Biểu hiện rõ nét của đa số học sinh trước một đề văn làthường tỏ ra lúng túng, lúng túng ngay ở kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, huyđộng kiến thức, ngôn ngữ,… Nhiều học sinh lại bỏ qua tấ
Trang 1LUYỆN VÀ NÂNG CAO KỸ NĂNG VIẾT MỞ BÀI,
KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
Người thực hiện: Hoàng Thị Hảo
Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Văn
Quảng xương, tháng 5 năm 2016
Trang 2
MỤC LỤC Nội dung Trang A MỞ ĐẦU 1
I Lí do chọn đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu 2
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
IV Phương pháp nghiên cứu 2
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cưú 3
2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 3
3 Các phương pháp thực hiện và kết quả đạt được 4
3.1 Kỹ năng viết đoạn văn mở bài 4
3.2 Viết đoạn văn kết bài 11
3.3 Kết quả đạt được 15
C KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT 17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 3
A MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
M.Goor-ki đã từng nói: "Văn học là nhân học" Đúng vậy, trong trường
THPT, các bộ môn nói chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng không chỉ dạy chữ màcòn dạy người, không những dạy kiến thức mà còn giúp học sinh rèn luyện đạođức, nhân cách
Khi học Văn, việc viết các bài văn có vai trò quan trọng, các bài viết nàyvừa là cơ sở để đánh giá trình độ, năng lực của từng HS; vừa là cơ sở để rènluyện tính kiên nhẫn, kỹ năng diễn đạt, vừa để bồi dưỡng cảm xúc, tình cảm,tâm hồn cho HS
Mỗi bài văn là một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất, hoàn chỉnh, có ýnghĩa; trong đó mở bài, kết bài là hai bộ phận làm nên sự hoàn chỉnh đó Phần
mở bài, kết bài tuy có dung lượng ngắn nhưng giữ một vai trò thiết yếu Thực tếcho thấy, kỹ năng làm văn của một số bộ phận không nhỏ học sinh ở trường phổthông còn khá yếu dẫn đến hệ quả tất yếu là chất lượng bài làm văn thấp và có
xu hướng giảm sút Biểu hiện rõ nét của đa số học sinh trước một đề văn làthường tỏ ra lúng túng, lúng túng ngay ở kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, huyđộng kiến thức, ngôn ngữ,… Nhiều học sinh lại bỏ qua tất cả các khâu đó cứcầm được đề là bắt tay vào viết, nghĩ sao viết vậy, vừa viết vừa nghĩ, mò mẫmlàm bài mà không hề định hướng bài viết của mình sẽ viết gì, viết như thế nào?Lắp ghép câu chữ một cách tùy tiện, lộn xộn, cố "nặn" ra chữ để viết và đến lúckhông nghĩ ra gì thì kết thúc bài viết, mà không biết rằng kết thúc bài viết mìnhphải làm được gì
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trọng việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn mởbài, kết bài cho học sinh nhưng kết quả vẫn chưa được như mong đợi Vậy, làmthế nào để rèn luyện và nâng cao kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài nói riêng và
kỹ năng làm văn nghị luận nói chung của học sinh ? Đây có lẽ vẫn là một câuhỏi khiến nhiều giáo viên còn băn khoăn, trăn trở Là giáo viên trực tiếp giảngdạy môn Ngữ văn đã nhiều năm, lại hàng ngày, hàng giờ phải chứng kiến thựctrạng đó chúngtôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “KĨ NĂNG VIẾT MỞ BÀI,
Trang 4
KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN” làm vấn đề nghiên với mong muốngóp thêm một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân để nâng cao kỹ năng viết đoạn
mở bài, kết bài khi làm văn cho học sinh
II Mục đích nghiên cứu.
Khi quyết định lựa chọn đề tài này, mục đích nghiên cứu của chúng tôi lànhằm rèn luyện cho HS kỹ năng viết đúng, đủ và tiến tới viết hay phần mở bài,kết bài trong bài văn nghị luận, tránh được những lỗi đáng tiếc trong quá trìnhlàm bài và mục đích cuối cùng là để cải thiện, nâng cao kỹ năng làm văn, nângcao chất lượng bộ môn
Vấn đề cần làm rõ trong đề tài này là từ chỗ nhận thức đúng được vai trò,tầm quan trọng phần mở bài, kết bài trong bài văn; Giáo viên giúp các em hìnhthành được kỹ năng về cách mở bài, kết bài vừa “đúng” vừa “hay” và các emphải biết viết được những phần mở bài, kết bài “đúng” – “hay” (nghĩa là chúng
ta không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải gắn liền lý thuyết với thực hành, họcsinh phải tự mình làm được dựa trên những kinh nghiệm giáo viên đã hướng dẫn)
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài này nhằm nghiên cứu về kỹ năng viết phần mở bài, kết bài haytrong bài văn nghị luận cho HS THPT (Trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên),thuộc chủ đề văn nghị luận, phân môn Làm văn, trong bộ môn Ngữ văn áp dụngcho học sinh THPT
Trong đề tài này người viết nghiên cứu ở phạm vi: Rèn luyện kỹ năng viếtđoạn mở bài, kết bài cho đối tượng học sinh trường THPT Nguyễn XuânNguyên, huyện Quảng Xương Nghiên cứu này có thể áp dụng cho cả phần nghịluận văn học và nghị luận xã hội của phân môn Làm văn, ở bộ môn Ngữ văn
Lựa chọn và đưa ra đề tài này, chúng tôi đã ấp ủ nhiều năm và cũng đã
tìm tòi, nghiên cứu, thực hiện trong thời gian từ đầu năm học 2015-2016 và nhậnthấy giải pháp này đã mang lại một số kết quả rất đáng khích lệ Do vậy, tôi sẽtiếp tục nghiên cứu và áp dụng rộng hơn trong những năm học tiếp theo
IV Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận, đề tài được thực hiện dựa trên phương phápnghiên cứu chính là phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp lôgic,
Trang 5
phương pháp tổng hợp Phân tích một số đề văn trọng tâm trong chương trìnhbằng việc dựa trên kiến thức của môn Ngữ văn
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Bộ môn Ngữ văn là một bộ môn khoa đặc biệt khác hẳn với các bộ mônkhoa học khác Nó tác động đến con người trước hết là tình cảm, cảm xúc
Mặt khác, viết được một bài văn hoàn chỉnh, hấp dẫn là mục đích của cảngười dạy văn lẫn người học văn Mục đích này càng có ý nghĩa đặc biệt hơnvới học sinh THPT Qua bài văn, người đọc, người nghe đánh giá được trình độ,năng lực của người viết
Một văn bản được đánh giá là hoàn chỉnh khi nó truyền tải trọn vẹn mộtnội dung và nó được đánh giá là hay khi nó lôi cuốn được người đọc, ngườinghe Để có được điều đó, mở bài hay đóng một vai trò vô cùng quan trọng.Phần mở bài được ví như ấn tượng ban đầu trong một cuộc gặp gỡ Khi ta lầnđầu tiên gặp gỡ một ai đó, ta có thể để lại ấn tượng tốt cũng có thể có ấn tượngxấu với họ Vì vậy, viết được một phần mở bài hấp dẫn sẽ chiếm được thiện cảmcủa người đọc, người nghe, người chấm bài, sẽ tạo được bầu không khí thuận lợicho việc tiếp xúc những phần sau và sẽ để lại những ấn tượng bền lâu, khó phaitrong lòng người đọc Còn đối với kết bài, đây chính là phần kết thúc bài vănnghị luận, là công đoạn cuối cùng làm nên sự hoàn chỉnh của một bài văn Nếu
mở bài được ví như ấn tượng ban đầu thì kết bài lại chính là "phút giây tạm biệt"trong một cuộc gặp gỡ Và thực tế cho thấy, có nhiều cuộc gặp gỡ khi đã kếtthúc mà vẫn đầy lưu luyến, bin rịn trong lòng người những cảm xúc khó tả Kếtbài trong một bài văn nghị luận đạt đến độ hay sẽ có được những cung bậc cảmxúc ấy
2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Mặc dù đa số giáo viên trong trường năng động, nhiệt tình, yêu nghề,ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến và không ngừng tự học, tự trau dồi chuyênmôn nghiệp vụ nhưng do những tiết dạy làm văn nghị luận là những tiết dạy nếu
Trang 6Hơn nữa, học sinh ở đây vốn đã ít lại hay bỏ học giữa chừng, số học sinh
có chất lượng lại càng hiếm hoi hơn (vì số này các em sau tốt nghiệp lớp 9thường thi vào trường chuyên Nhiều HS THPT hỏi như thế nào là bài văn nghịluận cũng không biết chứ chưa nói đến kỹ năng viết một đoạn văn hay, bài văn hay
Mặt khác học sinh lại rất ít hứng thú với bộ môn ngữ văn, nhất là với phầnlàm văn Đã vậy, với thời lượng 45 phút trong một tiết để có thể giúp các em cóđược kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài, kỹ năng làm một bài văn hoàn chỉnh vàcác em viết được như thế là rất khó Hơn nữa, ngay từ lớp 10 (thậm chí Từ bậcTHCS) các em đã phải làm rất nhiều bài văn nghị luận nhưng kỹ năng làm cácbài này đa phần mãi đến lớp 12 các em mới được học một cách bài bản
Đó vẫn là những trở ngại lớn đang đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải chung taygiải quyết
3 Các phương pháp thực hiện và kết quả đạt được
3.1 Kỹ năng viết đoạn văn mở bài.
3.1.1 Khái niệm về đoạn văn và đoạn văn mở bài.
a Đoạn văn.
- Về hình thức: Đoạn văn là một phần của văn bản, nó bao gồm nhiều câu
liên kết chặt chẽ với nhau Nó được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chấmqua hàng
- Về nội dung : Mỗi đoạn văn triển khai một ý hoặc một nội dung tươngđối trọn vẹn
- Yêu cầu của một đoạn văn: Cần đạt được 3 yêu cầu cơ bản
+ Tập trung làm rõ một ý chung, một chủ đề chung thống nhất và duy nhất
Trang 7
+ Liên kết chặt chẽ với đoạn văn đứng trước và sau nó (riêng đoạn văn
mở bài không có đoạn đứng trước, kết bài không có đoạn đứng sau)
+ Diễn đạt chính xác, trong sáng, gợi cảm, rõ ràng
b Đoạn văn mở bài:
Mở bài còn gọi là dẫn đề, nhập đề Đoạn văn mở bài là phần đầu tiên củavăn bản, có vai trò định hướng cho toàn văn bản Phần mở bài chứa đựng vấn đềcần giải quyết một cách khái quát và thông báo cho người đọc phương thức giảiquyết, giới hạn của vấn đề
Mục đích của mở bài ai cũng biết rõ là nhằm giới thiệu vấn đề mình sẽviết, sẽ trao đổi bàn bạc trong bài Vì thế, khi viết mở bài thực chất là chúng ta
đi trả lời câu hỏi: mình định viết, định bàn bạc về ai hoặc về vấn đề gì?
Như vậy có hai cách mở bài:
- Mở bài trực tiếp:
Cách này là cách vào thẳng vấn đề, nó thường ngắn gọn, dễ làm nhưngđôi khi kém phần hấp dẫn nên thường dành cho đối tượng HS yếu, kém, trungbình
Ví dụ 1: Phân tích hình tượng nhân vận Huấn Cao trong tác phẩm "Chữ
người tử tù" của Nguyễn Tuân.
MB: Ai đã đọc tác phẩm "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân hẳn không
khỏi xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao Mộthình tượng được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật là Cao Chu Thần - Cao
Bá Quát Tác phẩm được rút trong tập "Vang bóng một thời"; đó chính là thànhquả của hành trình tìm về với cái đẹp trong một thời quá vãng nay chỉ còn "vangbóng"của Nguyễn Tuân
Ví dụ 2: Phân tích bài thơ "Chiều tối" trong tập "Nhật ký trong tù" của Hồ
Chí Minh
MB: "Chiều tối" là một bài thơ hay trích "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí
Minh Bài thơ được Bác sáng tác ngay trên đường chuyển lao từ nhà lao TĩnhTây đến nhà lao Thiên Bảo vào lúc chiều tàn Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ
Trang 8
đã ghi lại bức tranh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người vùng rừng núimột cách sinh động
- Ưu điểm của cách mở bài trực tiếp:
+ Đi thẳng vào vấn đề nên trách sự lan man, xa đề, lạc đề
+ Tiết kiệm được thời gian suy nghĩ cho người viết
+ Thích hợp với mọi đối tượng HS, đặc biệt là HS kém, yếu, trung bình.+ Là một cách mở bài "an toàn"
- Nhược điểm: Ít hay, ít tạo được không khí lôi cuốn cho người đọc
- Mở bài gián tiếp: Đi từ xa đến gần, giới thiệu ý dẫn nhập vào đề, cách
làm này tạo cho bài viết không khí tự nhiên, đậm chất Văn
- Mở bài gián tiếp có nhiều cách nhưng tựu chung có năm cách cơ bảnnhư sau:
+ Diễn dịch (suy diễn)
+ Quy nạp
+ Tương liên (tương đồng)
+ Tương phản (đối lập)
+ Hỗn hợp
3.1.2 Yêu cầu của phần mở bài.
- Mở bài cần giới thiệu chính xác, ngắn gọn vấn đề cần nghị luận chongười đọc biết được kiểu bài, giới hạn phạm vi của bài
- Hướng người đọc, người nghe vào vấn đề một cách tự nhiên, gợi sựhứng thú với vấn đề được trình bày trong bài viết
- Dung lượng mở bài phải tương xứng với khuôn khổ bài viết và phải cânđối với phần kết bài
- Mở bài chỉ nêu ý khái quát, cốt lõi của vấn đề, không giải thích, minhhọa, dẫn ý cụ thể
a Điều kiện cần và đủ để có một mở bài hay:
Cần 2 điều kiện
Trang 9
- Mở bài muốn “hay” trước hết phải “đúng” Viết “hay” trước hết là viếtcho “đúng” : Đúng yêu cầu, đúng kiến thức, đúng kiểu bài, đúng lập trường,…
- Từ viết “đúng” đến viết “hay” Để viết được một mở bài hay cần:
+ Ngắn gọn: Dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới
hạn vấn đề một câu
+ Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề
gì? Trong phạm vi nội dung tư liệu nào liên quan? Thao tác vận dụng chính ởđây là gì?
+ Độc đáo: Mở bài phải gây được sự chú ý của người đọc với vấn đề
mình sẽ viết Muốn thế, phải có cách nêu vấn đề khác lạ Để tạo nên sự khác lạ,độc đáo ấy, cần suy nghĩ dẫn dắt: giữa câu dẫn dắt và câu nêu vấn đề phải tạođược sự bất ngờ
+ Tự nhiên: Viết văn nói chung cần giản dị tự nhiên Mở bài và nhất là
câu đầu chi phối giọng văn của toàn bài Vì thế vào bài cần độc đáo, khác lạnhưng phải tự nhiên Tránh làm văn một cách vụng về, gượng ép gây cho ngườiđọc cảm giác khó chịu bởi sự giả tạo
b Những điều cần tránh khi viết mở bài:
- Tránh dẫn dắt vòng vo, quá xa mới gắn được vào việc nêu vấn đề
- Tránh dẫn dắt ý không liên quan gì đền vấn đề sẽ nêu
- Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, trình bày hết vấn đề, rồi phầnthân bài lặp lại những điều đã nói ở phần mở bài
3.1.3 Cấu tạo phần mở bài:
Mở bài là một đoạn văn hoàn chỉnh (đoạn mở bài), thông thường HS cóthể viết từ 5 - 7 câu văn Đoạn văn ấy có cấu trúc 3 phần: phần mở đoạn, phầngiữa đoạn và phần kết đoạn
a Phần mở đoạn (dẫn dắt vấn đề)
Viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan gần gũi với vấn đề chính sẽnêu Tùy nội dung vấn đề chính mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể làmột câu thơ, một câu danh ngôn, một nhận định, hoặc một câu chuyện kể
Trang 10
b Phần giữa đoạn (nêu vấn đề nghị luận)
Nêu vấn đề chính sẽ bàn bạc trong thân bài, tức là luận đề (giới thiệu tácgiả và tác phẩm có liên quan đến vấn đề nghị luận)
c Phần kết đoạn (nêu giới hạn của vấn đề)
Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày Phần này đềbài thường đã xác định sẵn Người viết chỉ việc giới thiệu hoặc ghi lại đoạntrích, câu trích ở đầu bài
Có thể rút ra mô hình viết đoạn như sau:
1 Dẫn dắt: Gồm một đến vài câu
Mở bài = 2 Nêu vấn đề nghị luận (luận đề): thường gồm một, hai câu
3 Giới hạn phạm vi vấn đề: thường một câu
3.1.4 Các ví dụ vận dụng rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài đúng và hay
- Như đã nói, khi viết văn nghị luận nhiều HS vẫn không biết phải làm thếnào đề đưa vấn đề nghị luận vào phần mở bài Chương trình sách giáo khoa mới
đã giành một số tiết tuy không nhiều trong phần văn nghị luận nhưng lại chủ yếunằm ở lớp 12, trong khi lớp 10 và lớp 11 HS đã phải thường xuyên làm văn nghịluận Chính vì vậy mà người viết đưa ra một số bài tập nhằm giúp HS phát triểntheo tư duy độc lập và có thể dễ dàng hơn khi viết một văn bản nghị luận
a Các ví dụ vận dụng rèn luyện viết đoạn mở bài đúng
Ví dụ 1: Tục ngữ được xem là túi khôn của nhân loại Tục ngữ thường là
những câu nói đúc rút những kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn của cha ông taqua bao đời nay với những triết lý sâu sắc Bàn về mối quan hệ giữa bản chất
bên trong với bản chất bên ngoài của sự vật hiện tượng ông cha ta có câu: "Tốt
gỗ hơn tốt nước sơn".
Ví dụ 2: Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến nhà văn hiện thực xuất sắc nhất
của dòng văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, ông cũng là nhà văn lớn củavăn học Việt Nam thế kỷ XX Trước cách mạng, Nam Cao tập trung vào hai đềtài chính: Người nông dân nghèo và người trí thức nghèo Ở đề tài người nông
dân ta không thể không nhắc đến kiệt tác "Chí Phèo", tác phẩm chính thức đánh
dấu tên tuổi của Nam Cao giữa làng văn Việt Nam Với tác phẩm này, Nam Cao
Trang 11
không đi sâu vào vấn đề "đói cơm rách áo" như các nhà văn hiện thực cùng thời
mà ông đi vào vấn đề còn nóng bỏng hơn: hậu quả của đói cơm rách áo, là thahóa, lưu manh hóa ở con người Chí Phèo, nhân vật chính trong tác phẩm là hiệnthân của nỗi thống khổ ấy
-> Ta thấy hai đoạn viết mở bài trên là những mỏ bài đúng vì:
- Ví dụ 1: Câu 1, 2: dẫn dắt vấn đề: tác dụng, vai trò, ý nghĩa của tục ngữ.Câu 3 giới thiệu vấn đề cần nghị luận và giới hạn vấn đề: giới thiệu câu tục ngữcần bàn luận
- Ví dụ 2: Câu 1 -> 4 giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vị trí củaNam Cao, các đề tài chính, nội dung cốt lõi trong đề tài người nông dân và tác
phẩm "Chí Phèo"
Câu 5: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận và giới hạn vấn đề
b Các ví dụ rèn luyện mở bài hay
(Chủ yếu là mở bài gián tiếp dành cho học sinh khá, giỏi)
* Mở bài theo phương pháp diễn dịch:
Nhấn mạnh những ý quan trọng rồi diễn giải khái quát
Ví dụ 1:
Đề bài: "Can đảm không cứ là coi khinh cái chế để bênh vực đồng loại,
bảo vệ gia đình, Tổ quốc Thường có thứ can đảm cao hơn: Đề xướng những tư tưởng không ai muốn hiểu, phát huy chân lý dưới một hình thức cực đơn giản, lan tỏa ánh sáng ở những chỗ mờ mịt, tối tăm" Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến
trên
Mở bài: Có người cho rằng "Can đảm không cứ là coi khinh cái chế để
bênh vực đồng loại, bảo vệ gia đình, Tổ quốc Thường có thứ can đảm cao hơn:
Đề sướng những tư tưởng không ai muốn hiểu, phát huy chân lý dưới một hình thức cực đơn giản, lan tỏa ánh sáng ở những chỗ mờ mịt, tối tăm" Xưa nay thói
đời chỉ biết can đảm là người dám nhảy vào lửa nóng, nước sâu cứu vớt ngườimắc nạn, hay đổ máu chốn xa trường gìn giữ đất nước Hiểu như vậy có lẽ hơithiển cận Ta hãy xét: người hy sinh tính mạng để chiến thắng một chân lý hay
đề xướng một chân lý, người cả gan coi thường những lời nói tiêu mạ tự đặt