Chúng ta nên bắt đầu từ những khâu cơ bảnnhư trang bị kiến thức về đặc trưng kiểu bài làm văn, những phương pháp hànhvăn cơ bản… để học sinh có thể tự nhận thức và thực hành rèn luyện ch
Trang 1SỞ GD&ĐT THANH HÓA TRƯỜNG THPT NHƯ THANH II
Sáng kiến kinh nghiệm
“RÈN LUYỆN KĨ NĂNG XÂY DỰNG ĐOẠN VĂN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC DIỄN ĐẠT CHO HỌC SINH LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH II”
Họ và tên: Nguyễn Văn Lực
Chức vụ: giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Như Thanh II
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc môn Ngữ văn
Tháng 5 năm 2016
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ I/ Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận là kiểu bài văn quan trọng và phổ biến nhất trong nhàtrường hiện nay - nhất là với cấp học THPT - không chỉ có nghị luận văn học
mà còn nghị luận về một tư tưởng đạo lý, nghị luận về một hiện tượng xã hội
Đó là kiểu văn yêu cầu người học sinh để làm được cần phải huy động dườngnhư tất cả các thao tác tư duy - thao tác lập luận Đặc trưng của bài văn nghịluận là phải xác lập và cung cấp, trình bày được cho người đọc, người nghe một
tư tưởng, quan điểm nào đó – các yếu tố luận điểm, luận cứ và lập luận đóngvai trò quyết định tạo nên đặc trưng kiẻu bài này
Một trong những vấn đề cơ bản còn yếu của học sinh hiện nay trong quátrình diễn đạt, trong hành văn – theo tôi, đó là kỹ năng viết câu và tổ chức đoạnvăn, nhất là với những học sinh khối 10 Rất nhiều học sinh cấp THPT thậm chícòn không biết cách để trình bày một vấn đề sao cho gãy gọn, trôi chảy - đó làchưa nói đến tình trạng nhiều học sinh nói và viết rất vụng về, tối nghĩa, mơhồ.v.v Khắc phục những yếu kém đó không phải là câu chuyện có thể đưa rangay lời giải mà nó cần được tiến hành một cách có hệ thống và phải được tổchức một cách kiên trì, bền vững Chúng ta nên bắt đầu từ những khâu cơ bảnnhư trang bị kiến thức về đặc trưng kiểu bài làm văn, những phương pháp hànhvăn cơ bản… để học sinh có thể tự nhận thức và thực hành rèn luyện cho mìnhnhững kỹ năng trình bày một vấn đề sáng rõ, chặt chẽ và có sức thuyết phục Xuất phát từ thực tế trên, với vai trò là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn,tôi thấy mình phải có trách nhiệm trong việc thay đổi nhận thức, hạn chế vàkhắc phục, loại bỏ những yếu kém trong việc trình bày vấn đề – trong quá trìnhhành văn - của học sinh
“Rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn trong văn nghị luận nhằm tăng cường năng lực diễn đạt cho học sinh lớp 10 ở trường Trung học phổ thông Như Thanh II” là một trong những phương pháp cơ bản để góp phần
thực hiện mục đích giáo dục như đã nói trên Để tổ chức công việc này có hiệuquả, tạo được hứng thú tham gia tiết học đối với học sinh, theo tôi chúng ta cầnxây dựng một hệ thống các dạng bài tập tình huống để kích thích việc tìm hiểu -thực hành nơi người học Bởi vì trong khung chương trình giảng dạy không cótiết học về rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn, cho nên chúng ta có thể lồngghép tổ chức rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận cho học sinh trong
Trang 3các bài học về văn nghị luận hoặc có thể sử dụng vào những tiết học tự chọn(1tiết/tuần) Từ thực tế áp dụng việc thực hành rèn luyện kỹ năng tổ chức xâydựng đoạn văn trong văn nghị luận những năm qua trong giảng dạy, tôi nhậnthấy bước đầu đã tạo được hứng thú cho học sinh và cũng đã khắc phục đượctương đối những hạn chế trong trình bày và diễn đạt vấn đề của các em Tấtnhiên để đạt được điều này phải phối hợp với nhiều biện pháp khác (nhất làtrong khâu chấm - trả bài cho học sinh).
II/ Mục đích nghiên cứu
- Khắc phục những hạn chế trong việc trình bày, diễn đạt (nói và viết) cònrất phổ biến của học sinh hiện nay tại trường THPT Như Thanh II (phần lớn họcsinh là con em dân tộc thiểu số, kĩ năng về tiếng Việt còn vụng về, yếu – đặcbiệt là trong khả năng viết câu văn, đoạn văn)
- Giúp học sinh có khả năng diễn đạt trong sáng, trôi chảy, mạch lạc nhữngsuy nghĩ, ý kiến, quan điểm của mình về một vấn đề nào đó được đặt ra trongcuộc sống (hoặc trong văn học)
- Hiểu và biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng trong việc viết câu, xâydựng đoạn văn để viết được bài văn nghị luận đạt yêu cầu
- Giúp học sinh có thể tự tin hơn trong các hoạt động ngôn ngữ (trong nhàtrường và ngoài xã hội)
III/ Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm phương hướng giúp cải thiện khả năngviết câu, triển khai đoạn văn cho học sinh trong quá trình làm văn
- Đối tượng áp dụng chủ yếu: học sinh các lớp 10B3, 10B5 (trường THPTNhư Thanh II, năm học 2015 - 2016)
IV/ Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp khảo sát, thống kê và xử lí số liệu
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I/ Cơ sở lí luận.
1 Văn nghị luận là thể loại văn “viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc
nhiều lĩnh đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, triết học, đạo đức, lối sống… Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định… Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết - khác với văn học nghệ thuật, văn nghị luận chủ yếu thuyết phục người đọc bằng lí lẽ, lập luận…”.
Về nội dung: bài văn nghị luận phải nêu được sự việc, hiện tượng có vấnđề; phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt lới, mặt hại của nó; chỉ ra nguyên nhân vàbày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết
Về hình thức: bố cục phải mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ xácthực, phép lập luận phù hợp, lời văn chính xác, sinh động, thuyết phục
2 Đoạn văn
Về nội dung: Đoạn văn diễn đạt tương đối trọn vẹn một ý
Về hình thức: Đoạn văn là phần văn bản
+ Bắt đầu từ chữ viết hoa lùi vào đầu dòng
+ Kết thúc bằng một dấu chấm xuống dòng
+ Đoạn văn thường là sự kết hợp, liên kết từ nhiều câu tạo thành
3 Đoạn văn nghị luận là một phần của văn bản nghị luận Thông thường,
trong văn nghị luận, mỗi đoạn văn tương đương một ý – một luận điểm
II/ Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
Các tiết học làm văn nói chung, văn nghị luận nói riêng nhìn chung họcsinh còn tỏ ra rất thụ động, thường chỉ có một số ít học sinh tham gia trao đổi,thực hiện các yêu cầu do giáo viên đặt ra một cách chủ động, tích cực Đó làmột thực tế khiến mỗi giáo viên không khỏi trăn trở
Từ thực tiễn của các hoạt động giao tiếp - nói và viết - cho thấy rằng,việc diễn đạt, trình bày vấn đề lúng túng, rối ý, tối nghĩa…diễn ra rất phổ biến ởphần đông học sinh hiện nay tại trường THPT Như Thanh II, nhất là đối với họcsinh khối 10 (ở nhiều mức độ khác nhau) Vấn đề này càng đặc biệt đáng báođộng ở những đối tượng học sinh yếu – kém
Trang 5Những câu văn ngớ ngẩn, những đoạn diễn đạt vụng về, rối ý, tối nghĩa
có thể tìm thấy dễ dàng ở bài làm văn của nhiều học sinh…
Ví dụ: 1/ Bài làm của một học sinh lớp 10B3 với đề bài “Tâm trạng của
Thúy Kiều qua đoạn thơ Trao duyên” – trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, có đoạn
viết: Vì em còn trẻ nên gửi tặng em duyên của mình cho em, làm tròn chức
vụ kết duyên cho Kim Trọng thay mình Dù Kiều có bị sao hay nữa vẫn vui
vẻ ngậm cười khi thấy em mình trao duyên với Kim Trọng.
2/ Đây là bài làm của một học sinh khác ở lớp 10B3 (vẫn với đề bài trên),
trong bài có đoạn viết: Một bên là chư “Hiếu”, bên kia là chữ “Tình” đã gây
lên cho Kiều một cú sốc cực lớn khiến Kiều đành chọn chữ “Hiếu” để không phụ lòng cha nàng, còn chữ “Tình” thì đã giao lại cho em gái mình là vân lúc Trao duyên…
Điều đáng buồn, đáng báo động là chính bản thân các em lại không nhậnthức được điều này, cho nên thấy sai nhưng lại không có dấu hiệu khắc phục…thậm chí còn sai nhiều hơn (sau mỗi lần giáo viên chấm, trả bài)! Thực tế đóbuộc chúng ta phải suy nghĩ, tìm hướng khắc phục (càng sớm càng tốt)
III/ Các giải pháp thực hiện.
Điều cốt lõi của phương pháp này là giáo viên phải tìm hiểu kỹ những tàiliệu có liên quan để có thể xây dựng một kế hoạch dạy học hợp lý, một hệ thốngnhững bài tập tình huống - mô hình đa dạng có khả năng lôi cuốn hứng thúkhám phá, hứng thú thực hành đối với học sinh
Công tác chuẩn bị hệ thống kiến thức, tìm và lựa chọn ngữ liệu của giáoviên là khâu rất quan trọng Ví dụ phải vừa sức, có tính giáo dục và phải gắnliền với kiến thức về những tác phẩm văn học trong nhà trường (cả ở THSC vàTHPT) Trên cơ sở đó, giáo viên định hướng, gợi ý để phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh trong từng đơn vị kiến thức
Giáo viên sưu tầm tài liệu, trước hết trang bị cho học sinh những kiến thức
về lý thuyết bài học (văn nghị luận, đoạn văn nghị luận, luận điểm, luận cứ,cách lập luận…) Từ đó đưa người học vào những bài tập tình huống, giáo viêngợi ý hướng dẫn các em phân tích ví dụ và thực hành tại lớp đồng thời cuốimỗi buổi học, giáo viên ra bài tập yêu cầu học sinh về nhà thực hiện để củng cốnhững kiến thức đã học
Trang 6Tiến hành lồng ghép kiểu tổ chức rèn luyện kỹ năng này vào những buổi thựchành luyện tập làm văn để củng cố vững chắc hiểu biết, nhận thức cho học sinh.
*******************
1 Bước thứ nhất: trang bị cơ sở lí thuyết cho học sinh
Muốn triển khai thành văn bản một bài văn, trước hết phải biết xây dựngmột đoạn văn vì đoạn văn là đơn vị nòng cốt làm nên văn bản Việc cung cấp líthuyết rất cần thiết để học sinh ý thức được, nhận diện được đoạn văn, vai tròcủa đoạn văn… Từ đó giúp các em có kiến thức để thực hành
a Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc,
người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, văn nghị luận cần phải
có các yếu tố: luận điểm, luận cứ và phương pháp lập luận
- Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của người viết trong
bài văn nghị luận
- Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng (lí lẽ giúp người ta hiểu, dẫn chứng
giúp người ta tin) đưa ra làm cơ sở cho luận điểm, làm sáng rõ luận điểm Luận
cứ phải chân thực, chính xác và tiêu biểu
- Phương pháp lập luận là cách thức lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận
cứ để dẫn đến luận điểm sao cho chặt chẽ, thuyết phục Một số phương pháp lậpluận quen thuộc như: Diễn dịch, Quy nạp, So sánh, Nêu phản đề…
b Đoạn văn
- Về nội dung: Đoạn văn thường diễn đạt một ý tương đối hoàn
chỉnh-một nội dung nhất định
- Về hình thức: Đoạn văn là phần văn bản tính bắt đầu từ chữ viết hoa lùi
đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng đoạn văn do nhiều câu tạo thành
c Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề.
- Từ ngữ chủ đề là những từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là danh
từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt
- Câu chủ đề là câu mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủhai thành phần chính và đứng đầu hoặc cuối đoạn văn
d Đoạn văn nghị luận:
Là một phần của văn bản nghị luận, mỗi đoạn văn nghị luận thường thểhiện một luận điểm
2 Bước thứ hai: Rèn luyện một số kĩ năng xây dựng đoạn văn nghị luận nhằm cải thiện năng lực diễn đạt cho học sinh.
Trang 7Ví dụ:
1/ Để giải quyết vấn đề tại sao phải dời đô, trong “Chiếu dời đô”, Lý
Công Uẩn đã đưa ra hệ thống các luận điểm:
- Các triều đại trước đây đã nhiều lần dời đô về nơi trung tâm để mưu
toan việc lớn;
- Việc “cứ đóng yên đô thành ở đây” của hai triều đại Đinh, Lê đã
không còn thích hợp vối sự phát triển của đất nước;
- Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.
2/ Để khẳng định truyền thống yêu nước của nhân dân ta, trong tác phẩm
“Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
đã đưa ra các luận điểm như sau:
- Lịch sử đã chứng tỏ tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc;
- Đồng bào ta ngày nay rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước;
- Bổn phận của chúng ta là phải biến lòng yêu nước thành những hành
động yêu nước.
3/ Để nói về vấn đề sử dụng tiếng nước ngoài tùy tiện, tràn lan trên báo
chí, quảng cáo ở nước ta hiện nay, tác giả Hữu Thọ trong “Chữ Ta” đã đưa ra
các luận điểm sau:
- Tiếng nước ngoài (chủ yếu là tiếng Anh) đang lẫn lướt tiếng Việt trên các bảng hiệu, quảng cáo;
- Một số trường hợp, tiếng nước ngoài còn được đưa vào báo chí một cách tùy tiện không cần thiết, gây thiệt thòi cho người đọc trong nước.
Như vậy, các văn bản nghị luận trên coi như công việc tìm và sắp xếpluận điểm của chúng ta đã hoàn thành một cách hợp lí rồi Song điều đó chưathể khẳng định là chúng ta sẽ có thể có một bài làm văn nghị luận tốt! Chưa thể
vì còn phải biết trình bày luận điểm như thế nào mới thuyết phục được ngườiđọc người nghe, nghĩa là phải biết viết đoạn văn trình bày luận điểm sao chologic, hợp lí và có sức thuyết phục
Ví dụ về một đoạn văn nghị luận có lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục:
Trang 8“Đồng bào ta ngày nay rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước Từ các
cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, aai ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong đi giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để góp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên ruộng cho Chính phủ…Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc
làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước” (Hồ Chí Minh –
“Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”).
Đo n v n trên g m 5 câu ta có th phác h a mô hình l p lu n c aạn văn trên gồm 5 câu ta có thể phác họa mô hình lập luận của ăn trên gồm 5 câu ta có thể phác họa mô hình lập luận của ồm 5 câu ta có thể phác họa mô hình lập luận của ể phác họa mô hình lập luận của ọa mô hình lập luận của ập luận của ập luận của ủa
o n v n trên nh sau:
đoạn văn trên như sau: ạn văn trên gồm 5 câu ta có thể phác họa mô hình lập luận của ăn trên gồm 5 câu ta có thể phác họa mô hình lập luận của ư sau:
Câu 1: câu chủ đề – câu nêu lên luận điểm
+ Luận điểm có sức thuyết phục là nhờ có luận cứ
+ Luận cứ phải chính xác, chân thực, đầy đủ.- tìm đủ các luận cứ cầnthiết, tổ chức lập luận theo một trình tự hợp lí để làm nổi bật luận điểm
Trong một đoạn văn nghị luận có thể kết hợp nhiều cách lập luận khác nhau.chẳng hạn, kết hợp lập luận diễn dịch với song hành, kết hợp song hành với quynạp…
Với trình độ học sinh lớp 10, chúng ta chỉ cần cho các em tập trình bày luận
điểm theo các cách diễn dịch, quy nạp và song hành Bởi vậy trong khuôn khổ
SKKN này, tôi chủ yếu xây dựng và rèn luyện cho học sinh hệ thống kỹ năngtriển khai đoạn văn nghị luận theo những cách nói trên
a/ Diễn dịch:
Trang 9Là cách trình bày đi từ ý khái quát (câu chủ đề nêu luận điểm) đến các ýchi tiết cụ thể (các luận cứ) làm sáng tỏ ý khái quát đó Câu mang nội dung kháiquát đứng ở đầu đoạn.
Sơ đồ lập luận:
Câu (1): nêu luận điểm (câu chủ đề)
Câu 2: luận cứ Câu 3: luận cứ Câu 4: luận cứ
Ví dụ:
Tham nhũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở châu Á Chính phủ HànQuốc bắt giam hai cựu Bộ trưởng quốc phòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhậnhối lộ một triệu đô la Giới lập pháp ở Đài Loan hiện phải công khai tài sản củamình và rồi đây các viên chức cao cấp trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó.Cũng do tham nhũng, Đảng Dân chủ tự do cầm quyền ở Nhật Bản đã mất đa sốghế tại Hạ viện (Báo Tuổi trẻ, số ngày 05/08/1993)
b/ Quy nạp:
Cách lập luận ngược lại với diễn dịch Là cách trình bày đi từ các ý chi tiết
cụ thể (các luận cứ) rồi rút ra ý khái quát Câu chủ đề (câu nêu luận điểm) đứng
ở cuối đoạn văn
Sơ đồ lập luận:
Câu 1: luận cứ Câu 2: luận cứ Câu 3: luận cứ …
Câu nêu luận điểm (câu chủ đề)
Ví dụ:
Tại Nhật Bản, do tham nhũng Đảng Dân chủ tự do cầm quyền đã mất đa
số ghế tại Hạ viện Chính phủ Hàn Quốc bắt giam hai cựu Bộ trưởng quốcphòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhận hối lộ một triệu đô la Giới lập pháp ởĐài Loan hiện phải công khai tài sản của mình và rồi đây các viên chức cao cấp
Trang 10trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó Tham nhũng là vấn đề đang được quantâm hàng đầu ở châu Á.
c/ Song hành:
Song hành là cách lập luận ý giữa các câu ngang nhau (các câu đều là luậncứ) không có câu chủ đề (không có câu nào là câu nêu lên luận điểm)
Sơ đồ lập luận:
Câu 1 Câu 2 Câu 3 …
luận cứ luận cứ luận cứ
Ví dụ:
Văn Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, tinh tế.Văn Nam Cao sắc lạnh, giàu tính triết lí Còn Vũ Trọng Phụng thì chua chát, biphẫn
Câu chủ đề ẩn: Phong cách riêng của các nhà văn hiện đại Việt Nam.
Hoạt động 2: Rèn luyện một số kĩ năng xây dựng đoạn văn nghị luận
cho học sinh
Rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn nghị luận (trình bày luận điểm)cho học sinh - theo tôi nghĩ, chúng ta nên bắt đầu cho học sinh rèn luyện kỹnăng từ mức độ thấp đến cao, từ thực hành nhận biết đến thực hành sáng tạo.Trên cơ sở tìm hiểu một số tài liệu có liên quan đến việc hướng dẫn rèn luyện kĩnăng xây dựng đoạn văn cùng với thực tiễn quá trình giảng dạy những năm quađối với học sinh lớp 10 (cả một bộ phận học sinh 11, 12) trường THPT NhưThanh II, tôi đã xây dựng một hệ thống những bài tập giúp rèn luyện kĩ năngviết đoạn văn nghị luận cho học sinh như sau
a Xác định và trình bày luận điểm, luận cứ trong đoạn văn
* Mục đích
- Hình thành dần ở học sinh tư duy trình bày, giải quyết vấn đề bằng việc xáclập những ý kiến, tư tưởng cụ thể, rõ ràng; biết đưa ra những kết luận cho lậpluận
- Khắc phục tình trạng lan man, chung chung, mơ hồ trong diễn đạt còn kháphổ biến ở học sinh
Trang 11- Nhận thức được rằng, mỗi ý kiến, quan điểm mà mình đưa ra để giải quyếtvấn đề cần phải có những dẫn chứng, chứng cứ tiêu biểu, đủ sức nặng để chứngminh, thuyết phục Đồng thời khắc phục một nhầm tưởng của không ít học sinhrằng bài văn không phải là bài liệt kê, mô tả dẫn chứng đơn thuần.
* Yêu cầu.
- Luận điểm nêu ra phải đúng đắn, sáng rõ, tập trung, có tính định hướng vàđáp ứng nhu cầu thực tế (Đúng đắn nghĩa là luận điểm phải phù hợp với lẽ phảiđược thừa nhận Sáng rõ tức là luận điểm được diễn đạt chuẩn xác, không mập
mờ, mơ hồ, mâu thuẫn Tập trung nghĩa là các luận điểm trong bài đều phảihướng vào làm rõ vấn đề nghị luận Luận điểm cần có tính định hướng nhằmgiải quyết những vấn đề về nhận thức và tư tưởng đặt ra trong cuộc sống…)
- Luận cứ (dẫn chứng, lí lẽ) phải phù hợp, thống nhất với yêu cầu khăng địnhcủa luận điểm
- Luận cứ phải xác thực, đúng đắn Biết không chắc chắn thì không nên sửdụng Tuyệt đối không được bịa đặt, “sáng tạo” luận cứ
- Luận cứ phải tiêu biểu, nổi bật; phải vừa đủ , đáp ứng nhu cầu chứng minhtoàn diện cho luận điểm
- Luận cứ phải mới mẻ (nếu phải sử dụng lại luận cứ quen thuộc tì cố gắngkhai thác khía cạnh mới của luận cứ)
Khi nêu luận cứ, phải giới thiệu luận cứ, có trường hợp phải chỉ rõ nguồn gốc
của luận cứ (ví dụ: câu thơ đó của ai , số liệu này lấy ở đâu…) Mặt khác cần
trích dẫn chuẩn xác luận cứ (Nhớ nguyên văn thì đặt trong ngoặc kép, nếukhông thì nêu đại ý…)
* Cách thức xác định và trình bày
- Để xác định luận điểm, có thể tìm hiểu một số cách sau:
+ Xác định luận điểm từ việc khai thác những dữ liệu của đề bài
Ví dụ: Đề bài
Có ý kiến nhận định “Tác phẩm của Nam Cao không những đã vạch ra nỗi
khổ cùng cực của người nông dân mà còn thể hiện cảm động bản chất đẹp đẽ, cao quí trong tâm hồn họ”.
Dựa vào sáng tác của nhà văn Nam Cao mà anh/chị biết, hãy chứng minhnhận định trên