Vì vậy tôi thấy cần phải đưa việc hướng dẫn các em học sinh phươngpháp giải bài tập chương kim loại vào môn hóa học để hình thành cho các em kỹnăng giải thành thạo các dạng bài tập chươn
Trang 21.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hoá học là môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêugiáo dục ở bậc THCS Chương trình Hoá học THCS hiện nay nhằm mục tiêuhình thành một số kỹ năng nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho họcsinh tiếp tục học lên bậc học cao hơn và cũng sẵn sàng đi vào cuộc sống, laođộng Mặt khác theo và quan điểm giáo dục hiện nay cũng như xu hướng pháttriển của xã hội thì môn hoá học nói riêng, các môn học tự nhiên nói chungngày càng chiếm vị trí quan trọng
Trong hơn một trăm nguyên tố hóa học đã biết thì chỉ có tới hơn hai mươinguyên tố phi kim, còn lại là kim loại, do đó các đơn chất kim loại chiếm phầnlớn các đơn chất Vì vậy lượng kiến thức cũng như bài tập về kim loại là rấtrộng lớn
Trong thực tiễn dạy học hoá học cho thấy có nhiều học sinh rất mơ hồ,gặp khó khăn trong việc phân loại các dạng bài tập và không nắm được trình tựcác bước giải các bài tập, kể cả các bài tập mẫu đơn giản Đó cũng chính là lý do
để các em gặp khó khăn khi tiếp cận các kiến thức của bài học mới, từ đó gây ratâm lý chán nản, ngại học môn hoá học Trong khi giải bài tập không chỉ đơnthuần là vận dụng kiến thức đã học mà đó còn là cơ sở để tìm tòi và tiếp cận cáckiến thức mới Môn hoá học là môn học mang tính chát liên thông, có tính hệthống rất cao Nhiều dạng bài tập hoá học cấp THCS là các dạng bài tập phổbiến, quen thuộc, thường gặp khi học sinh học tiếp lên các lớp trên, thậm chí làtheo học sinh trong suốt cả quá trình học tập ở các cấp học cao hơn
Theo phân phối chương trình hóa học lớp 9 thì chương kim loại có 09 tiết
(từ tiết 21 đến tiết 29), trong đó có 07 tiết học lí thuyết (từ tiết 21 đến tiết 27), 01 tiết thực hành ( tiết 29) và chỉ có 01 tiết luyện tập, trong khi đó các dạng bải tập
về kim loại thì nhiều mà thời gian để luyện tập chỉ có 01 tiết, không đủ đểhướng dẫn cho các em tiếp cận với các dạng bài tập đó
Vì vậy tôi thấy cần phải đưa việc hướng dẫn các em học sinh phươngpháp giải bài tập chương kim loại vào môn hóa học để hình thành cho các em kỹnăng giải thành thạo các dạng bài tập chương kim loại hoá học lớp 9, qua đó sẽtạo cho các em một nền tảng tri thức vững chắc để các em hoàn thành tốtchương trình hoá học THCS và là tiền đề để các em học tiếp các bậc học caohơn Từ những lý do đó tôi đã viết đề tài: "Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh
giải bài tập chương kim loại trong chương trình hoá học lớp 9- Trường THCS Trung Chính"
Trang 31.2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Trong chương trình hoá học hoá học, ngoài nhiệm vụ hình thành một số
kỹ năng cơ bản, thói quen học tập, làm việc khoa học thì việc vận dụng các kiếnthức đã học để giải các bài tập nói chung và các bài tập về kim loại nói riêng có
ý nghĩa rất quan trọng, nó không chỉ giúp học sinh vận dụng tốt các định nghĩa,các khái niệm và công thức về kim loại mà đó còn là cơ sở nền tảng vững chắc
để các em học tiếp chương trình hoá học lớp 9 và các lớp bậc THPT Ngoài ra
nó còn gây được hứng thú, lòng say mê học tập môn hoá học, rèn luyện khảnăng tư duy, phong cách làm việc khoa học
1.3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi của đề tài này tôi chọn đối tượng nghiên cứu là các dạngbài tập chương kim loại thuộc chương trình hóa học lớp 9 để hướng dẫn họcsinh nắm được phương pháp giải các dạng bài tập này
1.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
1.4.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1.4.3.Phương pháp điều tra cơ bản
Trang 42.PHẦN NỘI DUNG
2.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Hoá học là môn khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm, đây là mộttrong những môn học tương đối khó khăn trong việc tiếp cận đối với học sinhlớp 9 Vì vậy việc tiếp thu kiến thức của học sinh gặp không ít khó khăn.Chương trình Hóa Học lớp 9 nói chung, chương kim loại nói riêng ngoài mụctiêu truyền đạt cho học sinh kiến thức theo mục tiêu của Bộ Giáo Dục và Đàotạo còn nhằm hình thành cho học sinh những kỹ năng giải bài tập dưới sự hướngdẫn của giáo viên, học sinh phải tích cực suy nghĩ để giải một số bài tập hoá học
cơ bản, từ đó học sinh mới có thể rút ra phương pháp để tự giải một số dạng bàitập hoá học nào đó Thông qua giải bài tập hoá học giúp học sinh hình thành, rènluyện, củng cố kiến thức, kỹ năng về hoá học
Trong quá trình giải bài tập hoá học về kim loại, học sinh bắt buộc phảithực hiện các thao tác tư duy để tái hiện các kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ giữabản chất các sự vật và hiện tượng Học sinh phải phân tích tổng hợp, phán đoánsuy luận để tìm ra lời giải Nhờ vậy tư duy của học sinh được phát triển và nănglực làm việc độc lập của học sinh được nâng cao Bài tập hoá học là phương tiệnhữu hiệu tích cực hoá hoạt động của học sinh trong quá trình dạy- học hoá học.Thông qua đó giúp học sinh chủ động tìm tòi kiến thức và hình thành, phát triểncác kỹ năng mới Những kiến thức kỹ năng đó giáo viên không thể nhồi nhétcho học sinh mà phải thông qua hoạt động tích cực của học sinh để được các emchiếm lĩnh và tích luỹ dần dần trong quá trình học tập Việc học tập của học sinh
là một quá trình hoạt động tích cực, chính nhờ các bài tập được đưa ra đúng lúc,phù hợp với năng lực nhận thức của các đối tượng để học sinh có thể tự giảiquyết được Ngoài ra bài tập hoá học còn là công cụ hữu ích để kiểm tra kiếnthức, kỹ năng của học sinh Nó còn giúp giáo viên phát hiện được năng lực củahọc sinh, làm bộc lộ những khó khăn vướng mắc và các sai lầm học sinhthường mắc phải, đồng thời giúp học sinh vượt qua khó khăn và khắc phụcnhững sai lầm đó Bài tập hoá học nói chung, bài tập kim loại nói riêng còn giúphoc sinh mở mang hiểu biết thực tiễn, giúp giáo dục tư tưởng đạo đức và rènluyện phong cách làm việc của người lao động mới, làm việc có kế hoạch, cóphân tích tìm phương hướng cụ thể trước khi tiến hành Nó còn rèn luyện chohọc sinh đức tính cần cù, cẩn thận, tiết kiệm, độc lập sáng tạo trong công việc…
Từ các vấn đề nêu trên tôi thấy rất rõ vai trò, tác dụng của bài tập hoá họcnói chung, bài tập kim loại nói riêng đối với học sinh lớp 9 Vì vậy tôi luôn suynghĩ và tìm tòi để vận dụng phương pháp phù hợp để giúp học sinh phươnghướng giải tốt các bài tập chương kim loại nói riêng và bài tập hoá học ở trường
Trang 52.2.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.2.1.Thuận lợi
Trung Chính là xã trung tâm của vùng bắc Nông Cống, có truyền thốngvăn hóa lâu đời, đã từng là trung tâm huyện lỵ của huyện Nông Cống, là cái nôicách mạng của cả huyện là một vùng đất hiếu học, từ xa xưa đã có nhiều ngườihọc hành đỗ đạt Ngày nay truyền thống đó lại càng thể hiện rõ nét hơn
Trường THCS Trung Chính là một trường có bề dày trong công tác giáodục, nhà trường đã được công nhận là trường tiên tiến cấp huyện, cấp tỉnh trongnhiều năm Có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, say mê trong công tác giảng dạy, cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, học sinh chăm ngoan hiếu học Đồngthời lại được chính quyền địa phương quan tâm sâu sắc, không ngừng đầu tư,nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy năm học 2014-2015 đãđược UBND Tỉnh Thanh Hóa công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia
Hiện nay nhà trường đang tập trung tìm tòi các phương pháp giảng dạynhằm đạt mục tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra Bồi dưỡng học sinh trởthành những công dân có ích cho gia đình và xã hội
Về phía gia đình học sinh, có nhiều gia đình đã có nhận thức đúng đắn vềviệc học tập của con em mình nên đã có sự quan tâm và đầu tư cho việc học củacon cái Gia đình các em luôn phối hợp chặt chẽ với nhà trương trong công tácgiáo dục
2.2.2.Khó khăn.
Từ thực tiễn dạy học môn hoá học ở trường THCS Trung Chính nhiềunăm cho thấy chất lượng chuyên môn còn thấp Khả năng hiểu và vận dụng kiếnthức còn hạn chế, học sinh chưacó kỹ năng phân biệt được các dạng bài tập hóahọc và còn lúng túng, mò mẫm tìm cách giải
Theo phân phối chương trình hóa học 9 thì số tiết luyện tập còn ít trongkhi đó các kiến thức môn hoá lớp 9 là nền cơ sở các em học lên các lớp trên.Trong chương kim loại có nhiều dạng bài tập cơ bản sẽ theo các em trong suốtquá trình học tập môn hoá cơ sở ở các cấp học cao hơn như các bài tập về xácđịnh tên của kim loại, lập công thức hoá học của hợp chất, viết và cân bằngphương trình, vận dụng nội dung định luật bảo toàn khối lượng, tính theo côngthức hoá học, tính theo phương trình hoá học, tính nồng độ dung dịch, vận dụngdãy hoạt động hóa học của kim loại, tính theo hiệu suất… Từ thực tiễn đó tôithấy việc giúp các em làm quen với phương pháp giải bài tập chương kim loại
có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với học sinh
*Về phía học sinh: Do khả năng nhận thức không đồng đều, chưa quen với
phương pháp học mới, nhất là phương pháp học tập chia nhóm nhỏ để tự tìmhiểu, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được giáo viên
Trang 6hướng dẫn tự làm thí nghiệm, tự rút ra nhận xét và kết luận là điều gây ra nhiềukhó khăn cho học sinh Nhiều học sinh chưa tích cực, chủ động trong việc tìmhiểu bài trên lớp, làm bài tập và chuẩn bị bài mới, khả năng nhận thức của nhiềuhọc sinh còn hạn chế gây nên thời gian tìm hiểu kiến thức mới bị kéo dài, thờigian dành cho việc luyện tập vận dụng kiến thức mới học trên lớp bị hạn chế.
*Về phía giáo viên: Với phương pháp giảng dạy hiện nay cũng gây không ít
khó khăn cần khắc phục Trang thiết bị còn thiếu thốn, nội dung sách giáo khoacòn có nhiều điểm chưa hợp lý, nhiều học sinh chưa xác định rõ mục tiêu họctập, coi việc học chỉ là để đối phó, vì vậy việc áp dụng đổi mới phương pháptheo hướng tích cực còn gặp nhiều khó khăn
*Về mặt thời gian và nội dung chương trình Sách giáo khoa:
Theo nội dung sách giáo khoa hoá học 9 và phân phối thời chương trình
thì chương 9- chương kim loại có 09 tiết (từ tiết 21 đến tiết 29), trong đó có 07 tiết học lí thuyết (từ tiết 21 đến tiết 27), 01 tiết thực hành ( tiết 29) và chỉ có 01
tiết luyện tập, trong khi đó các dạng bải tập về kim loại và hợp kim thì nhiều màthời gian để luyện tập chỉ có 01 tiết, không đủ để hướng dẫn cho các em tiếp cậnvới các dạng bài tập đó
Như vậy tôi nhận thấy một số khó khăn đối với giáo viên và học sinh trong quátrình dạy và học, đó là:
Chương kim loại có thời lượng giảng dạy ít,nhưng số bài tập liên quanđến kim loại lại rất nhiều
Ở chương kim loại SGK mới chỉ đưa ra những kiến thức về tính chất, ứngdụng, phương pháp sản xuất nhưng không có nhiều tiết luyện tập cụ thể học sinh
có thể vận dụng để giải quyết các dạng bài tập về kim loại và hợp kim
Tuy còn nhiều khó khăn song thày và trò trường THCS Trung Chính luôn
ra sức rèn luyện, quyết tâm hoàn thành tốt các muc tiêu giáo dục bộ môn hoáhọc đã đề ra Trong đó có nhiệm vụ giúp học sinh làm tốt các bài tập chươngkim loại thuộc chương trình hoá học lớp 9
Sau khi triển khai nội dung của đề tài tôi nhận thấy chất lượng giáo dục mônHoá học đã được cải thiện một cách rõ rệt, số học sinh xếp loại khá giỏi đã nângcao, số học sinh xếp loại yếu, kém đã giảm nhiều Từ đó đã góp phần nâng caochất lượng giáo dục toàn diện của khối lớp 9 trong năm học 2015 -2016
2.3.GIẢI PHÁP
2.3.1-Điều tra nắm vững đối tượng và trình độ của đối tượng
*Về đối tượng học sinh
-Trước khi dạy phải điều tra đối tượng theo từng năm học trước, cụ thể là cácnăm học 2011-2012; 2012-2013; 2013-2014
Trang 7*Bảng số liệu điều tra chất lượng môn hóa lớp 9 trước khi áp dụng đề tài:
*Về kiến thức và kỹ năng làm các bài tập về kim loại.
-Vẫn còn nhầm lẫn giữa các khái niệm
-Viết kí hiệu hoá học, viết công thức cấu tạo, gọi tên chất còn lẫn và sai nhiều
-Biểu diễn phương trình hoá học còn chậm và cân bằng chưa nhanh (một số học
sinh không cân bằng được), cân bằng còn sai,Tính chất hoá học của các kim loại
và hợp chất của chúng các em chưa thuộc, học sinh chưa nhớ được dãy hoạtđộng hóa học của kim loại, yw nghĩa của dãy hoạt động hóa học, kĩ năng phânloại các dạng bài tập và giải các bài tập về kim loại của một số em rất chậm
=>Từ những nguyên nhân trên, khi lên lớp giáo viên dạy hoá cần phải hướngdẫn, kèm cặp từng em trong mỗi giờ dạy để đạt hiệu quả, đặc biệt chú ý đến đối
tượng học sinh yếu kém (Vì đây là môn mới ở phổ thông cơ sở các em còn bỡ
ngỡ)
2.3.2.Trang bị cho học sinh nền tảng kiến thức vững chắc.
2.3.2.1Với học sinh
-Gọi tên và đọc công thức của các hợp chất đã được học
-Xem lại cách cân bằng PTHH
Trang 8-Ôn lại kỹ năng giải các dạng bài tập tính theo phương trình hoá học.
-Ôn lại kiến thức ở chương I: Các hợp chất vô cơ
-Nắm vững các kiến thức đã học về kim loại và hợp kim như: tính chất vật lý,tính chất hóa học chung và riêng của các kim loại, dãy hoạt động hóa học củakim loại, phương pháp điều chế và ứng dụng của một số kim loại
2.3.2.2 Với giáo viên cần chuẩn bị
Chuẩn bị thật tốt cho bài giảng: soạn bài, chuẩn bị dụng cụ và hoá chất thinghiệm, băng hình, máy chiếu phục vụ bài học, giúp bài học thêm sinh động,gần gũi, gay hứng thú cho học sinh, qua đó giúp các em hiểu bài một cách sâusắc, trực quan
-Chuẩn bị hệ thống câu hỏi và bài tập phù hợp với từng nội dung của bài học vàphù hợp với năng lực của học sinh, quan tâm đến tất cả đối tượng học sinh…
dạy (học sinh chuẩn bị trước ở nhà) như đã nói ở trên Ôn để tránh các lỗ hổng
về kiến thức, để hiểu sâu bản chất của các kiến thức tiếp theo
2.3.3.2 Giảng
Trong khi giảng cần đặt câu hỏi gắn gọn và rõ ràng (chú ý đến câu hỏi
trắc nghiệm để khắc sâu bản chất)
Câu hỏi có hệ thống lôgic giữa các phần trong bài
Kết thúc từng phần có câu hỏi dẫn dắt sang phần khác gây chú ý phần họctiếp theo
Khắc sâu khái niệm-So sánh khái niệm phải thông qua ví dụ cụ thể là hìnhthức tốt nhất
Giảng phần nào cần có bài tập nhỏ để luyện cho phần đó (củng cố từng
Trang 9*Luyện tập theo mẫu:
Trước khi cho học sinh giải các bài tập một cách độc lập, sáng tạo và năngđộng thì trước hết các em phải có kỹ năng giải một số dạng bài tập cơ bản Việcluyện tập theo mẫu giúp các em rèn luyện một số kỹ năng cơ bản và có một địnhhướng chung để giải các bài tập hoá học Việc luyện tập có thể đưa vào ở cáctiết học sau mỗi nội dung để các em vừa phát triển năng lực cá nhân vừa vậndụng và củng cố kiến thức của bài học, đây là giai đoạn quan trọng trong việcphát triển kỹ năng hoạt động sáng tạo của học sinh sau này
*Luyện tập không theo mẫu:
Trước khi học sinh nắm được phương pháp chung để giải bài tập về kimloại thì cần phải cho các em luyện tập trong những tình huống có biến đổi,những đièu kiện và yêu cầu của bài tập có thể biến đổi từ đơn giản đến phức tạpcùng với sự phát triển của kiến thức và các khái niệm, công thức tính toán Đâychính là giai đoạn học sinh tự tập giải các bài tập ở mức độ khó hơn, để các emphát triển kỹ năng lên mức độ cao hơn Các bài tập phải được sắp xếp theo mức
độ từ đễ đến khó
*Luyện tập thường xuyên:
Các kỹ năng được hình thành cần phải được vận dụng một cách nhuầnnhuyễn, linh hoạt và sáng tạo Để có được như vậy thì chúng ta cần phải tổ chức
có các em vận dụng một cách thường xuyên, liên tục để củng cố và phát triển kỹnăng đó lên mức độ cao hơn
*Luyện tập theo nhiều hình thức giải bài tập khác nhau:
Sau khi học sinh đã có kỹ năng giải các bài tập cơ bản thì cần cho các emlàm nhiều dạng bài tập, phối hợp nhiều hình thức giải, tận dạng mọi điều kiện vềthời gian và hình thức, không những cho học sinh làm bài tập trong giờ họcchính khoá mà còn giải bài tập trong giờ ngoại khoá, giờ tự chọn, học ở nhà…Với những yêu cầu đặt ra như trên, trong quá trình dạy chương kim loại tôi đãtiến hành hướng dẫn các em học sinh lớp 9 giải các bài tập theo các dạng sauđây
2.3.4.Các dạng bài tập về kim loại.
Dạng 1.Bài tập viết phương trình hóa học.
Giáo viên hướng dẫn học sinh vậ dụng các tính chất hóa học chung củakim loại, tính chất hóa học riêng của một số kim loại như nhôm, kẽm và vậndụng ý nghĩa dãy hoạt động hóa học của kim loại để viết phương trình hóa học,hoàn thành sơ đồ biến hóa
Thí dụ 1.Hoàn thành chuỗi biến hóa sau:
Trang 10(3) NaOH + CO2 Na2CO3
(4) Na2CO3 + HCl NaCl + H2O + CO2
Thí dụ 2 Viết các phương trình hóa học thực hiện những chuyển đổi hóa họcsau
(3) AlCl3 + 3NaOH Al(OH)3 + 3NaCl
(4) 2Al(OH)3 t0
Al2O3 + 3H2O
b (1) Fe + Cl2 t0
FeCl3(2) FeCl3 + NaOH Fe(OH)3 + 3NaCl
(3) Fe(OH)3 t0
Fe2O3 + 3H2O(4) Fe2O3 + H2SO4 Fe2(SO4)3 + 3H2O
(5) Fe + 2HCl FeCl2 + H2
(6) FeCl2 + 2KOH Fe(OH)2 + 2KCl
(7) Fe(OH)2+ H2SO4 Fe SO4 + 3H2O
(8) Zn + Fe SO4 ZnSO4 + Fe
Dạng 2.Bài tập nhận biết các kim loại và hợp chất của chúng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng các tính chất vật lí, hóa học riêng củacác kim loại cũng như hợp chất cuả chúng để nhận biết
Một số thuốc thử và dấu hiệu nhận biết kim loại và hợp chất của kim loại
TT Chất cần nhận biết Thuốc thử Dấu hiệu
1 K, Na (kim loại
kiềm)
+ H2O-Đốt cháy, quan sát màungọn lửa
-Tan + dd trong suốt + H2-Na: ngọn lửa màu vàng-K: ngọn lửa màu tím
+dd H2SO4Đốt
-Tan + dd trong + H2-Kết tủa trắng BaSO4-Cháy với ngọn lửa màu lục