1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số kinh nghiệm sử dụng dạng bài tập“ tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong giảng dạy bộ môn hóa học cấp THCS

21 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 598 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, tôi mạnh dạn viết lên những kinh nghiệm của mình khi sử dụng dạng bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong quá trình giảng dạy bộ môn Hoá học cấp THCS, đặc biệt là trong thời g

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Trường Trung học cơ sở Thị Trấn Triệu Sơn nằm ở trung tâm của huyện nhà,

có số lượng học sinh tương đối đông, có trên 70% học sinh khá, giỏi Các emthông minh, thích tìm hiểu, nảy sinh nhiều ý tưởng, thích tìm tòi nghiên cứu cáchiện tượng thực tế Định hướng chọn nghề nhiệp, phân luồng, phân khối học củaphụ huynh và học sinh sớm, nên có rất nhiều em đầu tư học các môn khoa học

tự nhiên, yêu thích các kiến thức lý thú của các môn khoa học tự nhiên trong đó

có môn Hóa học Đặc biệt trong môn Hoá học qua các thí nghiệm với các phảnứng hoá học xẩy ra, có sự biến đổi về màu sắc, trạng thái, mùi của các chất, rồi

từ chất này điều chế ra được chất kia , có nhiều kiến thức liên quan đến thực tếlại càng làm các em say mê hơn

Nhất là những năm gần đây, cơ sở vật chất, các thiết bị dạy học đã được đầu

tư đáng kể, chương trình đã được cải cách, chúng ta đổi mới phương pháp giảngdạy làm cho những giờ học bộ môn Hóa học đối với các em thú vị hơn có hiệuquả hơn Bằng những thí nghiệm các em được quan sát, được tự tay làm, thấyđược sự biến đổi chất này thành chất khác với sự thay đổi màu sắc, trạngthái giúp các em hình thành khả năng phán đoán nhận biết các chất, điều chế ra

các chất, đây là một trong những cơ sở để hình thành dạng bài tập “Tách chất

ra khỏi hỗn hợp” Việc sử dụng các bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” vào

các tiết luyện tập, ôn tập, giúp các em dễ dàng hệ thống hóa những kiến thức cơbản của nội dung chương trình, đồng thời phát huy tính sáng tạo bồi dưỡngnăng lực tư duy của học sinh Hơn nữa với bộ môn Hóa học cấp THCS giáo viêncần sử dụng dạng bài tập này như thế nào để phù hợp đưa lại hiệu quả cao củatiết dạy thì còn nhiều lúng túng Bởi vậy, tôi mạnh dạn viết lên những kinh

nghiệm của mình khi sử dụng dạng bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong

quá trình giảng dạy bộ môn Hoá học cấp THCS, đặc biệt là trong thời gian bồidưỡng các đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học, mong rằng để cùng các đồngnghiệp rút ra những kinh nghiệm trong việc sử dụng dạng bài tập này đưa lạihiệu quả cao hơn trong quá trình giảng dạy bộ môn

1.2 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu để thấy được vai trò của dạng bài tập

này trong hệ thống kiến thức của bộ môn Hóa học cấp THCS, cách sử dụng bàitập này trong quá trình giảng dạy bộ môn như thế nào để đưa lại hiệu quả: gópphần giúp học sinh nắm chắc được kiến thức bộ môn, có thêm kỹ năng giải bàitập hoá học một cách thành thạo và chính xác hơn, có thêm nhiều kỹ năng thựchành, rèn luyện tính tư duy, phân tích, phán đoán, hun đúc thêm tình yêu đối vớikhoa học và đặc biệt đối với bộ môn Hóa học, nâng cao chất lượng giảng dạy vàhọc tập bộ môn Hóa học

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Chương trình Hóa học cấp THCS và cấp THPT, các dạng bài tập tách các

chất ra khỏi hỗn hợp

- Học sinh lớp 8, lớp 9 trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn và các đội tuyểnhọc sinh giỏi môn Hóa học cấp THCS huyện Triệu Sơn

Trang 2

Qua nghiên cứu chương trình Hóa học cấp THCS và tâm lý, tình cảmcũng như năng lực học bộ môn Hóa học của học sinh để làm rõ được việc ápdụng dạng bài tập: “ Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong quá trình giảng dạy bộmôn như thế nào cho hợp lý, đạt được hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng

bộ môn Hóa học cho các em

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu về các vấn đề lí luận có liên quan đến đềtài, các tài liệu về phương pháp giải bài tập hóa học; phương pháp dạy một sốcách giải bài toán hóa học; nội dung, cấu trúc của chương trình hoá học THCS,THPT

- Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh tiếp thu và vận dụng kiến thức

đã học, quan sát giáo viên dự giờ, thăm lớp

- Phương pháp điều tra và thực nghiệm; tổng kết, đánh giá, rút kinhnghiệm: Dùng hệ thông câu hỏi và phiếu điều tra; Trao đổi với giáo viên và họcsinh; Trực tiếp giảng dạy và kiểm tra kết quả của học sinh

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước tachính vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông theotinh thần nghị quyết IX của đảng được chỉ rõ “phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung, hình thức tổchức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tổng hợp, tạo chohọc sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ kiến thức cho mình là việc vô cùngquan trọng

Đối với học sinh cấp THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân tích tổnghợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ môn Hoá học, bởiHoá học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng đối với các ngành khoa họckhác, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật

Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tiễn lao động,sản xuất, là môn khoa học ứng dụng và có vai trò quan trọng trong sự nghiệpCông nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta Do đó, học sinh cần phải được trang

bị những kiến thức có tính hệ thống cơ bản, cần thiết về Hoá học, những ứngdụng hoá học để học sinh THCS khi tốt nghiệp ra trường không chỉ có conđường duy nhất là đi học lên cấp cao hơn mà còn có thể đi thẳng vào lao độngsản xuất, trở thành những công nhân lành nghề, am hiểu về khoa học Trong chương trình hoá học phổ thông để nắm bắt đầy đủ các kiến thức của bộmôn thì bài tập hoá học được đặc biệt quan tâm vì nó là phương tiện hữu hiệutrong giảng dạy bộ môn hoá học Bài tập hoá học góp phần nâng cao khả năng

Trang 3

tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức mà các em đượchọc Trong quá trình giải bài tập hoá học, học sinh bắt buộc phải thực hiện cácthao tác tư duy để tái hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sựvật và hiện tượng, học sinh phải phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận để tìm

ra lời giải Nhờ vậy, tư duy của học sinh phát triển và năng lực làm việc độc lập,sáng tạo được nâng cao Bài tập hoá học cũng là một phương tiện nhằm tích cựchoá hoạt động của học sinh trong quá trình dạy - học hoá học Những kiến thức

kĩ năng không phải giáo viên rót vào học sinh, nhồi cho học sinh mà thông quahoạt động tích cực của mình học sinh đã tìm kiếm được Vì vậy nếu các bài tậphoá học được đưa ra đúng lúc, vừa trình độ để học sinh có thể tự lực giải quyết

có ý nghĩa rất quan trọng trong giảng dạy bộ môn hóa học

Bài tập hoá học còn là công cụ hữu hiệu để kiểm tra kiến thức kĩ năng củahọc sinh, nó giúp giáo viên phát hiện được trình độ của học sinh, làm bộc lộnhững khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập hoá học.Từ đó, giáo viên kịpthời điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình và có biện pháp giúp học sinhvượt qua khó khăn, khắc phục những sai lầm đó

Bài tập hoá học còn giúp học sinh mở mang hiểu biết thực tiễn của mình, giúpgiáo dục tư tưởng đạo đức và rèn phong cách làm việc của người lao động mới:Làm việc có kế hoạch, có phân tích tìm phương hướng trước khi làm việc cụ thể.Đặc biệt là phải kể đến các bài tập thực nghiệm, bài tập tính theo phương trìnhhoá học, bài tập nhận biết chất, bài tập tách chất… Chúng giúp rèn cho học sinhtác phong cần cù, cẩn thận, tiết kiệm, độc lập, sáng tạo trong công việc

Ở trường THCS, chỉ khi học lên lớp 8 học sinh mới bắt đầu được học bộmôn hóa học, thời gian học không nhiều (2 tiết/tuần), số tiết luyện tập trongchương trình không nhiều Nếu chỉ theo phân phối chương trình và nội dungkiến thức trong sách giáo khoa thì học sinh khó có thể có những kỹ năng và thaotác làm nhanh và chính xác được tất cả các dạng bài tập, đặc biệt với những

dạng bài khó, mang tính tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức, như dạng bài tập “Tách

chất ra khỏi hỗn hợp” và như vậy ngược lại, nếu giáo viên có phương pháp

hướng dẫn học sinh giải tốt dạng bài tập này thì sẽ giúp học sinh dễ dàng táihiện để xâu chuỗi kiến thức và nắm chắc kiến thức hơn

2.2 Thực trạng vấn đề khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Môn hoá học được đưa vào chương trình học ở cấp THCS muộn hơn những

bộ môn khác (thấy được mức độ khó của kiến thức hóa học) Lớp 8 học sinhmới bắt đầu học, thời lượng học là ít Môn hoá học học theo chương trình đồngtâm, cho nên lượng kiến thức đưa vào chương trình cấp THCS tưởng là ít,nhưng nhìn rộng và sâu lại rất nhiều Bởi vậy, trong quá trình giảng dạy bộ mônHoá học chúng ta nên sử dụng các dạng bài tập như thế nào đó, để tải đượclượng kiến thức vừa sâu, vừa rộng, xâu chuỗi được kiến thức, nhưng lại phù hợpvới mức độ phạm vi kiến thức của chương trình THCS Với dạng bài tập “ Táchchất ra khỏi hỗn hợp” trong bộ môn Hoá học, đó là dạng bài tập để truyền tảikiến thức rất tốt, tiềm năng của dạng bài tập này là chứa được dung lượng kiếnthức lớn, có khả năng hệ thống hoá kiến thức, rèn luyện được nhiều kỹ năng,

Trang 4

trong đó có kỹ năng phán đoán, kỹ năng thực hành, đồng thời gây hứng thú chohọc sinh trong quá trình giải bài tập Nhưng thực tế tôi thấy việc sử dụng cácbài tập này trong quá trình giảng dạy môn Hóa của trường Trung học cơ sở còn

ít Phần lớn giáo viên chưa chú trọng nhiều đến dạng bài tập này, chưa hệ thốnghoá, đưa thành chuyên đề về dạng bài tập này một cách khoa hoc, chỉ đưa ra cácbài tập này trong các tiết luyện tập hoặc trong các đề kiểm tra ở dạng đơn giản.Một số giáo viên còn lúng túng trong việc khai thác sử dụng các dạng bài tậpnày

Qua điều tra, khảo sát: học sinh giải dạng bài “ Tách chất ra khỏi hỗnhợp” trong bộ môn hoá học chưa thành thạo, nguyên nhân chủ yếu là do: chưahiểu cặn kẽ điều kiện của đề bài, chưa biết cần vận dụng kiến thức nào để giảibài tập, chưa biết cách thực hiện, cách trình bày, thiếu điều kiện của phản ứng,điều kiện của thực nghiệm, vì yếu về kĩ năng nhận biết, phân loại các chất, chưanắm chắc các tính chất hóa học của các chất, đặc biệt là những tính chất đặctrưng, riêng có của các chất Tóm lại, về phương pháp, về kỹ năng giải, kỹ năngtrình bày dạng bài tập này đang còn yếu Chất lượng bộ môn Hoá học ở cáctrường chưa cao Nhiều học sinh chưa thật sự say mê với bộ môn Hoá học

Qua tìm hiểu phân tích cơ sở lý luận luận và thực trạng trên tôi thấy việcđổi mới giảng dạy bộ môn Hóa học, để làm thế nào học sinh nắm được kiến thứcmột cách vững chắc, khơi dậy lòng đam mê môn học, đam mê nghiên cứu khoahọc là rất cần thiết Để làm được điều đó, trong bộ môn Hóa học việc áp dụngdạng bài tập “ Tách chất ra khỏi hỗn hợp” là vô cùng hiệu quả Qua quá trìnhgiảng dạy tôi rút ra một số kinh nghiệm trong việc sử dụng dạng bài tập “ Táchchất ra khỏi hỗn hợp” trong bộ môn Hoá học cấp THCS để cùng các đồngnghiệp tham khảo

2.3 Một số kinh nghiệm trong việc sử dụng dạng bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong giảng day bộ môn Hoá học cấp THCS

2.3.1 Xác định vai trò của dạng bài tập: “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong môn Hóa học cấp THCS

- Giúp Ôn tập hệ thống chuỗi kiến thức về các loại chất và những kiếnthức liên quan đã học

- Giúp học sinh vận dụng những kiến thức của mình về tính chất vật lícũng như về tính chất hóa học của các chất để tách loại các chất và nhớ sâu hơn

về tính chất các chât

- Rèn luyện tư duy, kỹ năng nhớ, tường thuật, trình bày các thí nghiệm, viết

và cân bằng các PTHH, rèn luyện tính nhạy bén và khả năng nắm vững kiếnthức chung về bộ môn hoá học của cấp THCS, làm tiền đề cho việc học bộ mônhóa học ở cấp THPT và cũng nhằm giúp cho học sinh làm quen với việc nghiêncứu, tập làm khoa học, phát huy khả năng sáng tạo, gây niềm đam mê nghiêncứu khoa học cho các em

- Gắn kết giữa lí thuyết và thực hành, giúp cho các em biết vận dụng kiếnthức vào thực tế, có kỹ năng phân tích, phán đoán, nghiên cứu để nhận biết cácchất liên quan trong công việc, trong cuộc sống: như môi trường, rác thải, nguồn

Trang 5

nước, công nghệ thực phẩm… từ đó các em có cơ hội để nảy sinh các ý tưởngđiều chế các chất, các đề tài nghiên cứu…

Với vai trò của dạng bài tập như đã nêu trên, ta nên tạo ra bài tập và đưavào từng tiết dạy như thế nào

2.3.2 Một số yêu cầu khi tạo các bài tập: “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong môn Hóa học cấp THCS

Đây là dạng bài tập hàm chứa nhiều kiến thức, mang tính tổng hợp, nênchúng ta phải tìm hiểu sâu kiến thức, thấy rõ được mối liên quan giữa các đơn vịkiến thức, thấy được tính chất của các loại chất, các tính chất riêng, đặc trưngcủa từng chất thì chúng ta mới vận dụng để tạo ra được bài tập Bám sát vàonội dung chương trình để có những bài tập phù hợp với trình độ học sinh, tạođiều kiện cho học sinh nắm bắt vấn đề một cách nhanh chóng nhằm giúp chohọc sinh hiểu rõ và nhớ sâu hơn những kiến thức đã học, đồng thời cũng cónhững bài tập khó dành cho học sinh khá và giỏi để phát triển, nâng cao kiếnthức của học sinh

Ví dụ : Với học sinh lớp 8 khi học đến bài thứ 3 đã phải thực hiện tốt việc

tách muối ăn ra khỏi hỗn hợp muối và cát; hoặc cho học sinh liên hệ thực tế đểthực hiện tách dầu ăn ra khỏi hỗn hợp dầu ăn và nước hoặc khi học xong

không khí, hay tách khí O2 , N2 ra khỏi hỗn hợp khí O2 ,N2

Để phát hiện học sinh khá và giỏi có khả năng tư duy quan sát, tổng hợptốt, từ bài tập trên ta có thể phát triển thành bài tập sau: Làm thế nào để có đượcmuối ăn và vôi sống từ hỗn hợp muối ăn và đá vôi

Dạy đến bài tính chất hóa học của oxit (Hóa học 9) ở mức độ dễ ta có thể

sinh dựa vào tính chất CuO là oxit bazơ, không tan trong nước, không tan trong

khi học sinh đã học về phần II- Khái quát về sự phân loại oxit: cho học sinh làm

ví dụ sau: tách Fe2O3 ra khỏi hỗn hợp gồm Al2O3 , Fe2O3 nhằm khắc sâu tínhchất của Al2O3 lưỡng tính, khác với Fe2O3 là tan được trong dung dịch kiềm.Chỉ nên áp dụng trong những tiết luyện tập, ôn tập cuối chương hay đưathành chuyên đề trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi, sau khi đã họcxong về các loại chất Bài tập cần có nhiều hình thức, nhiều dạng, nhiều mức độ

để kích thích các em tìm tòi, nghiên cứu nhằm phát triển năng lực tư duy và tạohứng thú trong quá trình học tập của các em Một hỗn hợp ở mức độ dễ ta có thể

ra lệnh tách một chất, khó hơn có thể ra lệnh tách hai chất, hoặc có thể được ralệnh tách từng chất

2.3.3 Phân loại các dạng bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp” trong môn Hóa học cấp THCS

Phân loại dạng bài tập này ta có thể dựa trên các cơ sở đó là:

* Dựa vào hai loại tính chất: (phương pháp tách chất ra khỏi hỗn hợp bằng tính

chất vật lý hay tính chất hóa học.)

Trang 6

- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp bằng phương pháp vật lý (áp dụng những tính chất vật lý khác nhau giữa các chất có trong hôn hợp để tách chúng ra khỏi hỗn hợp) có thể nêu một số phương pháp sau: Giáo viên giới thiệu các phương pháp

vật lý dùng để tách chất ra khỏi hỗn hợp Với mỗi phương pháp giáo viên có ví

dụ cụ thể và yêu cầu học sinh làm thí nghiệm sau khi đã trình bày lời giải, nếutrường có đủ hóa thí nghiệm

a) Phương pháp lắng gạn: Dùng dể tách các chất rắn có khối lượng riêng khácnhau khỏi nước hoặc dung dịch

VD: Bột CuO bị lẫn bột than Hãy trình bày phương pháp vật lý để tách riêngbột CuO

* Giải: Cho hỗn hợp bột CuO lẫn bột than vào cốc, thêm nước vào, khuấy đềurồi lắng gạn Làm đi làm lại nhiều lần bột than nhẹ sẽ trôi theo nước ra ngoài,bột CuO chìm xuống đáy Lúc này ta thu được CuO bằng phương pháp lọc.b) Phương pháp cô cạn: Dùng để tách chất tan thành dạng rắn (không hóa hơikhi gặp nhiệt độ cao) ra khỏi dung dịch

VD: Trình bày phương pháp để thu được muối từ nước muối?

* Giải: Đun sôi hỗn hợp, nước bay hơi, còn lại chất rắn là muối kết tinh

c) Phương pháp lọc: Dùng để tách kết tủa (chất rắn) khỏi dung dịch

VD: Đường bị lẫn một ít cát Trình bày phương pháp để làm sạch đường

* Giải: Hòa tan hỗn hợp đường và cát vào nước Khi đó đường bị tan vào nướccòn lại cát không tan Cho giấy lọc vào phễu, lọc và thu phần nước lọc, đem côcạn phần nước lọc ta thu được đường

d) Phương pháp chưng cất: dùng để tách các chất lỏng dễ bay hơi ra khỏi hỗnhợp Phương pháp này chỉ áp dụng khi các chất có nhệt độ sôi chênh lệch nhau

* Giải: Cho hỗn hợp vào dụng cụ chưng cất, rượu và nước có nhiệt độ sôi khác

e Phương pháp chiết tách: dùng để tách các chất lỏng không tan vào nhau từhỗn hợp tách lớp

VD: Hãy trình bày phương pháp để tách riêng dầu ăn có lẫn nước?

* Giải: Cho dầu ăn có lẫn nước vào phễu chiết Dầu ăn không tan trong nước vànhẹ hơn nước nổi lên trên Mở khóa cho nước chảy xuống vừa hết, đóng khóalại ta tách được dầu ăn riêng và nước riêng

g Phương pháp từ tính: Dùng để tách chất bị nhiễm từ (bị nam châm hút) rakhỏi hỗn hợp rắn gồm chất bị nhiễm từ và chất không bị nhiễm từ

VD: Trình bày phương pháp vật lý để tách riêng vụn sắt, vụn đồng ra khỏi hỗnhợp vụn Sắt và Đồng

Trang 7

* Giải: Dùng thanh nam châm (đã bọc nilon mỏng), chà nhiều lần lên hỗn hợp.

Do Sắt có tính nhiễm từ nên bị hút vào thanh nam châm, còn Đồng thì không bịhút do không có tính nhiễm từ Làm đi làm lại nhiều lần ta thu được Sắt riêng,Đồng riêng

- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp bằng phương pháp hóa học: Dựa vào các tính chất hóa học khác nhau giữa các chất trong hỗn hợp để có thể tách chúng ra khỏi hỗn hợp.

Cách phân loại này nhằm để giúp học sinh so sánh, nhớ kỹ tính chất hóahọc của từng loại chất, nhưng thực tế khi tách loại chỉ sử dụng tính chất hóa họcthì khó có thể thực hiện được Nên trong các lệnh đề theo tôi không nên dùnglệnh “ Bằng phương pháp hóa học hãy tách ”

* Dựa vào đích của việc tách:

- Tách riêng một hoặc vài chất ra khỏi hỗn hợp

- Tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp

Cách phân loại này học sinh có thể vận dụng cả tính chất vật lý và tính hóahọc, chỉ khác là dựa vào đích của việc tách là tách lấy một chất, hai chất haytách lấy từng chất trong hỗn hợp

Dựa vào các cơ sở trên phân loại ta đều thấy có sự hợp lý Nhưng qua thực tếgiảng dạy, tôi thấy khi sử dạng bài tập này hướng dẫn cho học sinh cách phânloại thứ hai là hay nhất Khi dạy từng chuyên đề về các loại chất (kim loại, phikim, oxit, axit, bazơ) ta có thể luyện tập về cách tách loại, điều chế các loại chất

đó, hoặc chúng ta sưu tầm tạo các bài tập tách các loại chất khác nhau Cáchphân loại này nó phù hợp về mặt lý thuyết cũng như về thực tế nhất Bởi khitách một chất ra khỏi hỗn hợp hay tách từng chất ra khỏi hỗn hợp phần lớn đềuphải vận dụng cả tính chất hóa học và cả tính chất vật lý để thực hiện tách loại Như vậy theo cách phân loại này nó đi sâu vào kiến thức hoá học, giúp họcsinh nhớ, vận dụng các kiến thức hoá học ( tính chất của các chất cả tính chất vật

lý và cả tính chất hóa học) đã học một cách có hệ thống hơn

2.3.4 Hướng dẫn học sinh phương pháp làm bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp”:

Đây là dạng bài tập mang tính tổng hợp kiến thức, nên ta chỉ thường áp dụng

trong những tiết luyện tập, ôn tập cuối chương hay đưa thành chuyên đề trongchương trình bồi dưỡng học sinh giỏi, sau khi đã học xong về các loại chất Khiluyện dạng bài tập này:

Giáo viên cần phải có sự đầu tư, tìm tòi vận dụng được linh hoạt kiến thức líthuyết vào từng bài, từng loại chất, ôn tập kỹ cho học sinh, lưu ý với học sinhnhững tính chất đặc trưng riêng của từng chất, so sánh sự khác nhau của chấtnày với chất kia, của loại chất này với loại chất kia (cụ thể: phải nhớ và hiểutính chất hoá học của từng loại chất: Kim loại, phi kim, oxit, axit, bazơ, muối Đối với những chất cụ thể, ngoài tính chất chung phải nhớ được tính chất riêng,phương pháp điều chế sau đó vận dụng kiến thức đó một cách linh hoạt.)

- Giới thiệu các phương pháp vật lý đơn giản để tách các chất ra khỏi hỗn hợp

Trang 8

(dựa vào sự khác nhau về tính chất vật lý, áp dụng 8 phương pháp đã nêu trên).

Đặc biệt phải nhắc học sinh nắm chắc tính tan của các bazơ, axit, và muối.

- Giới thiệu các phản ứng thường dùng trong dạng bài tách chất ra khỏi hỗn hợp

Đó là: phản ứng tan trong Kiềm của các chất lưỡng tính (Oxit lưỡng tính,hiđoxit lưỡng tính, hay gặp là các hợp chất của Nhôm, của Kẽm), các phản ứngcủa kim loại Nhôm, của các kim loại trước và sau H trong dãy hoạt động hóa

ứng nhiệt phân của các hiđoxit không tan, một số chất không tan trong axit

H2SO4 đặc, nguội ( Al, Fe ), không tan trong H2O, trong axit như SiO2

- Hướng dẫn học sinh phân tích đề bài

- Giới thiệu phương pháp tổng quát cho từng dạng bài, vạch được sơ đồ tách ápdụng đối với hỗn hợp các chất rắn, hỗn hợp các chất lỏng và hỗn hợp các chấtkhí ( việc làm này rất cần thiết để học sinh khi trình bày lời giải không quên cácbước, không quên các phản ứng.)

Có những đề bài chỉ yêu cầu trình bày sơ đồ tách loại và viết PTHH, nhưng cũng có những đề bài yêu cầu trình bày phương pháp tách loại, khi đó học sinh cũng nên lập sơ đồ tách loại ở ngoài giấy nháp, để trên sở đó các em trình bài giải chi tiết vào giấy thi, để tránh thiếu sót các bước.

Theo ý kiến riêng tôi với lời giải của dạng bài tập tách này chỉ nên yêu cầu học sinh trình bày sơ đồ tách loại chi tiết và viết các PTHH, như vậy là đầy đủ

để thể hiện được phương pháp và các bước tách loại.

- Phản ứng tách riêng chất ra khỏi hỗn hợp cần phải có đủ 3 điều kiện:

+ Chỉ tác dụng lên 1 chất trong hỗn hợp ( thường là chất muốn tách)

+ Sản phẩm tạo thành có thể tách dễ dàng khỏi hỗn hợp như tạo kết tủa, tạothành dung dịch không tan vào nhau

+ Từ sản phẩm tạo thành dễ tái tạo lại được chất ban đầu

- Đối với hỗn hợp ban đầu:

+ Nếu hỗn hợp đó ở dạng rắn: X thường là dung dịch để hoà tan chất A

+ Nếu hỗn hợp đó ở dạng dung dịch: X thường là dung dịch để tạo kết tủa hoặckhí

+ Nếu hỗn hợp đó ở dạng khí: X thường là chất để hấp thụ A ( giữ lại trong dung dịch)

- Ta chỉ thu được chất tinh khiết nếu chất đó không lẫn chất khác cùng trạngthái

- Làm khô khí: Dùng các chất hút ẩm để làm khô các khí có lẫn hơi nước

Về Nguyên tắc: Chất dùng làm khô có khả năng hút nước nhưng không phảnứng hoặc sinh ra chất phản ứng với chất cần làm khô, không làm thay đổi thànhphần của chất cần làm khô

Ví dụ: Không dùng H2SO4 đ để làm khô khí NH3 vì NH3 bị phản ứng :

Trang 9

2NH3 + H2SO4  (NH4)2SO4

CO2 + CaO  CaCO3

+ Chất hút ẩm thường dùng: Axit đặc (như H2SO4 đặc ); P2O5 (rắn ); CaO(rắn); kiềm

- Nói cách khác, phương pháp tách, có thể phân thành 2 phương pháp:

+ Phương pháp loại bỏ: Phương pháp này dùng để tách một chất ra khỏi hỗn

hợp khi chất cần tách khó hoặc không tham gia phản ứng hóa học

Ví dụ: Để tinh chế N2 tinh khiết từ hỗn hợp các khí H2O, CO2, CO, N2, O2

Ta phải thực hiện việc tách theo sơ đồ tách loại sau:

Ca(OH)2 , H2SO4 nên ta thu khí này bằng phương pháp loại bỏ

+ Phương pháp tái tạo: Dùng để tách các chất dễ dàng tham gia các phản ứng

hóa học với một chất khác tạo thành chất mới, chất này dễ tách ra khỏi hỗn hợp

và từ chất này có thể phản ứng để tạo ra chất cần tách

Ví dụ: Muốn tách lấy khí CO2 hỗn hợp ở ví dụ trên, ta dẫn hỗn hợp khí qua bìnhđựng dung dich Ca(OH)2 dư, CO2 bị gữ lại do phản ứng:

CO2 + Ca(OH)2  CaCO3  + H2OLọc kết tủa nung đến khối lượng không đổi được

CaCO3  t0 CaO + CO2

tạo lại chúng nhờ phản ứng phân hủy

- Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh trình bày bài giải, hay trong thực hànhkhi nào thì cần cho lượng chất vào phản ứng hay hòa tan với lượng vừa đủ hayphải dư, khi cho dư vào thì hỗn hợp thu được sau khi lọc tách thành phần lànhững chất gì, như vậy thì phản ứng tiếp theo phải như thế nào Khi nung chấtrắn để thu được chất rắn sau phản ứng tinh khiết thì phải nung đến khối lươngkhông đổi Điều này học sinh thường hay quên, nếu không có điều kiện vừa đủ

Trang 10

hay dư vào (tùy thuộc vào từng bài) và như vậy sẽ không thực hiện đúng đượccác bước của việc tách loại.

cách trình bày bài giải thật kỹ Mỗi dạng cụ thể, giáo viên nên lấy 1 ví dụ, chohọc sinh đọc kỹ đề, rồi đưa ra các câu hỏi giúp học sinh tái hiện kiến thức cầnthiết Cần hướng dẫn cho HS phân loại chất cần tách, xem thử những chất cầntách đó thuộc loại chất nào? Bài tâp đã cho thuộc dạng bài tập nào? Từ đó nhớlại những phản ứng đặc trưng của từng loại chất, sự biến đổi thành chất khác cótrạng thái như thế nào, từ chất đó có tái tạo lại chất ban đầu được không Từnhững phản ứng đặc trưng đó nên vân dụng và tách loại chất nào trước Giáoviên phải hướng dẫn cho HS con đường tách loại ngắn nhất, đúng đắn nhất để

HS tự lập được sơ đồ trong tư duy để trả lời bằng miệng, hoặc viết ra bằng vănbản viết, hoặc để tiến hành thí nghiệm

- Giáo viên nên phát vấn học sinh và bổ sung những ý học sinh trả lời còn thiếuhay chỉnh những ý chưa đúng, đặc biệt chỉ cho học sinh thấy được những tínhchất đặc biệt của từng chất, đó là “bẩy” của đề bài và từ đó trình bày sơ đồ Trên

cơ sở đó trình bày lời giải mẫu chi tiết, kèm các PTHH (Vì thực tế học sinh rấtlúng túng trong cách trình bày bài giải dạng bài tập này)

Ví dụ: Một hỗn hợp gồm bạc, sắt, đồng Trình bày cách tách riêng từng kim loại trong hỗn hợp kim loại trên Viết các phương trình phản ứng để minh họa (trích

đề thi HSG tỉnh An Giang cấp THCS - năm 2002)

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh:

+ Trước tiên cần xác định trong 3 kim loại trên có 2 kim loại đứng sau Hiđro trong dãy hoạt động hóa học (Ag và Cu), trong đó có 1 kim loại không phản ứng với oxi khi đun nóng trong không khí đó là Ag, đây là chốt + Từ đó ta có thể lập sơ đồ tách như sau

Giáo viên cần hỏi học sinh: tại sao phải cho lượng axit HCl dư vào hỗn hợp cáckim loại? Học sinh trả lời, giáo viên giải thích rõ, để rút kinh nghiệm làm nhữngbài tập khác, vì đó là những điều kiện cần thiết

+ Từ sơ đồ trình bày lời giải chi tiết như sau:

- Cho hỗn hợp 3 kim loại trên phản ứng với dung dịch HCl (dư) chỉ có Fe tan ra

do phản ứng: Fe + 2HCl  FeCl2 + H2 

- Lọc lấy Cu, Ag Phần nước lọc thu được cho tác dụng với kim loại Mg vừa đủ,

- Đốt hỗn hợp Cu và Ag trong không khí đến khối lượng không đổi, chỉ có Cu

HCl dư, sau phản ứng lọc tách ta thu được chất không tan là Ag và phần dungdịch CuCl2, điện phân dung dịch CuCl2 thu được kim loại Cu

dd CuCl2 đpdd Cu

Ngày đăng: 14/10/2017, 16:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w