kiện nhà thầu về những thiệt hại do chậm trễ thực tế của họ không?.

• Như đã thảo luận trước đó, thường rất khó để chứng minh một cách rõ ràng những thiệt hại Trên một vài dự

án, không thể chứng minh những thiệt hại do chậm trễ, nhưng chủ đầu tư luôn có quyền để làm điều đó Đôi khi, CDT có những thiệt hại có thể chứng minh những thiệt hại thực tế Cách xử lý như thế nào?

Thiệt hại của CDT do sự chậm trễ của NT

Trang 19

• Những thiệt hại chậm trễ thực tế là bất kì một tổn thất nào

cũng phải thấy trước được tại thời điểm thực hiện HĐ =>

chịu trách nhiệm pháp lý đối với bất kỳ sự mất mát nào về

doanh thu khi người chủ không có khả năng đưa công trình vào sử dụng đúng thời hạn và chức năng

• Khi xem xét những thiệt hại thực tế được thấy trước có thể gây ra do hoàn thành dự án chậm trễ => Điều khoản về bồi thường thiệt hại định trước mang lại lợi ích không chỉ cho

chủ đầu tư mà còn cho cả nhà thầu Do đó, việc bồi thường thiệt hại định trước như là “một thanh kiếm của CDT” hay

“một lá chắn của nhà thầu”.TS LUONG DUC LONG 19

Trang 20

• KL: Khoản bồi thường thiệt hại định trước không nên được xem như một hình phạt hay là vũ khí của CDT Cần xem là 1 nỗ lực hợp lý của cả 2 bên để thiết lập trước những thiệt hại và được chi trả bởi nhà thầu để chịu trách nhiệm cho việc hoàn thành trễ của

dự án Mục đích không phải muốn khuyến khích nhà thầu hoàn thành công việc đúng thời gian Mục đích là muốn tránh những khó khăn và không tin cậy trong việc chứng minh những thiệt hạithực tế do thành trễ

• Liquidated damages chỉ là những quy định liên quan đến những thiệt hại do chậm trễ Nó không định trước, hay giới hạn, cho việc được bồi thường do những lỗi vi phạm HĐ khác của nhà thầungoài việc hoàn thành chậm trễ

Vd: Nếu nhà thầu hoàn thành trễ dự án và không thực hiện đúng Bản vẽ và những thông số kỹ thuật => CDT có thể đòi tiền bồithường thiệt hại do việc hoàn thành bị trễ và kiện để thu hồi cácchi phí để hoàn thành dự án như các mô tả trong hợp đồng

Trang 21

Thiệt hại của NTdo sự chậm trễ của CDT

• Giá thầu đưa ra của NT đều dựa trên giả định rằng sẽ hoànthành công việc trong 1 thời gian nhất định Nếu thời gian giatăng, chi phí cho lao động, trang thiết bị, vốn, và những công

cụ hỗ trợ văn phòng sẽ kéo theo và rất tốn kém Nếu sự trìhoãn là do những hành vi hay thiếu sót của CDT thì NT cóthể đòi bồi thường

Thiệt hại do chậm trễ được bồi thường

• Thiệt hại được bồi thường ít khi được định nghĩa riêng trong

HĐ Thường khi NT nêu ra vấn đề chậm trễ được bồi thườngthì không được chú ý ghi nhận Tuy nhiên, trong hều hết các

HĐ chỉ bao gồm nghĩa vụ mà CDT phải chịu trước các nhàthầu

Vd: Nghĩa vụ cho phép tiếp cận công trường đúng thời gian, cung cấp kế hoạch hoàn chỉnh và chính xác, và tạo sự hợp tác ổn định giữa các Nt chính Nếu CDT vi phạm hợp đồngliên quan tới bất kì điểm nào nói trên thì thiệt hại do chậm trễ

đó được xem xét là được bồi thường.TS LUONG DUC LONG 21

Trang 22

• Không thể cho rằng là bất cứ sự vi phạm nghĩa vụ nào của chủ đầu tư cũng dẫn tới sự tăng chi phí của nhà thầu Như là trong phần này sẽ chỉ ra, có rất nhiều trở ngại nhà thầu phải vượt qua để đươc bồi thường.

• Thêm nữa là các CDT thường chối bỏ trách nhiệm đối với sự chậm trễ trong các hợp đồng xây dựng Tất cả điều này làm cho các cáo buộc của nhà thầu trở thành một trong nhữn vấn để phức tạp và nóng bỏng nhất trong vấn đề về HĐ.

Trang 23

Nguyên nhân chậm trễ được bồi thường

Nguyên nhân = bất kỳ một sự vi phạm nào thuộc về nghĩa vụ của CDT dẫn đến sự chậm trễ cho NT.

1 Phải cho NT tiếp cận công trường kịp thời Đây là điều cơ bản, vì NT không thể thực hiện chức năng của mình nếu NT không có mặt tại công trường

2 Phải cung cấp cho NT một tập hợp các kế hoạch và các thông số đầy

đủ chính xác Lỗi hoặc thiếu sót trong các tài liệu thiết kế là nguồn gốc => Đòi đền bù do chậm trễ.

3 Sự liên kết kém các NT Nếu CDT chọn nhiều NT thì họ phải đảm bào các NT có sự phối hợp trong công việc để đảm bảo đúng tiến độ.

4 Khi CDT sẽ trang bị cho NT các thiết bị/vật liệu nhất định Có thể vì

lý do tài chính, CDT sẽ chọn cung cấp thiết bị/ vật liệu nhất định => phải cung cấp ở công trường đúng thời điểm Nếu không => sự chậm trễ được đền bù.

5 Sự chậm trễ xem xét của chủ đầu tư đối với các đệ trình của nhà thầu là một nguyên nhân phổ biến của sự chậm trễ được đền bù.

Ngày đăng: 15/10/2017, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w