1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sử dụng những phương pháp dạy học thông qua các nguyên lí, kết cấu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào dạy học mảng thơ đường trong nhà trường THPT nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh

23 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 233,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy trong chương trình môn Ngữ Văn ở cả hai cấp THCS và THPT thơ Đường có một vị trí đặc biệt chương trình THCS có 10 bài học ở lớp 9, chương trình THPT có 6 bài học ở lớp 10.. Qua đó

Trang 1

MUC LUC 1 PHẦN I MỞ ĐẦU 2

2 Quan điểm cơ bản về phơng thức sử dụng các nguyên lí: Kết cấu,luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào dạy học mảng thơ Đờng trongchơng trình Ngữ văn THPT nhằm kích thích hứng thú học cho họcsinh

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, đời Đường (681-907) là thời kì toàn thịnh của xã hội phong kiến ở Trung Quốc Vào đời Đường, lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng chưa từng có, tình hình chính trị tương đối ổn định, kinh tế phát triển, văn hóa nghệ thuật phồn vinh Trên cơ sở phồn vinh thịnh vượng ấy, văn học đời Đường đã phát triển hơn bất kì thời đại nào trước đó Thơ Đường như mộtvườn hoa trăm sắc nở rộ, nhiều nhà văn nhà thơ xuất hiện, nhiều thể loại văn học phát triển, đã để lại những thành tựu rực rỡ, ghi dấu ấn một thời hoàng kim của thơ ca Giai đoạn này có nhiều tác giả đã đi vào lịch sử thơ ca như LýBạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị…

Thơ Đường du nhập sang Việt Nam từ rất sớm, nó được người Việt Nam tiếp nhận như một loại thơ nội sinh Cho đến hôm nay, thơ Đường vẫn rất gầngũi với người Việt Nam Vì vậy trong chương trình môn Ngữ Văn ở cả hai cấp THCS và THPT thơ Đường có một vị trí đặc biệt (chương trình THCS có

10 bài học ở lớp 9, chương trình THPT có 6 bài học ở lớp 10) Với một khối lượng thơ Đường lớn như vậy đã đặt người giáo viên dạy môn Ngữ văn trước những khó khăn thử thách đòi hỏi họ phải tìm cho mình một phương pháp dạyhợp lí

Hiện nay, ở trường THPT, tình hình dạy thơ Đường chưa đat hiệu quả cao chưa giúp học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của nó Phần lớn giáo viên mới phân tích được nội dung tác phẩm mà chưa làm nổi bật được các thủ pháp nghệ thuật đặc trưng thi pháp của thơ Đường Khi dạy thơ Đường nhiều giáo viên chỉ biết thuyết trình, giảng ít đàm thoại với học sinh vì sợ thiếu thời gian Cách làm ấy vô hình dung đã đi ngược lại cái “phép” của thơ Đường là nói ít gợi nhiều Mặt khác việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông chưa đạt hiệu quả cao còn do việc cung cấp tri thức lí thuyết về thơ Đường còn thiếu(sách giáo khoa ở cả hai cấp học chỉ có một bài giới thiệu chung về đời Đường và thơ Đường nên tri thức làm nền tảng cho học sinh tiếp nhận còn nghèo nàn), vậy nên khi học thơ Đường học sinh luôn nghĩ thơ Đường khó Xuất phát từ thực tế này , chúng tôi thấy vấn đề nghiên cứu cách dạy học thơ Đường ở trường phổ thông là một vấn đề quan trọng Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng đưa ra được cách nhìn, cách hiểu khoa học về thơ Đường nhằm góp phần bé nhỏ vào việc cải tiến chất lượng dạy học, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn nước ngoài trong nhà trường phổ thông nói chung

Trang 3

2 Mục đích nghiên cưu.

Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng tới việc chỉ ra cách thức tổ chức dạy học thơ Đường ở trường THPT một cách hiệu quả Tất nhiên chúng tôi đã khảo sát và đánh giá tính khoa học của tri thức “thơ Đừơng” trong sgk Ngữ văn 10 hiện hành Thông qua đưa ra cách nhìn toàn diện về thi pháp thơ Đường, cách tiếp cận thơ Đường, nhận diện đúng khó khăn và thuận lợi của việc dạy học thơ Đường Khẳng định tầm quan trọng của phần thơ Đường trong môn Ngữ văn nhà trường THPT Qua đó giúp cho giáo viên và học sinh THPT hiểu rõ hơn về nội dung chương trình của phần thơ Đường trong sgk Ngữ văn lớp 10, đồng thơì có cái nhìn đúng đắn toàn diện nhìn tất cả vấn đề

có liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi tiến hành tìm hiểu về phương pháp tiếp cận và dạy học mảng thơ Đường ở trường THPT Cụ thể khai thác bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn lớp 10 thông qua tìm hiểu kết cấu, luật thi, tứ thơ, ngônngữ, nhan đề vào các bài sau đây Sau đó lấy một bài làm giáo án thực

nghiệm

– Tại Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lớp 10 tập 1)– Cảm xúc mùa thu (lớp 10 tập 1)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “ Vận dụng những nguyên lí kết cấu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ , nhan đề ” Chúng tôi đã tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu về

phương pháp dạy học và về thơ Đường từ trước đến nay Cụ thể chúng tôi chủyếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây

- Phương pháp liệt kê

- Phương pháp tổng hợp- phân tích

- Phương pháp so sánh- đối chiếu

PHẦN II: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

I Cơ sở lí luận của đề tài

Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 củaQuốc hội khóa X về đổi mới chương trình phổ thông, đã khẳng định mục tiêucủa việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này đã “xây dựng nộidung chương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nângcao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồnnhân lực phục vụ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thựctiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các

Trang 4

nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” Ngành giáo dục đang trên conđường thực hiện đổi mới theo Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về việc đổi mớichương trình giáo dục phổ thông đã được xác định trong Nghị quyết TW IVkhóa VII(1993), Nghị quyết TW 2 khóa VII (12/1996), được thể chế hóatrong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các Chỉ thị của BộGD&ĐT, đặc biệt là Chỉ thị số 14(4/1999) Tài “Bồi dưỡng giáo viên thựchiện chương trình, SGK lớp 10 THPT” của Bộ GD&ĐT xác định: Một trongnhững trọng tâm của việc đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông làtập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạtđộng tích cực, chủ động của học sinh, với sự tổ chức và hướng dẫn đúng mựccủa giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thànhphương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập tạo niềm tinniềm vui trong học tập” Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ghi:

“môn Ngữ văn là một môn công cụ Năng lực sử dụng tiếng Việt và tiếp nhậntác phẩm văn học mà môn học này trang bị cho học sinh là công cụ để họcsinh học tập và sinh hoạt, nhận thức về xã hội và con người, bồi dưỡng tưtưởng tình cảm, đặc biệt là tư tưởng nhân văn và tình cảm thẩm mỹ” Do đónhiệm vụ của chương trình môn Ngữ văn không chỉ là cung cấp kiến thức vềVăn học, trang bị những đánh giá, nhận định về tác giả, tác phẩm, mà còn đàotạo một năng lực sử dụng tương đối thành thạo các công cụ nói trên Học sinhhọc Ngữ văn không phải chỉ đọc hiểu các loại văn bản, viết các loại văn bảnthông dụng, nói đúng phong cách ngôn ngữ, mà còn biết đọc- hiểu, giao tiếpvới văn bản phức tạp nhất, là văn bẳn văn học nghệ thuật Hiểu được tính chấtcông cụ của bộ môn, chúng ta sẽ thấy, chỉ dạy văn theo lối “giảng văn” truyềnthống, thầy giảng trò nghe một cách thụ động thì không thể đào tạo năng lực

sử dụng công cụ văn học được Tại điều 28.2 của luật giáo dục đã ghi:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực; tự giác chủđộng, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học;bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh” Với những căn cứ đó, bản thân đã cố gắng tìm tòi và phát huy nhữngphương pháp dạy học tích cực và bước đầu đặt được hiệu quả với “Sử dụngcác phương pháp thông qua các nguyên lí: kết cấu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ,nhan đề vào việc tiếp cận, khai thác, giảng dạy mảng thơ Đường trong nhàtrường phổ thông”

Trang 5

Cho nên Lê Quý Đôn đã từng nói: “Văn chương là gốc lớn của sự lập

thân, là việc lớn của sự kinh tế”.

Đúng vậy, dạy học môn Ngữ văn trong Nhà trường THPT, đặc biệtphần thơ Đường thực sự là một vấn đề khó Khó đối với cả người dạy

và khó với cả người học Cái khó đối với giáo viên dạy văn là làm saotrong giờ học có thể tạo ra bầu không khí văn chương Sẽ tẻ nhạt nếugiờ học văn chỉ là một giờ truyền đạt kiến thức đơn thuần, thầy nói tròghi, không khác gì giờ học Chính trị và như vậy môn văn đã bị thủ tiêutính nghệ thuật một cách không tuyên bố cho nên những năm gần đây sốhọc sinh yêu thích môn văn không nhiều Do vậy đến lúc này chúng taphải coi trọng dạy học môn Ngữ văn vừa là một môn nghệ thuật phảilàm sao để tổ chức hướng dẫn học sinh cảm nhận được văn học nghệthuật có tác động mạnh mẽ đến con người, cái đẹp đánh thức ở mỗi conngười niềm mong muốn trở nên cao đẹp hơn, sống ngày càng tốt đẹphơn, có niềm tin và thực sự hăng say qua việc cảm thụ trực tiếp các tácphẩm Văn chương, văn học có khả năng giáo dục đạo đức, nhân cách,thẩm mỹ cho người đọc Bởi vậy để làm được điều này bên cạnh nhữngbiện pháp khởi động giờ học, giảng giải, giảng bình kết thúc giờ học tấtyếu phải dựa vào hệ thống những nguyên lí của thơ Đường Hiện nayđổi mới phương pháp giảng dạy trong bộ môn Ngữ văn đang là vấn đềcấp thiết nóng hổi Trong đó xây dựng được hệ thống câu hỏi tiếp cậnmảng thơ Đường là rất khó làm sao vừa đảm bảo tính khoa học, vừađảm bảo tính nghệ thuật, tạo hứng thú cho học sinh từng bước đi sâuvào cảm thụ tác phẩm thơ Đường như bóc dần từng cánh hoa để tìmthấy nhụy hoa là một yêu cầu mang tính quyết định tới sự thành bại củagiờ dạy văn học nói chung và giơ dạy thơ Đường nói riêng

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

1 Thực trạng.

Như chúng ta đã biết trường THPT Thạch Thành IV là một trongtổng số 105 trường THPT trong tỉnh Thanh Hóa huyện Thạch Thành làmột trong 23 huyện Miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa Đờisống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, dân trí cũng còn thấp cho nên việcgiáo dục còn gặp nhiều khó khăn Vấn đề vận động học sinh đi học đãkhó, khó hơn là làm sao cho học sinh say mê học, đặc biệt là học mônvăn Trường THPT Thạch Thành IV là trường mới thành lập cơ sở vậtchất còn thiếu thốn, đối tượng học sinh chủ yếu ở 6 xã vùng 135 trong

Trang 6

đó có 4 xã Thạch Tượng, Thạch Lâm, Thành Mỹ và Thành Yên thuộcdiện đặc biệt khó khăn Đội ngũ giáo viên mới ra trường tuổi đời cònnon trẻ, kinh nghiệm giảng dạy chưa có nên vấn đề dạy và học là mộtvấn đề còn nan giải, đặc biệt là dạy phần thơ Đường làm sao để cho họcsinh yêu thích và hứng thú học là điều rất khó đối với giáo viên dạyvăn nói riêng, với giáo viên dạy các môn khác nói chung bởi vì lâu naytrong tiềm thức của các em nghĩ thơ Đường là rất khó Cho nên đã dẫnđến trong những năm gần đây số học sinh yêu thích môn văn khôngnhiều, đa số các em ngại học văn, thờ ơ với môn Ngữ văn cho dù các emnhận thức được vai trò bổ trợ to lớn và thiết thực của văn học trong họctập cũng như trong cuộc sống.

Xuất phát từ tình hình khó khăn nói trên tôi đã mạnh dạn ápdụng phương pháp dạy học văn của tác giả Phan Trọng Luận Trongcuốn sách này tác giả đã tập trung vào nghiên cứu về mặt lý thuyết khá

hệ thống tuy nhiên tác giả mới giải quyết vấn đề ở góc độ vĩ mô chungcho tất cả các cấp học Bởi vậy tôi đã chọn đề tài “Sử dụng những phương pháp dạy học thông qua các nguyên lí: Kết cấu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào tiếp cân, khai thác dạy học mảng thơ Đườngtrong nhà trường THPT nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh ” để nghiên cứu và cũng là góp thêm một tiếng nói tâm

huyết vào hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo tinh thần đổi mớiphương pháp dạy học

2 Kết quả và hiệu quả của thực trạng trên

Khi xây dựng đề tài này trên những định hướng chung về mặt phươngpháp của các tác giả, bản thân tôi mạnh dạn vận dụng kế thừa những kết quả

đã đạt được của họ để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu những nguyên lí củathơ Đường nhằm áp dụng cụ thể vào cấp học và tập chung vào việc thử xâydựng cho một giờ dạy tác phẩm cụ thể trong chương trình Ngữ văn lớp 10

Trong đề tài này phạm vi nghiên cứu của tôi giới hạn ở việc: Chỉ sửdụng những nghuyên lí: Kết câu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào việcdạy học thơ Đường trong chương trình Ngư văn lớp 10 Trong đó chọn tácphẩm tiêu biểu trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 để thử xây dựng hệ thốngcâu hỏi dựa trên những nguyên lí nhằm giúp học sinh cảm thụ hiệu quả vănbản thơ Đường Sau đó tiến hành dạy thử hai tiết thực nghiệm ở bốn lớp nhắmđánh giá được hiệu quả khi sử dụng những nghuyên lí này

K t qu i u tra, kh o sát n ng l c h c t p c a h c sinh.ả điều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh điều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh ều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh ả điều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh ăng lực học tập của học sinh ực học tập của học sinh ọc tập của học sinh ập của học sinh ủa học sinh ọc tập của học sinh

Trang 7

STT Năng lực học tâp của học sinh

Lớp:

10A1Có45HS

Lớp:

10A2Có45HS

Lớp:

10A3Có45HS

Lớp:10A8Có45HS

1 Xác định đúng kết cấu bài thơ

luật thi gồm ngũ luật, thất luật

4 Khai thác bài thơ dựa vào tìm

hiểu luật đối

III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 CÁC GIẢI PHÁP CẢI TIẾN

1.1 Một số cơ sở lý thuyết và thực tiễn về những hình thức vận dụng những nguyên lí: Kêt cấu, luật thi, ngôn ngữ, tứ thơ, nhan đề vao việc dạy thơ Đường nhằm kích thích hứng thú học cho học sinh

Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước

và nhất là những tìm tòi đã được khẳng định của tác giả Nguyễn Bích Hải,bản thân tôi có thể hình dung và xác định được một hệ thống về mặt lý thuyết

và thực tiễn như sau:

1.1.1 Khai thác bài thơ Đường từ việc tìm hiểu kết cấu.

1.1.1.1 Tìm hiểu kết cấu bài thơ luật thi

Luật thi gồm ngũ luật (một bài gồm có 8câu mỗi câu 5 chữ) và thất luật ( một bài gồm có 8 câu mỗi câu 7 chữ ) Có một số cách phân chia bài thơ như sau:

Cách 1 : Phân tích bài thơ theo kêt cấu 4 phần đề, thực, luận, kết đồng thời

gắn cho mỗi phần một nhiệm vụ xác định Hai câu đề: Câu 1 phá đề: mở ra ýcủa bài; Câu 2 thừa đề: tiếp ý để chuyển vào thân bài; Hai câu thực: Giải thích

rõ ý đầu bài Đây là cách chia bố cục truyền thống khi phân tích bài thơĐường luật

Trang 8

Cách 2 : Phân tích bài thơ theo hai phần kết cấu của bài thơ Mỗi một bài

thơ có 8 câu, chia làm hai phần, 4 câu đầu và 4 câu cuối tác giả Kim Thành

Thán gọi 4 câu đầu là tiền giải, 4 câu cuối là hậu giải bài luật thi gồm có hai

khía cạnh thứ nhất là cảnh sự việc, câu chuyện và thứ hai là tình cảm của tácgiả

Ví dụ : Khi dạy bài “Thu hứng” của ( Đỗ Phủ ) nhiều giáo viên đã chia

bài thơ thành hai phần

1.1.1.2 Tìm hiểu kết cấu bài thơ tứ tuyệt.

Thơ tứ tuyệt gồm ngũ tuyệt (4 câu, mỗi câu 5 chữ) và thất tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 chư) Tuy dung lượng câu chữ ít hơn bài thơ bát cú nhưng tự nó là một kết cấu chỉnh thể có cấu trúc riêng Do vậy khi dạy loại thơ này chúng ta có thể vận dụng cách khai thác theo quá trình dàn dựng cấu tứ của bài thơ, tức là tìm hiểu theo kết cấu của nó

Theo tác giả Nguyễn Sĩ Cẩn trong mấy vấn đề phương pháp dạy học thơ cổ Việt Nam, bố cục bài thất ngôn tứ tuyệt gồm có bốn phần: khai, thừa,

chuyển, hợp Mỗi phần khai, thừa, chuyển, hợp là một câu có chức năng -Câu khai mở đầu để tạo ra “duyên cớ” để riển khai toàn bộ tứ thơ, nhưng ngay trong câu đầu đã hàm chứa nội dung, tình cảm tác giả

-Câu thừa có hai chức năng cơ bản: Cùng với câu 1 hoàn thiện một

ý, và niêm liên 1 với liên 2 vừa hé lộ nội dung tư tưởng của bài thơ

- Câu chuyển là câu thứ 3 câu thơ có vị trí đặc biệt trong bài thơ tứ tuyệt nó vừa là sự chuyển của hai câu trước vừa đóng vai trò quyết định sự thành bại của bài thơ

Ví dụ: Bài thơ “Tĩnh dạ từ” của Lí Bạch có thể khai thác bài thơ theo

hướng này

Ngoài ra có thể khai thác bài thơ theo mô hình kết cấu 2/2 Bởi

vì bài thơ thất ngôn tứ tuyệt được cấu tạo bởi hai liên thơ Chúng ta đã biết liên thơ là một đơn vị hết sức cơ bản của thơ luật đường Do vậy khi khai thácbài thơ dựa vào cơ sở này là điều cần thiết Nói như thế không phải cứ nhất nhất áp dụng cách giảng dạy thơ thất ngôn tứ tuyệt theo kết cấu 2/2 này Mà trong thực tiễn, trước một tác phẩm cụ thể, ta có thể vận dụng một cách linh hoạt các phương thức chiếm lĩnh để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy Nhưng cần lưu ý khi phân tích bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cũng phải định hướng cho học sinh chú trọng vào việc hiểu câu thơ thư 3 bởi đó là câu bản lề, trục kết nối hai phần của bài thơ đưa người đọc vào vấn đề chính yếu mà tác giả muốn

đề cập

Trang 9

Ví dụ: Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng

Lăng” của Lí Bạch có thể khai thác theo hướng kết cấu này

1.1.2 Khai thác bài thơ Đường dựa vào các quy định khác của luật thi 1.1.2.1 Khai thác bài thơ Đường dựa vào niêm thơ và luật bằng trắc Thơ Đường đã đúc kết kinh nghiệm quá khứ nâng lên thành luật bằng trắc

đối xứng, chính là mâu thuẫn thống nhất trong âm thanh, đối xứng càng cao

thì sự hài hoà càng lớn Nó thể hiện trước hết ở niêm thơ

1.1.2.2 Khai thác bài thơ dựa vào niêm thơ: Niêm nghĩa đen là dính, chỉ

quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau về âm luật giữa các câu theo hệ thống dọccủa bài thơ Trong mỗi cặp câu, tức mỗi “liên” thơ, các chữ câu số lẻ, số chẵnphải có thanh trái ngược nhau (trừ chữ thứ 5 chữ thứ 7 trong liên thơ)

Ví dụ: Bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ.

“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm”

Trong hai liên thơ trên, các chữ tương ứng ở hai câu số chẵn và câu số lẻthanh trái ngược nhau, trừ chữ thứ 3 ở liên 1 và chữ thứ 3 ở liên 2 Điều này

có thể chấp nhận được vì “ nhất, tam, ngũ bất luận- nhị, tứ, lục phân minh”.

Trong hai cặp câu kề nhau, nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi củaliên dưới Muốn vậy chữ thứ 2 của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanhvới chứ thứ 2 của câu lẻ thụôc liên dưới Sự giống nhau như thế về thanh đãtạo nên cái gọi là niêm vì nó đã làm cho hai câu thơ thuộc hai liên dính vàonhau Theo đó trong bài thơ thất ngôn bát cú câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêmvới câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7, còn ở bài thơ thất ngôn

tứ tuyệt câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3

Ví dụ: Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ xem xét các từ thứ 2,4,6 đi dọc

suốt tác phẩm sẽ thấy:

- Liên 1: Câu 1 + câu 8

- Liên 2: Câu 2 + câu 3

- Liên 3: Câu 4 + câu5

- Liên 4: Câu 6 + câu 7

Ví dụ: Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng

Lăng” của Lí Bạch.

- Liên 1: Câu 1 + câu 4

Trang 10

- Liên 2: Câu 2 + câu 3

1.1.2.3 Khai thác bài thơ dựa vào luật bằng trắc

Bài thơ Đường phải tuân thủ sự quy định về thanh bằng, thanh trắctrong từng câu và trong cả bài thơ theo hệ thống hàng ngang Nó quy định thểcủa bài thơ luật, muốn biết bài thơ luật bằng hay luật trắc thì phải căn cứ vàochữ thứ 2 của câu 1 Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ này thuộc luật bằng(và ngược lại) Trong mỗi câu xu hướng chung là các cặp bằng- trắc được bốtrí lần lượt nhau

Về sự xắp xếp các thanh bằng- trắc có công thức biểu diễn sự phân bốcủa từng câu cụ thể trong cả bài thơ luật thất ngôn bát cú ở dạng lí tưởng Cụthể các công thức sau:

+ Bài thơ luật bằng khởi vào vận: Chữ thứ 2 câu đầu thanh bằng, chữcuối câu thứ nhât, vần với chữ cuối câu thứ 2 Mô hình như sau:

bằng, chữ cuối của câu thứ nhất, không vần với câu thứ 2 Mô hình như sau:

cuối câu thứ nhất vần với chữ cuối câu thứ 2 Mô hình như sau:

T T B B T T B

B B T T T B B

B B T T B B T

Trang 11

chữ cuối câu thứ nhất không vần với chữ cuối câu thứ 2 Mô hình như sau:

Chính vì vậy khi dạy học phải xoáy sâu vào những điểm sáng nghệ thuậtnày, phân tích cho được tác dụng của nó trong việc chuyền tải tư tưởng củatác giả

Ví dụ: Trong bài thơ “ Thu hứng” của Đỗ Phủ đây là bài thơ được làm

theo luật trắc khởi vào vận (mô hình 3) Chữ thứ 2 câu 1 thanh trắc, chữ cuốicâu thứ nhất vần với chữ cuối của câu 2

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm

1.1.2.3 Khai thác bài thơ luật Đường dựa vào tìm hiểu luật đối

Trong bài thơ Đường làm theo luật đối trở thành nguyên tắc bắtbuộc, được quy định chặt chẽ, đòi hỏi phải có sự cân xứng cả thanh lẫn ý

Ngày đăng: 15/10/2017, 07:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w