1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay

69 193 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 914,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực NNL, quan tâm nhất là NNL chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội KT –

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực (NNL), quan tâm nhất là NNL chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước nói riêng Thực tế nó đã chứng minh những quốc gia, những địa phương nào đã quan tâm đến đào tạo, phát triển, nâng cao chất lượng NNL, đồng thời sử dụng hợp lý và có hiệu quả NNL đều đạt được những thành công Sự thành công của một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Singapore, là những minh chứng tiêu biểu cho việc đó

Sức mạnh của con người và các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam phải thể hiện thành sức mạnh của đội ngũ nhân lực, trong đó có bộ phận nhân tài, trên nền sức mạnh dân trí với cốt lõi là nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân tộc của từng người, từng nhà, cộng đồng, giai cấp và dân tộc

Vì thế, trong bối cảnh hiện nay việc phát huy nguồn lực con người nhằm phục

vụ quá trình CNH, HĐH đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đi đến thành công không chỉ có ý nghĩa lý luận to lớn mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đặc biệt là đối với một quận có nhiều tiềm năng phát triển như Quận Thủ Đức

Quận Thủ Đức nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích

tự nhiên là 4.776 ha, dân số 463.368 người, là một quận đang trên đà phát triển đô thị hóa với tốc độ tương đối cao; trên địa bàn Quận có các Khu chế xuất Linh Trung 1, Linh trung 2, Khu công nghiệp Bình Chiểu, có chợ đầu mối nông sản Thủ Đức, có các trường ĐH đào tạo gần 100.000 sinh viên mỗi năm như: ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trường đại học (ĐH) Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, trường ĐH Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) và một số trường cao đẳng (CĐ), trung học

Trang 2

chuyên nghiệp … và nhiều khu dân cư mới đang được hình thành v.v Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của Quận đang được thành phố quan tâm đầu tư, tạo điều kiện cho kinh tế-xã hội phát triển Vì vậy, NNL đã đáp ứng cho nhu cầu phát trển kinh tế-xã hội của Quận là rất lớn về số lượng cũng như đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề (tính đến cuối năm 2011, tỷ trọng giá trị sản xuất trong khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 72%, thương mại - dịch vụ hơn 27% và nông nghiệp còn khoảng 1%)

Để phát huy tốt và sử dụng có hiệu quả NNL Quận Thủ Đức cần thực hiện tốt chiến lược phát triển NNL, nhất là đầu tư cho phát triển NNL chất lượng cao,

đủ năng lực để Quận Thủ Đức phát triển nhanh và bền vững cũng như thực hiện đường lối CNH, HĐH

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên tôi chọn thực hiện đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài thạc sỹ quản lý kinh tế Đề tài nhằm đánh giá thực trạng NNL phục vụ CNH, HĐH ở quận Thủ Đức, dự đoán nhu cầu NNL phục vụ CNH, HĐH ở quận trong tương lai Qua đó, đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng nguôn nhân lực của quận Thủ Đức trong thời gian tới

2 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa quận Thủ Đức

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Bộ máy quản lý nnận sự và cơ cấu nguồn nhhân lực quận Thủ Đức tới

2015

Trang 3

- Các nhân tốc ảnh hưởng tới sự phát triển và chất lượng nguồn nhân lực tại Quân Thủ Đức

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp phân tích – thống kê, so sánh – tổng hợp, suy luận Loogic – Lịch sử,… nhằm làm rõ vấn

đề nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Luận văn giúp hệ thống hóa cơ sở

lý luận liên quan đến NNL phục vụ CNH, HĐH trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu kết quả của những công trình trước đó và làm rõ đặc thù NNL cho CNH, HĐH cấp quận Qua việc nghiên cứu thực tiễn phát triển NNL trên thế giới và một số địa phương trong cả nước, luận văn đúc rút những kinh nghiệm quý báu cho quận Thủ Đức trong phát triển NNL Luận văn cũng ứng dụng những mô hình phân tích vào đánh giá thực trạng chất lượng NNL, nhu cầu NNL phục vụ CNH, HĐH ở quận Thủ Đức Qua đó đề xuất một số giải pháp phát triển chất lượng NNL cho CNH, HĐH ở quận Thủ Đức đến năm 2020

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được chia ra làm ba chương:

Trang 4

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa quận Thủ Đức đến năm 2015

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận Thủ Đức

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CHO CÔNG NGHIỆP

HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Thời gian gần đây, vấn đề NNL phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này đã được thực hiện và công bố dưới dạng sách tham khảo, luận án, bài báo khoa học,… Tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu của các tác giả như: Nolwen Henaff, Fiona Howell, Nguyễn Hữu Dũng, Võ Đại Lược, Trần Tiến Cường, Nguyễn Thanh, Đoàn Văn Khải, Đào Quang Vinh,…

Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên ta thấy, việc nghiên cứu về phát triển NNL phục vụ cho CNH, HĐH đây là chủ đề nóng được nhiều người lựa chọn nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH cho phạm

vi cấp quận hiện nay chưa nhiều Đặc biệt, theo hiểu biết của tác giả hiện chưa có nghiên cứu nào về nâng cao chất lượng NNL phục vụ CNH, HĐH quận Thủ Đức

1.2 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.1 Nguồn nhân lực

Khái niệm NNL (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên con người) được

sử dụng những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, và hiện nay khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò,

vị trí con người trong sự phát triển.Ở Việt Nam, khái niệm này được sử dụng khá

Trang 6

niệm khác nhau về NNL, nhưng chung quy lại, NNL tiếp cận theo hai góc độ chủ yếu sau:

Thứ nhất, NNL với tư cách là tiềm năng, là nguồn lực chung của con người Thứ hai, NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người trong các đơn vị

và trên phạm vi cả nước

Tổng hợp tất cả những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, cơ cấu và chất lượng NLĐ ở cả hiện tại cũng như trong tương lai của một quốc gia hay một địa phương

Với cách hiểu như trên, khái niệm” NNL” có nội dung rộng lớn, bao gồm những mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, về mặt số lượng, khái niệm NNL trước hết cũng được biểu hiện

ra là LLLĐ (số người trong độ tuổi LĐ có khả năng LĐ), là nguồn LĐ (độ ngũ LĐ hiện có và sẽ có trong tương lai gần) Đồng thời, khái niệm NNL cũng phản ánh quy mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ tăng dân số của một nước trong thời kỳ nhất định

Thứ hai, về mặt cơ cấu khái niệm NNL phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư

và cơ cấu LĐ trong các ngành, các vùng, cơ cấu LĐ đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế,cơ cấu trình độ LĐ, cơ cấu độ tuổi trong LLLĐ, cơ cấu nguồn LĐ dự trữ…Cơ cấu dân cư và LĐ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của NNL

Thứ ba, về mặt chất lượng, khái niệm NNL chủ yếu phản ánh phương diện

chất lượng của LLLĐ, thể hiện qua hàng loạt yếu tố như: sức khỏe, mức sống, trình độ GD - ĐT về văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, năng lực sáng tạo ,khả năng thích ứng, kỹ năng LĐ, văn hóa LĐ, đạo đức, tâm lý, tư tưởng, tình cảm, tích cách, lối sống… song khái quát lại, gồm: thể lực, trí lực và

Trang 7

1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực

Phát triển NNL hay nâng cao chất lượng NNL là một khái niệm được sử dụng rộng rãi từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay đựa trên quan điểm mới về vai trò

và giá trị của con người trong phát triển Trong tài liệu “Hiểu để hành động” (xuất bản 1977 ở Paris), UNESCO đưa ra quan điểm: Con người đứng ở trung tâm của

sự phát triển, điều đó có nghĩa là “con người luôn là mục đích vừa là tác nhân của

sự phát triển” Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của nhiều quốc gia và nó phát triển này càng phong phú về lý luận cũng như thực tiễn Cụ thể hóa nội dung trên, UNESCO cho rằng, phát triển con người toàn diện, trong đó phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của các giá trị nhân văn, nhân đạo – đó là nguyên tắc chỉ đạo các con đường phát triển, đến lượt mình, các giá trị nhân văn, nhân đạo này lại chỉ đạo các con đường, chương trình phát triển

Năm 1990, Báo cáo phát triển con người (Human Development Programme –UNDP) được xuất bản, đánh dấu một bước quan trọng trong việc khẳng định vai trò của con người trong phát triển thông qua tuyên ngôn: “của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích để phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo”

Trong đó, UNDP chọn ba chỉ số cơ bản (sức khỏe, học vấn, mức sống) để đánh giá thành tựu về sự phát triển con người ở cộng đống và quốc gia Trên cơ sở đó, UNDP cho rằng phát triển NNL được quy định bởi 5 yếu tố chủ yếu: GD - ĐT, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người Năm yếu tố này luôn liên hệ với nhau, tác động trực tiếp đến quá trình phát triển NNL; trong

đó, GD - ĐT là nhân tố cơ bản và trở thành nền tảnh của các nhân tố khác Các nhân tố khác như sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là hết sức cần thiết để duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững của NNL

Trang 8

Trong công trình “Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH”, Giá sư Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh:” Phát triển NNL được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những NLĐ có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển KT - XH, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”

Nói chung, người Việt Nam có tư chất thông minh, sáng tạo, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh, đó là ưu thế nổi trội của nguồn nhân lực nước ta Những phẩm chất này khẳng định năng lực trí tuệ của người Việt Nam có thể theo kịp tốc

độ phát triển của công nghệ hiện đại Nếu được đào tạo và sử dụng hợp lý, người lao động nước ta có khả năng làm chủ được các các loại hình công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và hiện đại Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhiều nhà đầu

tư nước ngoài, người lao động Việt Nam nhanh nhẹn hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọngcủa nguồn nhân lực nước

ta trong quá trình toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức

Trên cơ sở kế thừa những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Phát triển NNL chính là sự biến đổi số lượng và chất lượng về các mặt thể lực, trí lực, kĩ năng, kiến thức và những phẩm chất đạo đức – tinh thần, tạo ra những biến đổi tiến bộ trong cơ cấu nguồn nhân lực và phát huy hiệu quả tối đa của nó trong thực tiễn phát triển KT - XH Như vậy, phát triển NNL có thể nói đơn giản đó là quá trình nâng cao năng lực của nguổn năng lực về mọi mặt để tham gia có hiệu quả vào phát triển KT - XH Nó bao gồm 4 nội dung cơ bản: phát triển NNL về mặt cơ cấu, phát triển NNL về mặt chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng NNL

Thứ nhất, làm gia tăng số lượng NNL số lượng NNL Số lượng NNL là toàn

bộ lực lượng người trong độ tuổi LĐ Vì vậy, làm gia tăng số lượng NNL là làm tăng thêm số lượng người trong độ tuổi LĐ phù hợp với sư phát triển KT - XH Để làm được điều này cần đảm bảo tỷ lệ sinh đẻ hợp lý, phù hợp với trình độ phát

Trang 9

Thứ hai, tạo ra những biến đổi tích cực trong cơ cấu NNL về tuổi tác, trình

độ chuyên môn phù hợp với cơ cấu KT - XH.Để làm được điều này cần chú trọng đến công tác dự báo và quy hoạch NNL

Thứ ba, nâng cao chất lượng NNL tức làm tăng thêm những phẩm chất

người như sức khỏe, trí tuệ, chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm của NLĐ Trong đó, nâng cao trí tuệ, đạo đức và năng lực chuyên môn là những yếu tố cơ bản Để nâng cao được giá trị NNL, trước hết và chủ yếu, cần phải tập trung các nguồn lực để nâng cao trình độ và chất lượng của nền GD - ĐT; đồng thời, phải nâng cao hiệu sử dụng NNL

Thứ tư, nâng cao hiệu quả sử dụng NNL tức là tạo điều kiện tối ưu để hiện

thực hóa giá trị NNL trong thực tiễn Để làm được điều này, cần hoàn thiện hệ thống cơ chế và chính sách đồng bộ; đồng thời phát triển phương pháp và nghệ thuật dùng người, khẳng định và tôn vinh giá trị con người, nhất là giá trị của tài năng cống hiến nhiều cho xã hội

Các mặt trên có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, do vậy phải được giải quyết một cách đồng bộ

1.3 Vai trò của nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.3.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay, cả lý luận

và thực tiễn khẳng định CNH, HĐH là giai đoạn phát triển tất yếu mà mỗi quốc gia sớm hay muộn đều phải trải qua Vấn đề được đặt ra đối với các nước là thực hiện CNH, HĐH như thế nào cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước mình để đạt hiệu quả cao nhất với thời gian ngắn nhất để rút ngắn được khoảng cách so với các nước phát triển

Lịch sử các nước phát triển trên thế giới đều khẳng định rằng: nhờ thực hiện thành CNH, HĐH nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ văn minh nông nghiệp lên

Trang 10

văn minh công nghiệp và trở thành các nước phát triển Thế giới đã chứng kiến có nhiều loại mô hình CNH, HĐH diễn ra tuần tự từ thấp đến cao, nhưng có những nước con đường CNH, HĐH có thể rút ngắn mà không trải qua tuần tự của các nước phát triển đi trước

Cho đến nay, mô hình công nghiệp hóa theo hướng hội nhập quốc tế vẫn đang trong quá trình hình thành khảo nghiệm Tuy nhiên, mô hình này tỏ ra phù hợp trong tình hình thế giới đang có sự suy thoái về kinh tế Nhiều nước cũng đang thực hiện mô hình này, coi trọng thị trường trong nước tìm kiếm thị trường nước ngoài đề duy trì tốc độ tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho NLĐ

Trong điều kiện ngày nay, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa như đã phân tích ở trên, nếu không sẽ bị tụt hậu và hàng hóa tạo ra không thể nào cạnh tranh được với hàng hóa của các nước Các nước đi sau như các nước công nghiệp hóa mới châu Á (Nics), Trung Quốc…thành công nhờ thực hiện chiến lược CNH, HĐH tăng tốc, nếu như các nước đi trước tuần tự phải mất hàng trăm năm, nhưng các nước đi sau, tận dụng lợi thế của thời đại đưa lại, nên chỉ trong vòng 30 năm đã thực hiện được thành công chiến lược công nghiệp hóa, đưa đất nước của họ phát triển

Như vậy, CNH, HĐH là con đường tất yếu để thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu Bởi vì, các nước đang phát triển, việc thực hiện có kết quả quá trình CNH, HĐH trước hết sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về trình độ của LLSX, từ công cụ LĐ, phương tiện sản xuất đến yếu tố NLĐ thay vào đó là những công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại Đồng thời, CNH, HĐH cũng góp phần thúc đẩy sự phân công LĐ xã hội một cách mạnh mẽ, hình thành cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, nhờ đó mà sản xuất phát triển Mặc khác, quá trình CNH, HĐH cũng góp phần thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, nâng cao mức sống nhân dân, nâng cao trình độ dân trí, đưa xã hội đến văn minh công nghiệp Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên đề cao CNH, HĐH đến mức xem nó là liều thuốc vạn năng để

Trang 11

thù của mỗi nước quy định Song, dù thế nào đi nữa cũng phải thừa nhận rằng, CNH, HĐH cũng đã tạo ra năng suất LĐ cao hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, cơ cấu sản xuất đa dạng hơn, việc làm nhiều hơn, thu nhập quốc dân tính trên đầu người cũng sẽ cao hơn

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, CNH, HĐH vẫn được coi là phương tiện chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp lạc hậu tiến hành CNH, HĐH cũng là một yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hang đầu trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thông qua CNH, HĐH, chúng ta sẽ tạo ra được một trình độ phát triển mới về KT - XH, tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn

so với các nước trong khu vực và trên thế giới, cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, có điều kiện củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc

Nắm được tính tất yếu khách quan của quá trình CNH, HĐH đối với công cuộc xây dựng đất nước, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng ta đã xác định phải tiến hành công nghiệp hóa đất nước để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đến nay nhiệm vụ đó vẫn là trung tâm, nhưng công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay phải gắn với hiện đại hóa

Hiện nay nền kinh tế nước ta vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp, công nghiệp vẫn còn nhỏ bé, thu nhập đầu người còn thấp nhiều lần so với thế giới Nếu

cứ tiếp tục dựa vào nền kinh tế nông nghiệp thì khó có thể phát triển nhanh, nếu không nói là tụt hậu Lịch sử các nước đi trước trên thế giới cho thấy chưa có nước nào bằng con đường nông nghiệp hóa mà trở thành nước phá triển Vì vậy, muốn thoát khỏi tình trạng nước nghèo và chậm phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn

về kinh tế so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, nước ta không có con đường nào khác ngoài tiến hành CNH, HĐH đất nước, công nghiệp hóa phải

Trang 12

đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII(1- 1994) của Đảng ta đã xác định là phải đưa đất nước chuyển dần sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước CNH, HĐH đất nước Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta tiếp tục khẳng định:

“đẩy mạnh CNH, HĐH từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”

Kế thừa những tư duy mới của Đại hội VIII, qua phân tích, đánh giá tình hình trong nước và thế giới, Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4 – 2001)

khẳng định: “con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian

so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”

Những quan điểm về CNH, HĐH đất nước do Đại hội VIII, IX đề ra tiếp tục được khẳng định trong Đại hội X của Đảng, đẩy mạnh CNH, HĐH rút ngắn gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH

Đảng ta xác định, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, phù hợp với thực tế của thời đại Vì, chúng ta tiến hành CNH, HĐH khi trên thế giới nền kinh tế tri thức đã phát triển Chúng ta có thể và cần thiết không qua các bước tuần

tự như những nước đi trước đã làm, từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới đến kinh tế tri thức Đó cũng là lợi thế của các nước đi sau, trong đó có Việt Nam Vì trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh

đó, xu thế hội nhập mở cửa và sự tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức mỗi quốc gia trong điều kiện thế giới ngày nay Việt Nam chỉ có thể nắm bắt các cơ hội và xu thế thời đại để đi tắt, đón đầu, tiến hành công nghiệp hóa rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn đúng con đường phát triển của dân tộc mình; đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển tri thức

Như vậy CNH, HĐH là tất yếu đối với cách mạng nước ta Thành công của CNH, HĐH sẽ góp phần đưa nền KT - XH nước ta từ nghèo nàn lạc hậu, LĐ thủ

Trang 13

máy móc với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, năng suất LĐ xã hội cao, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân

CNH, HĐH là yêu cầu khách quan đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta,

mục tiêu CNH, HĐH ở nước ta là “xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở vật chất- kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến

2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp” Đường lối

CNH, HĐH được Đảng ta tiếp tục khảng định tại đại hội, đại biểu toàn quôc lần thứ IX và lần thứ X Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) của Đảng ta tiếp tục khẳng định; “đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước…Đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia Nâng cao vị thế Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế

Như vậy, có thể khẳng định rằng sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta được tiến hành trong bối cảnh phức tạp, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đang xen nhau Do vậy, cùng với việc khẳng định tính tất yếu khách quan của sự nghiệp CNH, HĐH với việc nhận thức rõ các điều kiện thuận lợi, thời cơ và những khó khăn, thách thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định đường lối chiến lược, mục tiêu nội dung và phương pháp tiến hành CNH, HĐH cho phù hợp

để phát huy mọi tiềm năng của đất nước, củng cố quyết tâm, chủ động nắm bắt thời

cơ để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm khác với CNH, HĐH của các nước khác Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải tiến hành CNH, HĐH như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế của nước ta CNH, HĐH trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển đang phát

Trang 14

ngày càng sâu rộng, mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp (kết hợp giữ thay thế nhập khẩu với đẩy mạnh xuất khẩu)theo hướng hội nhập quốc tế có triển vọng hơn cả Ở nước ta, CNH, HĐH về cơ bản cũng đang vận động theo mô hình đó Do vậy, CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm mới so với trước đây Những đặc điểm đó là:

Một là: công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa, kết hợp giữa công

nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại đồng thời đi nhanh vào hiện đại hóa ở những khâu quyết dịnh Lịch sử phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia trên thế giới những năm qua cho thấy, hai yếu tố CNH, HĐH luốn gắn kết với nhau Tuy nhiên, tùy theo từng thời kỳ mà có biểu hiện khác nhau Đối với nước ta, quá trình hiện đại hóa nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của LLSX theo tiến trình phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới Tuy nhiên, quá trình này khi thực hiện ở nước ta sẽ gặp phải nghịch lý Một mặt, nếu không kịp thời áp dụng những kỹ thuật và công nghệ hiện đại để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sẽ ngày một tăng Mặt khác, nếu tập trung tất cả mọi việc đầu tư cho việc trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại tăng lên cũng sẽ có nguy cơ không phù hợp với điều kiện hiện có, lãng phí nhiều tiềm năng, thậm chí nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc Để khắc phục nghịch lý này, trong quá trình CNH, HĐH chúp ta cần áp dụng đồng thời nhiều trình độ kỹ thuật mà các nước đi trước đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau Chỉ có vậy, chúng ta mới có thể vừa từng bước hiện đại hóa nền kinh tế, vừa có thể khai thác tốt các nguồn lực và lợi thế của đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của

Đảng (4-2001) khảng định: “con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đã đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”

Hai là: CNH, HĐH được thực hiện trong cơ chế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa, lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản Trước đổi mới, công nghiệp hóa ở nước ta được triển khai theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,

Trang 15

kế hoạch hóa cao độ với các chỉ tiê pháp lệnh ngiêm ngặt từ trên xuống đã làm triệt tiêu mọi động lực phát triển kinh tế- xã hội Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), CNH, HĐH được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước Trong có chế thị trường, CNH, HĐH phải tôn trọng các quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, còn kế hoạch chỉ mang tính chất định hướng Cơ chế thị trường tạo ra những cơ hội và những điều kiện để NLĐ tham gia vào các hoạt động kinh tế- xã hội, nó kích thích tính tích cực, chủ động sáng tạo của NLĐ Cơ chế thị trường tạo điều kiện để chuyển dịch cơ câu LĐ, cả người sử dụng LĐ lẫn người lao động đều có thể chủ động trong việc lựa chọn LĐ việc làm Tuy nhiên, cơ chế thị trường bên cạnh mặt tích cực cũng còn những hạn chế nhất định, nếu không chủ động khắc phục quá trình CNH, HĐH sẽ khó có thể đạt được những mục tiêu đã xác định về xã hội, về an ninh quốc gia cũng như về môi trường Bởi vậy, cơ chế thị trường phải có sự quản lí của nhà nước, thông qua các công cụ chủ yếu như định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế- xã hội, các quĩ quốc gia để điều tiết quá trình CNH, HĐH đất nước

Ba là: công nghiệp hóa - hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi

thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ via trò chủ đạo Cách mạng là sự nghiệp sáng tạo của quần chúng nhân dân, chân lý đó được chứng minh trong lịch

sử của các dân tộc trên thế giới cũng như ở nước ta Cũng cần nói rằng, CNH, HĐH trước đây cũng như hiện nay đều xuất phát từ nhân dân, đều nhằm nâng cao đời sống vật chất của nhân dân Nhưng trước đây, trong quá trình công nghiệp hóa chúng ta chưa có cơ chế chính sách phù hợp để nhân dân phát huy tốt vai trò của mình đối với sự nghiệp đó Công nghiệp hóa thời kỳ này được hiểu là công việc của Nhà nước, được thực hiện thông qua một thành phần kinh tế - thành phần KT -

XH chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu nhà nước và tập thể Chuyển sang cơ chế thị trường, thực hiện nhiều hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế đã khơi dậy và phát huy được mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế Nhân dân, bằng sức LĐ, bằng tài năng, sức sáng tạo, tiền vốn, tài sản của mình đã phát huy sức

Trang 16

lực lượng vật chất quan trọng để định hướng và điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Đồng thời, CNH, HĐH chỉ thực sự là sự nghiệp của toàn dân, do dân khi nó phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong việc tham gia, giám sát đóng góp xây dựng chủ trương, kế hoạch và quản

lý giám sát CNH, HĐH trên tất cả các lĩnh vực Có thể nói rằng, việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển KT - XH là giải pháp quan trọng bảo đảm sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Bốn là: CNH, HĐH gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế mở, hướng mạnh

về xuất khẩu Đối với nước ta, muốn cho nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, phải tiến hành CNH, HĐH gắn với xây dựng nền kinh tế mở và hội nhập, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chủ động hội nhập với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, giữa vững định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế mở là nền kinh tế dựa trên cơ sở phát triển các quan hệ hợp tác đa phương, đa hình thức hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, nhằm tạo nguồn vốn cho CNH, HĐH Mở cửa nền kinh tế là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế Đó là

sự thay đổi quan niệm về độc lập, tự chủ trong kinh tế Độc lập, tự chủ hoàn toàn

khác với kinh tế “tự cấp, tự túc, khép kín nền kinh tế”, mà chỉ có nền kinh tế mạnh,

phát triển vững chắc mới co khả năng độc lập, tự chủ Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện để kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, khai thác tốt nguồn lực, cả bên trong lẫn bên ngoài cho công cuộc CNH, HĐH

Năm là: khoa học và công nghệ được xác định là nền tảng và động lực của

CNH, HĐH, kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH Nói đến CNH, HĐH là nói đến việc áp dụng những tiến bộ của kho học – công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý KT - XH Do đó, không thể có CNH, HĐH nếu không được vào khoa học và công nghệ, nhưng khoa học và công nghệ chỉ có thể phát huy khi NLĐ thực sự có trình độ, có tri thức Vì vậy, khoa học

Trang 17

và công nghệ, tri thức của NLĐ thực sự đóng vai trò là nền tảng và động lực của quá trình CNH, HĐH

Sáu là: CNH, HĐH phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố

cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; CNH, HĐH phải gắn với mục tiêu phát triển bền vững Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khao học và công nghệ hiện ddai dã và đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội Nếu như trước đây, quá trình CNH, HĐH tập trung khai thác nguồn lực tự nhiên thì ngày nay, CNH, HĐH lại hướng vào khai thác nguồn lực con người, mà đặc biệt tiềm năng trí tuệ của con người Mặc khác, CNH, HĐH không chỉ đơn thuần tăng trưởng kinh tế, mà quan trọng hơn cả là phải đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững Đó là sự tăng trưởng không chỉ về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), mà còn là sự tăng lên vể phúc lợi xã hội Do đó, trong sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải biết nuôi dưỡng, phát huy và khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực con người, CNH, HĐH phải do con người và vì con người

Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay Đồng thời, đó cũng chính là một số quan điểm cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện CNH, HĐH ở nước ta hiện nay

1.3.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với công cuộc công nghiêp hóa, hiện đại hóa

Trong tổng thể các nguồn lực thì NNL luôn ở vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định không những đối với các nguồn lực khác, mà còn quyết định toàn bộ quá trình phát triển kinh tế- xã hội, của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Bởi vì NNL được coi là nguồn lực vô tận, phong phú, vô giá, quý báu nhất, duy nhất sang tạo và có khả năng sinh ra giá trị lớn hơn nhiều lần bản thân nó trong quá trình sản xuất xã hội Các nguồn lực khác chỉ là nguồn tiềm năng muốn phát huy tác dụng phải thông qua nhân tố con người, một nội lực cơ bản nhất Các nguồn lực khác tự mình không tự động phát huy tác dụng, không trở thành động lực của

Trang 18

sự phát triển, chúng phải dựa vào sức lực và trí tuệ của con người Mặt khác, cần phải thấy rằng, các nguồn lực đó nếu như khong được con người chăm sóc, nuôi dưỡng thì khai thác mãi cũng cạn kiệt, chỉ có nguồn lực với trí tuệ, chất xám có khả năng tự sản sinh và tái sinh vô hạn Có thể nói, con người, NNL với tất cả những phẩm chất, năng lực và sức mạnh của mình có thể trở thành mục tiêu và động lực cho sự phát triển của xã hội, của sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam

Vai trò quyết định của NNL còn được thể hiện ở vai trò, sức mạnh của trí tuệ Trí tuệ của con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật chất hóa, trở thành LLSX trực tiếp Bên cạnh đó, vai trò NNL còn được thể hiện ở việc hoạch định đường lối chiến lược, và tổ chức thực hiện đường lối chiến lược của CNH, HĐH

Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của NNL, Đảng ta đã xác định để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH cũng như để phát triển ngang bằng với các nước trong khu vực thì phải tập trung đầu tư phát triển NNL Bởi lẽ không có NNL

đủ mạnh thúc đẩy CNH, HĐH thì khó tránh khỏi nguy cơ thụt hậu xa hơn về kinh

tế Thật vậy, phát triển NNL sẽ có tác dụng như sau: phát triển NNL góp phần phát triển kinh tế- xã hội; làm tăng khả năng khai thác ngày càng có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên Tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa VIII, Đảng

ta đã khẳng định: muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục- đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh

và bền vững; là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, phát triển con người toàn diện, phát triển NNL ngày càng khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại

Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trước hết phải hướng tới mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn CNH, HĐH cũng là một bước phát triển tất yếu đối với nước ta hiện nay, khi nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp lạc hậu; công nghiệp còn nhỏ bé; kết cấu hạ tầng

Trang 19

kinh tế- xã hội còn kém phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế còn thấp, cơ sở vật chất- kỹ thuật chưa xây dựng được bao nhiêu

Từ một xuất phát điểm quá thấp, với thu nhập bình quân đầu người ở những quốc gia nghèo nhất, CNH, HĐH sẽ là con đường cơ bản đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và nguy cơ tụt hậu, đảm bảo đi lên chủ nghĩa xã hội văn minh, hiện đại Đó chính là lời giải cho bài toán phát triển tăng nhanh tốc độ phát triển ở

nước ta, tiến hành CNH, HĐH “không chỉ là đẩy nhanh nhịp độ và nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, mà còn chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của nền kinh tế”

Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay cũng như nhiều nước đang phát triển khác, được đặc trưng bằng sự chiếm ưu thế của sản phẩm nông nhiệp là LĐ thủ công ở nông thôn, dù công nghiệp hóa đã bắt đầu Muốn phát triển phải cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH Nền kinh tế từ nặng về nông nghiệp sẽ chuyển dần về phía công nghiệp chế biến và các dịch vụ xã hội, dịch vụ kinh tế, dịch vụ trí tuệ Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông- lâm- ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp ưu tiên các ngành chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dung, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính, viễn thông … phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

CNH, HĐH là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ, đòi hỏi một ý chí và bản lĩnh vững vàng để sẳn sang tạo lập, nắm bắt lợi thế của người “đi sau” mà bỏ qua các thế hệ công nghệ trung gian, đi ngay vào công nghệ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng, nhằm bắt kịp xu thế chung của thế giới

Trang 20

Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp

có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Vậy là, xét về nhiều mặt, trước mắt cũng như lâu dài, trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tiềm năng về nhân tài, vật lực của đất nước,

chúng ta sẽ xác định được NNL là điều kiện, yếu tố đầu vào quyết định nhất, là nội lực chính, là lợi thế lớn nhất cho quá trình CNH, HĐH ở nước ta Quan niệm này

sẽ quy định phương hướng, nội dung, bước đi và biện pháp CNH, HĐH nhằm thực hiện chiến lược phát triển lâu dài và hiện hữu cho đất nước Một trong sáu quan

điểm chỉ đạo mà Đảng ta đã chỉ ra ở Đại hội Đảng lần thứ VIII là: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”

Có thể nói quan điểm lấy NNL con người làm điểm tựa cho quá trình CNH, HĐH và đi lên của dân tộc ta xuất phát từ ưu thế NNL Việt Nam Đó là truyền thống yêu nước, cần cù, thông minh, sáng tạo, kế thừa tinh hoa của hơn 4.000 năm văn hiến của con người Việt Nam Khi đã có trình độ văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ cao, tay nghề vững, chúng ta có cơ sở để tạo ra phương pháp công nghiệp và công nghệ hiện đại Nguồn lực con người đó, nay lại được sử dụng các phương pháp, phương tiện, công nghệ tiên tiến, hiện đại chắc chắn sẽ đạt được năng suất LĐ xã hội cao, hàng hóa nhiều và có chất lượng Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu người Đó là một thị trường lớn có nhu cầu đa dạng, có tiềm lực về sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như tham gia phân công LĐ quốc tế Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ “dân số vàng” với số lượng NNL nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; NNL công nhân là 9,5 triệu người, chiếm gần 10% dân số; NNL trí thức, tốt nghiệp ĐH, CĐ trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; NNL từ các doanh

Trang 21

nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người … Đó là tiềm năng song lại là áp lực đối với nền kinh tế nước ta Sự

nghiệp CNH, HĐH sẽ “ cho phép khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, nhân tố con người, giải phóng con người và phát triển xã hội, xác lập quan niệm con người là nguồn lực lớn nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực sáng tạo và phát triển”

Vậy là trong thời đại ngày nay, không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không tính đến yếu tố con người Cần nhớ rằng công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng hay bị lãng phí, thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố con người khi sử dụng chúng Do đó, chúng

ta phải biết lựa chọn công nghệ thích hợp để toàn dụng LĐ

Kinh nghiệm của thế giới cho thấy, tốc độ công nghiệp hóa của các nước trên thế giới rất không giống nhau Quốc gia nào chuẩn bị tốt NNL và thừa hưởng những thành quả của khoa học công nghệ hiện đại của nhân loại thì sẽ rút ngắn được quá trình CNH, HĐH, nhanh chóng tạo ra “bước ngoặt” phát triển đất nước

Rõ ràng, trong xu thế phát triển thế giới, dĩ nhiên đối với Việt Nam, phát huy NNL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để bảo đảm cho sự thành cong sự nghiệp CNH, HĐH Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, chỉ có phát huy tốt NNL mới tạo ra cho mọi người có cơ hội tìm kiếm công ăn, việc làm, giải quyết được nạn thất nghiệp Đồng thời đó cũng là nhân tố cần thiết để các công ty nước ngoài có thể chuyển nhượng các công nghệ hiện đại vào Việt Nam

1.3.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực

Dân số vừa cung cấp NNL vừa là mẫu số của các chỉ số phát triển của KT -

XH Việt Nam chúng ta đang có NNL dồi dào với dân số cả nước gần 87 triệu người (theo Niêm giám thống kê 2010, dân số của Việt Nam là 86.927.700 người),

là nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực

Trang 22

Theo thống kê năm 2010, trong quy mô dân số gần 87 triệu người, số người trong độ tuổi LĐ (từ 15 tuổi trở lên) tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 56,5% dân số cả nước, tức là 49.148.500 người Tỷ số việc làm trên dân số, được hiểu là tỷ lệ phần trăm dân số 15 tuổi trở lên có việc làm chiếm trong tổng dân số

từ 15 tuổi trở lên, tại thời điềm 1/9/2009 là 74,5%

Kết quả Điều tra LĐ và việc làm 2009 cho thấy tại thời điểm 1/9/2009, cả nước có khoảng 1,3 triệu LĐ thất nghiệp, trong đó số nữ chiếm 50,2 % tổng số LĐ thất nghiệp

Tuy nhiên, hiện nay Viê ̣t Nam vẫn là nước đất châ ̣t , người đông, quy mô dân số lớn Bên ca ̣nh đó, tỷ lệ số người sinh con thứ 3 có xu hướng trong thời gian gần đây, điều này tiềm ẩn nguy cơ tỷ lê ̣ tăng dân số cao trong những năm tới

Điểm qua các số liê ̣u cho thấy , Viê ̣t Nam đang có nguồn nhân lực rất dồi dào Đây là mô ̣t thuâ ̣n lợi xét từ góc đô ̣ cung ứng lao đô ̣ng , nhưng la ̣i là khó khăn nếu nền sản xuất xã hô ̣i không đáp ứng đủ viê ̣c làm cho người lao đô ̣ng Quy mô dân số đông cùng với tốc đô ̣ tăng dân số như hiê ̣n nay cũng là mô ̣t áp lực lớn đối với vấn đề giáo du ̣c, đào ta ̣o nâng cao trình đô ̣ cho nguồn nhân lực

Theo dự báo , đến năm 2020 dân số Viê ̣t Nam khoảng 96 triê ̣u người, bình quân mỗi năm có khoảng 1,4 triê ̣u người bước vào tuổi lao đô ̣ng Đến năm 2020 lực lượng trong đô ̣ tuổi là 54,4 triê ̣u người, trong đó số lao đô ̣ng đang làm viê ̣c là 52,8 triệu người; cơ cấu lao đô ̣ng nông – lâm – ngư nghiê ̣p là 29%; công nghiê ̣p, xây dựng: 32,4% và dịch vụ 38,6%; Hằng năm, khoảng 1 triê ̣u lao đô ̣ng trong khu vực nông nghiê ̣p chuyển di ̣ch sang khu vực công nghiê ̣p và di ̣ch vu ̣

Nguồn nhân lực phân bố không đều giữa các đi ̣a phương Dưới tác đô ̣ng của toàn cầu hóa kinh tế , tại các thành phố , đă ̣c biê ̣t là thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh , Đà Nẵng), các cơ sở đào tạo , dạy nghề phát triển mạnh Đặc biệt phát triển các ngành nghề : công nghê ̣ thông tin , điê ̣n tử, điê ̣n la ̣nh, xây dựng, may mă ̣c , du li ̣ch , cơ khí chế ta ̣o và sửa chữa , điê ̣n công nghiê ̣p… ta ̣o ra

Trang 23

cung lớn nhưng cung lao đô ̣ng chuyên môn kỹ thuâ ̣t thường lớn hơn cầu rất nhiều Tình trạng thất nghiệp của lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật tại các thành phố lớn khá phổ biến

Trong khi đó, tại nhiều địa phương (đă ̣c biê ̣t là các tỉnh vùng núi phía Bắc , miền núi các tỉnh miền Trung , đồng bằng sông Cửa Long… ) thiếu các cơ sở đào tạo, dạy nghề và thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật Các chính sách thị trường lao đô ̣ng chưa có tác du ̣ng nhiều đối với các vùng , địa phương thiếu nhân lực chuyên môn lành nghề và lành nghề cao Đây là khó khăn lớn cho phát triển kinh tế, thu hút FDI, khai thác tiềm năng xuất khẩu ta ̣i các vùng , đi ̣a phương có kinh tế châ ̣m phát triển

Nguồn nhân lực Viê ̣t Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân , công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành nghề Sự xuất hiê ̣n của giới doanh nghiê ̣p trẻ được xem như mô ̣t nh ân tố mới trong nguồn nhân lực , nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử du ̣ng tốt sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan tro ̣ng trong phát triển kinh tế – xã hội

Về cơ cấu trình độ LĐ, số liệu Tổng điều tra dân số cho thấy tỷ lệ dân số

tính từ 15 tuổi trở lên có trình độ CMKT cao tương đối thấp (13,3%) vào năm

2009 chỉ có 2,6% tốt nghiệp sơ cấp, 4,7% tốt nghiệp trung cấp, 1,6% tốt nghiệp

CĐ, 4,2% tốt nghiệp ĐH và 0,2% tốt nghiệp thạc sỹ trở lên Như vậy, có tới 86,7% LLLĐ không có CMKT Riêng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, LĐ qua đào tạo nghề mới chỉ đạt khoảng 7 – 8% Trong lĩnh vực công nghiệp, LĐ có trình độ

từ CĐ trở lên chiếm 16,1%; trung cấp: 14,6%; công nhân kỹ thuật: 28,1%; không được đào tạo: 41,2% Hiện nay, ở các khu công nghiệp, khu chế xuất đang nghiêm trọng công nhân có trình độ CMKT cao; chỉ có 75,85% công nhân đang làm những công việc phù hợp với ngành nghề được đào tạo

Báo cáo LĐ – việc làm 2009 cũng cho thấy, phân theo trình độ học vấn cao nhất của người đang có việc làm thì LĐ không có CMKT chiếm 10,6%, trong khi

Trang 24

LĐ có trình độ ĐH trở lên chỉ có 5,2% Trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động thì nhóm lao đọng không có kỹ năng sẽ khó có thể tránh được những tổn thương về việc làm và thu thập

Về cơ cấu độ tuổi của LLLĐ , theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở

năm 2009, Việt Nam đã bước vào thời kỳ mà các nhà nghiên cứu goi là “dân số vàng” – điều chỉ xảy ra một lần trong lịch sử nhân khẩu học của mỗi quốc gia – dự kiến sẽ kéo dài đến năm 2040 Thời kỳ này sẽ kéo dài trong vòng 30 năm và là cơ hội duy nhất, “có một không hai” trong quá trình quá độ nhân khẩu học

Năm 2010, trên 60% người Việt Nam ở độ tuổi LĐ (15 – 64 tuổi) Giai đoạn 2011 – 2020, LLLĐ Việt Nam tăng 1%/năm, tương ứng 47,82 triệu người năm 2011, 50,4 triệu người năm 2015 và 53,15 triệu năm 2020

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy “cơ hội dân số vàng” đóng góp khoảng 1/3 tăng trưởng kinh tế ở các nước Đông Á thần kỳ Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng khẳng định rằng lợi tức từ “cơ hội dân số vàng” không tự đến với các nước Các nước có “cơ hội dân số vàng”đã tận dụng thành công cơ hội này bằng cách đầu tư lớn và có hiệu quả cho y tế, phát triển GD - ĐT và NNL – những nhân tố tích cực đến kỹ năng, trình độ của LLLĐ trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường nhanh nhạy và bền vững Ngược lại, việc quản lý hiệu quả nền kinh tế tăng trưởng cao cho phép các nước này tích lũy được nguồn lực để đầu tư mạnh hơn nữa cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, đẩy mạnh đào tạo tiên tiến và phát triển năng lực

Muốn khai thác được lợi ích của cơ cấu dân số vàng thì nhóm dân số trẻ tuổi và những nhóm thuộc độ tuổi có năng suất LĐ cao nhất cần phải được trang bị đầy đủ kiến thức và các kỹ thuật chuyên môn Theo tiêu chuẩn quốc tế, độ tuổi 25 trở lên được coi là độ tuổi mà mỗi cá nhân đã trải qua tất cả các bậc giáo dục cơ bản cũng như đào tạo nghề hay ĐH Việt Nam mặc dù đã thực hiện tương đối tốt việc phổ cập giáo dục đối với tiểu học và xóa mù chữ nhưng vẫn phải đối mặt với

Trang 25

một thách thức lớn trong việc đào tạo các kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng nhu cầu hiện đại Điều này liên quan tới tỷ lệ phần trăm người lớn có trình độ học vấn bậc trung (tương đương với cấp 3 – giáo dục bật trung – và bậc 4 – giáo dục trung học nâng cao không phải ĐH – trong phân loại chuẩn quốc tế về giáo dục ISCED của UNESCO) và trình độ học vấn bậc cao (tương đương với bậc 5 – bước đầu của giáo dục bậc 3 (ĐH trở lên) – và bậc 6 – bước hai của giáo dục bậc 3, dẫn đến một bằng nghiên cứu cao cấp – trong phân loại chuẩn quốc tế vào giáo dục ISCED của UNESCO) Các chỉ số này thường được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm người lớn từ 25 tuổi trở lên có trình độ giá dục bậc trung và bậc cao Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, có 18,9% dân số tờ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn bậc trung (với Nhật Bản là 43,9%, với Mỹ là 49%, với Philippin là 26,4%), và chỉ có 5,4% dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn bậc cao (với Nhật Bản là 30%, với Mỹ 36,2%,với Philippin là 8,4%)

Dân số trong độ tuổi 25 – 34 đóng vai trò chủ chốt trong phát triển KT -

XH của đất nước Vì vậy, tỷ lệ 8,2% dân số ở nhóm tuổi này đạt trình độ học vấn bậc cao theo chuẩn của UNESCO tương đương với trình độ ĐH trở lên) là một tỷ

lệ khá thấp Đây là một gánh nặng lớn đặt ra cho ngành GD - ĐT và toàn xã hội

Thất bại trong việc tận dụng các cơ hội dân số có thể tác động tiêu cực đến triển vọng tương lai một khi tình trạng thất nghiệp lan rộng, các quan hệ xã hội bị xói mòn và các nguồn lực bị cạn kiệt bởi dân số già Các nhà hoạch định chính sách phải nắm bắt được xu hướng biến động dân số và xây dựng các chính sách nhằm tận dụng những tác động tích cực của những biến động đó đến tăng trưởng kinh tế…

Ở nước ta, cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ:

ĐH và trên ĐH là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1 – 4 – 10

Trang 26

Theo số liệu của ILO (Tổ chức LĐ quốc tế), ở các nước đang phát triển, đội ngũ LĐ giản đơn và bán lành nghề chiếm đến khoảng 60%, tiếp đến là công nhân lành nghề 22%, các kỹ thuật viên và công nghệ gia khoảng 9%, các nhà quản lý 6,5%, còn các nhà nghiên cứu phát minh chỉ khoảng 2,5%

Trong khi đó, ở một số nước phát triển thì ngược lại, thường có đội ngũ công nhân lành nghề chỉ vào khoảng 5 – 15% tổng số đội ngũ LĐ, công nhân lành nghề vào khoảng 30 – 50% và xu thế ngày càng giảm vì phần lớn các công nghệ đều được tự động hóa, các nhà kỹ thuật và công nghệ gia chiếm một tỷ lệ lớn khoảng 36 – 40%, các nhà quản lý khoảng 22% và các nhà nghiên cứu phát minh khoảng 14%

Về cơ cấu nguồn LĐ dự trữ trong các trường ĐH, CĐ, trung học chuyên

nghiệp và dạy nghề, Quyết định 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006 – 2020 xác định: Điều chỉnh cơ cấu số lượng sinh viên được đào tạo theo nhóm ngành, nghề đến năm 2020 đạt tỉ lệ: Khoa học cơ bản 9%, Sư phạm 12%, Công nghệ - kỹ thuật 35%, Nông – lâm – ngư 9%, Y tế 6%, Kinh tế - Luật 20% và các ngành nghề 9% Tuy nhiên, những năm qua số lượng thí sinh đăng ký dự thi ĐH, CĐ chưa phù hợp với nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực, ngành nghề, vùng miền

Theo số liệu của Bộ GD - ĐT, năm 2010 số lượng sinh viên vào ngành Ky thuật – công nghệ chiếm 31,09% ĐH và 47,41% CĐ, ngành Kinh tế chiếm 28,96%

ĐH và 16,96% CĐ, ngành Sư phạm chiếm 17,18% ĐH và 22,02% CĐ; trong khi nhóm ngành Nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm 8,69% ĐH và 8,49% CĐ, ngành Kho học xã hội chiếm 7,61% ĐH và 3,19% CĐ Năm 2011, tuyển mới ĐH, CĐ chính quy tăng 6,5% so với 2010, nhưng cũng chỉ có 10% chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ và đào tạo theo địa chỉ và đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội

Như vậy, có thể nói rằng, về mặt cơ cấu, NNL nước ta hiện nay thể hiện sự chưa hợp lý, mất cân đối nghiêm trọng so với yêu cầu phát triển KT - XH

Trang 27

NNL ở nước ta tuy dồi dào về số lượng, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém Người dân Việt Nam thông minh, sáng tạo, cần cù, chịu khó hứa hẹn nhiều tài năng lớn ở nhiều lĩnh vực trong tương lai Song nhìn một cách phổ biến, NNL ở nước ta mới chỉ ở dạng tiềm năng, trong đó nguồn chất xám và tay nghề chưa được đào tạo đầy đủ và bất cập, chưa được sử dụng một cách có hiệu quả, phân bổ chưa hợp lý, đối xử chưa được công bằng Do đó, những đòi hỏi mới của CNH, HĐH đối với NNL chính là đổi mới cơ chế, chính sách nhằm khai thác cho được tiềm năng của đất nước, mà quan trọng hơn là tiềm năng rất dồi dào của NNL

Những đòi hỏi mới của CNH, HĐH ở Việt Nam phải là lớp người đại diện cho chất lượng và trình độ trí tuệ của thời đại ngày nay Về cơ bản, họ đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng để góp phần quyết định trong việc xây dựng đất nước Tỷ lệ LĐ căn bản phải được đào tạo, chất lượng nguồn LĐ qua đào tạo ngày càng được nâng cao, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức phải phát triển phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế CNH, HĐH là cơ hội cho mọi người bộc lộ những nhu cầu, lợi ích và tính chủ động sáng tạo của mình Nhờ đó, mà CNH, HĐH có được nguồn lực mạnh mẽ hướng tới những biến đổi to lớn trên con đường phát triển kinh tế- xã hội

1.4 Phương pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nâng cao chất lượng NNL nói chung và đối với các quận, huyện, thành phố nói riêng là một việc hết sức quan trọng được nhiều bên liên quan quan tâm Hoạt động này cần được thực hiện một cách thường xuyên nhằm đánh giá thực trạng NNL hiện tại, xác định nhu cầu NNL trong tương lai, khả năng đáp ứng NNL trong tương lai của địa phương Từ đó đề xuất được những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng NNL phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH ở địa phương và trong cả nước

Trang 28

Trong khuôn khổ của luận văn, nội dung nâng cao chất lượng NNL phục vụ CNH, HĐH bao gồm: đánh giá thực trạng chất lượng NNL hiện tại và chất lượng ngồn nhân lực trong tương lai, qua đó đề xuất được giải pháp Để thực hiện nội dung này, một số chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá cụ thể sau:

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng NNL:

- Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của NNL:

Sức khỏe của NNL là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người Để phản ánh điều đó có nhiều chỉ tiêu biểu hiện như: Tiêu chuẩn đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại quan, thần kinh, tâm thần, tai, mũi, họng,… Bên cạnh đó việc đánh giá trạng thái sức khỏe còn thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ sinh, chết, biến động tự nhiên, tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính,…

- Chỉ tiêu biểu hiện đối với trình độ văn hóa của NNL

Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của NNL là sự hiểu biết của NLĐ đối với những kiến thức phổ thông nó không chỉ về lĩnh vực tự nhiên mà còn bao gồm kể

cả lĩnh vực xã hội Ở một mức độ cho phép nhất định nào đó thì trình độ văn hóa của dân cư thể hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia

Chất lượng NNL qua trình độ văn hóa của NNL được thể hiện qua các quan

hệ tỷ lệ sau:

- Số lượng người biết chữ

- Số lượng và tỷ lệ người qua cá cấp tiểu học, THCS, phổ thông trung học, CĐ,

ĐH, sau ĐH,…

Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng NNL cũng như trình độ phát triển của KT - XH Chỉ tiêu biểu hiện trình độ CMKT

Trang 29

- Số lượng LĐ được đào tạo và chưa qua đào tạo

- Cơ cấu LĐ được đào tạo, bao gồm: cấp đào tạo, công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn, trình độ đào tạo (cơ cấu bậc thợ)

Chỉ tiêu về phản ánh chất lượng NNL trong tương lai

- Chỉ tiêu về phản ánh cơ cấu nghề nghiệp của NNL

Để đảm bảo chất lượng LĐ đáp ứng công việc trong mỗi ngành, thành phần kinh tế trong tương lai Đánh giá việc bố trí, sử dụng và thu hút nguồn nhân lực trong tương lai

- Chỉ tiêu phản ánh mức độ phù hợp giữa cấp bậc công việc với cấp bậc công nhân theo từng ngành nghề, thành phần kinh tế

Cấp bậc công việc thì phản ánh sự phức tạp trong kỹ thuật, yêu cầu về nhiệm

vụ, trách nhiệm khi tiến hành thực hiện công việc, cứ cấp bậc công việc càng cao thì mức độ đòi hỏi kỹ năng càng lớn Cấp bậc công nhân phản ánh trình độ lành nghề của NLĐ

- Chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng cán bộ chuyên môn, kỹ thuật theo một số tiêu thức: ngành nghề đào tạo, trình độ chuyên môn,…

Tiêu chí này đưa ra với mục đích phản ánh mức độ phù hợp giữa các vị trí công việc theo đề án việc làm nhằm đánh giá chính xác hơn chất lượng NNL trong việc bố trí nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc

1.5 Kinh nghiệm phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bài học cho quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh

Trên cơ sở các kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương trong nước về vấn đề phát triển NNL, có thể rút ra những bài học để quận

Trang 30

Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh tham khảo trong công tác nâng cao chất lượng NNL phục vụ CNH, HĐH như sau:

Một là, nhận thức đúng vai trò quyết định của NNL trong quá trình CNH, HĐH Qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của các nước trên thế giới và

tại một số tỉnh thành ở nước ta điều mà chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là các quốc gia, địa phương nói trên đều có xuất phát điểm không mấy thuận lợi Do đó, các quốc gia và các địa phương trên cũng đã thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng NNL Đây chính là bài học rất bổ ích cho quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, để nâng cao chất lượng NNL phục vụ tốt CNH, HĐH quận thì phải biết khai thác tốt tiềm năng con người, thông qua thay đổi về tư duy nhận thức, nhất là ở cấp hoạch định và thực thi chính sách

Hai là, phát triển NNL phải gắn với chiến lược phát triển KT - XH của thành phố và quận qua từng giai đoạn nhất định Có nghĩa mỗi giai đoạn CNH có

những yêu cầu khác nhau đối với NNL Trong bối cảnh cuộc cách mạng KH - CN đang diễn ra như vũ bão, nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đang bước vào nền kinh tế tri thức, vì vậy vấn đề quan trọng nhất hiện nay của quận Thủ Đức là phải xây dựng được NNL có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới - giai đoạn CNH, HĐH

Ba là, xem GD - ĐT là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng NNL Vậy

nói đến nâng cao chất lượng NNL là nói đến nâng cao trình độ học vấn, trình độ CMKT, khả năng sáng tạo của người LĐ Những vấn đề này chỉ có thể thực hiện thông qua GD – ĐT Vì vậy, phát triển GD - ĐT được các quốc gia, địa phương ưu tiên hàng đầu Là một quận thuộc trong trung tâm GD - ĐT lớn của cả nước, quận Thủ Đức cónhiều điều kiện thuận lợi hơn các thành phố khác trong cả nước

Bốn là, chính sách thu hút và sử dụng nhân tài bài bản là bài học mà quận Thủ Đức cần tham khảo Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,

sự di chuyển chất xám, NNL có chất lượng từ nơi này đến nơi khác là tất yếu

Trang 31

Theo quy luật, nhân tài sẽ di chuyển đến những quốc gia, địa phương nào có sự đãi ngộ về vật chất, môi trường làm việc lý tưởng và được trọng dụng Quận Thủ Đức, đến thời điểm này chưa có nhiều chính sách quyết liệu nhằm thu hút người tài từ nhiều địa phương khác đến công tác, mà ngay cả việc giữ chân người tài vẫn chưa

có chính sách thoả đáng Bài học về vấn đề thu hút nhân tài ngoại bằng cách đơn giản hoá thủ tục nhập cư, trả lương cao, chào đón vào bộ máy nhà nước, khuyến khích sinh viên ở lại làm việc của các nước và địa phương trên cả nước đây là điều mà quận Thủ Đức nên tham khảo và học hỏi

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA QUẬN THỦ ĐỨC

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Thủ Đức ảnh hưởng đến hình thành và phất triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Quận Thủ Đức bao gồm 12 phường là phường Linh Tây, Linh Chiểu, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Bình Thọ, Trường Thọ, Tam Bình, Tam Phú, Bình Chiểu, Hiệp Bình Chánh và Hiệp Bình Phước Quận Thủ Đức có vị trí địa lý từ

10o41’86’’-10o46’97’’ vĩ Bắc và 106o49’20’’-106o53’81’’ kinh Đông, là một trong

05 quận mới của Tp.HCM, nằm ở cửa ngõ phía Bắc-Đông Bắc của thành phố có diện tích 47,76 km2 Quận Thủ Đức nằm trên trục lộ giao thông quan trọng nối liền Thành phố với khu vực miền Đông Nam bộ, miền Trung và miền Bắc, được bao bọc bởi sông Sài Gòn và xa lộ Sài Gòn-Biên Hoà (Quốc lộ 52) Ranh giới địa lý của Quận giáp với:

- Phía Đông : giáp với Quận 9

- Phía Tây : giáp với Quận 12

- Phía Nam : giáp với sông Sài Gòn - Quận 2 - Quận Bình Thạnh

- Phía Bắc : giáp với Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng giá trị sản xuất chung toàn quận đạt 12% năm trong đó: Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thu công nghiệp và xây dựng do quận quản lý đạt 4.602 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch năm; trong đó sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công

Trang 33

nghiệp đạt 4.340 tỷ đồng, giá trị xây dựng đạt 258 tỷ đồng Doanh thu toàn ngành Thương mại – Dịch vụ đạt 26.220 tỷ đồng Giá trị sản xuất nông nghiệp 17 tỷ đồng, trong đó tiếp tục chuyển dịch tăng diện tích cây hoa kiểng, nuôi trồng thủy sản

Về đăng ký kinh doanh hộ cá thể, năm 2014 cấp 1379 giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, tăng 27,92% so với năm 2013 Nâng tổng số hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận là 14.601 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, với vốn đầu tư 700,382 tỷ đồng

Về công tác kiểm tra doanh nghiệp và hộ kinh doanh: đã kiểm tra 540 doanh nghiệp trên địa bàn trong đó đang hoạt động là 508 doanh nghiệp, xử lý vi phạm

06 trường hợp kinh doanh không đúng địa điểm, không đúng ngành nghề với tổng

số tiền là 36.000.000 đồng Năm 2014, Quận đã ban hành 20 quyết định vi phạm hành chính theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ với tổng số tiền là 150.000.000 đồng Tổng số doanh nghiệp hiện nay trên địa bàn là 5.841 doanh nghiệp

Tình hình sản xuất nông nghiệp vẫn luôn được UBND quận quan tâm và chỉ đạo sát sao Duy trì tốt công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng

đô thị hóa Trong năm 2014, diện tích cây rau: 65,58 ha/ 90 ha (đạt 113% kế hoạch năm); năng suất bình quân 20,76 tấn/ha; sản lượng 1.361,54 tấn, bằng 108% kế hoạch năm Tổng đàn gia súc gồm 4.805 con heo và 374 con bò sữa

Thực hiện thu ngân sách nhà nước đạt 827,8 tỷ đồng Chi ngân sách quận 670,9

tỷ đồng; trong đó, đảm bảo các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phân cấp Công tác đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục được triển khai và đạt nhiều thành quả quan trọng, khối lượng ước thực hiện 256,4 tỷ đồng, đạt 122% kế hoạch năm, trong đó: vốn ngân sách tập trung Thành phố ước khối lượng thực hiện là 207,4 tỷ đồng, hoàn thành công trình bệnh viện Quận (giai đoạn 2); tiếp tục thực hiện các

Trang 34

tiểu học Linh Đông,…; khởi công công trình xây dựng kè chống sạt lở Sông Sài Gòn đoạn qua khu phố 8, phường Linh Đông, nâng cấp cải tạo đường Trường Thọ, xây dựng cải tạo trụ sở Ban chỉ huy Quân sự Quận,…

Văn hóa – xã hội

Tốc độ tăng dân số tự nhiên < 1% Về công tác xóa đói giảm nghèo, 1600 hộ vượt mức chuẩn nghèo trên 16 triệu đồng/ người/ năm, đạt 135,6% kế hoạch năm,

hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 2,75% xuống còn 1.55% Trong đó, 804 hộ vượt chuẩn cận nghèo (trên 21 triệu đồng/ người/ năm), đạt tỷ lệ 107,2% kế hoạch năm (750 hộ), giảm tỷ lệ hộ cận nghèo từ 1,34% xuống còn 0,74%

Toàn quận có 37 tuyến phố đạt chuẩn khu phố văn hóa, 02 phường đạt chuẩn phường văn minh đô thị Tỷ lệ huy động số người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 25,5% dân số quận Đảm bảo công tác khám, chữa bệnh ít nhất 500 giường lưu và 186.829 lượt người khám chữa bệnh

Duy trì công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, trong 09 tháng đầu năm đã

ra mắt ban chủ nhiệm mô hình văn hóa của 15 nhà trọ văn hóa 3 điểm sáng văn hóa (hiện nay có 07 phường đã hoàn thành chỉ tiêu) Tổ chức hội nghị tổng kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng văn hóa” Công tác quản lý nhà nước về văn hóa xã hội tiếp tục được triển khai và đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận

Ngày đăng: 14/10/2017, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Dân số bước vào độ tuổi LĐ tại 12 phường trong quận Thủ - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay
Bảng 2.1 Dân số bước vào độ tuổi LĐ tại 12 phường trong quận Thủ (Trang 35)
Bảng 2.2: Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế tại quận Thủ Đức giai - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay
Bảng 2.2 Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế tại quận Thủ Đức giai (Trang 37)
Bảng 2.3: Dân số từ 5 tuổi trở lên phân theo tình trạng biết đọc, biết viết, giới tính, - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay
Bảng 2.3 Dân số từ 5 tuổi trở lên phân theo tình trạng biết đọc, biết viết, giới tính, (Trang 40)
Bảng 2.4: Cơ cấu trình độ học vấn của nguồn nhân lực quận Thủ Đức - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay
Bảng 2.4 Cơ cấu trình độ học vấn của nguồn nhân lực quận Thủ Đức (Trang 41)
Bảng 2.5: Danh sách các trường ĐH, chuyên ngành đào tạo trên địa bàn - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay
Bảng 2.5 Danh sách các trường ĐH, chuyên ngành đào tạo trên địa bàn (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w