Đối với các công trình thủy điện, việc sử dụng tạm thời tường thượng lưu của đập bê tông trọng lực đang xây dựng dở dang làm nhiệm vụ ngăn nước khi dẫn dòng qua các công trình tháo nước
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày … tháng … năm 2016
Học viên
Trần Văn Trương
Trang 2Lời cảm ơn
Với sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của Viện Sau Đại học ,Khoa Công trình thủy, trường Đại học hàng hải Việt Nam, cùng các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, đến nay Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công
trình thủy với đề tài: “Nghiên cứu phân chia khối đổ của đập bê tông trọng lực ” đã được hoàn thành
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Văn Trung, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ động viên cổ vũ của
cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của các Quý vị quan tâm và bạn bè đồng nghiệp
Luận văn được hoàn thành tại Viện sau đại học, khoa công trình thủy, Trường Đại học hàng hải Việt Nam
Trang 3Mục Lục
Trang
Mở đầu 8
Chương 1 : Tổng quan về tình hình xây dựng và phương pháp phân chia khối đổ của đập bê tông trọng lực phục vụ công tác dẫn dòng thi công 10
1.1 Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực 10
1.1.1 Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực trên thế giới 10
1.1.2 Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực ở Việt Nam 13
1.2 Tổng quan về phương pháp phân chia khối đổ của đập bê tông trọng lực 17
1.3 Những nguyên tắc và các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công 18
1.3.1 Những nguyên tắc ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công 18
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới phương án dẫn dòng 19
1.4 Các sơ đồ dẫn dòng thi công thường được áp dụng 21
1.4.1 Đắp đê quai ngăn dòng một đợt 21
1.4.2 Đắp đê quai ngăn dòng nhiều đợt 21
1.4.3 Một số giải pháp dẫn dòng phối hợp khác đã áp dụng cho một số công trình thực tế ở Việt Nam 32
1.5 Kết luận……… ….39
Chương 2 : Phân chia khối đổ đập bê tông trọng lực……… 40
2.1 Cơ sở phân chia khoảnh đổ ……… … 40
2.2 Các phương pháp phân chia khối đổ đập bê tông trọng lực………….… 40
2.2.1 Phương pháp kiểu xây gạch……… 40
2.2.2 Phương pháp kiểu hình trụ……… 40
2.2.3 Phương pháp kiểu lên đều……… 40
Trang 42.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân chia khối đổ đập bê tông trọng
lực……… 41
2.3.1 Tính chất của xi măng……… ………… 42
2.3.2 Cấp phối bê tông………43
2.3.3 Trộn bê tông……… 46
2.3.4 Vận chuyển bê tông………48
2.3.5 Lựa chọn thời gian đổ giãn cách các khoảnh đổ………50
2.3.6 Phương pháp đổ bê tông……….51
2.3.7 Ảnh hưởng của nhiệt đến việc phân chia khối đổ……… … 51
2.4 Nghiên cứu lựa chọn cao trình, kích thước khoảnh đổ bê tông hợp lý bảo đảm điều kiện thi công 54
Chương 3 : Ứng dụng phân chia khối đổ tường thượng lưu của đập bê tông Khe Bố……….57
3.1 Giới thiệu về công trình thủy điện Khe Bố……… 57
3.1.1 Vị trí công trình……… 57
3.1.2 Nhiệm vụ công trình……… 57
3.1.3 Quy mô, kết cấu hạng mục công trình……… … 57
3.1.4 Điều kiện tự nhiên của khu vực xây dựng công trình……… 60
3.1.5 Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thi công……… 62
3.2 Phương án dẫn dòng 63
3.3 Tính toán thủy lực dẫn dòng thi công 66
3.4 Tính toán thiết kế của tường thượng lưu đập Khe Bố……….… 77
3.4.1.Sử dụng phần mền để phân tích kết cấu tường thượng lưu của đập bê tông Khe Bố………77
3.4.2 Phân chia khoảnh đổ đập bê tông Khe Bố……….88
Trang 5Danh mục hình vẽ
Trang
Hình 1.1:……… ……….………22
Hình 1.2:……… ……….………22
Hình 1.3:……… ……….………23
Hình 1.4:……… ……….………24
Hình 1.5:……… ……….………25
Hình 1.6:……… ……….………25
Hình 1.7:……… ……….………27
Hình 1.8:……… ……….………28
Hình 1.9:……… ……….………29
Hình 1.10:……… …….………30
Hình 1.11:……… …….………31
Hình 1.12:……… …….………32
Hình 1.13:……… …….………33
Hình 1.14:……… …….………34
Hình 1.15:……… …….………36
Hình 1.16:……… …….………37
Hình 2.1:……… …….……… 41
Hình 2.2:……… …….……… 41
Hình 2.3:……… …….……… 41
Hình 2.4:……… …….……… 47
Hình 2.5:……… …….……… 48
Hình 2.6:……… …….……… 49
Hình 2.7:……… …….……… 53
Hình 3.1:……… …….……… 71
Hình 3.2:……… …….……… 72
Hình 3.3:……… …….……… 72
Trang 6Hình 3.4:……… …….……… 75
Hình 3.5:……… …….……… 76
Hình 3.6:……… …….……… 78
Hình 3.7:……… …….……… 79
Hình 3.8:……… …….……… 79
Hình 3.9:……… …….……… 80
Hình 3.10:……… …….……… 80
Hình 3.11:……… …….……… 81
Hình 3.12:……… …….……… 82
Hình 3.13:……… …….……… 82
Hình 3.14:……… …….……… 83
Hình 3.15:……… …….……… 84
Hình 3.16:……… …….……… 84
Hình 3.17:……… …….……… 85
Hình 3.18:……… …….……… 86
Hình 3.19:……… …….……… 86
Hình 3.20:……… …….……… 87
Hình 3.21:……… …….……… 87
Hình 3.22:……… …….……… 90
Hình 3.23:……… …….……… 91
Trang 7Danh mục bảng biểu
Trang
Bảng 1.1:……… ……….……… …11
Bảng 1.2:……… ……….……… …13
Bảng 1.3:……… ……….……… …14
Bảng 1.4:……… ……….……… …15
Bảng 2.1:……… ……….……… …56
Bảng 3.1:……… ……….……… …59
Bảng 3.2:……… ……….……… …61
Bảng 3.3:……… ……….……… …61
Bảng 3.4:……… ……….……… …62
Bảng 3.5:……… ……….……… …63
Bảng 3.6:……… ……….……… …69
Bảng 3.7:……… ……….……… …69
Bảng 3.8:……… ……….……… …71
Bảng 3.9:……… ……….……… …74
Bảng 3.10:……… ……….……… 75
Bảng 3.11:……… ……….……… 76
Bảng 3.12:……… ……….……… 88
Bảng 3.13:……… ……….……… 89
Bảng 3.14:……… ……….……… 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, đập bê tông trọng lực đang được xây dựng ngày càng nhiều Trong quá trình xây dựng công trình, dẫn dòng thi công là một trong những công tác quan trọng nhất và chiếm một tỷ trọng vốn đầu tư rất lớn Biện pháp dẫn dòng ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xây dựng, kết cấu công trình, bố trí tổng thể công trình đầu mối … và cuối cùng là giá thành công trình Do đó, khi thiết kế tổ chức thi công công trình, việc nghiên cứu giảm tối đa chi phí các công trình dẫn dòng (như đê quai, kênh dẫn dòng, tràn tạm, cống dẫn …) để hạ giá thành công trình là rất cần thiết Đối với các công trình thủy điện, việc sử dụng tạm thời tường thượng lưu của đập bê tông trọng lực đang xây dựng dở dang làm nhiệm vụ ngăn nước khi dẫn dòng qua các công trình tháo nước tạm thời là một giải pháp rất hiệu quả trong việc giảm chí phí xây dựng đê quai Vì vậy, vấn đề đặt ra là lựa chọn kết cấu kích thước của tường thượng lưu như thế nào để đảm bảo ổn định khi ngăn cột nước thượng lưu và khả năng thi công có thể thực hiện được, đồng thời bảo đảm tiến độ đã quy định
Đặc điểm của những công trình thủy điện ở nước ta hiện nay là xây dựng
ở miền núi, địa hình dốc nhất là vùng các tuyến đập đầu mối, quá trình thi công các đập đầu mối phải đảm bảo dẫn dòng về hạ lưu bảo đảm điều kiện lợi dụng tổng hợp của dòng chảy khi thi công đập đầu mối, do đó cần lựa chọn giải pháp dẫn dòng thi công hợp lý an toàn cho công trình, chi phí cho công tác dẫn dòng thấp và hiệu quả nhất Trong thiết kế và xây dựng các công trình đầu mối thủy điện việc lựa chọn trình tự và phân chia khối đổ bê tông tường thượng lưu của đập bê tông vừa đạt yêu cầu dẫn dòng thi công, đồng thời bảo đảm cường độ thi công giai đoạn trước, sau khi dẫn dòng và bảo đảm các yêu
Trang 9thành xây dựng công trình Ngược lại nó sẽ làm chậm tiến độ, gây khó khăn khi thi công, tăng giá thành, thậm chí gây hư hỏng hoặc phá hủy công trình làm thiệt hại tài sản và tính mạng con người
3 Phương pháp nghiên cứu:
Tổng kết, đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án dẫn dòng thi công
đã chọn
Phân tích lý luận và kết quả tính toán kết cấu bằng phần mềm sap 2000
để đề xuất các giải pháp lựa chọn phân chia kích thước khoảnh đổ hợp lý để đảm bảo thi công
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn đã đưa ra các quan điểm về bê tông trọng lực trong nước cũng như nước ngoài Với đập bê tông trọng lực khối lớn việc phân chia khoảnh đổ
và quyết định kích thước khoảnh đổ là một vấn đề hết sức quan trọng và phức tạp Nó không những ảnh hưởng tới tiến độ thi công, gía thành công trình, mà còn trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng, tính toàn vẹn và tuổi thọ công trình Nếu kích thước khoảnh đổ quá lớn, không phù hợp với cường độ đổ bê tông,
sẽ sinh khe lạnh Nếu khoảnh đổ quá cao thì việc dựng lắp và tháo dỡ ván khuôn gặp khó khăn, quá trình tỏa nhiệt trong bê tông sẽ khó khăn, nhiệt tích luỹ trong khoảnh sẽ lớn dẫn tới ứng suất nhiệt sinh ra lớn, Nếu kích thước khoảnh đổ nhỏ quá thì khe thi công quá nhiều, tốn nhiều công, tốn thời gian dựng lắp ván khuôn và xử lý khe thi công, làm chậm tiến độ thi công
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN
CHIA KHỐI ĐỔ CỦA ĐẬP BÊ TÔNG TRỌNG LỰC
1.1 Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực
1.1.1 Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực trên thế giới
Các thống kê về thể loại đập của ICOLD - 1986 cho thấy 78% là đập đất, đập đá đổ 5%, đập bê tông trọng lực 12%, đập vòm chỉ 4% Trong số các đập có chiều cao hơn 100m thì tình hình lại khác, 30% là đập đất, 38% là đập
bê tông, 21.5% là đập vòm Như vậy, trong số đập cao hơn 100m thì tỷ lệ đập
bê tông và đập vòm chiếm ưu thế
Hiện nay Trung Quốc là nước có nhiều đập bê tông trọng lực đang xây dựng nhất trên thế giới tính đến năm 2000 đã có 22 đập cao trên 70m đã được xây dựng Phải kể đến những đập như Shuifeng cao 106m, đập Sanmen-xian cao 106m, dập Baozhusi và Manwan cao 132m, Ankang cao 128m Mỹ là nước đứng thứ 2 về số lượng đập bê tông trọng lực được xây dựng ví dụ như nhập Willow Creek cao 52m, đập Upper Stillwater cao 91m, đập Cuchillo Negro cao 50m, đập Sprinh Hollow cao 74m, đập Olivenhain cao 97m…
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì công nghệ thi công đập
bê tông trọng lực cũng phát triển không ngừng Từ những năm 1960 các công trình nghiên cứu về đập bê tông đầm lăn (BTĐL) đã bắt đầu Thí nghiệm đầu tiên dùng bê tông đầm lăn được thực hiện ở Đài loan và năm 1963 đập AlpeGra (H=172m) đã được xây dựng ở Ý bằng phương pháp bê tông đầm lăn Sau đó phương pháp này được sử dụng ở Mỹ, Canada, Anh, Pakistan, Nhật, Brazil…Các nhóm nghiên cứu người Mỹ, Nhật đã tiến hành nghiên cứu xây dựng các đập Simaiagawa ở Nhật (H=89m) và đập Willon Greek (H=52m)
Trang 11Đến cuối năm 1986, mới chỉ có 15 đập RCC được xây dựng trên thế giới: 6 đập tại Mỹ, 2 đập tại Nam Phi, 2 tại Úc, 2 tại Nhật Bản, 1 tại Brazil, 1 tại Tây Ban Nha và 1 tại Trung Quốc Có một điều thú vị là 7 nước nêu trên vẫn đang dẫn đầu trong công nghệ thi công đập RCC Dường như ngay sau khi một đập RCC được xây dựng tại một nước nào đó, người ta nhận ngay lợi ích của phương pháp thi công này và đập RCC sẽ phát triển nhanh chóng trong quốc gia đó
Bảng 1.1: Số lượng đập BTĐL tại một số nước trên thế giới
Tên Quốc Gia Số đập đã
xây dựng
Khối lượng BTĐL
(10 3 m 3 )
Tỷ lệ theo
S.lượng %
Tỷ lệ theo K.lượng%
Trang 12Tên Quốc Gia Số đập đã
xây dựng
Khối lượng BTĐL
(10 3 m 3 )
Tỷ lệ theo
S.lượng %
Tỷ lệ theo K.lượng%
Trang 13- Trường phái của Mỹ Roller Compacted Concrete (RCC) trường phái này thiên về thi công nhanh giá rẻ nhưng tồn tại về thấm và nứt, về sau trường phái này phải vận dụng những ưu điểm của trường phái Nhật
- Trường phái của Trung Quốc Roller Compacted Concrete Dam (RCCD) mặc dù Trung Quốc áp dụng công nghệ BTĐL muộn hơn so với các nước phương tây, nhưng đến nay với sự nỗ lực và sáng tạo của mình Trung Quốc đã đi đầu trong công nghệ BTĐL Trường phái này xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm và bài học của 2 trường phái trên kết hợp với tiềm năng tro bay sẵn có trong nước
Bảng 1.2: Một số đập BTĐL đã và đang xây dựng (cao trên 15m)
Lƣợng BTĐL (m 3 )
Xi măng + tro bay (kg/m 3 )
1980 Đảo Địa Xuyên Nhật Bản 89 170.000 34+36
Trang 14Thời kỳ trước những năm 30 của thế kỷ 20, ở nước ta đã xuất hiện một số đập bê tông trọng lực nhưng mới chỉ là những đập thấp có chiều cao khoảng 5m đến 10m, chưa có những đập lớn Các đập có kết cấu đơn giản, thi công nhanh bằng thủ công, kỹ thuật không phức tạp Ngoại trừ đập Đồng Cam tỉnh Phú Yên do đặc điểm thủy văn của sông Đà Rằng, phần lớn công việc thiết kế, chỉ đạo thi công là do các kỹ sư Pháp thực hiện, xi măng nhập từ Châu Âu, cấp phối bê tông chủ yếu dựa vào các kết quả nghiên cứu của nước ngoài, chưa có những giải pháp và công nghệ phù hợp với Việt Nam
Giai đoạn từ 1930 đến 1945 người Pháp tiếp tục xây dựng ở nước ta một
số đập bê tông trọng lực như đập dâng Đô Lương, Nghệ An làm nhiệm vụ cấp nước tưới, đập Đáy ở Hà Tây có nhiệm vụ phân lũ, một số đập dâng nhỏ khác như đập dâng An Trạch ở Quảng Nam, đập dâng Cẩm Ly ở Quảng Bình…
Bảng 1.3: Một số đập bê tông lớn được xây dựng ở Việt Nam
(Giai đoạn trước năm 1945)
STT Tên công trình Địa điểm xây dựng Năm xây dựng
3 Bái Thượng Sông Chu - Thanh Hóa 1920
4 Thác Huống Sông Cầu - Thái
Trang 15này chưa có đập bê tông trọng lực cao nhưng cũng đã xây dựng được một số đập tràn thấp như đập tràn thủy điện Thác Bà, đập tràn thủy điện Cấm Sơn, Đa Nhim…Kỹ thuật và công nghệ xây dựng ở phía Bắc chủ yếu của Liên Xô (cũ)
và của Trung Quốc, ở phía Nam là của Nhật …
Từ năm 1975 đến nay, nước ta bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nên các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng khắp cả nước, và đập bê tông cũng trở nên khá phổ biến với quy mô và hình thức ngày càng phong phú Đầu mối các công trình thủy lợi, thủy điện như: PleeiKroong, Sê San 3 và Sê San 4, Bản Vẽ, Thạch Nham, Tân Giang, Lòng Sông … và đập tràn ở các đầu mối thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang … là những đập bê tông với khối lượng lớn hàng triệu m3
bê tông, chiều cao đập từ 70 - 138m Việt Nam đã và đang sử dụng thành công kỹ thuật và công nghệ hiện đại để xây dựng các đập bê tông trọng lực có quy mô cả về chiều cao và khối lượng bê tông ngày càng một lớn hơn
Một trong những kỹ thuật và công nghệ mới xây dựng đập Việt Nam đang áp dụng thành công hiện nay là đập bê tông đầm lăn Việt Nam đến với công nghệ bê tông đầm lăn (RCC) tương đối muộn so với một số nước trên thế giới, nhưng trước sự phát triển nhanh chóng của nó và đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, nước có đặc điểm tự nhiên gần tương tự như Việt Nam, nên có rất nhiều dự án thủy lợi thủy điện lớn đã và đang chuẩn bị thi công với công nghệ này Từ nay đến năm 2013 nước ta có số đập bê tông đầm lăn lên đến 24 đập Việt Nam trở thành nước xếp hàng thứ bảy về tốc độ phát triển bê tông đầm lăn
Bảng 1.4: Danh sách các đập BTĐL ở Việt Nam đến năm 2013
STT Tên đập Địa điểm
Chiều cao (m)
Năm hoàn thành Cấp phối XM+P
Trang 16STT Tên đập Địa điểm
Chiều cao (m)
Năm hoàn thành Cấp phối XM+P
2 Định Bình Bình Định 54.55 2007 120+114
4 A Vương Quảng Nam 82 2008 90+190 Dmax = 40
Trang 17STT Tên đập Địa điểm
Chiều cao (m)
Năm hoàn thành Cấp phối XM+P
Qua bảng 1.4 ta thấy ở Việt Nam tuy mới áp dụng công nghệ RCC nhưng số lượng đập phát triển nhanh và khả năng áp dụng công nghệ mới vào nước ta đáng khích lệ Áp dụng công nghệ RCC đã thúc đẩy nền kinh tế của nước ta phát triển
1.2 Tổng quan về phương pháp phân chia khối đổ của đập bê tông trọng lực
Công trình đập bê tông trọng lực có một số đặc điểm nổi bật so với các
công trình bê tông khối lớn khác Đó là đập dài từ hàng trăm đến hàng nghìn mét, cao từ hàng chục đến hàng trăm mét; khối lượng bê tông sử dụng từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu mét khối; thường sử dụng từ 2 đến 5 loại mác bê tông với Dmax của cốt liệu lớn khác nhau Khi thiết kế và thi công đập bê tông thường được chia thành nhiều đoạn ngắn có chiều dài từ 2040m bởi các khớp nối ngang Mặc dù vậy kích thước (dài, rộng, cao) và khối lượng bê tông của mỗi đoạn vẫn rất lớn, không thể đổ bê tông liên tục thành một khối chỉnh thể ngay được, mà cần dùng một số khe tạm thời (khe thi công) để chia chúng ra thành các khoảnh có kích thước nhỏ, phù hợp với điều kiện, khả năng thi công thực tế
Trang 18Việc phân chia khoảnh đổ và quyết định kích thước khoảnh đổ là một vấn
đề hết sức quan trọng và phức tạp Nó không những ảnh hưởng tới tiến độ thi công, gía thành công trình, mà còn trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng, tính toàn vẹn và tuổi thọ công trình Nếu kích thước khoảnh đổ quá lớn, không phù hợp với cường độ đổ bê tông, sẽ sinh khe lạnh Nếu khoảnh đổ quá cao thì việc dựng lắp và tháo dỡ ván khuôn gặp khó khăn, quá trình tỏa nhiệt trong bê tông
sẽ khó khăn, nhiệt tích luỹ trong khoảnh sẽ lớn dẫn tới ứng suất nhiệt sinh ra lớn, , Nếu kích thước khoảnh đổ nhỏ quá thì khe thi công quá nhiều, tốn nhiều công, tốn thời gian dựng lắp ván khuôn và xử lý khe thi công, làm chậm
tiến độ thi công
1.3 Những nguyên tắc và các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công
1.3.1 Những nguyên tắc ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công
Khi chọn phương án dẫn dòng, tùy theo điều kiện cụ thể của công trình,
có thể ấn định một vài phương án, phân tích toàn diện, so sánh, không chỉ phân tích trước lúc dẫn dòng mà cần phân tích toàn diện giữa và sau khi dẫn dòng Phân tích phương án dẫn dòng không chỉ là định lượng giá thành công trình dẫn dòng mà cần so sánh toàn diện về kinh tế và kỹ thuật như tổng tiến độ thi công và các yêu cầu kinh tế quốc dân khác
Nguyên tắc ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công :
1 Tiến độ thi công toàn bộ hệ thống
2 Thi công công trình chính an toàn, cân bằng cường độ thi công, tránh chồng chéo, bảo đảm tính chủ động trong thi công
3 Công trình dẫn dòng giản đơn, khối lượng công trình nhỏ, giá thành hạ,
Trang 19Chọn phương án dẫn dòng hợp lý, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu kỹ càng, phân tích một cách khách quan và toàn diện các nhân tố liên quan
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới phương án dẫn dòng
1.3.2.1 Điều kiện thủy văn
Lưu lượng, lưu tốc, mực nước lớn hay nhỏ, biến đổi nhiều hay ít, mùa lũ
và mùa khô dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hưởng đến việc chọn phương án dẫn dòng thi công Đối với dòng sông có lưu lượng lớn, việc dẫn dòng qua đường hầm khó thỏa mãn yêu cầu, cần phân kỳ dẫn dòng, dẫn dòng qua kênh hoặc dẫn dòng qua các phương thức khác Đối với sông có biên độ mực nước mùa khô, mùa lũ lớn, có thể dùng đê quai cho nước tràn qua để giảm bớt giá thành dẫn dòng Với dòng sông có lưu lượng bình thường, biên độ mùa lũ mùa khô không lớn, dùng đê quai không cho nước tràn qua có thể kéo dài thời gian thi công
1.3.2.2 Điều kiện địa hình
Cấu tạo địa hình lòng sông và hai bờ tại khu vực công trình đầu mối thủy lợi có ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí các công trình ngăn nước và dẫn dòng thi công Với những lòng sông lớn, lòng sông rộng có thể dùng phương pháp dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp ngược lại với các sông suối miền núi có lòng hẹp, bờ dốc, nếu có đá tốt có thể dùng đường hầm để dẫn dòng Đặc biệt
có những nơi đã khéo lợi dụng các dải đá nhấp nhô ở giữa sông để bố trí đê quai và phân đợt dẫn dòng như công trình thủy điện Thác Bà
1.3.2.3 Điều kiện địa chất và địa chất thủy văn
Điều kiện địa chất bao gồm:
a) Mức độ thu hẹp của lòng sông: Nếu lòng sông là đá cứng, chống xói tốt thì mức độ thu hẹp có thể rất lớn (có khi đạt tới 88%) và có thể chịu được một lưu tốc rất lớn (có khi tới 7,5m/s) mà không bị xói lở Ngược lại với lòng sông là đất thì mức độ thu hẹp của lòng sông chỉ đạt tới 30% và lưu tốc chỉ đạt tới 3 m/s
Trang 20b) Kết cấu công trình dẫn nước: Nếu đá ở hai bờ cứng rắn, ít nứt nẻ, không phong hóa mà không dùng được các loại công trình tháo nước đơn giản
và rẻ tiền thì có thể dùng đường hầm để dẫn dòng Nếu đá bị phong hóa mạnh, nứt nẻ nhiều hoặc có lớp trầm tích dày thì có thể nghiên cứu dùng kênh dẫn dòng
c) Hình thức cấu tạo và phương pháp thi công đê quai: Thường các loại
đê quai bằng đất hoặc đất đá hỗn hợp thì có thể đắp trực tiếp trên các lớp trầm tích hoặc nền đá Nhưng đê quai bằng cọc chỉ thích hợp với nền đất và đê quai khung gỗ thường chỉ dùng với nền đá…
1.3.2.4 Điều kiện lợi dụng tổng hợp dòng chảy
Trong thời gian thi công cần phải đảm bảo yêu cầu lợi dụng tổng hợp dòng chảy tới mức cao nhất như tưới ruộng, phát điện, vận tải thủy, nuôi cá, nước dùng cho công nghiệp và sinh hoạt …Tuy việc đó có gây cho thi công thêm khó khăn, phức tạp, nhưng đem lại hiệu quả cao về kinh tế
1.3.2.5 Cấu tạo và sự bố trí công trình thủy lợi
Giữa công trình đầu mối thủy lợi và phương án dẫn dòng thi công có mối liên hệ hữu cơ mật thiết Khi thiết kế các công trình thủy lợi đầu tiên phải chọn phương án dẫn dòng Ngược lại khi thiết kế tổ chức thi công phải thấy rõ nắm chắc đặc điểm cấu tạo và sự bố trí công trình để có kế hoạch khai thác và lợi dụng chúng vào việc dẫn dòng Yêu cầu dẫn dòng cần lợi dụng công trình vĩnh cửu, lựa chọn hình dạng đập, bố trí lưu vực cần xét tới công tác dẫn dòng, hai việc đó ảnh hưởng lẫn nhau Đối với đập bê tông, cho phép tràn qua mặt đập, thường dùng đê quai cho nước tràn qua Đối với công trình quy mô lớn, thời gian thi công hố móng dài, không nên cho nước tràn qua đê quai để có thể đảm bảo thi công hố móng cả năm
Trang 21Kế hoạch tiến độ thi công không những phụ thuộc vào thời gian thi công
do nhà nước quy định mà còn phụ thuộc vào kế hoạch và biện pháp dẫn dòng
Do đó chọn phương án dẫn dòng hợp lý sẽ tạo điều kiện cho thi công hoàn thành đúng hoặc vượt thời gian Hiện nay việc cơ giới hóa thi công phát triển, máy móc lớn, công nghệ thi công cao đã không ngừng hoàn thiện công tác thi công
Tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn phương án dẫn dòng
và tùy nơi tùy lúc, tùy trường hợp mà có những nhân tố nổi bật và quan trọng Do
đó khi thiết kế dẫn dòng cần phải điều tra, nghiên cứu kỹ càng và phân tích toàn diện để chọn phương án dẫn dòng hợp lý lợi cả về kinh tế và kỹ thuật
1.4 Các sơ đồ dẫn dòng thi công thường được áp dụng
Trong thực tế thi công các công trình thủy lợi - thủy điện, các giải pháp dẫn dòng cơ bản thường là đắp đê quai ngăn dòng một đợt và đắp đê quai ngăn dòng nhiều đợt
1.4.1 Đắp đê quai ngăn dòng một đợt
Đắp đê quai ngăn dòng một đợt là đắp đê quai một lần ngăn toàn bộ lòng sông, dòng chảy được dẫn về hạ lưu qua các công trình tháo nước tạm thời hoặc lâu dài được gọi là công trình dẫn dòng Giải pháp này thường áp dụng khi xây dựng các công trình nhỏ, lòng sông hẹp Trong đó, các công trình dẫn dòng thường được sử dụng là máng, kênh, tuy nen, cống, tràn tạm
1.4.1.1 Dẫn dòng qua máng
*) Sơ đồ:
4 2
3
Trang 22- Các giải pháp tháo nước khác quá đắt
Hiện nay, giải pháp này ít dùng vì khả năng tháo nước của máng nhỏ, các giá chống đỡ và sự rò rỉ nước xuống hố móng gây cản trở khi thi công Mặt khác, các giải pháp khác như dùng bơm, xi phông ngược bằng các ống cao su hoặc ống nhựa thay cho máng cũng sẽ thuận tiện hơn rất nhiều đối với những công trình có lưu lượng nhỏ
1.4.1.2 Dẫn dòng qua kênh
*) Sơ đồ:(Hình 1.2)
Kênh được đào ở một bên bờ để dẫn dòng thi công
1 2
3 4
Trang 231.4.1.3 Dẫn dòng qua cống ngầm
*) Sơ đồ:(hình 1.5)
Đối với các công trình vừa và nhỏ thường sử dụng cống lấy nước để dẫn dòng mùa khô hoặc bố trí các lỗ xả trong thân đập (cống ngầm) để tháo lũ thi công Đối với các công trình lớn, cống được thiết kế riêng để dẫn dòng cả mùa khô và mùa lũ, mùa kiệt năm thi công cuối cùng mới hoành triệt cống;
Khi sử dụng cống ngầm để dẫn dòng, nếu lưu lượng dẫn dòng lớn thì người ta thường phải thiết kế cống ngầm có nhiều khoang (công trình Núi Cốc,
Kẻ Gỗ và Yên Lập) Khi thi công xong, người ta hoành triệt và chỉ để lại một khoang để dẫn nước tưới lâu dài, các khoang đã hoành triệt sẽ trở thành các hành lang kiểm tra và sửa chữa
Trang 245a)
b)
2
6 1
Hình 1.4: Giải pháp dẫn dòng qua cống ngầm bố trí trong thân đập bê tông
(Thủy điện Hủa Na)
1 Cống dẫn dòng 2 Phần đập đã thi công 3 Cửa nhận nước
4 Đê quai thượng 5 Đê quai hạ 6 Phạm vi phụt vữa xi măng
Trang 25Hình 1.5: Cống lấy nước được sử dụng để dẫn dòng mùa khô
(Công trình Đầm Hà Động)
Hình 1.6: Sử dụng lỗ xả bố trí trong thân tràn bê tông cốt thép để dẫn dòng mùa
kiệt (công trình Đầm Hà Động)
*) Tổ chức thi công:
Trang 26- Thi công cống ngầm vào mùa khô, hoàn thành trước thời điểm cần tháo nước một khoảng thời gian theo qui định về cường độ của bê tông cống;
- Đắp đê quai ngăn sông và thi công công trình chính;
- Hoành triệt cống ngầm (đối với trường hợp cống chỉ làm nhiệm vụ dẫn dòng) vào thời điểm thích hợp để đảm bảo đủ thời gian thi công công trình
chính theo tiến độ thi công
*) Điều kiện áp dụng:
Khi lòng sông hẹp, địa chất nền cho phép và không thể sử dụng được giải pháp dẫn dòng qua kênh Thông thường nhất là lợi dụng cống đặt trong thân đập, các lỗ xả đáy hoặc lỗ xả tạm thời được bố trí trong thân đập bê tông
1.4.2.1 Dẫn dòng qua tuy nen (hình 1.7)
Tuy nen được dùng làm công trình dẫn dòng trong điều kiện sông miền núi, lòng sông hẹp, vách đá dốc, lưu lượng lớn mà không áp dụng được giải pháp dẫn dòng qua kênh Việc tính toán thiết kế tương như giải pháp dẫn dòng qua cống ngầm Thi công tuy nen khó khăn và tốn kém nên khi áp dụng giải pháp này cần phải xác định mặt cắt tuy nen sao cho tổng giá thành tuy nen và
đê quai là nhỏ nhất Đào tuy nen theo công nghệ khoan nổ mìn hoặc công nghệ
TBM (đào toàn mặt cắt bằng thiết bị khoan đào chuyên dụng);
Các giải pháp trên (dẫn dòng qua máng, kênh, cống ngầm và đường hầm) thường được dùng để dẫn dòng trong mùa kiệt, nhiều trường hợp cũng được dùng trong mùa lũ Đối với một số công trình có lưu lượng dẫn dòng lớn,
về mùa lũ, người ta còn phải dùng kết hợp thêm các giải pháp dẫn dòng khác
Trang 27BM11 BM12
BM13 BM8
H
K
a12
E a9
a8
hg 3
F
§ -ê
vµo
lß hå
c 23
s 15
s 24 s 25
TN2-3
TR2
§1 TN1-3
TN1-2
TN1-1
BM1
§3 BM2 BM3
BM4 BM5
BM6 BM7
Hình 1.7: Giải pháp dẫn dòng qua tuy nen tháng 10/2008
(Công trình Cửa Đạt)
1 Mặt đập đá đổ đang xây dựng dở 2 Tràn xả lũ 3 Tuy nen dẫn dòng
4 Tuy nen dẫn nước vào nhà máy thủy điện;
5 Đê quai thượng lưu của giai đoạn dẫn dòng trước
1.4.2 Đắp đê quai ngăn dòng nhiều đợt
Đối với các công trình lớn người ta thường dùng giải pháp đắp đê quai ngăn dòng nhiều đợt Phổ biến nhất là hai đợt, đợt đầu dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp để thi công công trình đợt 1 Đợt 2 sẽ ngăn phần lòng sông còn lại và tháo nước qua các công trình dẫn dòng đã được thi công trong đợt 1 như khe răng lược, cống xả đáy, lỗ xả sâu, tuy nen, tràn tạm hoặc chỗ lõm được chừa lại trên mặt đập (bê tông hoặc đập đá đổ) đang xây dở
1.4.2.1 Dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp
*) Sơ đồ:
Đây là giải pháp được dùng rất phổ biến khi thi công các công trình vừa
và lớn Đầu tiên, vào mùa khô, đắp đê quai thượng lưu, đê quai dọc và đê quai
Trang 28hạ lưu để thi công một phần công trình chính và công trình dẫn dòng cho đợt 2 (tất cả được gọi là công trình đợt 1) Mùa lũ dòng chảy được dẫn qua phần lòng sông thu hẹp và tiếp tục thi công công trình đợt 1 trong phạm vị được bảo
vệ bởi các đê quai
1 Lòng sông đã bị thu hẹp 2 Đê quai dọc 3.Đê quai thượng
4 Đê quai hạ 5 Tuyến đập chính 6 Lớp đá gia cố
Trang 29210 200
230 220 210 200 190 180 170
190
200 210 220
17 0.2
169.
4 5
3
4
2
Hình 1.9: Giải pháp dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp (Thủy điện Hủa Na)
1 Lòng sông đã bị thu hẹp 2 Đê quai thượng 3 Đê quai dọc
4 Đê quai hạ; 5 Cống ngầm để dẫn dòng đợt sau; 6 Tuyến đập chính
*) Tổ chức thi công:
- Đắp đê quai thượng, hạ lưu và đê quai dọc để dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp;
- Thi công công trình đợt 1 trong phạm vi được các đê quai bảo vệ;
- Đắp đê quai đợt 2 chặn lòng sông thu hẹp để thi công công trình đợt 2;
- Hoàn thành toàn bộ công trình đến cao trình yêu cầu
*) Điều kiện áp dụng:
- Đối với những công trình lớn, có thể chia được thành từng đoạn, từng đợt;
- Lòng sông rộng, lưu lượng và mực nước biến đổi nhiều trong năm;
- Có yêu cầu sử dụng tổng hợp dòng chảy trong thời gian thi công
1.4.2.2 Dẫn dòng qua khe răng lược
Sơ đồ (hình 1.10):
Trang 30Khe răng lược thường được dùng để phục vụ dẫn dòng giai đoạn hai Khi dòng chảy được dẫn qua các khe răng lược thì thi công các hạng mục công trình đợt 2 Khe răng lược thường được bố trí tại các khoang của đập tràn vì:
- Tại vị trí đập tràn thường có địa chất tốt nhất, thuận dòng chảy;
- Có thể lợi dụng cần trục sẵn có để thả phai hoặc van khi lấp khe răng lược;
- Không phải xây dựng các công trình tiêu năng vì đã có công trình tiêu năng của đập tràn;
- Việc lập khe răng lược rất phức tạp Vì vậy, từ trước đến nay được dùng rất ít, duy nhất chỉ được áp dụng tại công trình thuỷ điện Thác Bà, Yên Bái
10 9
Hình 1.10: Sơ đồ dẫn dòng qua khe răng lược, Thủy điện Thác Bà
1 Khe răng lược; 2 Nhà máy thủy điện; 3 Đập đá đổ bờ phải;
4 Hố móng đập đá đổ bờ trái; 5, 6, 7 Các đê quai đợt 1; 8 Lớp đá gia cố
Trang 31- Sau khi hoàn thành công trình đợt 1, đắp đê quai đợt 2 để chặn lòng sông thu hẹp và thi công công trình đợt 2;
- Lấp khe răng lược khi không cần dùng để dẫn dòng, thi công công trình đến cao độ yêu cầu
Hình 1.11: Sơ đồ dẫn dòng qua cống đáy bê tông trọng lực
Khi thi công đập bê tông, cống đáy dẫn dòng được áp dụng rộng rãi Xác định vị trí đặt cống cần xét đến các yếu tố sau:
- Đặc điểm kết cấu công trình thủy công
- Đặc điểm thiết bị đóng mở cửa cống khi lấp
- Điều kiện và khả năng thi công khi lấp cống…
Để giảm bớt khó khăn khi lấp và cải thiện điều kiện chịu lực của cống người ta thường dùng cống có mặt cắt chữ nhật với các góc cong Đồng thời
bố trí cửa cống ở các góc độ khác nhau Khi lấp thì lấp dần từ thấp đến cao đế giảm bớt khó khăn do cột nước quá cao gây nên
Trang 32Khi lưu lượng thiết kế dẫn dòng đã xác định thì có thể dùng phương pháp tính thử dần để xác định kích thước, số lượng và cao độ cống đáy Tuy phải lấp cống khó khăn, chất lượng chỗ lấp kém ảnh hưởng đến tính hoàn chỉnh của công trình và khi tháo nước dể bị vật nổi làm tắc Nhưng phương pháp này có
ưu điểm là việc dẫn dòng không gây trở ngại đến công tác thi công Đặc biệt đối với việc xây dựng đập cao mà có cống đáy lâu dài thì càng có lợi về cả kinh tế và kĩ thuật
Ngoài khe răng lược, cống xả đáy, người ta còn dùng các công trình khác như tuy nen, tràn tạm hoặc chỗ lõm được chừa lại trên mặt đập bê tông hoặc đập đá đổ đang xây dở để dẫn dòng đợt 2
1.4.3 Một số giải pháp dẫn dòng phối hợp khác đã áp dụng cho một số công trình thực tế ở Việt Nam
1.4.2.1.Phối hợp cống và kênh (hình 1.12 và hình 1.13)
a) Sơ đồ:
5
6 1
2
Hình 1.12 Phối hợp cống kết hợp với kênh để dẫn dòng
1 Đê quai dọc; 2 Kênh dẫn dòng; 3 Cống dẫn dòng; 4 Đập chính; 5 Cao trình mực nước khi dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp; 6 Mực nước
khi dẫn dòng đồng thời qua cống và kênh
Trang 33Hình 1.13 Giải pháp phối hợp cống và kênh để dẫn dòng đợt 2
(Thủy điện Sơn La)
1 Kênh dẫn dòng; 2 Cống dẫn dòng ; 3 Hố móng đập chính;
4 Đê quai thượng lưu; 5 Đê quai hạ lưu
- Dẫn dòng đợt 1: Tiến hành đắp đê quai thượng lưu, đê quai dọc và đê quai hạ lưu để vây một phần của hố móng đập bên bờ phải, dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp bên bờ trái;
- Dẫn dòng đợt 2: Đắp đê quai thượng hạ lưu ngăn lòng sông thu hẹp, dòng chảy được dẫn qua cống và kênh;
- Dẫn dòng đợt 3: Mùa kiệt đắp đê quai thượng hạ lưu ngăn kênh dẫn dòng, dòng chảy được dẫn qua cống dẫn dòng Cuối mùa kiệt hoành triệt cống dẫn dòng, bắt đầu tích nước;
- Dẫn dòng đợt 4: Tiếp tục tích nước và dẫn dòng qua tràn chính
b) Tổ chức thi công:
- Năm thi công thứ nhất: tiến hành đắp các đê quai để thu hẹp lòng sông, hoàn thành các công trình đẫn dòng (cống, kênh) phục vụ dẫn dòng Khi này dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp
- Năm thi công thứ 2:
Trang 34+ Mùa kiệt: ngăn lòng sông thu hẹp, dẫn dòng qua cống và kênh, đắp đập đến cao trình chống lũ;
+ Mùa lũ: dẫn dòng đồng thời qua cống và kênh, tiếp tục thi công đập;
- Năm thi công thứ 3:
+ Mùa kiệt: lấp kênh, dẫn dòng qua cống, thi công đập đến cao độ chống
lũ Cuối mùa kiệt hoành triệt cống dẫn dòng và bắt đầu trữ nước trong hồ;
+ Mùa lũ: dẫn dòng qua tràn chính và hoàn chỉnh công trình
1
8 2
5
6 7
Hình 1.14 Sơ đồ kết hợp cống dẫn dòng, chỗ lõm chừa lại trên thân đập đá đổ đang xây dựng dở, lỗ xả sâu và tràn chính đang xây dựng dở để dẫn dòng
1 Cống ngầm; 2 Chỗ lõm chừa lại trên thân đập đá đổ đang xây dựng dở;
3 Đập đá đổ; 4 Tràn chính đang xây dựng dở; 5 Các lỗ xả sâu của tràn chính; 6 Nhà máy thủy điện; 7 Đập bê tông không tràn;
8 Ranh giới giữa đập đá đổ và đập bê tông
- Dẫn dòng đợt 1: dẫn dòng qua lòng sông tự nhiên;
Trang 35+Mùa lũ: Dẫn dòng đồng thời qua cống ngầm và tràn qua chỗ lõm trên mặt đập đang xây dựng dở (hình 1.20);
- Dẫn dòng đợt 3:
+ Mùa kiệt: dẫn dòng qua cống ngầm, thi công các hạng mục đạt cao độ thiết kế Cuối mùa kiệt hoành triệt cống dẫn dòng;
+ Mùa lũ: dẫn dòng qua lỗ xả sâu của tràn chính;
Cuối cùng, đóng các lỗ xả sâu, tích nước và công trình bắt đầu làm việc
b) Tổ chức thi công:
- Năm thi công thứ nhất: dẫn dòng qua lòng sông tự nhiên, thi công cống dẫn dòng, tràn chính và nhà máy thủy điện;
- Năm thi công thứ 2:
+ Mùa kiệt: Ngăn sông, dẫn dòng qua cống ngầm, đắp đập chính, tiếp tục thi công tràn chính và nhà máy thủy điện;
+ Mùa lũ: Dẫn dòng đồng thời qua cống ngầm và tràn qua chỗ lõm trên mặt đập đang xây dựng dở, tiếp tục thi công các hạng mục của công trình;
- Năm thi công thứ 3:
+ Mùa kiệt: dẫn dòng qua cống ngầm, thi công các hạng mục đạt cao độ thiết kế Cuối mùa kiệt hoành triệt cống dẫn dòng;
+ Mùa lũ: dẫn dòng qua lỗ xả sâu của tràn chính và hoàn thiện công trình;
Cuối cùng, đóng các lỗ xả sâu, tích nước và công trình bắt đầu làm việc
c) Điều kiện áp dụng:
Áp dụng với công trình lớn, xây dựng tại vị trí lòng sông hẹp, lưu lượng
và mực nước thay đổi lớn giữa mùa kiệt và mùa lũ, tràn chính có thể bố trí các
lỗ xả sâu;
Khi chọn giải pháp này cần phải tính toán, thiết kế biện gia cố thật vựng chắc chỗ lõm chừa lại trên mặt đập đang xây dựng dở để đảm bảo an toàn
Trang 36Thậm chí có thể phải tiến hành thí nghiệm mô hình để kiểm tra các tính toán thiết kế
1.4.2.3.Phối hợp tuy nen, chỗ lõm chừa lại trên thân (hoặc đập bê tông) đang xây dựng dở và tràn chính đang thi công để dẫn dòng
a) Sơ đồ (hình 1.15):
4 3
- Dẫn dòng đợt 1: dẫn dòng qua lòng sông tự nhiên;
- Dẫn dòng đợt 2: dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp;
- Dẫn dòng đợt 3:
+ Mùa kiệt: Ngăn sông, dẫn dòng qua tuy nen, đắp đập chính;
+Mùa lũ: Dẫn dòng đồng thời qua tuy nen và tràn qua chỗ lõm trên mặt đập đang xây dựng dở (hình 1.15);
Trang 37Hình 1.16: Sử dụng chỗ lõm chừa lại trên mặt đập bê tông đầm lăn (RCC)
để tháo lũ thi công ( Thủy điện Sesan 3)
1 Mặt đập bê tông được chừa lại để xả lũ thi công; 2 Cống dẫn dòng
3 Phần đập bê tông RCC đang thi công
- Chọn lưu lượng thiết kế dẫn dòng;
- Tính toán thủy lực qua lòng sông thu hẹp;
Trang 38- Tính toán thủy lực qua tuy nen;
- Tính toán thủy lực qua chỗ lõm chừa lại trên mặt đập đâng xây dựng dở;
- Tính toán điều tiết lũ khi xả lũ qua đồng thời tuy nen và chỗ lõm chừa lại trên mặt đập đang xây dựng dở để xác định được lưu lượng lớn nhất chảy qua 2 công trình dẫn dòng này và cao trình đắp đập vượt lũ;
- Thiết kế các biện pháp gia cố các công trình dẫn dòng;
- Có thể bố trí chỗ lõm ở các cao độ khác nhau và tính toán với từng trường hợp So sánh các kết quả tính toán cho các trường hợp đó ta sẽ chọn được giải pháp dẫn dòng hợp lý nhất cả về kinh tế lẫn kỹ thuật
- Năm thi công thứ 3:
+ Mùa kiệt: Ngăn lòng sông thu hẹp, dẫn dòng qua tuy nen, đắp đập chính (có chừa lại chỗ lõm để tháo lũ), tiếp tục thi công tràn chính và nhà máy thủy điện;
+ Mùa lũ: Dẫn dòng đồng thời qua tuy nen và tràn qua chỗ lõm trên mặt đập đang xây dựng dở Tiếp tục thi công các hạng mục của công trình;
- Năm thi công thứ 4:
+ Mùa kiệt: dẫn dòng qua tuy nen, thi công các hạng mục đạt cao độ chống lũ;
+ Mùa lũ: dẫn dòng đồng thời qua tuy nen và tràn chính đang xây dựng
dở Tiếp tục thi công các hạng mục công trình lên cao
Trang 39+ Mùa lũ: tích nước trong hồ, xả lũ qua tràn chính và hoàn thiện công
trình
1.5 Kêt luận
Đập BTTL là loại đập có nhiều ưu điểm về kỹ thuật và thời gian thi công nhanh, mức bảo đảm an toàn cao nên được xây dựng ngày càng nhiều ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thiết kế và thi công ngày càng được hoàn thiện hơn, công nghệ thi công ngày càng được cải tiến nên số lượng đập cao và quy mô lớn ngày càng nhiều và chiếm ưu thế
Bên cạnh đó công tác dẫn dòng thi công là công tác tổng hợp liên quan đến nhiều yếu tố như: điều kiện tự nhiên, xã hội, đặc thù kết cấu công trình và điều kiện thi công…Nó ảnh hưởng rất lớn đến việc bố trí, lựa chọn kết cấu công trình đầu mối và công trình dẫn dòng, tiến độ thi công và giá thành, hiệu quả công trình Trong quá trình xây dựng đập BTTL việc nghiên cứu kết hợp với các phương án dẫn dòng để mang lại hiệu quả kinh tế cao là rất cần thiết và không thể coi nhẹ trong việc phân chia khoảnh đổ, đợt đổ bê tông để bảo đảm chất lượng và tiến độ xây dựng đập đã đề ra
Trang 40Chương 2 PHÂN CHIA KHỐI ĐỔ ĐẬP BÊ TÔNG TRỌNG LỰC
2.1 Cơ sở phân chia khoảnh đổ
Việc phân chia kích thước khoảnh đổ là một vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến kinh tế và kỹ thuật trong công nghệ thi công bê tông khối lớn Các cơ sở chủ yếu để quyết định kích thước khoảnh đổ bao gồm:
- Đặc điểm kết cấu công trình
- Thành phần cấp phối bê tông
- Tính chất của xi măng
- Năng suất của trạm trộn và công cụ vận chuyển bê tông
- Phương pháp đổ bê tông
- Đặc điểm khi hậu vùng xây dựng công trình
2.2 Các phương pháp phân chia khối đổ đập bê tông trọng lực
2.2.1.Phương pháp kiểu xây gạch
Các khoảnh đổ bố trí như xây gạch, khe thi công ngang chạy suốt từ thượng lưu về hạ lưu, khe thi công đứng so le Phương pháp này có ưu điểm là
xử lý khe thi công đơn giản, bảo đảm tốt tính chỉnh thể cho công trình, nhưng
tổ chức thi công phức tạp, tốc độ thi công chậm, ngày nay ít dùng
2.2.2.Phương pháp kiểu hình trụ
Khe thi công đứng chạy suốt từ trên xuống dưới, khe ngang so le Phương pháp này có ưu điểm là tỏa nhiệt dễ dàng, thi công thuận tiện, có thể dùng ván khuôn tiêu chuẩn, dễ khống chế độ co ngót, biến dạng cho phép… Nhưng nó cũng có ưu điểm là xử lý khe thi công phức tạp thậm chí làm chậm thời gian đưa công trình vào sử dụng, khối lượng công tác ván khuôn lớn Tuy nhiên hình thức này được sử dụng rộng rãi để xây dựng đập bê tông khối lớn