Vì vậy việcthực hiện đề tài “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hoá học 9” là rất cầnthiết.Với những lý do trên, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Gây hứng thú học tập môn Hoá học
Trang 1MỤC LỤC
1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí luận 2
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN 4III CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
2 Một số điểm cần chú ý khi vẽ bản đồ tư duy 7
3 Một số sản phẩm minh họa kết quả học tập của học sinh 16
E DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ
ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG
GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP
LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
21
Trang 2Theo cách dạy học truyền thống, những kiến thức cơ bản về tính chất vật lí,tính chất hoá học, điều chế, ứng dụng… thường được giáo viên và học sinhtrình bày dưới dạng tuần tự các đề mục như trong sách giáo khoa theo mộtkhuôn khổ quy định sẵn, lặp đi lặp lại đôi khi làm cho học sinh thấy nhàm chán,học sinh vẫn tiếp thu bài một cách thụ động, chưa gây được hứng thú và niềmsay mê cho học tập Nhiều học sinh thuộc bài nhưng khi vận dụng để giải cácbài tập thì các em còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng Nhiều học sinh không ghinhớ được hết tất cả các vấn đề trọng tâm của bài học.
Trong quá trình dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy và học là mộtvấn đề được quan tâm hàng đầu Để đạt được vấn đề đó đòi hỏi phải có sự
nỗ lực về cả 2 phía: thầy và trò Bởi vì dạy học vừa mang tính khoa họcvừa mang tính nghệ thuật, để nâng cao chất lượng giảng dạy đòi hỏi ngườigiáo viên phải có năng lực sư phạm vững vàng, có những phương phápgiảng dạy phù hợp, theo hướng tích cực giúp học sinh chủ động trong việctìm kiếm lĩnh hội kiến thức Việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung
và dạy học môn Hóa học nói riêng cần có những phương pháp đặc trưngriêng Ngoài việc lên lớp, người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tìmkiếm tham khảo những tài liệu có liên quan để làm sao có thể truyền đạtnhững kiến thức cho học sinh một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu Sự tiếp thu củahọc sinh nhiều hay ít, nhanh hay chậm là yếu tố quyết định cho chất lượnghọc tập
Mặt khác, môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm có kiến thức lý thuyếtlồng ghép với các thí nghiệm hóa học Để thu hút và gây hứng thú cho học sinhtrong từng tiết học, giáo viên phải biết phối hợp hài hòa các phương pháp dạyhọc tích cực, có lồng ghép sơ đồ tư duy và các thí nghiệm minh họa, làm nổi bật
rõ trọng tâm bài học nhằm thu hút tối đa các đối tượng học sinh chủ động lĩnhhội nội dung bài học sao cho hiệu quả nhất
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THCS tôi nhận thấy:
để nâng cao chất lượng dạy và học thì cần phải kết hợp tối ưu các phương phápdạy học Sau khi được tham gia lớp tập huấn về đổi mới phương pháp “Dạy vàhọc tích cực” do ngành giáo dục tổ chức, tôi đã được tiếp cận với nhiều phươngpháp và kỹ thuật dạy học mới, trong đó tôi nhận thấy việc sử dụng bản đồ tư duytrong dạy học hóa học là rất hợp lý, dễ vận dụng và trường THCS nào cũng có
đủ cơ sở vật chất để tiến hành Hình thành kỹ năng vẽ bản đồ tư duy có hiệu quảgiúp học sinh học tập và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động sáng tạo
Trang 3Trên thế giới, nhiều nước đã phát triển mạnh mẽ công cụ bản đồ tư duy trongnhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dạy và học Ở Việt Nam, những năm gầnđây bản đồ tư duy cũng đã được sử dụng nhiều, tuy nhiên chưa phát triển mạnh.Đặc biệt với các trường THCS việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học cònhạn chế, sử dụng phần mềm vẽ bản đồ tư duy vẫn chưa phổ biến Vì vậy việcthực hiện đề tài “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hoá học 9” là rất cầnthiết.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Gây hứng thú học tập môn Hoá học bằng bản đồ tư duy cho học sinh lớp 9 trường THCS Nga Thanh” làm vấn đề nghiên cứu để giúp các em học sinh tham khảo và tự
rèn luyện cho mình những kinh nghiệm bổ ích trong quá trình học tập bộ mônmột cách tự tin và hiệu quả
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu về vai trò của bản đồ tư duy và cách sử dụng bản đồ tư duy trong
dạy học môn Hóa học 9
Thiết kế một số bản đồ tư duy trong dạy học một số tiết môn Hóa học 9.
Cung cấp cho học sinh một số phương pháp cơ bản về cách thiết kế một bản
đồ tư duy, giúp học sinh hiểu rõ bản chất của từng bài học cụ thể
Giúp cho các em học sinh nắm vững kiến thức và có thêm một số kỹ năngvận dụng các kiến thức đó để nắm vững nội dung bài học tốt hơn
Tạo cho học sinh niềm tin, sự yên tâm, say mê học tập và tìm tòi thêm vềmôn Hóa học Phát huy được quá trình học sinh tự nhận thức, tự khám phá tìmtòi tri thức hóa học một cách chủ động, tích cực đó là quá trình tự phát hiện vàgiải quyết các vấn đề Góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả dạy họcmôn Hóa học của trường THCS Nga Thanh nói riêng và của ngành nói chung.Ngoài ra tôi còn tìm tòi, mở rộng, nâng cao để giúp học sinh giỏi lập nhanh
bản đồ tư duy bằng nhiều cách khác nhau nhằm phát triển tư duy sáng tạo, rèn
luyện trí thông minh Từ đó các em có khả năng giải quyết các bài tập hóa họcmột cách nhanh và chủ động hơn
Trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến trong việc giúp học sinh lập đúng các
bản đồ tư duy trong quá trình học.
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Giáo viên bộ môn và các em học sinh khối 9 của trường THCSNga Thanh
Đề tài đưa ra một số phương pháp giúp học sinh lớp 9 trường THCS Nga
Thanh rèn kĩ năng lập bản đồ tư duy một cách nhanh và chính xác nhất.
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí luận
Tìm đọc và nghiên cứu kĩ SGK, các tài liệu lý thuyết về bản đồ tư duy, qua
đó nghiên cứu được vai trò và cách thiết kế bản đồ tư duy cho học sinh nhằmxây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
2 Phương pháp dạy học trực tiếp
Thực hiện các tiết dạy tại lớp 9A có sử dụng bản đồ tư duy
Trang 43 Phương pháp thu thập thông tin
Khảo sát thực tế học sinh: Qua đợt khảo sát đầu năm 2015 – 2016 và kết quảhọc tập bộ môn của các khóa học trước
4 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Trực tiếp dự giờ giáo viên, trao đổi cùng đồng nghiệp về cách hướng dẫn họcsinh lập bản đồ tư duy trong các bài học cụ thể, xem đồng nghiệp cảm thấy khidạy vấn đề này thì phần nào là khó dạy nhất để rút kinh nghiệm
Trao đổi với học sinh xem khi lập bản đồ tư duy em cảm thấy khó nhất ởbước nào, tại sao?
Trực tiếp chấm, chữa bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kết quả thihọc sinh giỏi các cấp qua các năm học của học sinh nhằm tìm hiểu việc học tập
và nắm bắt kiến thức của các em
5 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Từ kết quả khảo sát, tiến hành thống kê, so sánh, phân tích và xử lí thông tin,thu thập ý kiến phản hồi của học sinh và đồng nghiệp để khái quát hóa tình hìnhnắm bắt kiến thức và kĩ năng lập bản đồ tư duy của học sinh để đưa ra biện phápkhắc phục
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy….là hìnhthức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ
đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời giữahình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây làmột sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽthêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hìnhảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể
“thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD pháthuy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người
Kỹ thuật tạo ra loại Bản đồ Tư duy được gọi là Mind Mapping và được phát
triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960
Bản đồ tư duy hiện là một công cụ đang được sử dụng bởi hơn 250 triệungười trên thế giới trong đó có các công ty lớn như HP, IBM, Boeing,…Các tổchức giáo dục, giáo viên và học sinh, sinh viên các nước cũng sử dụng Bản đồ
Tư duy trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập
Bản đồ tư duy được phát triển ở Việt Nam trong những năm gần đây Năm
2010, Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai dự án phát triển THCS có nội dung: “Sửdụng bản đồ tư duy góp phần dạy học tích cực và hỗ trợ công tác quản lý nhàtrường” đã tổ chức nhiều hội thảo và tập huấn cho cán bộ giáo viên THCS vềbản đồ tư duy và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học
Qua nghiên cứu nội dung chương trình SGK, các tài liệu tham khảo bồidưỡng và nâng cao bộ môn tôi nhận thấy nhiệm vụ dạy và học bộ môn Hoá họctrong nhà trường là đảm bảo cho học sinh nắm vững hệ thống các kiến thức, kĩnăng cơ bản, phát triển trí tuệ của học sinh trong quá trình dạy học Trong đó
Trang 5việc rèn kĩ năng lập bản đồ tư duy trong môn Hóa học ở trường THCS có vai trò
cực kì quan trọng vì:
Lập bản đồ tư duy là một trong những khâu rất quan trọng giúp học sinh
củng cố kiến thức đã học, đồng thời là cơ sở quan trọng để thực hiện tiếp vàhoàn thành các bài tập định tính, định lượng trong chương trình hóa học THCS
và THPT sau này
Khi thực hiện lập bản đồ tư duy giúp tư duy của học sinh có khả năng phát
triển toàn diện, vì khi đó học sinh phải có cái nhìn tổng quát về nội dung kiếnthức bài học
* Tác dụng của bản đồ tư duy:
Sử dụng BĐTD giúp học sinh dễ dàng hệ thống hóa kiến thức của một bài,một chương hay toàn bộ chương trình học
Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duymạch lạc, hiểu bài học một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống
và khoa học
Sử dụng BĐTD để tổng kết nội dung đã học, học sinh có thể vẽ thêm cácnhánh mới (phát triển ý tưởng mới) theo cách hiểu của mình Như vậy, vẽBĐTD để tổng kết bài học bước đầu hình thành khả năng nghiên cứu khoa họccho học sinh
BĐTD giúp giáo viên và học sinh dễ dàng trình bày ý tưởng trước lớp và tiếtkiệm được thời gian ghi chép, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, giúp học sinhnắm bắt được kiến thức qua một bản đồ thể hiện sự liên kết chặt chẽ của tri thức.Nhờ sự liên kết các nét vẽ với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng củamỗi người nên vẽ BĐTD sẽ phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của họcsinh, tăng tính độc lập và rèn luyện khả năng tự học cho học sinh
Sử dụng BĐTD trong dạy học phù hợp với tâm lí học sinh, đơn giản dễ hiểuthay cho việc ghi nhớ truyền thống bằng cách ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiếnthức, có thể vận dụng bất kỳ điều kiện nào của nhà trường mà không phụ thuộcvào cơ sở vật chất
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN
Qua việc quan sát, trò chuyện và điều tra tình hình thực tế về sự lĩnh hộikiến thức môn Hóa của học sinh ở trường THCS Nga Thanh nói riêng vàcác trường THCS khác ở trong huyện nói chung, tôi nhận thấy:
Trong thực tế có những học sinh khi học bài mặc dù ghi được rất nhiềunhưng khi học vẫn không đầy đủ kiến thức hoặc không thành hệ thống Việc họcnhư vậy khiến các em mất nhiều thời gian, học thụ động, nhanh quên nên chưađem lại hiệu quả cao
Muốn học sinh học tập tích cực thì giáo viên phải có những phương pháp dạyhọc tích cực, thay vì học sinh lệ thuộc vào giáo viên, sách giáo khoa và học tậpmột cách thụ động, có một công cụ hiệu quả hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, lĩnhhội, hệ thống hóa kiến thức đó là dạy học dùng bản đồ tư duy kết hợp cácphương pháp khác như: thí nghiệm, nêu vấn đề, hoạt động nhóm…Việc sử dụngBĐTD rất hữu ích với người dạy, có thể thiết lập khả năng học tập chủ động của
Trang 6học sinh Đây là cách làm khả thi có thể góp phần giải quyết tận gốc phươngpháp dạy học đọc chép mà bộ GD – ĐT đã chỉ đạo khắc phục.
Lập bản đồ tư duy đòi hỏi học sinh phải tự lực tư duy, thực hiện đủ cácbước lập BĐTD dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đòi hỏi học sinh phải biếtcách làm việc với từng yêu cầu của bài tập, phải có kĩ năng cơ bản thực
hiện các bước lập bản đồ tư duy một cách nhanh và chính xác.
Kỹ năng lập BĐTD của nhiều học sinh còn kém, các em chọn các yếu tốthiếu chính xác Đa số các em còn lúng túng không biết phải bắt đầu từ yếu tốnào trước
Cũng qua điều tra và trò chuyện với nhiều học sinh và các giáo viên đanggiảng dạy bộ môn Hoá học khác, tôi đã biết được một số nguyên nhân đưa đếnviệc học sinh không nắm bắt được kiến thức cơ bản của bài học dẫn đến khônglập được BĐTD đó là:
Thứ nhất, do học sinh không chú ý vào tiết dạy: Đa số những học sinh nàythuộc những học sinh học yếu - kém Trong giờ học hoá chẳng thấy thích thú gì
cả, vì thấy học môn hoá quá khó, từ đó thấy chán không muốn học
Thứ hai, do học sinh thiếu điều kiện học tập: Đa số những học sinh này dođiều kiện gia đình khó khăn, các em phải phụ giúp gia đình (như trông em, cắt
cỏ, chăn bò,…) có ít thời gian học và tìm hiểu, nên khi đến lớp việc lĩnh hội kiếnthức mới còn chậm
Thứ ba, do học sinh thấy mình không có năng lực học bộ môn Hóa học do đa
số những em này thấy việc học bộ môn hóa học quá khó khăn vì bao gồm nhiềutính chất, hiện tượng và đòi hỏi phải có tư duy toán học tốt, điều này vẫn thườngxuyên xảy ra làm cho các em chán nản, mất tự tin cho rằng mình không có nănglực học bộ môn hoá Cụ thể:
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm năm học 2015 – 2016 nh sau: ư sau:
Lớp số Sĩ Loại giỏi Loại khá Loại TB Loại yếu Loại kém
Từ bảng thống kê trên ta thấy:
Điểm kiểm tra chất lượng đầu năm của 2 lớp khá tương đương nhau tuynhiên, số học sinh đạt điểm khá, giỏi chưa nhiều
Với thực trạng như trên, tôi đã mạnh dạn vận dụng đề tài sáng kiến kinh
nghiệm “Gây hứng thú học tập môn Hoá học bằng bản đồ tư duy cho học sinh lớp 9 trường THCS Nga Thanh” vào giảng dạy ở trường THCS Nga
Thanh trong năm học 2015 – 2016
III CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Như những nguyên nhân đã nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học bộ môn Hoá, trước hết phải có những biện pháp tích cực giúp cho họcsinh lập đúng bản đồ tư duy Muốn vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên cầnphải hướng dẫn cho học sinh nắm chắc các bước lập BĐTD, cụ thể:
Trang 71 Các bước chính khi lập bản đồ tư duy
Bước 1 Chọn từ trung tâm
Từ trung tâm thường là tên của một bài, một chương, một chủ đề hay một nộidung kiến thức cần khai thác
Từ trung tâm nên gắn với hình ảnh của chủ đề Vì một hình ảnh có thể diễnđạt được cả ngàn từ và giúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh
ở trung tâm sẽ giúp ta tập trung được vào chủ đề và làm cho ta hưng phấn hơn
Ví dụ: Lập BĐTD cho bài tính chất hóa học của kim loại thì từ trung tâm là
tính chất hóa học của kim loại
Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1
Từ trung tâm của BĐTD vẽ các nhánh chính, mỗi nhánh thể hiện mỗi nộidung chính của chủ đề (Nên dùng các đường cong với các màu sắc khác nhau để
dễ nhớ nội dung bài học)
Ví dụ: Nhánh cấp 1 của BĐTD là 3 mục lớn của bài
Bước 3: Vẽ các nhánh cấp 2, 3,…và hoàn thiện bản đồ tư duy.
Các nhánh con cấp 2, 3, 4,…là nhánh con của các nhánh trước đó là các ýtriển khai của nhánh trước đó
Ví dụ: Nhánh cấp 2 của tính chất hóa học của kim loại là ý của từng mục
Trang 82 Một số điểm cần chú ý khi vẽ bản đồ tư duy
1 Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề
2 Nối các nhánh cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến cácnhánh cấp 1,…bằng các đường kẻ, đường cong khác nhau
3 Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ hay đườngcong
5 Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
6 Nên dùng các đường cong thay vì các đường thẳng vì các đường congđược tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều so vớiđường thẳng
7 Có thể chỉnh sửa, thêm bớt thông tin, thêm bớt nhánh, điều chỉnh sao chođẹp, rõ ràng
8 Một số điều cần tránh khi vẽ bản đồ tư duy:
Tránh ghi lại cả đoạn văn dài
Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết
Dành quá nhiều thời gian để ghi chép
3 Tổ chức dạy học bằng bản đồ tư duy:
Có thể tổ chức dạy học bằng bản đồ tư duy với các mức độ sau:
* Mức 1: Làm quen với bản đồ tư duy
Cho học sinh làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu một số “bảnđồ” cùng với dẫn dắt của giáo viên để các em nhận biết
Tập “đọc hiểu” bản đồ tư duy, sao cho chỉ cần nhìn vào bản đồ tư duy họcsinh nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề,một chương theo mạch lôgic của kiến thức
Hướng cho học sinh thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá trênbản đồ tư duy
Từ một vấn đề hay chủ đề chính đưa ra các ý lớn Mỗi ý lớn lại có các ý nhỏliên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý nhỏ hơn Các nhánh này như “bố mẹ”
Trang 9rồi “con, cháu, chắt, chút chít” các đường nhánh có thể là đường thẳng hayđường cong.
* Mức 2: Thực hành vẽ bản đồ tư duy:
Cho HS thực hành vẽ bản đồ tư duy trên giấy: Chọn từ trung tâm là tên chủ
đề hoặc hình vẽ của chủ đề chính cho vào vị trí trung tâm, chẳng hạn: Tính chấthóa học của axit, phân bón hóa học, metan, benzen để HS có thể tự mình ghitiếp kiến thức vào các nhánh “con”, “cháu”, “chắt” theo cách hiểu của các em
Có thể vẽ BĐTD theo hình thức độc lập cá nhân học sinh hoặc vẽ theo nhómhọc sinh
(Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ BĐTD theo hình thức độc lập cá nhân)
Trang 10(Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ BĐTD theo hình thức hoạt động nhóm)
4 Một số ví dụ cụ thể
4.1 Tổ chức hướng dẫn học sinh trình bày bài học theo BĐTD có sẵn
Sau khi thực hiện các hoạt động dạy và học về nội dung bài mới Giáo viênchiếu BĐTD hoặc vẽ nhanh BĐTD lên bảng yêu cầu học sinh lên bảng trìnhbày
Tiết 2: Tính chất hóa học của oxit Khái quát về sự phân loại oxit
Với bài đầu tiên cho học sinh làm quen với bản đồ tư duy, tôi sử dụng bản đồ
tư duy oxit ở cuối bài, phần củng cố Trong đó giáo viên giới thiệu những nộidung chính của bài thể hiện qua BĐTD và hướng dẫn học sinh cách vẽ BĐTD
Trang 11Tiết 3: Một số oxit quan trọng: Canxi oxit
Sau khi thực hiện các hoạt động dạy và học tìm hiểu kiến thức về canxi oxit, giáo viên chiếu BĐTD về những nội dung chính của bài Tiếp đó, giáo viên gọihọc sinh lên bảng trình bày
Dựa vào BĐTD học sinh trình bày theo các ý như sau:
Canxi oxit có các tính chất hóa học là: tác dụng với nước tạo thành dung dịchbazơ; tác dụng với axit tạo thành muối và nước; tác dụng với oxit axit tạo thànhmuối
Canxi oxit có các ứng dụng là: dùng trong công nghiệp luyện kim; nguyênliệu cho công nghiệp hóa học; khử chua đất trồng; khử độc, diệt nấm, sát trùng.Canxi oxit được sản xuất từ nguyên liệu là: đá vôi và chất đốt như thanđá Trong quá trình sản xuất có các phản ứng than cháy tạo ra nhiệt và khícacbonic Nhiệt cung cấp cho phản ứng phân hủy của đá vôi tạo thành vôi sống
Tiết 4: Một số oxit quan trọng: Lưu huỳnh đioxit
Sau khi thực hiện các hoạt động dạy và học tìm hiểu kiến thức về lưu huỳnhđioxit, giáo viên chiếu BĐTD về những nội dung chính của bài Sau đó giáoviên gọi học sinh lên bảng trình bày
Nội dung từ trung tâm ra các nhánh chính, từ nội dung các nhánh chính triểnkhai nội dung ra các nhánh nhỏ hơn