1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cách ra đề mở một hình thức đổi mới trong tác phẩm chí phèo của nam cao

23 713 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi chỉ có cách ra đề theo hướng đổi mới như vậy mới phát huy đượctính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, tăng cường khả năng làm việccủa học sinh, rèn luyện kĩ năng vận dụng ki

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU

h

-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁCH RA ĐỀ “MỞ” - MỘT HÌNH THỨC ĐỔI MỚI TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA, NĂM 2016

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ 3

I LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI 3

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁCH RA ĐỀ “MỞ”-MỘT HÌNH THỨC ĐỔI MỚI THEO CẤU TRÚC ĐỀ THI CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 5

I Quan niệm về đề thi theo hướng “mở”: 5

II Mục tiêu của việc ra đề theo hướng “mở” 5

III Nội dung của những dạng đề theo hướng “mở”: 5

IV Thực trạng và nhu cầu đổi mới cách ra đề thi môn Ngữ văn 6

CHƯƠNG II: ĐỀ “MỞ”- MỘT HÌNH THỨC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN 7

I Những ưu điểm và hạn chế của đề văn “mở” 7

II MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ ĐỀ VĂN “MỞ” 8

III CÁCH LÀM ĐỀ VĂN “MỞ” 9

CHƯƠNG III: CÁC DẠNG ĐỀ “MỞ” TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO 10

I KIẾN THỨC CƠ BẢN 10

II CÁC DẠNG ĐỀ “MỞ” THƯỜNG GẶP TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO 12

Gợi ý: 16

Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và giới hạn đề 16

CHƯƠNG IV: HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 21

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22

1 Kết luận 22

2 Một số kiến nghị 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI

Hiện nay, việc định hướng khai thác một tác phẩm văn học mà để cho họcsinh sau khi tìm hiểu, khám phá tác phẩm văn học ấy có thể hiểu được cặn kẽcác vấn đề đặt ra trong văn bản là một điều không hề đơn giản Đặc biệt là việcgiải quyết các đề thi theo hướng “mở” - một hình thức đổi mới giống mấy nămgần đây ở tất cả các kì thi từ cấp cơ sở đến cấp Bộ Điều này đã và đang thu hútmọi đối tượng từ học sinh đến giáo viên và các cơ quan quản lý giáo dục đều rấtquan tâm Bởi chỉ có cách ra đề theo hướng đổi mới như vậy mới phát huy đượctính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, tăng cường khả năng làm việccủa học sinh, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các dạng đề

cụ thể, tạo hứng thú cho người học

Cách ra đề “mở” - một hình thức theo hướng đổi mới nhằm giúp học sinhtích cực, hứng thú trong việc làm bài, bởi đề thi theo hướng này học sinh khôngphải học thuộc lòng, nhớ chi tiết, tỉ mỉ những cái mà thầy đã dạy trong văn bản.Tuy nhiên, người học cũng phải trên cơ sở của phần kiến thức cơ bản mà giáoviên đã hướng dẫn học sinh khai thác, tìm hiểu văn bản đó để lựa chọn lượngđơn vị kiến thức sao cho phù hợp với yêu cầu của đề bài ra Có như vậy bài viếtcủa học sinh mới trúng và đúng theo yêu cầu của đề, đồng thời cũng thuyết phụcđược người đọc, người nghe Nhưng trong việc dạy học này của chúng ta cũngđang đứng trước bao thách thức, khó khăn bởi phần lớn học sinh bây giờ đềuham chơi, lười học, đặc biệt khi ôn tập, làm đề theo kiểu đổi mới là học sinhngại tư duy, lười suy nghĩ vì thấy nó khó, từng vấn đề không hề dễ dàng theokiểu những đề bài vô cùng cơ bản như từ trước đến nay mà các em vẫn hay làmnhư kiểu bài: “phân tích, cảm nhận” của em về một đoạn thơ hay một hìnhtượng, một nhân vật trong tác phẩm mà em đã được học, đọc thêm

Vậy vấn đề đặt ra là phải làm sao để định hướng cho học sinh trong quátrình ôn tập, làm đề phải dần dần làm quen với những kiểu đề, dạng đề ra theohướng đổi mới như mấy năm gần đây để khi bước vào các kì thi các em khôngcòn bỡ ngỡ với những kiểu đề, dạng đề như vậy? Đó là nỗi trăn trở không chỉcủa người giáo viên trực tiếp đứng lớp mà đó là còn là điều băn khoăn của cảcác đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo của nước ta Để đápứng được nhu cầu giáo dục cho học sinh, Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã chútrọng đến đổi mới để biên soạn những đề thi theo cấu trúc mới nhất

Là đặc trưng của một môn học mà hiện nay Bộ Giáo dục và đào tạo đangyêu cầu là một trong ba môn thi bắt buộc của kì thi THPT quốc gia, ý thức đượctầm quan trọng của bộ môn luôn xuất hiện trong các kì thi và còn là bộ môn vềkhoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở họcsinh các năng lực như: năng lực sử dụng Tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bảnvăn học cũng như các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp học sinh cónăng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người Vìvậy người viết sáng kiến kinh nghiệm chỉ mong muốn qua đề tài nhỏ này để cóthể giúp học sinh nắm vững hơn về kiến thức cơ bản, cũng như cách giải quyếtthành thạo các dạng đề “mở” theo hướng đổi mới ở tất cả các tác phẩm văn học

Trang 4

nói chung, tác phẩm Chí Phèo nói riêng; cũng như bản thân có thêm chút kinhnghiệm hơn về cách ôn tập, luyện các dạng đề “mở” cho học sinh theo hướngđổi mới theo cấu trúc đề thơ mới nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo mấy năm trởlại đây.

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Mục đích cuối cùng của tôi khi nghiên cứu đề tài này là thay đổi cách ra đềthi theo kiểu truyền thống bằng một hình thức ra đề theo hướng “mở”, từ đócũng để thay đổi cách dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phươngpháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rènluyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào những dạng đề cụ thể trong quá trình làmbài kiểm tra, bài thi Đề ra theo hướng “mở” là một dạng theo cấu trúc đề thimới nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo nên bản thân, đồng nghiệp, nhà trườngchưa có kinh nghiệm nhiều để giải quyết các dạng đề thi này Vì vậy, tôi thấyviệc mình lựa chọn đề tài này để viết sáng kiến kinh nghiệm là cần thiết

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

Với đề tài này người viết chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp: cách ra đề

“mở” theo cấu cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ trong tác

phẩm Chí Phèo của Nam Cao.

Nếu đề tài này được áp dụng sẽ giúp học sinh vận dụng một cách linh hoạt,chủ động, sáng tạo kiến thức đọc văn trong khi giải quyết các đề thi theo hưởng

“mở” trong các tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm Chí Phèo nói riêng.

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.Tìm hiểu về cách ra đề mở theo cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ giáo dục

và đào tạo: về khái niệm, mục tiêu, yêu cầu và nội dung

2 Tìm hiểu về định hướng khai thác tác phẩm và cách ra đề “mở” theo cấu

cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ trong tác phẩm Chí

Phèo của Nam Cao.

3 Kiểm chứng qua thực tiễn dạy học

Trang 5

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁCH RA ĐỀ “MỞ”- MỘT HÌNH THỨC ĐỔI MỚI THEO CẤU TRÚC ĐỀ THI CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.

I Quan niệm về đề thi theo hướng “mở”:

Đề kiểm tra, đề thi theo hướng “mở” là đề văn không giới hạn bài làmtrong một lối mòn tư duy và những khuân mẫu chung về hình thức nhưng vẫngợi mở giúp học sinh có định hướng về cách viết Đề văn “mở” giảm thiểu tối đatính hạn định, tạo khả năng cho học sinh tự lựa chọn vấn đề và cách giải quyếtvấn đề Đề “mở” yêu cầu cao ở học sinh sự sáng tạo, linh hoạt, những suy nghĩ,cảm thụ độc lập, khó có thể lệ thuộc vào tài liệu tham khảo Đề “mở” khôngnhững kích thích khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh mà còn có thể phân loạiđược học sinh

II Mục tiêu của việc ra đề theo hướng “mở”

Đổi mới cách ra đề thi theo hướng “mở” là một trong những giải phápnhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông, tạo điềukiện cho học sinh phát huy tính độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo khi làmbài; đồng thời đề thi ra theo hướng “mở” cũng giúp thầy cô phân loại được nănglực học sinh để từ đó giáo viên có phương pháp phụ đạo, bồi dưỡng cho từng đốitượng học sinh phù hợp

III Nội dung của những dạng đề theo hướng “mở”:

Đề “mở” về nội dung nghị luận: là một dạng đề hoặc chỉ mang tính gợi

dẫn, khái quát hoặc nêu ra nhiều vấn đề nghị luận để học sinh lựa chọn và bày tỏquan điểm mà không đòi hỏi thao tác nghị luận cụ thể Câu lệnh trong đề thường

có các yêu cầu: so sánh, lựa chọn, trình bày suy nghĩ… Dạng đề này không chỉgiúp giáo viên đánh giá được hiểu biết xã hội, kiến thức văn học, năng lực đọc -hiểu văn bản mà còn đánh giá được tư duy sáng tạo, kĩ năng tạo lập văn bản vàkhả năng lập luận của học sinh

Đề “mở” về hình thức, về yêu cầu thao tác nghị luận: là chỉ nêu vấn đề cần

bàn luận học chỉ nêu đề tài Tùy thuộc vào nội dung vấn đề, đề tài được nêu ratrong đề bài mà người lựa chọn và quyết định sử dụng các thao tác nghị luậnphù hợp Trong kiểu đề thi này, những câu lệnh: hãy phân tích, bình giảng cótính chất đóng được thay bằng “cảm nhận, suy nghĩ …” Dạng đề này góp phầnhình thành và phát triển năng lực thích ứng, sáng tạo, năng lực tư duy cho họcsinh trước một tác phẩm văn học, một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm vănhọc, một hiện tượng đời sống hoặc một vấn đề tư tưởng, đạo lí cho trước

Đề “mở” về cách tiếp cận: là dạng đề không bị giới hạn bởi những yêu cầu

bắt buộc về thao tác nghị luận cũng như phạm vi nội dung của vấn đề nghị luận.Dạng đề này đòi hỏi người viết phải chủ động trong nhận thức nội dung đề cũngnhư nhận thức về thao tác nghị luận sẽ được sử dụng khi làm bài Với những đềkiểm tra, đề thi theo hướng “mở”, giáo viên không chỉ tạo điều kiện cho họcsinh phát huy những năng lực chuyên biệt, đặc thù như cảm thụ, phân tích, lí

Trang 6

giải và đánh giá các hiện tượng văn học; rèn luyện cho học sinh cách thức vàquy trình tạo lập văn bản, những kĩ năng cơ bản, cần thiết để viết một bài văn

mà còn phát triển được năng lực tư duy và năng lực sáng tạo cho người học, gópphần nâng cao chất lượng dạy học Văn và hiện thực hóa mục tiêu giáo dục, đàotạo ở nhà trường phổ thông

IV Thực trạng và nhu cầu đổi mới cách ra đề thi môn Ngữ văn

1 Thực trạng đề thi môn Ngữ văn hiện nay

Hiện nay, trong cấu trúc đề thi THPT quốc gia đã có sự hợp lí vì bên cạnh

đề văn nghị luận văn học đã có đề văn nghị luận xã hội Ra đề văn nghị luận xãhội là một hình thức rèn luyện tốt khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh trướcmột vấn đề của xã hội, của cuộc sống; một hình thức giáo dục tư tưởng, tìnhcảm trực tiếp khá hữu hiệu; cũng là một hình thức để chống sao chép và chốnghọc thuộc văn mẫu vẫn diễn ra khá phổ biến ở học sinh phổ thông

Khách quan mà nói, đề thi quốc gia những năm gần đây cơ bản vẫn theokiểu đề truyền thống Đề văn truyền thống thường đảm bảo ba tiêu chí: có yêucầu về nội dung nghị luận, có giới hạn phạm vi kiến thức văn học, nhận thức vềđời sống xã hội; có định hướng kiểu bài và thao tác lập luận; có giới hạn vềphạm vi tư liệu cần có trong bài làm Loại đề này còn có thể gọi một cách khác

là đề “đóng”, "đề khép kín" (chữ dùng của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống)

Đề truyền thống có những ưu điểm như: chú trọng kiểm tra vốn văn học, tìnhcảm, đạo đức và nhận thức về đời sống xã hội của học sinh Đề văn truyền thốngcòn góp phần khơi gợi sự hứng thú học tập bộ môn ngữ văn, tình yêu tiếng Việtcũng như bồi dưỡng năng khiếu cho những học sinh giỏi văn

Tuy nhiên, đề truyền thống vẫn bộc lộ những hạn chế Cụ thể là:

Đề truyền thống thường nêu yêu cầu về "kiểu bài" với mệnh lệnh: hãy giảithích, phân tích, chứng minh, bình luận để dẫn đến sự ngộ nhận trong mỗi bàivăn nghị luận chỉ dùng một vài thao tác lập luận nhất định Điều đó thiếu cơ sởkhoa học và thực tiễn Bởi trên thực tế không bài văn nào chỉ dùng riêng lẻ mộtthao tác lập luận Bất kì bài văn hay nào cũng là sự vận dụng tổng hợp nhiềuthao tác, dĩ nhiên bao giờ cũng có một thao tác chính đóng vai trò chủ đạo, cácthao tác khác chỉ là hỗ trợ và phục vụ cho thao tác chính GS Phan Trọng Luận

đã đánh giá: "Cái dở nhất của đề thi văn hiện nay là chủ yếu nhắm đến khâu tái

hiện kiến thức theo kiểu "nhớ lại" chứ không chú ý đến vận dụng kiến thức của học sinh", "quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy kiểu đề với mấy chủ điểm quen thuộc: không bình giảng thì phân tích, không phân tích thì chứng minh, không chứng minh thì cao hơn là bình luận Trở đi trở lại cũng chỉ có mấy bài thơ, mấy đoạn trích quen thuộc" (Dẫn theo Tuổi trẻ Online).

Do đã quá quen thuộc, không đổi mới nội dung và phương pháp ra đề nên

đề văn truyền thống không tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính độc lập suynghĩ, chủ động sáng tạo khi làm bài, không phân loại được năng lực học sinh màchỉ dừng lại ở những nội dung kiểm tra học sinh về kiến thức Đề văn truyềnthống còn tạo ra hệ lụy bài mẫu tràn ngập ở sách tham khảo, trên mạng internet,trong tài liệu ôn tập của thầy cô nên học sinh đã hình thành một phương pháphọc tập không đúng: học và ôn tập không xuất phát từ tác phẩm văn học, từ Sách

Trang 7

Giáo khoa mà từ bài mẫu

Nguyên nhân dẫn đến hạn chế này, một phần do bởi chương trình SáchGiáo khoa (học như thế nào thì thường ra đề kiểu ấy); tuy nhiên phần nhiều lạithuộc về người ra đề và cách tổ chức ra đề (để đảm bảo không vi phạm Chuẩnkiến thức kỹ năng, người ta thường ra đề một cách cứng nhắc theo cấu trúc đềthi quy định sẵn )

2 Nhu cầu đổi mới cách ra đề thi môn Ngữ văn

Cách ra đề văn theo kiểu truyền thống về cơ bản là đơn điệu, nhàm chán,thiếu những yêu cầu sáng tạo Chính điều đó dẫn tới việc dư luận trong xã hộivẫn không đồng tình với kiểu ra đề truyền thống như lâu nay đã ra Nhiều ý kiếnlên tiếng và được đăng tải trên báo chí Giáo sư Hoàng Như Mai có nhận xét:

"Cách ra đề các kỳ thi văn của chúng ta hiện nay còn khá thô cứng, những nhân vật và vấn đề cũng như yêu cầu đặt ra trong đề thi thường trùng lặp nhau khá nhiều Một mảnh đất dù tốt đến đâu cày xới mãi rồi cũng khô cằn Cứ một vấn

đề, một tác giả mà trở đi trở lại mãi nhưng không đổi mới cách tiếp cận thì làm sao mà mang đến cho người đọc sự rung cảm mới mẻ, tinh tế được Ra đề thi phải khơi dậy những suy nghĩ riêng, đồng thời phải rèn luyện cho học sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt Cần tránh kiểu ra đề "suôn sẻ", dạng "thỏa hiệp" một chiều" (Sự rung cảm và sáng tạo của học sinh có nguy cơ mòn, Tạp chí

Dạy và học ngày nay, số 6- 2005)

Trước phản ứng của dư luận, của chính cả người học, một yêu cầu cấp thiếtđược đặt ra đó là phải đổi mới cách ra đề văn Việc đổi mới ra đề thi văn đãđược thực hiện, bắt đầu từ Sách Giáo khoa cấp THCS Tuy nhiên trong thực tế,rất nhiều đề văn trong Sách Giáo khoa Ngữ văn hiện hành vẫn ghi: hãy phântích, hãy bình luận, hãy giải thích, hãy so sánh Nghĩa là vẫn chưa thoát khỏidạng đề truyền thống Học sinh vẫn phải viết văn theo yêu cầu có sẵn Tất yếu

sự sáng tạo của học sinh sẽ bị hạn chế Vì những lẽ đó, vấn đề đặt ra là phải đổimới cách ra đề văn, nhất là đề văn theo hướng mở

CHƯƠNG II: ĐỀ “MỞ”- MỘT HÌNH THỨC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN

I Những ưu điểm và hạn chế của đề văn “mở”

1 Ưu điểm

So với đề văn truyền thống, đề văn “mở” có nhiều ưu điểm nổi trội Tránh

sự nhàm chán, lặp lại trong khi ra đề thi Đối với học sinh, đề “mở” mang tínhgợi mở, nó kích thích được khả năng tư duy, phát triển trí thông minh Học sinhtha hồ, thỏa chí phát huy năng lực sáng tạo của mình Trước đây, vì ra đề theokiểu truyền thống buộc giáo viên chỉ ra trong phạm vi những gì đã dạy, đã học,nghĩa là trong phạm vi chương trình, không vi phạm vào "Chuẩn kiến thức kĩnăng"; giáo viên nào không tuân thủ những yêu cầu trên sẽ bị khiển trách, phêbình Để làm được bài, học sinh phải nhớ kiến thức Không ít học sinh học thuộclòng cả bài thầy cô giảng, nếu không thuộc thì quay cóp tài liệu Ra đề văn theohướng “mở” (mở về kiến thức, mở về kỹ năng, về phương pháp làm bài Tuy

“mở” nhưng vẫn không thoát ly nội dung chương trình và Chuẩn kiến thức kỹ

Trang 8

năng) học sinh sẽ không phải tốn nhiều thời gian cho việc học thuộc lòng, khôngphải mất công mất sức ngồi "nhai lại" khối lượng kiến thức khổng lồ đã học.Học sinh cũng không phải mua nhiều tài liệu, nhất là các bài văn mẫu Vì vậy, ra

đề “mở” sẽ là một hình thức hạn chế vấn nạn văn mẫu bán tràn lan trên thịtrường

Việc ra đề “mở” còn có khả năng phân hóa được trình độ của học sinhtrong kiểm tra (vì người viết khó mà chép được "văn mẫu", phải tự mình suynghĩ và viết ra ý nghĩ của mình), nhờ đó mà đánh giá được năng lực của họcsinh chính xác hơn

2 Hạn chế

Đối với học sinh: Cái khó đầu tiên là khó trong khâu ôn bài Đề “mở”

thường không có đề cương ôn tập, câu hỏi ôn tập chung mà phải ôn hết những gì

đã học Người học khó hình dung được đề ra ở mảng nào, phần nào

Thứ hai, loại đề này sẽ khó đối với học sinh có học lực trung bình, bởi vì đề

“mở” yêu cầu ở học sinh khả năng tư duy cao, biết lựa chọn nội dung viết saocho phù hợp yêu cầu đề, biết bàn bạc và mở rộng vấn đề Những học sinh cólực học trung bình khó thực hiện được những yêu cầu đó

Đối với giáo viên: Khó làm đáp án cho rõ ràng rành mạch Đáp án cho loại

đề này cũng phải là "đáp án mở", tức là không nên bó chặt người viết vào một số

ý nào có sẵn, cho trước, đáp án biểu điểm phải khái quát, tránh sa vào những chitiết cụ thể, tỉ mỉ, đáp án chỉ nên định hướng về cách giải quyết Còn nội dung cụthể thì học sinh tự xác định, tự bộc lộ và trình bày Giáo viên phải căn cứ vàonội dung và hình thức trình bày mà cho điểm, chất lượng của bài viết không thểlấy dài ngắn mà đo Bài làm của học sinh sẽ có nhiều phát hiện bất ngờ và độcđáo, giáo viên phải lường trước được những khả năng học sinh sẽ viết trong bàilàm để chủ động xử lí và cho điểm, tránh đánh giá cực đoan (chẳng hạn, họcsinh không làm theo đúng suy nghĩ mà giáo viên đã chuẩn bị trong đáp án thìkhông cho điểm), đồng thời cũng tránh bỏ sót ý học sinh đã sáng tạo

Với kiểu đề “mở”, giáo viên chấm bài phải rất "vững tay" Khi chấm bài theo

đề truyền thống, giáo viên chỉ cần đọc qua là biết ngay học sinh làm như thếnào, đủ ý hay thiếu ý, từ đó mà "định lượng" điểm Chấm bài đề văn “mở”, giáoviên phải chấp nhận các em có quyền phát biểu quan điểm, suy nghĩ riêng.Chấm bài với giáo viên không chỉ là đánh giá, đọc văn của học sinh và lời nhậnxét trong bài làm của học sinh, đối với giáo viên phải giống như lời trò chuyện,trao đổi và tranh luận để cho học sinh hiểu, do vậy giáo viên phải chọn giải phápnào là tốt nhất có thể, chứ không thể chấm theo lối áp đặt chủ quan được

II MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ ĐỀ VĂN “MỞ”

1 Đề nghị luận văn học:

Đề 1: Hình tượng bóng tối và ánh sáng trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”

của Thạch Lam

Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong

truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

2 Đề nghị luận xã hội

Đề 1: Trong bức thư của một du học sinh Nhật bàn về văn hóa Việt Nam có

Trang 9

Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịc sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường.

Là một người Việt trẻ tuổi, anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

Đề 2: Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến sau:

Người đầu bếp, người quét rác, cũng như thầy giáo, kĩ sư, nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị bằng một bài văn không quá 600 chữ

III CÁCH LÀM ĐỀ VĂN “MỞ”

Cũng như các đề làm văn khác, đề mở cũng phải đảm bảo những yêu cầucần thiết người viết phải quan tâm Nhưng khác với các dạng đề văn thôngthường, trong đề đã bao hàm cả yêu cầu về nội dung và kiểu bài, thao tác nghịluận, đề mở vì tính chất mở nên người làm văn phải tự tìm hiểu Tuy vậy, dùmuốn hay không người ra đề cũng như người viết bài cũng phải nêu được cáchhiểu và những ý cơ bản cần phải đạt được trong bài viết Tức là phải hình thànhđược hệ thống ý đáp ứng được yêu cầu của đề Sau đây là một số gợi ý về cáchlàm đề văn mở

1 Xác định yêu cầu của đề

Vì đặc điểm của đề mở thường chỉ có chỉ dẫn về nội dung nghị, không cóchỉ dẫn về kiểu bài và thao tác lập luận, vì vậy người làm văn trước hết phải tiênliệu cho mình các thao tác cần nghị luận Cần xác định trong bài văn đó sử dụngthao tác nào là chính, thao tác nào là phụ

2 Tìm ý

Phải nhấn mạnh ý ở đây là ý của đề bài đặt ra chứ không phải ý của đốitượng nghị luận Tất nhiên, có khi ý của đề bài trùng với ý của tác phẩm đượcđưa ra để nghị luận, đó là khi đề hướng tới việc cảm nhận về một tác phẩm độclập, cụ thể nào đó

Để tìm được ý cho một đề văn, một trong những cách tương đối có hiệuquả là người viết biết đặt ra các câu hỏi và tìm cách trả lời các câu hỏi đó Việcđặt ra các câu hỏi thực chất là biết soi sáng đối tượng dưới nhiều góc độ, biết lật

đi lật lại vấn đề dễ tìm hiểu, xem xét kĩ càng, thấu đáo hơn

Lưu ý: Trong mỗi câu hỏi lớn có thể đặt tiếp các câu hỏi nhỏ để triển khaicác ý lớn

3 Lập dàn ý

3.1 Giới thuyết

Khi đã có ý rồi, người viết cần biết tổ chức, sắp xếp các ý ấy thành một hệthống nhằm làm nổi bật đối tượng, vấn đề Công việc này gọi là lập dàn ý, hoặcxây dựng bố cục, kết cấu cho bài viết

3.2 Các phần trong dàn ý

Thông thường, bài văn có ba phần, mỗi phần có một nhiệm vụ cụ thể

- Mở bài: Giới thiệu đối tượng hoặc vấn đề trọng tâm cần làm rõ

- Thân bài: Triển khai, cụ thể hóa đối tượng và vấn đề trọng tâm đã nêu ở

mở bài bằng hệ thống ý được sắp xếp một cách hợp lí

Trang 10

- Kết bài: Chốt lại vấn đề, nêu suy nghĩ, bài học cho bản thân.

3.3 Quy tắc sắp xếp ý trong dàn ý

Tùy vào vấn đề, đối tượng cần thuyết phục và cách lập luận mà người viết

có thể sắp xếp theo những dàn ý khác nhau Việc sắp xếp ý cần linh hoạt, nhưngcũng phải tuân thủ một số quy tắc nhất định:

- Các ý lớn phải ngang hàng nhau và cùng làm sáng tỏ cho vấn đề trọngtâm

- Các ý nhỏ phải nằm trong ý lớn và làm sáng tỏ cho ý lớn Cần trình bày ýtheo một thứ tự tránh trùng lặp ý

- Có ý bắt buộc phải trình bày trước rồi mới tiếp tục trình bày ý khác Đềvăn trên: Ý giải thích phải trình bày trước phân tích, sau đó mới bình luận

- Cần xác định mức độ các ý cho hợp lí Trong một bài văn, các ý khôngphải bao giờ cũng đồng đều và được trình bày ngang nhau Có ý cần nêu kĩ, có ýchỉ cần nói qua, vừa đủ Đề văn trên: Hai ý giải thích và bình luận không cần nói

kĩ bằng ý phân tích

CHƯƠNG III: CÁC DẠNG ĐỀ “MỞ” TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO

I KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Về nhà văn Nam Cao :

- Nam Cao ( 1917- 1951), là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam ở cảhai giai đọan trước và sau Cách mạng tháng Tám

- Là một nhà văn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, có tấm lòng đôn hậu,chan chứa tình thương, gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nôngdân nghèo khổ

- Tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám thường tập trungviết về hai đề tài: Người trí thức nghèo và người nông dân nghèo (Đời thừa,Giăng sáng, Sống mòn; Chí Phèo )

2 Truyện ngắn “Chí Phèo”:

2.1 Nhan đề:

- “Cái lò gạch cũ”: (do nhà văn đặt lần 1) Là một chi tiết nghệ thuật gắn

với sự ra đời của Chí ở đầu tác phẩm và sự tiếp nối của con Chí ở phần cuối tácphẩm (qua chi tiết: khi Chí chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình và đồngthời nghĩ tới cái lò gạch bỏ hoang) Nhan đề này thể hiện sự luẩn quẩn, bế tắccủa cuộc đời Chí Phèo và số phận của những người nông dân bị tha hóa trướcCMT8

- “Đôi lứa xứng đôi”: là nhan đề do nhà xuất bản đặt dựa vào mối tình giữa

CP - “con quỷ dữ làng Vũ Đại” và thị Nở - “mụ đàn bà xấu ma chê quỷ hờn”.Tên gọi này mang tính giật gân, gây ấn tượng và sự tò mò, phù hợp với thị hiếucủa người đọc; nhằm mục đích thương mại, nên nhan đề không gắn với chủ đềtác phẩm

- “Chí Phèo” (do nhà văn đặt lần 2): khái quát súc tích và đầy đủ nhất tư

tưởng nghệ thuật của Nam Cao

2.2 Cốt truyện: (tóm tắt theo cuộc đời nhân vật)

Trước khi vào tù: Chí là kẻ mồ côi, được nhặt về từ một lò gạch cũ

Trang 11

-Sống và lớn lên như một loài cây dại (qua tay người đàn bà góa và bác phó cốinghèo) Năm hai mươi tuổi, Chí làm canh điền cho lý Kiến, được bà Ba để ý.Sau đó Lý Kiến ghen và đẩy Chí vào tù.

- Từ khi ra tù đến trước khi gặp Thị Nở : Sau tám năm ở tù, Chí trở về

trong sự biến dạng cả về nhân hình và nhân tính, bị Bá Kiến lợi dụng, Chí nhanhchóng trở thành thằng lưu manh, trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại

- Từ sau khi gặp Thị Nở đến trước khi bị Thị Nở cự tuyệt: Gặp thị Nở,

được thị chăm sóc bằng bát cháo hành Chí dần thức tỉnh về nhận thức, về ýthức và khao khát hoàn lương

- Bị Thị Nở cự tuyệt: Chí đau đớn, tuyệt vọng Trong phẫn uất, Chí nhận ra

kẻ thù của mình là Bá Kiến Chí đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện, rồi đâm chết

Bá kiến và tự sát

2.3 Chủ đề :

Tác phẩm miêu tả tình trạng xung đột giai cấp ở nông thôn Vịêt Nam trước

CMT8 và giải quyết mâu thuẫn ấy bằng những biện pháp quyết liệt Đồng thời,

tác phẩm thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ của nhà văn: Phát hiện, miêu tả

phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi họ bị xã hội TDPK thối nátbiến thành quỷ dữ

2.4 Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:

2.4.1 Giá trị nội dung :

- Giá trị hiện thực: Phản ánh tình trạng một bộ phận nông dân bị tha hóa,

mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, giữa các thế lực ác bá ở địa phương

- Giá trị nhân đạo:

+ Cảm thương sâu sắc trước cảnh người nông dân cố cùng bị đọa đầy, lăngnhục, bị cự tuyệt quyền làm người Qua đó NC bày tỏ niềm cảm thông sâu sắcvới nỗi khổ và sự bất công lương thiện của người l/đ lương thiện ấy

+ Lên án gay gắt những thế lực tàn bạo đã gây nên tấn bi kịch tha hóa, lưumanh hóa, bị cự tuyệt quyền làm người (Cha con thống lí, nhà tù, những thànhkiến, định kiến – bà cô TNở)

+ Trân trọng, nâng niu những nét đẹp của người nông dân đồng thời nhàvăn còn phát hiện, khám phá, miêu tả những phẩm chất tốt đẹp, lương thiện củangười nông dân ẩn đằng sau tâm hồn u mê, cằn cỗi ngay cả khi họ bị XH thựcdân nửa PK tàn ác biến thành thú dữ (vẻ đẹp CP, thị Nở)

+ Qua tấn bi kịch và số phận bi thảm của Chí Phèo, t/g đã cất lên tiếng kêucứu thảm thiết, đầy phẫn uất cho người nông dân lương thiện: Làm thế nào đểcho con người được sống một cuộc sống xứng đáng trong cái xã hội vùi dậpnhân tính ấy; hãy tiêu diệt hoàn cảnh phi nhân tính, hãy làm cho hoàn cảnh trởnên nhân đạo hơn

2.4.2 Giá trị nghệ thuật:

- Xây dựng nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa sống động, có

cá tính độc đáo và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo

- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại gần gũi, tự nhiên, giọng điệu đanxen biến hóa, trần thuật linh hoạt

- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lôgic

- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính

Ngày đăng: 15/10/2017, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w