Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay việc đầu tư các nguồn lực để đầu tư cho giáo dục, trong đó có công tác bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều hạn chế.. Chính vì vậy, sau nhiều năm phụ tr
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam phấn đấu là một nước công nghiệp Nhân tố quyết định thắng lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực người Việt Nam phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Tầm quan trọng của ngành giáo dục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta nhiều lần nêu ra trong Văn kiện các kỳ Đại hội Gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [2]; đồng thời xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay việc đầu tư các nguồn lực để đầu tư cho giáo dục, trong đó có công tác bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều hạn chế Nhận thức trong một số cán bộ, nhân dân và những người làm công tác giáo dục còn chưa thực sự đầy đủ nên chưa huy động được các nguồn lực, các lực lượng xã hội tham gia phối hợp trong công tác giáo dục Công tác quản lý bồi dưỡng học sinh giỏi trên địa bàn huyện Triệu Sơn những năm qua còn nhiều bất cập, hạn chế; kết quả giáo dục mũi nhọn chưa có tính bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện
Chính vì vậy, sau nhiều năm phụ trách công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 dự thi tỉnh, trực tiếp quản lý, chỉ đạo bồi dưỡng đội tuyển môn Vật lí cấp THCS, cùng với việc nghiên cứu một cách có hệ thống về lý luận
và hoạt động thực tiễn, tác giả viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS, huyện Triệu Sơn năm học 2016 - 2017”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất giải pháp quản lý, chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu, văn bản về lý luận hoạt động dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học, quản lý dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, điều tra tình hình thực tiễn, đàm thoại, phỏng vấn, bảng hỏi, thu thập thông tin
Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu
Trang 22 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, với sự phổ biến của Internet và sự tiến nhanh đến nền kinh tế tri thức thì vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là tài năng trẻ có vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy ngành giáo dục nước ta đã có những chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, và đến nay đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo học sinh giỏi ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Trong một thời gian dài, mạng lưới các trường chuyên, lớp chọn bộc lộ nhiều hạn chế cả về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, quản lý, tuyển sinh, … Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi ở các cơ sở giáo dục chưa rõ nét Chưa có phương thức tích cực và chủ động để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ các trường phổ thông Thiếu chủ động trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách, cơ chế quản lý thích hợp và đồng bộ cho việc bồi dưỡng người tài
Tóm lại: Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi ở nước ta hiện nay đang là một đòi hỏi bức thiết, một trách nhiệm nặng nề nhưng thật vinh dự đối với các trường phổ thông nói riêng và toàn ngành giáo dục nói chung Tất cả vì mục tiêu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
2.2 Thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS, huyện Triệu Sơn trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục và đã có nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục Tuy nhiên, trong quá trình phát triển về quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục còn có bất cập Nhiều cán bộ quản lý, giáo viên chưa thực sự trăn trở với sứ mệnh “trồng người”; nhận thức của một số phụ huynh học sinh về giáo dục còn hạn chế; việc quan tâm, đầu tư của gia đình và xã hội cho thế hệ trẻ chưa thường xuyên
- Công tác xây dựng kế hoạch chưa được các nhà trường, các cán bộ quản
lý, giáo viên và học sinh coi trọng; việc kiểm tra, đánh giá còn có phần xem nhẹ Các hoạt động học tập mang tính chất đặc trưng của học sinh giỏi chưa được đề cao Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi chưa đáp ứng theo yêu cầu mới Việc tạo điều kiện cho giáo viên có điều kiện để tham gia các lớp bồi dưỡng chưa phù hợp
- Đội ngũ giáo viên có đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ nhưng chưa thực sự giỏi về chuyên môn Nhiều giáo viên chưa có phương pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi mà chỉ dựa vào kết quả đánh giá cuối học kỳ, cuối năm Một số giáo viên chưa tích cực trong việc trang bị cho học sinh phương pháp
tự học, chưa chú trọng đến việc rèn kỹ năng cho học sinh Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao để bồi dưỡng học sinh giỏi tham dự kỳ thi cấp tỉnh,
Trang 3cấp quốc gia còn hạn chế; chế độ, chính sách ưu đãi cho cả người dạy và người học đều chậm thay đổi, chưa tương xứng; chất lượng tuyển chọn học sinh giỏi chưa cao; học sinh vừa tham gia lớp bồi dưỡng cấp huyện, vừa học chương trình chính khóa và đi học thêm nên lượng kiến thức tiếp thu quá tải, khả năng ghi nhớ và sự chuyên tâm cho các kỳ thi còn nhiều hạn chế
- Một bộ phận cán bộ, giáo viên chưa thực sự tâm huyết, tận tâm với nghề
và trình độ chuyên môn chưa đáp ứng với yêu cầu mới Đội ngũ cán bộ, quản lý
đa phần không được đào tạo chính quy ở các trường bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục; một bộ phận bằng lòng với thực tế, không có tư tưởng phấn đấu, làm việc theo thói quen; việc bố trí, sử dụng cán bộ nhiều khi còn mang tính chủ quan Công tác thi đua, khen thưởng và cơ chế quản lý hành chính còn nhiều bất cập, chưa khuyến khích cán bộ quản lý phấn đấu tạo bước đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục [1]
- Nội dung, chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi do giáo viên tự nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn
- Sách tham khảo, tài liệu trong thư viện còn chưa đầy đủ, đặc biệt là các tài liệu nâng cao phù hợp với đối tượng học sinh giỏi; cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng với yêu cầu bồi dưỡng học sinh giỏi, thiếu các phòng học môn Vật lí, phòng thí nghiệm - thực hành, trang thiết bị dạy học chưa đầy
đủ, có nhiều thiết bị không đáp ứng được yêu cầu của việc giảng dạy
- Một nguyên nhân nữa dẫn đến chất lượng học sinh giỏi chưa cao, đó là học sinh vẫn chưa “mặn mà” với các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì các em còn phải chịu áp lực từ chương trình học chính khóa và mục tiêu thi vào lớp 10 THPT
- Công tác xã hội hóa giáo dục còn hạn chế, nhiều đơn vị chưa lập được quỹ Khuyến học để thưởng cho giáo viên và học sinh đạt thành tích trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia
Tóm lại: Kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí của các trường THCS trên địa bàn huyện Triệu Sơn những năm trước chưa cao và thiếu tính bền vững, nguyên nhân chính do việc quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi chưa khoa học, thiếu các giải pháp mang tính khả thi
Kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS, huyện Triệu Sơn giai đoạn 2013 - 2016
Năm học
Cấp tỉnh
Tổng giải
Tỉ lệ đạt giải (%)
Tổng điểm
(Nguồn Phòng GD&ĐT huyện Triệu Sơn)
Trang 42.3 Các giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS, huyện Triệu Sơn năm học 2016 - 2017
2.3.1 Nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của cán
bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh
Tuyên truyền để nội dung: “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội”, thực sự đi vào cuộc sống Từ đó, huy động các nguồn lực chăm lo cho giáo dục
Tuyên truyền sâu rộng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong cộng đồng Giải pháp này nhằm góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về giá trị, vai trò, lợi ích của giáo dục Vị trí và tầm quan trọng của việc tiến hành thực hiện bồi dưỡng học sinh giỏi ở các nhà trường Đây là nội dung căn bản để tiến hành quản lý tốt hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Vật lí cấp THCS nói riêng
Tuyên truyền thực hiện Luật Giáo dục và những chủ trương đổi mới giáo dục của Nhà nước, của Chính phủ Đây là cơ sở quan trọng để thống nhất ý chí, thống nhất hành động cho toàn xã hội trong việc phát triển giáo dục, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục mũi nhọn Để làm tốt điều này, trách nhiệm một phần thuộc
về ban Tuyên giáo Huyện ủy, Phòng GD&ĐT huyện, Hiệu trưởng các trường, việc chọn được người có trình độ, có khả năng, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, nhằm xây dựng được chương trình, kế hoạch cụ thể, đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức, cả truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp
Tuyên truyền vận động toàn dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi đi học thấy được lợi ích, vai trò của giáo dục Giáo dục thực sự là chìa khóa để mở cánh cổng cuộc đời cho mọi người hướng tới tương lai Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức tạo mối quan hệ đồng thuận giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong lĩnh vực giáo dục; phụ huynh tích cực, nhiệt tình tham gia về “tài lực, trí lực, vật lực” cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Tạo mọi điều kiện, mọi cơ hội cho tất cả những ai muốn học đều được học, được cống hiến hết mình Có nhận thức được đầy đủ lợi ích giá trị của việc học thì mọi người mới học liên tục, học suốt đời, học từ xa, học ở thầy, học qua bạn, học qua Internet, học trong sách vở, học ở thực tiễn, [1]
Tóm lại: Nhận thức có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động thực tiễn của con người Thực tế sự thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở nhiều trường, nhiều địa phương chính là do vấn đề nhận thức
2.3.2 Đổi mới việc xây dựng kế hoạch, quá trình triển khai tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng học sinh giỏi
- Đối với các trường THCS
Việc xây dựng kế hoạch về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi mang tính khả thi, phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị sẽ quyết định hiệu quả đạt được
+ Lãnh đạo các trường phải xác định: “bồi dưỡng học sinh giỏi” là nhiệm
vụ trọng tâm trong công tác chuyên môn của nhà trường Vì vậy, cần tạo mọi điều kiện về thời gian, kinh phí cho công tác này
Trang 5+ Tiếp tục chỉ đạo giáo viên dạy các đội tuyển theo cấu trúc đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh
+ Tạo điều kiện về mặt thời gian và kinh phí cho các giáo viên dạy học sinh giỏi
+ Dạy học sinh giỏi trong giờ chính khóa, trong các buổi dạy thêm (xây dựng hệ thống chuẩn kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho học sinh giỏi, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu); việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh
+ Giáo viên các đội tuyển cần dành nhiều thời gian, sự nhiệt tình, tâm huyết vào công tác bồi dưỡng Xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng, thường xuyên ra đề, tham khảo các đề ở các trường bạn, các đề của tỉnh và các đề thi các trường chuyên trên toàn quốc Từ đó, rèn cho các em kỹ năng làm bài, khả năng phản xạ với các dạng đề thi; việc cập nhật ngân hàng đề thi học sinh giỏi của Sở GD&ĐT Thanh Hóa trong những năm vừa qua và đề thi học sinh giỏi của các tỉnh, thành phố và các trường chuyên trên toàn quốc là việc làm rất quan trọng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Kiểm duyệt chặt chẽ khâu chuẩn bị bài; yêu cầu trong bài soạn phải thể hiện được chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ GD&ĐT quy định; phải có kiến thức, cách dạy dành cho các đối tượng học sinh và cần bồi dưỡng học sinh giỏi ngay trong giờ chính khóa
+ Giáo viên dạy các đội tuyển cần phân loại chính xác các đối tượng, trên
cơ sở “vừa sức, vừa tầm”, tạo niềm tin vững chắc cho các em khi tham dự đội tuyển và trong quá trình dự thi tỉnh; thường xuyên tích hợp các phương pháp, kỹ thuật dạy mới trong việc dạy học sinh giỏi; tạo động cơ, động lực “dạy - học”
Từ đó, hình thành thái độ học tập đúng đắn cho học sinh
+ Cùng với phụ huynh học sinh tạo điều kiện thuận lợi cho các em thuộc các đội tuyển trong quá trình học tập ở trường và tự học ở nhà
+ Phát huy công tác xã hội hóa giáo dục trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Lãnh đạo các nhà trường thường xuyên kiểm tra, động viên các giáo viên trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Có văn bản báo cáo công tác chỉ đạo, bồi dưỡng học sinh giỏi về bộ phận chuyên môn THCS thường kỳ (có thống kê số lượng các buổi dạy, dự giờ và kiểm tra kèm theo)
- Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
+ Xây dựng kế hoạch tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi tập trung tại huyện (từ tháng 6 năm 2016 đến khi tỉnh tổ chức thi) bài bản và đúng hướng
+ Tổ chức dạy tập trung ở huyện mỗi môn ít nhất 80 buổi Tuyển chọn các giáo viên cốt cán ở các bộ môn xây dựng chương trình, kế hoạch cùng chuyên môn THCS giảng dạy các đội tuyển
+ Bộ phận chuyên môn THCS gửi khung chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi cho các trường, các giáo viên bồi dưỡng Hàng tuần gửi các đề thi cho các giáo viên tham khảo và ôn luyện
+ Tổ chức kiểm tra, sát hạch nhiều lần để chọn lựa các em xuất sắc nhất tuyển chọn vào đội tuyển dự thi cấp tỉnh
Trang 6+ Tổ chức các chuyên đề dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
+ Chỉ đạo các trường tập trung có hiệu quả trong công tác ôn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các trường trong công tác giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Có chế độ khen thưởng, động viên, khích lệ đối với các giáo viên dạy học sinh giỏi, các tập thể, các đội tuyển có nhiều học sinh giỏi và các em có thành tích xuất sắc
+ Tiếp tục tham mưu cho UBND huyện tổ chức Hội thảo về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, xây dựng kế hoạch chiến lược trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Đánh giá: Ở góc độ tổng thể, việc xây dựng kế hoạch có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đổi mới nội dung khi lập kế hoạch giúp quá trình tư duy quản lý có
hệ thống hơn, có thể dự liệu được các tình huống sắp xảy ra Việc phối hợp được mọi nguồn lực của cá nhân, tổ chức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, có thể giữ vững mục tiêu cuối cùng hướng đến, đồng thời dễ dàng kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện công việc Đặc biệt khi có kế hoạch chi tiết, cụ thể nó sẽ giúp tránh được những việc bị động, đột xuất chen ngang làm ảnh hưởng tới hiệu quả công việc Tóm lại, kế hoạch về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi mang tính khả thi, phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị sẽ quyết định hiệu quả đạt được
2.3.3 Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
Để tất cả các thầy, cô giáo thực hiện tốt được nhiệm vụ theo xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay, công tác bồi dưỡng giáo viên có tầm quan trọng đặc biệt
và có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục Thực hiện việc bồi dưỡng là nhiệm
vụ được tiến hành trong suốt quá trình công tác của giáo viên, với mục tiêu cập nhật, bổ sung kiến thức, đào tạo tiếp tục, đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ cho người giáo viên, giúp người giáo viên không ngừng nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu, rộng, có kỹ năng sư phạm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng Muốn vậy, giáo viên phải tự nghiên cứu để hiểu sâu chương trình, sách giáo khoa, đọc và ghi chép nhiều tài liệu tham khảo; tạo thói quen ham đọc các sách báo, tạp chí khoa học để thu thập các thông tin hữu ích
Giải pháp để nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
- Để tạo được niềm tin trong lòng học sinh, trước tiên người thầy phải có
đạo đức trong sáng, mẫu mực, cách đối xử với học sinh phải mang tính mô phạm, cách đối nhân xử thế của người thầy với mọi người xung quanh phải chuẩn mực, và là tấm gương cho học sinh noi theo Thực hiện đúng tinh thần cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”
Trang 7- Yếu tố tạo hứng thú cho học sinh của người thầy, đó là đam mê nhiệt huyết, sự phấn đấu vươn lên hoàn thiện mình của người thầy sẽ ảnh hưởng lớn tới ngọn lửa đam mê học tập trong lòng học sinh Học sinh thấy được niềm vui của người thầy trong công việc, thấy được sự phấn đấu vươn lên hoàn thiện mình của thầy, thấy được niềm vui của thầy khi nhìn thấy các em trưởng thành Theo quy luật lây lan tình cảm thì đam mê, nhiệt huyết của thầy sẽ truyền cho học sinh trong quá trình học tập
- Người thầy phải có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, hiểu biết thực tiễn phong phú Thầy cô là người tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh tri thức của nhân loại, giải đáp cho học sinh những vấn đề khó khăn mà các em gặp phải Nếu điều đó được thực hiện một cách rõ ràng, dễ hiểu bằng kiến thức phong phú, chuyên sâu của mình để học sinh nhận được kiến thức chính xác nhất, hấp dẫn nhất thì học sinh có thể lĩnh hội được đầy đủ nhất Hơn nữa, qua đó học sinh thấy được tầm tri thức của thầy tạo cho các em vững tin trong học tập Người thầy có nghiệp vụ giỏi còn phải biết tạo cho các em đam mê, hứng thú với bộ môn Có như vậy, kết quả học tập của các em mới thực sự đạt tốt nhất
- Phải chỉ ra cho học sinh thấy được trong cuộc sống, sự vật, hiện tượng luôn có những “cái đỉnh” của nó Ví như trong thể thao gọi là “đỉnh cao phong độ” thì kiến thức cũng có những đỉnh cao, những “cái đích” nhất định Đạt giải
ở mỗi kỳ thi là đích với kỳ thi đó Để đến được đích, tới được đỉnh - người thầy phải “thiết kế” được những bậc thang, hướng dẫn cho học sinh “xây và bước”
Có nghĩa là phải dành cho học sinh tư duy kiến thức có trình tự thứ bậc Học sinh hiểu và làm được sẽ tạo sự tự tin và hứng thú, ham học hỏi, hiểu đúng và sâu Đừng quá tham kiến thức để học sinh “quá tải”, nhất là đừng làm cho học sinh “choáng ngợp”, đó cũng là cái bệnh của những người thầy thích tự cao
- Sự động viên là yếu tố không thể thiếu trong dạy học Động viên ở đây không chỉ bằng phần thưởng Phần thưởng cũng rất quan trọng nhưng nếu chỉ thưởng xong rồi quên dần thì ý nghĩa bị xem nhẹ và rồi sẽ mai một Thưởng quá thấp thì có thể mất ý nghĩa, thưởng quá cao thì lấy đâu ra và chưa chắc đã tốt, Hãy dành cho học sinh những lời khen đúng mức khi các em có sự nỗ lực hoặc làm tốt, hãy nêu những tấm gương nhất là học sinh tốt đang ở trường ở lớp Khen sao cho em được khen cảm thấy “tự hào mà không kiêu”, bạn thấy đáng phải học tập thì đó là khen tốt và cần làm [1]
Tóm lại: Để cải thiện về chất lượng dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi trên địa bàn huyện Triệu Sơn, con đường ngắn nhất là mỗi thầy cô giáo phải nhanh chóng thay đổi về nhận thức và tư duy; việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là cấp thiết đòi hỏi mỗi giáo viên, mỗi nhà trường phải thực sự quan tâm Vẫn biết
là mỗi thầy, cô giáo đều có những khó khăn riêng nhưng nếu mỗi chúng ta đều nhận thức đầy đủ vai trò trách nhiệm trước học sinh, trước nhân dân, mỗi người đều có một chút cố gắng, khắc phục khó khăn thì chúng ta sẽ làm được Chất lượng từng giờ giảng của các thầy, cô giáo sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong đó có giáo dục mũi nhọn
2.3.4 Đổi mới công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lí cấp THCS
Trang 8Vật lí là bộ môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc, tính chất và các hình thức biến đổi cơ bản nhất của vật chất Quá trình nhận thức kiến thức vật lí khá phức tạp, cùng một lúc phải vận dụng nhiều phương pháp của riêng bộ môn Vật
lí cũng như phương pháp của các khoa học khác Muốn hoạt động nhận thức vật lí có kết quả trước hết phải quan tâm đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác trên Bên cạnh đó phải có phương pháp suy luận, có khả năng tư duy trừu tượng, tư duy logic, tư duy sáng tạo
- Việc dạy của Thầy
Đối với việc giảng dạy môn Vật lí cấp THCS, bên cạnh phương pháp truyền thống, giáo viên cần áp dụng các cách khác như: dạy giải quyết vấn đề; dạy theo tình huống; định hướng hành động, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh; khai thác thí nghiệm trong quá trình dạy học; đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học môn Vật lí có yếu tố quyết định chất lượng hiệu quả của việc giảng dạy
+ Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn quan trọng Đổi mới không có nghĩa là loại bỏ phương pháp này mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Giáo viên trước hết cần nắm vững yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, làm sao phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh
+ Kết hợp đa dạng phương pháp dạy học
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu
và nội dung Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm
và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy, việc phối hợp đa dạng phương pháp và hình thức trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học
+ Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực
tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, chứa đựng mâu thuẫn nhận thức Thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh lĩnh hội tri thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản
để phát huy tính tích cực của học sinh
+ Vận dụng dạy học theo tình huống
Việc dạy được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội Các chủ đề dạy học phức hợp thường liên quan đến nhiều môn hoặc lĩnh vực tri thức, gắn với thực tiễn
+ Vận dụng dạy học định hướng hành động
Trang 9Là quan điểm dạy học nhằm làm cho các hoạt động trí óc và chân tay kết hợp chặt chẽ Học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và tay chân Đây là quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội
+ Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học
Phương tiện có vai trò quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành Hiện nay, việc trang
bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên, các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy [3]
+ Sử dụng kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹ thuật là đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có kỹ thuật dạy học chung,
có kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp
+ Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn Vật lí
Phương pháp có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học Bên cạnh phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn thì việc dùng phương pháp dạy học đặc thù môn Vật lí có vai trò quan trọng trong dạy học Vật lí, như: Khai thác thí nghiệm vật lí trong dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Thí nghiệm vật lí có tác dụng rất to lớn trong việc phát triển năng lực và nhận thức khoa học cho học sinh, đồng thời giúp cho học sinh quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học Vì qua đó, học sinh sẽ học được cách quan sát các hiện tượng, cách đo và ghi các kết quả thí nghiệm, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì trong nghiên cứu khoa học Đây là điều rất cần cho việc giáo dục
kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh kiến thức trải nghiệm thực tế Do được tận mắt quan sát sự vận động của các hiện tượng, tự tay tiến hành lắp ráp, đo các kết quả thí nghiệm nên các em đã quen dần với các hiện tượng trong đời sống
Trong dạy học cũng như trong nghiên cứu khoa học, thí nghiệm vật lí có tác dụng rất lớn trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức Thí nghiệm vật lí, với tính chất là một phương pháp dạy học vật lí, thí nghiệm vật lí được thực hiện
ở trường phổ thông bằng những biện pháp khác nhau Giáo viên trình bày thí nghiệm nhằm đề xuất vấn đề nghiên cứu để vào bài mới, khảo sát hay minh hoạ một định luật, một quy tắc vật lí nào đó Học sinh tự tay làm các thí nghiệm để tìm hiểu hiện tượng, khắc sâu, ôn tập, củng cố kiến thức đã học
Mặt khác, sự cần thiết của thí nghiệm vật lí trong các nhà trường còn được quy định bởi tính chất của quá trình nhận thức của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, vì thí nghiệm vật lí có tác dụng tạo ra trực quan sinh động trước mắt học sinh
Trang 10Tóm lại: Có rất nhiều hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận riêng Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng cần xác định phương hướng để cải tiến phương pháp dạy học môn Vật lí theo hướng tích cực
- Việc học của trò
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh Có những phương pháp nhận thức chung như thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, tổ chức làm việc, làm việc nhóm
Để tự học, tự nghiên cứu hiệu quả, điều cần thiết là người thầy phải rèn cho học sinh phải có được: sự chủ động; sự kiên trì; tính kỉ luật; tính tự lực; kỹ năng tìm đọc tài liệu; sự tự tin; hứng thú, say mê; định hướng (sự định hướng của giáo viên giúp cho quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh đi đến thành công bằng con đường ngắn nhất)
Hiên nay, ở Việt Nam và trên Thế giới, phương pháp dạy học tích hợp được coi là phương pháp dạy học hiệu quả để hình thành và phát triển năng lực người học
Quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức, học sinh phải tự nỗ lực, tích cực cao trong hoạt động nhận thức của bản thân Tính tích cực thể hiện ở nhiều mức độ và dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc bồi dưỡng kỹ năng, kỹ xảo thể hiện rõ trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức, kỹ năng bao gồm các kỹ năng thu nhập và xử lý thông tin như: quan sát, thực nghiệm, lấy số liệu, tra cứu, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, rút ra kết luận, xây dựng các dự đoán, các giả thuyết khoa học, Các kỹ năng này sẽ được trau dồi thông qua hoạt động tích cực của bản thân trong quá trình lĩnh hội kiến thức Cũng thông qua hoạt động này hình thành cho học sinh tác phong làm việc khoa học, thể hiện tính kiên nhẫn, tỉ mỉ, chính xác, trung thực và có kế hoạch cụ thể trong học tập cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học theo hướng tích cực hoá
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh là một hiện tượng
sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng hết sức cao về nhiều mặt trong hoạt động nhận thức của trẻ nói chung Tính tích cực hoạt động học tập là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong tư duy, đòi hỏi một quá trình hoạt động “bên trong” hết sức căng thẳng với một nghị lực cao của bản thân, nhằm đạt được mục đích là giải quyết vấn đề cụ thể nêu ra
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh thể hiện ở những hoạt động trí tuệ là tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giải hay của một bài toán khó cũng như hoạt động chân tay là hăng say lắp ráp tiến hành thí nghiệm Trong học tập hai hình thức biểu hiện này thường
đi kèm nhau tuy có lúc biểu hiện riêng lẻ Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh thường được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: