1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kết hợp một số phương pháp dạy học với kĩ thuật sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học địa lí lớp 8 ở trường THCS thăng bình

25 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 620 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, cùng với đổi mới về mục tiêu, chương trình, nội dung, cấutrúc sách giáo khoa, phương pháp quản lí,… thì đổi mới phương pháp dạy học làyếu tố hết sức quan trọng, nó quyết định đế

Trang 1

I MỞ ĐẦU

1- Lí do chọn đề tài

Quá trình toàn cầu hóa đã làm thế giới có những thay đổi nhanh chóng, đặtnước ta đứng trước những thời cơ hội nhập sâu rộng, nhưng cũng nhiều tháchthức, khó khăn Hơn nữa, theo mục tiêu phát triển tổng quát đến năm 2020, nước

ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại; chủ động và tích cực hội nhập quốc

tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín trong khu vực và thế giới Do

đó, giáo dục đào tạo càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Nhân tốquyết định thắng lợi quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế chính là nguồnnhân lực Cùng với số lượng thì chất lượng nhân lực dựa trên cơ sở mặt bằngdân trí cần được chú trọng nâng cao, việc này được bắt đầu từ công tác giáo dục

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định ‘‘Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, ‘‘Đầu

tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư cho phát triển”

Song song với đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã và đang

có những bước thay đổi to lớn trong công tác giáo dục- đào tạo, thể hiện rõ trongtrong Hội nghị Trung ương 8 khóa XI Đảng ta đã khẳng định: Đổi mới căn bản

và toàn diện về giáo dục và đào tạo Trong Đại hội XII tiếp tục khẳng định:

‘‘Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực”.Trong đó, một giải pháp quan trọng được nêu trong văn kiện, đó là: Đổi mớimạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thứcgiáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất củangười học Theo đó, cùng với đổi mới về mục tiêu, chương trình, nội dung, cấutrúc sách giáo khoa, phương pháp quản lí,… thì đổi mới phương pháp dạy học làyếu tố hết sức quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả, mục tiêu của giáo dục.Đổi mới phương pháp giáo dục chính là cải tiến những hình thức, cách thức làmviệc kém hiệu quả của giáo viên và học sinh để sử dụng hình thức, cách thứclàm việc hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy tính tíchcực, tự lực và sáng tạo của học sinh, trên cơ sở đó hướng tới một mục tiêu giáodục cao hơn, toàn diện hơn, bao gồm cả phẩm chất đạo đức, tr thức, năng lực, kĩnăng và khả năng chiếm lĩnh tri thức mới một cách độc lập sáng tạo

Môn Địa lí là môn học gắn liền với thiên nhiên, với đất nước và đời sốngcon người, học địa lí giúp các em hiểu và giải thích được một số đối tượng, sựvật và hiện tượng địa lí diễn ra xung quanh con người Tuy nhiên, các đối tượng,

sự vật và hiện tượng địa lí có thể xảy ra trước mắt các em, nhưng có những sựvật, hiện tượng địa lí không phải lúc nào cũng xảy ra trước mắt, nhất là sự vật,hiện tượng địa lí tự nhiên Vì vậy, nhiều khi phải thông qua quan sát tranh ảnh,hình vẽ, bản đồ, mô hình, nên việc dạy và học gặp không ít khó khăn

Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong

Trang 2

người học tiếp cận với các sự vật hiện tượng, đối tượng địa lí trực quan hơn, tạocho các em có nhiều hứng thú trong học tập và tiếp thu kiến thức thuận lợi hơnrất nhiều Tuy nhiên, ngay cả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiệnđại đó thì việc truyền thụ kiến thức cho các em vẫn còn gặp nhiều hạn chế.

Trong chương trình Địa lí 6, các em sẽ được tìm hiểu về các đối tượng, sựvật và hiện tượng địa lí về tự nhiên diễn ra trên Trái Đất Trong đó, có nhiều sựvật, hiện tượng khá quen thuộc, gần gũi, xảy ra xung quanh, thậm chí ngay trướcmắt các em, các em có thể quan sát, cảm nhận thấy Nhưng có nhiều sự vật, hiệntượng lại không diễn ra trước mắt các em, hoặc diến ra trong một không gianrộng lớn, rất khó quan sát tổng thể, lại là những kiến thức khá trừu tượng đối vớiđối tượng học sinh lớp 6- khối lớp nhỏ tuổi trong khối THCS, đòi hỏi tư duykhông gian rất lớn, nên để cho các em hiểu và giải thích được các sự vật hiệntượng đó lại không hề đơn giản, đòi hỏi giáo viên phải vận dụng linh hoạt, sángtạo các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đặc biệt phải sử dụng đồ dùngdạy học triệt để, phù hợp với nội dung bài học và tâm sinh lí lứa tuổi

Trên thực tế, bản thân tôi đã từng gặp khó khăn, lúng túng khi truyền thụ chocác em tiếp thu và hiểu kiến thức, sự vật, hiện tượng địa lí ở một số bài học,

trong số đó có bài: ‘‘Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa”- Địa lí 6 Sau

nhiều năm công tác, giảng dạy, bản thân tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu về phươngpháp, sử dụng phương tiện, cách thức truyền đạt để bài học đạt hiệu quả caonhất Trong quá trình đó, tôi đã đúc rút được kinh nghiệm và mạnh dạn đưa ra

để quý thầy cô, đồng nghiệp cùng tham khảo, chia sẽ, đó là: Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm- mô hình: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa ở các vĩ

độ khác nhau, để minh họa trong dạy bài 9: ‘‘Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa”- Địa lí 6

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

a Đối tượng nghiên cứu:Học sinh lớp 6

b Phạm vi nghiên cứu: Học sinh khối 6 trường THCS Công Bình năm học

2013-2014; 2014-2015, 2015-2016 và năm học 2016-2017

4- Phương pháp nghiên cứu.

a Dựa trên nghiên cứu tài liệu

b Phương pháp quan sát, phân tích, so sánh

c Phương pháp thực nghiệm sư phạm, khảo sát thực tế

Trang 3

II NỘI DUNG

1- Cơ sở lí luận

Dạy học là một nghệ thuật truyền thụ kiến thức, người giáo viên vừa là mộtnhà tri thức, nhà khoa học, vừa là một nhà tâm lí và là một nghệ sĩ Trước sựthay đổi và yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi người giáo viên không ngừng tìmtòi, học hỏi vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các phương pháp, hìnhthức, phương thức tổ chức, kĩ thuật dạy học một cách hiệu quả nhất đối với từngbài học, từng tiết học

Trên cơ sở đó, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy, sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện hiện đại vào quy trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”

Trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, Ban chấp hành Trung ương Đảng

cũng đã xác định “Tiếp tuc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”.

Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định:

‘‘Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục và đào tạo” Trong đó, phương pháp dạy và học mới

không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúpngười thầy thêm tiến bộ và trưởng thành

Đổi mới phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năngtiếp thu, lĩnh hội kiến thức của học sinh, từ đó quyết định đến chất lượng giáodục Đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách dạy của thầy, đổi mới cáchhọc của trò, đổi mới mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò, tăng cườngmối quan hệ giữa trí tuệ và tâm hồn, giữa tư duy và cảm xúc trong dạy học.Trong mỗi giờ học cần cho học sinh có điều kiện hoạt động nhiều hơn, thựchành nhiều hơn và được thảo luận, suy nghĩ nhiều hơn, từ đó thay đổi cách họctập của học sinh, từ học tập thụ động đến chủ động tích cực, sáng tạo tiếp thu,chiếm lĩnh kiến thức bài học biến quá trình dạy học của giáo viên thành quátrình tự học của học sinh Điều đó cũng khẳng định được vai trò hết sức quantrọng của người giáo viên trong việc tổ chức thực hiện truyền thụ kiến thức ởmỗi giờ dạy, tiết học, nó sẽ quyết định việc học sinh lĩnh hội được lượng kiếnthức nhiều hay ít, thụ động hay chủ động, tích cực hay không tích cực

Mặt khác, theo quan điểm phép tư duy biện chứng, quá trình nhận thức củacon người là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừutượng đến thực tiễn” qua đó hình thành nên các khái niệm, quy luật và các mốiquan hệ giữa các sự vật, hiện tượng

Trang 4

Thực tế cho ta thấy, để đạt được mục tiêu giáo dục, cần có sự kết hợp củanhiều yếu tố: từ chương trình, nôi dung, hình thức giáo dục, phương pháp,phương tiện, kĩ thuật dạy học Nhưng trong bất kỳ giai đoạn nào, hoàn cảnhnào yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục vẫn là người giáo viên Theo đó,người giáo viên phải biết kết hợp một cách khéo léo các phương pháp, hình thức

và vận dụng thuần thục, linh hoạt, sáng tạo các phương tiện hiện đại kết hợp vớitruyền thống, các kĩ thuật, kĩ năng trong một bài dạy, một tiết dạy thì bài dạy đó,tiết dạy đó sẽ thành công

Bài: ‘‘Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa”- Địa lí 6, là bài học có

những nội dung kiến thức thể hiện các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh các

em, thậm chí gần gũi với các em, nhưng cũng có những sự vật, hiện tượng lạikhông diễn ra trước mắt các em, lại phân bố trong không gian địa lí rộng lớn,khá trừu tượng Vì vậy, khi giảng dạy bài học này, thiết nghĩ giáo viên ngoàiviệc áp dụng phương pháp, hình thức, kĩ thuật truyền đạt linh hoạt, phù hợp, dễhiểu, thì cần sử dụng các phương tiện dạy học trực quan, gần với thực tế nhất, đểhọc sinh dễ quan sát, dễ tư duy và từ đó có thể dễ dàng liên hệ với thực tế đểhình thành kiến thức Cùng với tranh ảnh, hình vẽ, video, thì sử dụng mô hìnhđịa lí là phương tiện được xem là trực quan, sinh động và dễ hiểu nhất để minhchứng cho các sự vật, hiện tượng địa lí tự nhiên mang tính trừu tượng lại khôngdiễn ra trước mắt chúng ta Thông qua mô hình hóa thì việc học sinh tiếp cậncác yếu tố địa lí tự nhiên trở nên dễ dàng, hiệu quả hơn, tạo cho các em có nhiềuhứng thú hơn trong học tập, qua đó thúc đẩy sự tư duy, chủ động tiếp thu, chiếmlĩnh và hình thành tri thức cho bản thân các em

2- Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trường THCS Công Bình nằm trên địa bàn thuần nông, hầu hết các em cóđạo đức khá tốt, ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô giáo, thực hiện tốt các nội quy,quy định của nhà trường

Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, Ban gám hiệunhà trường đến sự nghiệp giáo dục và sự quan tâm của phụ huynh học sinh ngàycàng nhiều hơn đến việc học của các em, cũng là một động lực to lớn thúc đẩyđến sự chuyển biến, nâng cao chất lượng giảng dạy nhà trường

Trang 5

Cơ sở vật chất, trang thiết bị ngày càng phát triển, đặc biệt thiết bị CNTT đã

hỗ trợ và đáp ứng phần nào đến công tác dạy và học của thầy và trò

b Khó khăn

Những kiến thức địa lí được đề cập trong bài khá là trừu tượng, được phân

bố trong không gian địa lí rộng lớn, nên thực tế trong quá trình giảng dạy, truyềnđạt trước đây, tôi thấy học sinh tiếp thu các kiến thức trên gặp nhiều khó khăn

Cơ sở vật chất thiếu đồng bộ; trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho côngtác giảng dạy của nhà trường còn hạn chế; thiết bị CNTT còn thiếu, chưa đápứng được so với nhu cầu giảng dạy Đồ dùng dạy học còn thiếu hoặc đã bị hưhỏng không sử dụng được.Hơn nữa, các đồ dùng dạy học dưới dạng mô hìnhhóa rất ít, điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học

Mặt khác, trường THCS Công Bình đóng trên địa bàn xã có nhiều khó khăncủa huyện Nông Cống, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, phần lớn họcsinh thuộc gia đình hộ nghèo hoặc cận nghèo (chiếm hơn 50% học sinh con hộnghèo và cận nghèo), bố mẹ đi làm ăn xa, sự quan tâm đến học tập của con cháucòn nhiều hạn chế, việc học tập nghiên cứu bài vở ở nhà của các em là còn ít,hiệu quả học tập chưa cao; việc tiếp nhận thông tin kiến thức của phần lớn họcsinh chủ yếu dựa vào khả năng truyền thụ kiến thức của giáo viên ở trên lớp Hơn nữa, thực tế hiện nay, trong suy nghĩ của một bộ phận không nhỏ phụhuynh và học sinh xem nhẹ một số môn học, trong đó có môn Địa lí nên cũng ítquan tâm, đôn đốc, đầu tư cho môn học này, vì vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ đếnkết quả học tập môn Địa lí của các em

c Kết quả kiểm tra, đánh giá trước khi áp dụng sáng kiến.

Qua khảo sát thực tế kiến thức sau bài học khi chưa áp dụng đề tài cho thấykết quả giáo dục còn thấp Cụ thể như sau:

* Hình thức khảo sát: Kiểm tra viết 45 phút

* Đối tượng khảo sát: Học sinh khối 6 trường THCS Công Bình trong năm

học 2013-2014 và 2014-2015

* Thời gian khảo sát: Tháng 11 năm 2013 và tháng 11 năm 2014

* Đề bài:

Câu 1 Em hãy cho biết: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau ở nửa cầu

Bắc và nửa cầu Nam vào ngày 22/6 và 22/12

Câu 2 Em hãy cho biết giới hạn của hai miền cực có ngày hoặc đêm dài suốt 24

giờ Số ngày có ngày hoặc đêm dài suốt 24 giờ thay đổi như thế nào ở hai miền cực?

Câu 3: Hãy rút ra kết luận về hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa ở vĩ độ

trên Trái Đất

* Kết quả sau khi tiến hành khảo sát như sau:

Trang 6

3 Các giải pháp giải quyết vấn đề.

3.1 Thực hiện làm mô hình: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa ở các

vĩ độ khác nhau trên Trái Đất

Bước 1: Chuẩn bị vật liệu gồm: Bìa Cac-tong, giấy trắng Ao, giấy màu, keo

dán, bút màu, ốc vít…

Bước 2: Tiến hành làm mô hình: gồm 3 bộ phận chính:

* Bộ phận thứ nhất: Sử dụng bìa Cac- tong cắt hai hình tròn có đường kính

khoảng 40 cm, dán hai hình tròn tạo thành hình khối, có độ dày khoảng 15 cm,hai hình tròn tạo thành mặt trước và mặt sau của mô hình Tiếp theo, sử dụnggiấy trắng Ao cắt hình tròn có đường kính như hai hình tròn ở trên, sau đó vẽhình vành khăn, tạo thành hai hình tròn Hình tròn bên trong vẽ một số đường vĩtuyến Trái Đất, trên mỗi đường vĩ tuyến chia thành 24 đoạn thẳng tương ứng sốgiờ trong ngày (24 giờ = 1 ngày đêm), chia thành hai nửa, mỗi nửa bằng 12 giờ.Vành tròn ngoài ghi vĩ độ của các đường vĩ tuyến Sau đó dán vào mặt trước của

mô hình Có thể dùng giấy màu, bút màu để vẽ tạo tính thẩm mĩ cho mô hình,như hình vẽ (Hình 1)

Trang 7

Cực Bắc

90 0 B

66 0 33 ’ B 66 0 33 ’ B

12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 40 0 B 40 0 B

23 0 27 ’ B 23 0 27 ’ N

0 0 (XĐ ) 0 0 (XĐ) k

23 0 27N 23 0 27 ’ N

40 0 N 40 0 N

66 0 33’N 66 0 33 ’ N

Cực Nam 90 0 N

Hình 1

* Bộ phận thứ hai: Sử dụng bìa Cac- tong, cắt hình bán nguyệt có bán kính bằng vành tròn bên trong của hình tròn mặt trước và có mũi tên vuông góc tại tâm Hình bán nguyệt được tô màu đen(thể hiện ban đêm), mũi tên tô màu đỏ (Hình 2) 12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 6 7 8 9

12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 6 7

8 9 10 11 12 12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 6 7 8 9

12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 6 7 8 9

10 11 12

Trang 8

Hình 2

* Bộ phận thứ ba: Phần chân đế, sử dung bìa Cac- tong cắt dán thành hình

thang có dạng khối hộp, độ dày của hình khối cũng khoảng 15cm, tạo thànhphần chân đế (Hình 3)

Hình 3

Bước 3: Dùng giấy màu để dán trang trí, tạo tính thẩm mĩ, trực quan cho mô

hình

Bước 4: Lắp ghép mô hình

- Xác định tâm hình tròn mặt trước có thể hiện một số đường vĩ tuyến; sau đó

sử dụng ốc vít, bắt vít chặt giữa hình bán nguyệt với hình tròn mặt trước, saocho hình bán nguyệt màu đen che khuất một nửa hình tròn tạo thành nửa hình

tròn màu đen, nửa hình tròn màu trắng (nửa ngày, nửa đêm)

Trang 9

- Sau khi sử dụng ốc vít ghép hai bộ phận trên lại, bước tiếp theo là đặt lên phần chân đế Chú ý: khi đặt lên phần chấn đế phải để cho đường thẳng thể hiện trục Trái Đất phải nghiêng với mặt phẳng (mặt bàn) và đường thể hiện ranh giới

sáng tối phải vuông góc với mặt phẳng (mặt bàn) (Hình 4)

66 0 33 ’ B Cực Bắc 90 0 B

40 0 B 66 0 33 ’ B

23 0 27 ’ B

0 0 (XĐ)

1 40 0 B

23 0 27 ’ N 1 23 0 27 ’ B

k

40 0 N

40 0 N 0 0 (XĐ)

23 0 27’ 1 23 0 27 ’ N

66 0 33’N

3 40 0 N Cực Nam 66 0 33 ’ N 90 0 N

Mặt bàn

Hình 4

3 2 Sử dụng mô hình tự làm về Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa ở các vĩ độ khác nhau, đề minh họa trong bài dạy bài 9: “Hiện tượng ngày,

đêm dài ngắn theo mùa”- Địa lí 6

Kiến thức trọng tâm trong bài học: “Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa”- Địa lí 6, đó là: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn ở các vĩ độ khác nhau trên

Trái Đất là do hệ quả của Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời Trước đây, để

1 2

4 3 5

11

6 7 8

10 9

10 9 8

7 6

5 4 3 2

11 10

9 8

7 6 5

4 3

2 1

1

1

1 2 3 4

5 6

10

7 8 9

1

1 2

3 4

5 6

7 8

1 1 1

9

2 3

4 5

6 7

8 9 1 1 1

1 9 8

7 6 5

4 3 2 1

1 2 3

4 5 6 7 8 9

2

1 1

7 8 6 5 4 3

2 1 1 2 3

4 5 6 7 8 9 0

Trang 10

giảng dạy cho học sinh tiếp thu, hiểu và nắm chắc được hiện tượng này, bảnthân tôi phải dựa vào tranh ảnh và hình vẽ sách giáo khoa để giảng giải, thuyếttrình, nhưng học sinh khá khó khăn trong việc tiếp nhận và hình thành kiến

thức cho bản thân mình Với mô hình “Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa ở các vĩ độ khác nhau trên Trái Đất” đã trở thành đồ dùng trực quan, hỗ

trợ đắc lực, giúp tôi minh họa cho bài dạy có hiệu quả

a Sử dụng mô hình trong dạy mục 1: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn ở các

vĩ độ khác nhau trên Trái Đất:

* Thứ nhất, sử dụng mô hình để minh họa cho học sinh thấy hiện tượng ngày và đêm trên Trái Đất

Mở đầu mục 1 của bài học, giáo viên kết hợp hình 24- SGK và sử dụng môhình tự làm này để chỉ cho thấy trong khi chuyển động quanh Mặt Trời, Trái Đấtchỉ được chiếu sáng một nửa, nửa được chiếu sáng là ban ngày, nửa không được

chiếu sáng là ban đêm Giáo viên chỉ việc xoay hình bán nguyệt chia đôi hình

tròn theo chiều thẳng đứng, tạo thành một bị che khuất màu đen, đây cũng lànửa bị khuất ánh sáng mặt trời trên Trái Đât, đó là đêm, nửa còn lại trắng là nửađược ánh sáng mặt trời chiếu sáng, đó là ngày (Phụ lục 1)

* Thứ hai, sử dụng mô hình để minh họa cho học sinh thấy: Vì sao đường chỉ trục Trái Đất và đường phân chia sáng tôi không trùng nhau.

Để học sinh trả lời được câu hỏi: Vì sao đường biểu hiện trục Trái Đất vàđường phân chia sáng tối không trùng nhau? Giáo viên sử dụng mô hình để chỉtrên mô hình cho học sinh thấy đường nghiêng với mặt bàn(BN) là đường thểhiện trục Trái Đất; đường vuông góc với mặt bàn là đường phân chia sáng tối(ST) Qua đó, học sinh phân biệt được đường thể hiện trục Trái Đất và đườngphân chia sáng tối và dễ dàng trả lời được : Do trục Trái Đất nghiêng, còn đườngphân chia sáng tối là đường thẳng đứng (Phụ lục 1)

* Thứ ba, sử dụng mô hình để minh họa góc chiếu của ánh sáng mặt trời vuông góc với mặt đất vào ngày 22/6 (hạ chí) và ngày 22/12 (đông chí) tại vĩ tuyến 23 0 27 ’ Bắc(chí tuyến Bắc) và 23 0 27 ’ N(chí tuyến Nam)

Đối với câu hỏi: Vào ngày 22/6 (hạ chí), ánh sáng mặt trời chiếu thẳng góc vào mặt đất ở vĩ tuyến bao nhiêu? Vĩ tuyến đó là đường gì? Giáo viên cho

học sinh quan sát hình 24 trong SGK, hoặc tranh ảnh treo tường, xác định vị trívuông góc của ánh sáng Mặt Trời với mặt đất và yêu cầu học sinh trả lời câuhỏi Sau đó, giáo viên sử dụng mô hình để minh họa: Giáo viên xoay hình bán

Trang 11

nguyệt sao cho mũi tên trên hình bán nguyệt chỉ vào vị trí đường vĩ tuyến 23027’B.Học sinh dễ dàng quan sát và xác định, ghi nhớ được vị trí mũi tên chỉ vuông gócvới mặt đất là tại vĩ tuyến 23027’B và đó là đường Chí tuyến Bắc(phụ lục 2)

Tương tự, với câu hỏi: Vào ngày 22/12 (đông chí), ánh sáng mặt trời chiếu thẳng góc vào mặt đất ở vĩ tuyến bao nhiêu? Vĩ tuyến đó là đường gì? Giáo

viên tiếp tục cho học sinh quan sát hình 24-SGK hoặc tranh ảnh treo tường đểhọc sinh trả lời câu hỏi Sau đó, giáo viên sử dụng mô hình để minh họa, giáoviên xoay hình bán nguyệt sao cho mũi tên trên hình bán nguyệt chỉ vào vị trí vĩtuyến 23027’N Học sinh cũng dễ dàng quan sát và xác định, ghi nhớ được ánhsáng mặt trời chiếu thẳng góc với mặt đất tại vĩ tuyến 23027’N, và đó là đườngChí tuyến Nam (Phụ lục 3)

* Thứ tư, sử dụng mô hình để minh họa: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa ở các vĩ độ khác nhau trên Trái Đất

Đối với nội dung này, sau khi học sinh đã nắm vững được góc chiếu của ánh

sáng mặt trời với mặt đất vào hai ngày 22/6 và ngày 22/12, đó là chí tuyến Bắc

và chí tuyến Nam Để minh họa cho hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa ởcác vĩ độ khác nhau trên Trái Đất trên mô hình thì cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Cùng với sử dụng hình 25-SGK, giáo viên giới thiệu mô hình để

cho học sinh quan sát: Trên mỗi đường vĩ tuyến (đường Xích đạo, chí tuyến Bắc và Nam, vĩ tuyến 40 0 Bắc và Nam, 66 0 33 ’ Bắc và Nam) đều được chia

thành 24 đoạn thẳng bằng nhau, tương ứng với 24 giờ, đây là thời gian kéo dàicủa 1 ngày đêm; chia thành hai nửa, mỗi nửa có 12 đoạn tương ứng 12 giờ

Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi để nhắc lại kiến thức:

Vào ngày 22/6 ánh sáng mặt trời chiếu vuông góc với mặt đất ở vĩ tuyến nào?

Học sinh trả lời, đồng thời giáo viên minh họa trên mô hình, xoay hình bánnguyệt cho mũi tên trên hình bán nguyệt chỉ vào đường Chí tuyến Bắc(23027’B)

Giáo viên cho học sinh quan sát mô hình và yêu cầu trả lời câu hỏi thứ hai:

Vào ngày 22/6, ánh sáng mặt trời chiếu vuông góc tại Chí tuyến Bắc; Lúc này các điểm nằm trên đường Chí tuyến Bắc, đường vĩ tuyến 40 0 B và các điểm nằm trên đường Chí tuyến Nam và đường vĩ tuyến 40 0 N, sẽ có độ dài của ngày và đêm như thế nào?

Học sinh quan sát mô hình (Phụ lục 2), bằng gợi ý của giáo viên và đặc biệttrên mỗi đường vĩ tuyến có ghi số giờ cụ thể, thì học sinh sẽ dễ dàng nhìn thấy

và trả lời được: Tại Chí tuyến Bắc, độ dài của ngày khoảng 13,5 giờ, còn độ dàicủa đêm chỉ khoảng 10,5 giờ (ngày dài hơn đêm); Tại vĩ tuyến 400B, độ dài củangày khoảng 15 giờ, còn độ dài của đêm chỉ khoảng 9 giờ (ngày dài hơn đêm).Trong khi đó, ngược lại, ở bán cầu Nam tại Chí tuyến Nam độ dài của ngày

Trang 12

khoảng 10,5 giờ, độ dài của đêm 13,5 giờ (đêm dài hơn ngày); Tại vĩ tuyến

400N, độ dài của ngày khoảng 9 giờ, độ dài của đêm khoảng 15 giờ (đêm dàihơn ngày)

Từ đó, yêu cầu học sinh rút ra được kết luận thứ nhất: Vào ngày 22/6 (hạchí), độ dài ngày, đêm chênh lệch như thế nào? Nửa cầu Bắc có ngày dài hơnđêm, nửa cầu Nam có đêm dài hơn ngày, càng xa Xích đạo sự chênh lệch dộ dàingày, đêm càng lớn

Bước 3: Trình tự như bước 2 Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi để

Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát mô hình và trả lời câu hỏi: Vào ngày 22/12 (đông chí), các địa điểm trên đường Chí tuyến Bắc, đường vĩ tuyến

40 0 B và các điểm nằm trên đường Chí tuyến Nam, đường vĩ tuyến 40 0 N, có độ dài của ngày và đêm như thế nào?

Học sinh quan sát mô hình (Phụ lục 3) và cũng dễ dàng nhận thấy, trả lờiđươc: Tại Chí tuyến Bắc, độ dài của ngày là 10,5 giờ, độ dài của đêm là 13,5 giờ(đêm dài hơn ngày); Tại vĩ tuyến 400B, độ dài của ngày là 9 giờ, độ dài của đêm

là 15 giờ (đêm dài hơn ngày) Ngược lại, tại Chí tuyến Nam độ dài của ngày là13,5 giờ, độ dài của đêm là 10,5 giờ (ngày dài hơn đêm); Tại vĩ tuyến 400N, độdài của ngày là 15 giờ, độ dài của đêm là 9 giờ (ngày dài hơn đêm)

Yêu cầu học sinh rút ra kết luận thứ 2: Vào ngày 22/12 (đông chí), độ dàingày đêm chênh lệch như thế nào? Ở nửa cầu Bắc có đêm dài hơn ngay, nửa cầuNam có ngày dài hơn đêm, càng xa Xích đạo sự chênh lệch độ dài ngày, đêmcàng lớn

Bước 4: Tiếp tục cho học sinh quan sát mô hình vào hai ngày 22/6 và 22/12,

giáo viên thao tác xoay hình bán nguyệt cho mũi tên chỉ vuông góc với mặt đất

lần lượt tại Chí tuyết Bắc và Chí tuyến Nam tương ứng hai ngày 22/6 và 22/12 (Phụ lục 2 và phụ lục 3), yêu cầu trả lời câu hỏi: Vào hai ngày 22/6 và 22/12 các điểm nằm trên đường Xích đạo (điểm C trong SGK), độ dài của ngày và đêm như thế nào?

Học sinh quan sát mô hình thấy rõ và trả lời: Vào ngày 22/6 hay 22/12 thì độ dàicủa ngày và đêm ở các điểm trên đường Xích đạo đều bằng nhau, và bằng 12 giờ Giáo viên có thể xoay hình bán nguyệt để mũi tên chỉ vuông góc với mặt đấttại một số vị trí khác trong vùng nội chí tuyến để học sinh thấy được tại cácđiểm ở Xích đạo, dù góc chiếu vuông góc của ánh sáng mặt trời với mặt đất ở vị

Ngày đăng: 14/10/2017, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w