1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020

86 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt 19 1.4 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số địa phương trong nước22 1.4.1 Kinh nghiệm quản lý

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Lê Thị Kim Thúy

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo sau Đại học, xin cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt để tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Lê Thị Kim Thúy

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài 3

5 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn 5

1.2 Chất thải rắn sinh hoạt 6

1.2.1 Khái niệm, phân loại chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt 6

1.2.1.1 Khái niệm chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt 6

1.2.2 Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 9

1.2.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người 10

1.3 Quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt 12

1.3.1 Định nghĩa quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt 12

1.3.2 Nội dung và cơ sở pháp lý công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt 13

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt 19 1.4 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số địa phương trong nước22 1.4.1 Kinh nghiệm quản lý CTR sinh hoạt tại thủ đô Hà Nội 22

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn tại thị trấn Đông Hưng tỉnh Thái Bình 23

Trang 4

1.4.3 Tình trạng chung về QLCTR tại Việt Nam 24

1.4.4 Những kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI QUẬN GÒ VẤP ĐẾN NĂM 2015 28

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Gò Vấp ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt 28

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30

2.2 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp giai đoạn 2010 – 2015 34

2.2.1 Đặc điểm khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 34

2.2.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 36

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên tại quận Gò Vấp giai đoạn 2010 – 2015 39

2.3.1 Hệ thống quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp 39

2.3.2 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 43

2.3.3 Công tác đào tạo tập huấn, kiểm tra - giải quyết khiếu nại 53

2.4 Đánh giá chung công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn tại quận Gò Vấp giai đoạn 2010 – 2015 58

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI QUẬN GÒ VẤP GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 61

3.1 Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắnđến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 61

3.2 Phương hướng chỉ tiêu, nhiệm vụ về bảo vệ môi trường đến năm 2020 của quận Gò Vấp 63

3.2.1 Phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ bảo vệ môi trường 63

3.2.2 Dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp đến năm 2020 65

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà về chất thải rắn sinh hoạt 67

Trang 5

3.3.1 Giải pháp về công tác ban hành các chính sách, văn bản pháp luật, tuyên

truyền, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn 67

3.3.2 Giải pháp về Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn 69

3.3.3 Giải pháp về Quản lý quá trình đầu tƣ cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn 69

3.3.4 Giải pháp về Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt 70

3.3.5 Giải pháp về nguồn nhân lực tham gia quản lý chất thải rắn sinh hoạt 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

Kết luận 73

Kiến nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Trang 7

30

Bảng 2.2

Số lượng cơ sở kinh doanh và lao động thương mại, dịch

vụ khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn quận Gò Vấp giai đoạn 2010 – 2014

32

Bảng 2.3

Số trường học, số giáo viên và số học sinh trên địa bàn

Bảng 2.4

Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế trên địa bàn

Bảng 2.5

Khối lượng Rác thải sinh hoạt phát sinh và tỷ lệ thu gom trên toàn địa bàn quận từ năm 2011 đến 2015 34 Bảng 2.6 Nguồn thải và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 36

Bảng 2.7

Danh sách số lượng chủ nguồn thải theo phân nhóm trên

Bảng 2.8 So sánh số lượng chủ nguồn thải năm 2013 với 2014 38

Bảng 2.9

Khối lượng rác do Công ty DVCI quận Gò Vấp vận

Trang 8

Sơ đồ tóm tắt quy trình thu gom, vận chuyển CTR sinh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mạnh

mẽ Cùng với sự gia tăng số lượng và quy mô các ngành nghề sản xuất, sự hình thành các khu dân cư tập trung, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu và năng lượng ngày càng tăng Những sự gia tăng đó đã tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ này là lượng phát thải lớn vào môi trường, đặc biệt là chất thải rắn như chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải nguy hại,

Kinh tế xã hội càng phát triển, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn càng gia tăng Tỷ trọng phát sinh chất thải rắn chủ yếu là CTR đô thị, CTR nông thôn, CTR công nghiệp, Từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh trung bình tăng từ 150 – 200%, CTR sinh hoạt đô thị tăng trên 200%, CTR công nghiệp tăng 181%, Ước tính đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm Lượng phát sinh chất thải rắn tại các khu đô thị tăng theo cấp số nhân, tỷ lệ thu gom

và xử lý chưa đáp ứng nhu cầu Năm 2008, tổng lượng CTR đô thị là 12,8 triệu tấn tăng gấp đôi so với năm 2003 là 6,4 triệu tấn, dự báo đến năm 2015 lượng CTR đô thị tăng lên đến 22,4 triệu tấn

Trong chỉ thị 36 – CT/ TW ngày 26/ 8/ 1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về tăng cường công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ CNH - HĐH, Đảng

ta đã nhận định: “Nhìn chung môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và bị suy thoái, có nơi nghiêm trọng…” Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan làm cho môi trường bị suy thoái nhưng nguyên nhân chính là do chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác BVMT, chưa biến nhận thức trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng người cho việc BVMT và nguồn ngân sách đầu tư cho BVMT còn hạn chế…

Trang 10

Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của công tác BVMT đối với sự phát triền bền vững của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều biện pháp thiết thực nhằm khôi phục và cải thiện tình trạng môi trường hiện nay Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là tăng nguồn ngân sách đầu tư cho công tác BVMT Tuy nhiên, môi trường là lĩnh vực rộng lớn, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đối với tất cả mọi người Nếu chỉ dựa vào sự nỗ lực của riêng Nhà nước thì không thể đem lại hiệu quả lâu bền được mà đòi hỏi sự hợp tác của cả cộng đồng Nói cách khác phải coi BVMT là quyền lợi và trách nhiệm của cả cộng đồng, mỗi tổ chức, mỗi cá nhânđều phải tự ý thức được trách nhiệm của mình trong công tác BVMT chung Đối với các đô thị và vùng ven đô thì vấn đề được đặt lên hàng đầu trong công tác BVMT đó chính là việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải

Quận Gò Vấp thuộc phía Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, hướng Đông giáp Quận 12 và quận Bình Thạnh, hướng Tây giáp Quận 12, hướng Nam giáp các quận Tân Bình – Phú Nhuận – Bình Thạnh, hướng Bắc giáp Quận 12 Quận Gò Vấp có

16 đơn vị hành chính cấp phường với 186 khu phố, 1.434 tổ dân phố, dân số

612.380 người và 107.753 nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân (theo số liệu thống kê tính đến ngày 01/01/2014) Mặc dù công tác vệ sinh môi trường trên địa

bàn quận vẫn được đảm bảo, nhưng sự tồn tại không hiệu quả của Hợp tác xã Quyết Thắng là nguyên nhân gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước cũng như công tác triển khai, tổ chức thực hiện Quyết định số 88/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên tôi chọn thực hiện đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp năm 2016-2020” làm đề tài thạc sỹ quản lý kinh tế Đề tài nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010 – 2015 từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Các hoạt động về quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh

Hệ thống các quy trình, quy phạm; các hoạt động thu gom, vận chuyển rác trên địa bàn quận Gò Vấp

Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian: Luận văn thu thập và phân tích dữ liệu quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh trong 05 năm gần đây từ

2010 - 2015

- Không gian: quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh

- Nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp Qua đó đánh giá thực trạng công tác này và đề xuất những giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận giai đoạn 2016 - 2020

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp phân tích – thống kê, so sánh – tổng hợp, suy luận Loogic – Lịch sử,… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Luận văn giúp hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt Ứng dụng mô hình

Trang 12

lý thuyết vào đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp giai đoạn 2010 – 2015, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được chia ra làm ba chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận quản lý nhà

nước về chất thải rắn sinh hoạt

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận

Gò Vấp giai đoạn 2010 - 2015

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chất

thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp giai đoạn 2016 - 2020

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn

Trải quan hơn 20 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả quan trọng, đời sống người dân ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, việc nền kinh

tế phát triển quá nhanh và nóng đã gây ra nhiều vấn đề về môi trường Trong đó chất thải rắn đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt là một trong những vấn đề nan giải, đang được Nhà nước, các tổ chức và toàn xã hội quan tâm Trong thời gian qua đã

có rất nhiều các nhà nghiên cứu, nhà khoa học thực hiện các nghiên cứu, điều tra, khảo sát liên quan đến chủ đề này Tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu ở Viện Môi trường và Tài nguyên Trong đó, có các đề tài nghiên cứu về hiện trạng, quy hoạch và công nghệ xử lý chất thải rắn như:

Tác giả Nguyễn Thanh Phong với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả thi xe lý chất thải rắn khu liên hợp Nam Bình dương phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh” đã đưa ra các công nghệ xử lý CTR gồm các công nghệ tái chế, chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý chất thải công nghiệp, nước rỉ rác cho khu liên hợp Đồng thời xây dựng chương trình quản lý và giám sát chất lượng môi trường cho khu liên hợp Nam Bình Dương

Các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu cũng tiến hành các nghiên cứu tương tự nhằm giảm thiểu và xử lý triệt để chất thải rắn Tác giả Phạm Thị Lâm Tuyền (2005) đã bảo vệ đề tài “Nghiên cứu quy hoạch hệ thống chất thải rắn tại huyện Di Linh – tỉnh Lâm Đồng” Đề tài đã phân tích và giúp chúng ta thấy rõ các tác động của các hoạt động có liên quan đến chất thả rắn “Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý và xử lý chất thải rắn ở Thị

xã Gò Công” của tác giả Lê nguyên Kim Ngân (2008) đã đánh giá và đề xuất được biện pháp thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn cho thị xã Gò Công

Trương Văn Hiếu (2008) “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất quản lý CTR sinh hoạt cho thành phố Tam Kỳ - Quảng Ngãi” Luận văn đã khảo sát và đánh giá hiện trạng thu gom CRT và nhận thức của người dân về CTRSH Từ những vấn

Trang 14

đề hiện trạng thu gom CTR tác giả đã đề xuất giải pháp quản lý CRTSH tại thành phố Tam Kỳ

Những đề tài nghiên cứu về chất thải rắn trong thời gian qua đã góp phần hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, giải quyết được một số vấn đề đang đặt ra Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa có nhiều giải pháp cụ thể, đồng bộ nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu tái chế, phát triển môi trường bền vững Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu đầy

đủ về quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp năm 2016-2020” Luận văn nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận bao gồm công tác ban hành chính sách, quy chuẩn tiêu chuẩn về CTR sinh hoạt; quản lý việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch quản

lý CTR sinh hoạt; quản lý công tác thu gom, vận chuyển, và xử lý CTR sinh hoạt; Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm Qua đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp giúp hoàn thiện công tác này trong thời gian tới

1.2 Chất thải rắn sinh hoạt

1.2.1 Khái niệm, phân loại chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt

1.2.1.1 Khái niệm chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt

Khái niệm chất thải rắn

Theo quan niệm chung: Chất thải rắn (Solid Waste – CTR) là toàn bộ các loại

vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao

gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v…) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản

xuất và hoạt động sống [24]

Theo quan điểm mới: CTR là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác CTR bao gồm CTR thông thường và chất thải rắn nguy hại (CTRNH) CTR phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải sinh hoạt CTR phát

Trang 15

sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp (CTRCN)

Theo nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất thải và phế liệu thì: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.” [16]

CTRNH là CTR chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính

nguy hại khác

CTR được thải ra từ mọi hoạt động của đời sống xã hội Trong số đó thì nhà dân, khu dân cư; bệnh viện, cơ sở y tế và các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp dịch vụ thương mại (chợ) là những nơi có lượng thải lớn hơn cả

Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt

“Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.” [16]

CTR sinh hoạt là chất thải rắn được thải (sinh) ra từ sinh hoạt cá nhân, các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư, ), khu thương mại và dịch vụ (cửa hàng, chợ, siêu thị, quán ăn, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ, ), khu cơ quan (trường học, viện và trung tâm nghiên cứu, các cơ quan hành chánh nhà nước, văn phòng công ty, ), từ các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn và vệ sinh đường phố, công viên, khu giải trí, tỉa cây xanh, ), từ sinh hoạt (ăn uống, vệ sinh, .) của các khoa, bệnh viện không lây nhiễm, từ sinh hoạt của cán bộ, công nhân trong các cơ sở công nghiệp (khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ)

Là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại CTR sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả,…

Trang 16

1.2.1.2 Phân loại chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt

Việc phân loại CTR, CTR sinh hoạt giúp xác định các loại khác nhau của CTR được sinh ra Khi thực hiện phân loại CTR sẽ giúp chúng ta gia tăng khả năng tái chế và tái sử dụng các vật liệu trong chất thải, đem lại hiệu quả kinh tế và BVMT Các loại CTR

được thải ra từ các hoạt động khác nhau nên được phân loại theo nhiều cách khác nhau

- Phân loại theo công nghệ xử lý – quản lý

Theo cách phân loại này, CTR được chi ra các thành phần như sau: các chất cháy

được, các chất không cháy được, các chất hỗn hợp Các chất cháy được: như giấy, hàng

dệt, rác thải, cỏ, gỗ, củi rơm, chất dỏe, da và cao su; Các chất không cháy được: Kim

loại sắt, Kim loại không phải sắt, Thủy tinh; Các chất hỗn hợp:

- Phân loại theo vị trí hình thành

CTR có thể được phân loại theo vị trí hình thành như trong nhà, ngoài nhà, trên

đường phố, chợ,…

- Phân loại theo bản chất nguồn tạo thành

CTRSH: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre,

gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả,…

CTRCN: là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp

Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch, ngói, bê tông vỡ do các hoạt

động phá dỡ, xây dựng công trình,… chất thải xây dựng gồm:

Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ

chế biến sữa, của các lò giết mổ,…

- Phân loại theo mức độ nguy hại

Theo mức độ nguy hại CTR được phân loại thành:

Trang 17

CTRNH: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan,… có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe con người, động vật và cây cỏ Nguồn phát sinh CTNH chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiêp Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe cộng đồng Các chất nguy hại do các cơ sở công nghiệp hóa chất thải ra có tính độc hại cao, tác động xấu đến sức khỏe, do đó việc xử lý chúng phải có những giải pháp kỹ thuật để hạn chế tác động độc hại đó Các CTNH từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu là phân hóa

học, các loại thuốc bảo vệ thực vật

Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hiểm trực tiếp hoặc tương tác thành phần

1.2.2 Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt

Mọi hoạt động của các tỉnh và thành phố đều phát sinh chất thải rắn sinh hoạt:

hộ gia đình, trường học, các cơ quan công sở, nhà hàng, khách sạn, bệnh viện, cơ sở sản xuất, chợ, trung tâm thương mại, công trình xây dựng, đường phố, khu vui chơi công viên,… Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn trên địa bàn tỉnh, thành phố rất đa dạng

Nguồn phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR là cơ sở quan trọng để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình QLCTR Các nguồn phát

sinh CTR bao gồm:

- Từ các khu dân cư;

- Từ các trung tâm thương mại;

- Từ các đơn vị, cơ quan, trường học, các công trình công cộng, công trình xây

dựng

- Từ các dịch vụ đô thị, bến xe, nhà ga

- Từ các khu công nghiệp, cụm, điểm công nghiệp

- Từ các bệnh viện

Trang 18

CTR trong khu vực đô thị được phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt tại khu vực nhà dân, Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) chiếm chủ yếu, khu vực công

cộng, trung tâm thương mại, xây dựng có số lượng CTRCN lớn

Hình 1.1 Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt

(Nguồn: tác giả tổng hợp trong nghiên cứu năm 2015)

1.2.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người

CTR sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường nước: Các CTR sinh hoạt nếu là chất hữu cơ, trong môi trường nước sẽ bị phân hủy một cách nhanh chóng Phân nổi lên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hóa chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước Phần chìm trong nước

sẽ có quá trình phân giải yếm khí để tạo rác các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH4, H2S, H2O, CO2 Tất các các chất trung gian này đều gây mùi thối và là độc chất Bên cạnh đó còn bao nhiêu vi trùng và siêu vi

dân cư

Trang 19

Nếu rác thải là những chất kim loại thì nó gây lên hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước Sau đó quá trình oxy hóa có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường nước, nguồn nước Những chất thải độc như Hg, Pb hoặc các chất phóng xạ còn nguy hiểm hơn

Chất thải làm ô nhiễm môi trường đất: Các chất hữu cơ còn được phân hủy trong môi trường đất trong hai điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất H2O, CO2 Nếu là yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4,

H2O, CO2 gây độc cho môi trường Với một lượng vừa phải thì khả năng làm sạch của môi trường đất khiến rác khong trở thành ô nhiễm Nhưng với một lượng rác quá lớn thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm làm ô nhiễm nước ngầm Khi nước ngầm đã bị ô nhiễm thì không còn cách gì khắc phục được

CTR sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường không khí: Các CTR sinh hoạt thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa, phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp Cũng có loại rác, trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35oC và độ ẩm 70-80%) sẽ có quá trình biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật Kết quả là môi trường không khí bị ô nhiễm

Nước rỉ rác và tác hại: Ở những bãi rác hoặc những đống rác lớn mà trong rác

có một lượng nước nhất định hoặc mưa xuống làm nước ngấm vào rác thì tạo ra một loại nước rò rỉ Trong nước rò rỉ chứa những chất hòa tan, những chất lơ lửng, chất hữu cơ và nấm bệnh Khi nước này ngấm vào đất làm ô nhiễm môi trường đất một cách trầm trọng Mặt khác, nó cũng làm ô nhiễm môi trường nước thổ nhưỡng và nước ngầm

Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu khẳng định CTR đặc biệt là CTR sinh hoạt có ảnh hưởng đến sức khỏe con người Tuy nhiên, CTR sinh hoạt nếu không được xử lý triệt để sẽ làm ô nhiễm môi trường đặc biệt là nước ngầm, nước mặt,

Trang 20

không khí,… Một số hóa chất độc hại trong nước ngầm như Asen, Magie,… có thể gây ung thư và các bệnh khác cho con người

1.3 Quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt

1.3.1 Định nghĩa quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt

Quản lý ở góc độ chung nhất là sự tác động của chủ thể đối với khách thể nhằm duy trì tình trạng hiện có của đối tượng hoặc biến đổi đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu do các chủ thể xác định Nhà nước thực hiện quyền lực chính trị của minh thông qua việc quản lý xã hội Quản lý nhà nước đối với xã hội là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành

vi hoạt động của công dân và mọi tổ chức trong xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, cũng cố và phát triển quyền lực nhà nước Ở đây chủ thể quản lý là nhà nước; đối tượng quản lý là các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân

và tổ chức xã hội; phương thức quản lý là bằng quyền lực nhà nước và có tổ chức cao; mục tiêu quản lý là duy ttrì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức, “tổ chức”được hiểu như là một khoa học về sự thiết lập những mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể, để thực hiện quá trình quản lý xã hội Tổ chức là một chức năng quan trọng trong quản lý nhà nước, không có tổ chức thì không thể quản lý Vấn đề đặt ra là nhà nước phải tổ chức như thế nào để mọi công dân đều có thể đóng góp tích cực và chủ động khả năng của mình cho đất nước

Quản lý nhà nước là sự tác động có điều chỉnh, điều chỉnh là sự quy định của Nhà nước thể hiện bằng pháp luật và các quyết định về nguyên tắc, tiêu chuẩn, biện pháp… nhằm tạo ra sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt động của các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người

Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước, tức là bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương và tính tổ chức rất cao Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật

Trang 21

Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người

1.3.2 Nội dung và cơ sở pháp lý công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt

Theo nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất thải và phế liệu điều 5 quy định nội dung quản lý nhà nước về chất thải rắn bao gồm:

1.3.2.1 Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động quản lý chất thải rắn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn và hướng dẫn thực hiện các văn bản này

Công tác quản lí CTR được thực hiện dựa trên các văn bản sau:

 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014

 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu ngày 24/04/2015

 Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với CTR

Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ

sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lí

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 của Chính phủ quy định

về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác đông môi trường, cam kết bào vệ môi trường

 Thông tư 01/2012/TT-BTNMT ngày 16/03/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực

Trang 22

hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng kí đề án bảo vệ môi trường đơn giản

 Thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường quy định về Quản lí chất thải nguy hại

 Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/07/2011 của Bộ TN & MT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác đông môi trường, cam kết bào vệ môi trường

 Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài Nguyên

và Môi Trường về việc ban hành Danh muc chất thải nguy hại

 Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế

 Quyết định số 88/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về thu phí vệ sinh và phí BVMTđối với CTR thông thường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

 Công văn số 7345/LCQ-TNMT-TC-CT liên cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường - Sở Tài chính - Cục Thuế TP về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định

số 88/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về thu phí

vệ sinh và phí BVMTđối với CTR thông thường

1.3.2.2 Ban hành quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý chất thải rắn

- Quy chuẩn số QCVN 05: 2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh của Bộ Tài nguyên & Môi trường năm 2013

- Quy chuẩn số QCVN 06:2009/BTNMT của Bộ Tài nguyên & Môi trường năm 2009 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh

- Quy chuẩn số QCVN 26:2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên & Môi trường năm 2010 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn

Trang 23

- Quy chuẩn số QCVN 08:2008/BTNMT của Bộ Tài nguyên & Môi trường năm 2008 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt

- Quy chuẩn số QCVN 09:2008/BTNMT của Bộ Tài nguyên & Môi trường Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm

- Tiêu chuẩn 3733/2002/QĐ- BYT của Bộ y tế năm 2002 quy định Tiêu chuẩn

vệ sinh an toàn lao động

1.3.2.3 Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn

Trong những năm qua, với mức độ khác nhau, các đô thị, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã có đầu tư cho công tác quản lý CTR Một số đô thị đã có những dự án lớn sử dụng nguồn vốn ODA, nguồn vốn ngân sách để thực hiện các

dự án phân loại rác tại nguồn, thu gom và xử lý CTR

Nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTR và các công trình phụ trợ được hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, vốn tài trợ của nước ngoài, vốn vay dài hạn và các nguồn vốn hơp pháp khác

Nhà nước cũng ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTR, các công trình phụ trợ thông qua chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư như: miễn tiền sử dụng đất, hỗ trợ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, được hưởng chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho các dự án đầu tư cơ sở xử lý CTR, hỗ trợ nghiên cứu và phát triể công nghệ tái chế, tái sử dụng và xử lý CTR trên cơ sở nguồn lực trong nước,…

Ngoài ra, nguồn huy động vốn từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam cũng được kể đến như một nguồn đầu tư quan trọng hỗ trợ cho các dự án về xử lý chất thải Tính đến tháng 11/2011, Quỹ BVMT Việt Nam đã cho tổng số 136 dự án về môi trường vay vốn ưu đãi Trong đó có 15 dự án liên quan đến lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp của KCN, các cơ sở sản xuất ngoài KCN, xử lý chất thải sinh hoạt

và sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường với tổng vốn cho vay lên tới gần

240 tỷ đồng Ngoài ra, Quỹ còn tiến hành cho vay đối với 9 dự án về xã hội hóa thu

Trang 24

gom rác thải với số vốn vay khoảng gần 21 tỷ đồng Có thể thấy rằng, Quỹ BVMT Việt Nam đã hỗ trợ khá hiệu quả, góp phần tăng cường cho công tác quản lý CTR Tuy nhiên, nguồn vốn từ Quỹ BVMT hiện nay còn gặp một số khó khăn trong việc huy động các nguồn vốn bổ sung hàng năm Mặc dù, theo quy định về việc bổ sung vốn cho vay hàng năm từ các nguồn như: phí BVMT đối với nước thải, CTR, khai thác khoáng sản; các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường, tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT tuy nhiên, trong thực tế nhiều năm qua, hoàn toàn không có kinh phí bổ sung từ các nguồn trên Một trong những khó khăn nữa đối với việc hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn vay từ Quỹ BVMT đó

là điều kiện đảm bảo vốn vay Nguyên nhân chính là do phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xử lý chất thải thường có mức lãi thấp, năng lực tài chính không cao hoặc là doanh nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập nên thường khó đáp ứng được yêu cầu thiết yếu đặt ra ở trên

Mặc dù nguồn tài chính đầu tư cho quản lý CTR khá đa dạng, tuy nhiên vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng và chưa cân đối giữa các lĩnh vực Cơ cấu phân bổ ngân sách đang dành hơn 90% cho hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải Do vậy, chi phí dành cho xử lý, tiêu huỷ chất thải hiện nay là rất thấp Mặc dù được xem là một trong những biện pháp giảm thiểu chôn lấp CTR, nhưng hầu hết các nhà máy ủ rác (một loại hình hoạt động phổ biến ở Việt Nam) đang gặp khó khăn trong hoạt động Theo báo cáo, trợ cấp từ chính quyền địa phương để vận hành các nhà máy ủ rác thấp hơn khoản trợ cấp dành cho chôn lấp Nhằm đáp ứng yêu cầu của Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR, để giảm thiểu lượng chất thải chôn lấp, các biện pháp tài chính hỗ trợ việc vận hành nhà máy ủ rác là rất cần thiết

1.3.2.4 Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử

lý chất thải rắn

Thu gom chất thải rắn là dồn chất thải rắn từ các nguồn phát sinh khác nhau

để đổ vào thùng trước khi đưa lên xe chuyển đến các nơi xử lý chất thải rắn Công đoạn chuyển đến chất thải rắn đi đổ ở các bãi của những xe thu gom cũng được xem

là một phần của quá trình thu gom chất thải rắn

Trang 25

Chi phí thu gom chất thải rắn được tính như sau = Chi phí mua sắm phương tiện + chi phí xăng dầu + chi phí bảo trì phương tiện + chi phí nhân công

Việc tổ chức quản lý thu gom, tiêu huỷ chất thải rắn ở nước ta thường phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

- Hình thức và tổ chức thu gom chất thải rắn

- Chất lượng hạ tầng cơ sở

- Xử lý các loại chất thải nguy hại (y tế, công nghiệp)

- Chủng loại xe thô sơ và xe ô tô vận chuyển chất thải rắn

- Kích thước của xe vận chuyển chất thải rắn

- Số lượng công nhân trong một tổ công tác, chính sách lao động tiền lương,

an toàn cho công nhân…

Hiện nay ở nước ta hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống thu gom hoàn thiện, vì vậy hiệu quả thu gom thấp Ở các đô thị lớn, chất thải ở đường phố được công ty môi trường đô thị, dịch vụ công cộng hay công ty vệ sinh thu gom vận chuyển tới các bãi đổ chất thải rắn hoặc các xí nghiệp chế biến chất thải rắn

Biện pháp xử lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam hiện nay chủ yếu chôn lấp Hiện tại một số bãi chôn lấp rác được xây dựng theo tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh

Phần lớn những bãi rác cũ trước đây là những bãi rác lộ thiên, không có những biện pháp xử lý môi trường Mặt khác do quá trình đô thị hoá, một số bãi rác hiện nay nằm gần khu dân cư do vậy không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

Việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển CTR sinh hoạt do các công ty dịch vụ, hợp tác xã dịch vụ và hộ gia đình (sau đây gọi tắt là chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn) thông qua hợp đồng thực hiện dịch vụ Chất thải rắn thông thường tại các đô thị phải được thu gom theo tuyến và theo các phương thức phù hợp với quy hoạch quản

lý chất thải rắn đã được phê duyệt Trên các trục phố chính, các khu thương mại, các công viên, quảng trường, các điểm tập trung dân cư, các đầu mối giao thông và các khu vực công cộng khác phải bố trí các phương tiện lưu giữ chất thải rắn Dung tích

Trang 26

các thùng lưu giữ chất thải bên trong công trình phải được bảo đảm kích cỡ phù hợp với thời gian lưu giữ Các thùng lưu giữ tại các khu vực công cộng phải phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo đảm tính mỹ quan Thời gian lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt không được quá 2 ngày Các phương tiện vận chuyển chất thải rắn phải là phương tiện chuyên dụng, bảo đảm các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn,

đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng cấp phép lưu hành Trong quá trình vận chuyển chất thải rắn, không được làm rò rỉ, rơi vãi chất thải, gây phát tán bụi, mùi

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm tổ chức hoạt động quản

lý chất thải rắn trên địa bàn địa phương; công bố, công khai quy hoạch quản lý chất thải rắn; tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển chất thải rắn Ủy ban nhân dân cấp phường, xã, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư có trách nhiệm giám sát quá trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn của mình Trong trường hợp phát hiện những vi phạm pháp luật

về quản lý chất thải rắn, cần thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của địa phương

để xử lý theo quy định của pháp luật

Nội dung giám sát chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn gồm:

 Quy trình thu gom, vận chuyển đã được thông báo: cung cấp túi đựng chất thải; thời gian, địa điểm và tuyến thu gom; địa điểm vận chuyển đến;

 Các yêu cầu bảo đảm vệ sinh môi trường trong quá trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn;

 Yêu cầu về phương tiện, trang bị bảo hộ cho người lao động;

 Thu phí vệ sinh theo quy định

1.3.2.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn

Hằng năm theo chức năng nhiệm vụ, từ cấp trung ương đến địa phương, tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra tình hình tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và công tác quản lý CTR nói riêng Tuy nhiên do lực lượng cán bộ thanh tra, giám sát môi trường từ cấp Bộ đến các địa phương còn rất mỏng, không đủ người,

Trang 27

không đủ thiết bị cần thiết nên công tác này gặp không ít khó khăn khi giải quyết các vấn đề thực tế Đây cũng là một thách thức đối với công tác quản lý CTR

Công tác thanh tra, giám sát tập trung vào các vấn đề môi trường bức xúc, xử

lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, công tác BVMT của các doanh nghiệp trong các khu kinh tế, KCN và làng nghề, vấn đề nhập khẩu phế liệu trái phép với quy định theo quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT

Ở cấp địa phương, công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm cũng được củng cố và tăng cường qua các năm Việc xử lý những vi phạm hành chính đối với những vi phạm quy định trong quản lý CTR ở nhiều địa phương cũng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về công tác quản lý CTR ở nhiều cơ sở sản xuất, đặc biệt là đối với chất thải rắn nguy hại

Việc thanh tra, kiểm tra quản lý CTR trên địa bàn tỉnh, thành phố thường được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND, ban quản lý các khu công nghiệp,…Trong những năm qua công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các đơn vị vi phạm về quản lý CTR còn hạn chế Do chế tài xử phạm chưa nghiêm khiến nhiều doanh nghiệp biết sai nhưng vấn cố ý làm, công tác xử lý còn nhiều bất cập

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt

Đánh giá công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

quận sẽ dựa trên các nội dung quản lý chất thải rắn sinh hoạt được nêu tại mục 1.3.2

ở trên, bao gồm: ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động quản lý chất thải rắn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn và hướng dẫn thực hiện các văn bản này; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn; Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn bao gồm:

Số lượng, chất lượng, mức độ kịp thời của các văn bản đã ban hành

- Số lượng các văn bản liên quan đến công tác quản lý CTR do quận ban hành;

Trang 28

- Chất lượng của các băn bản liên quan đến công tác quản lý CTR do quận ban hành;

- Tính kịp thời của các văn bản liên quan đến công tác quản lý CTR do quận ban hành

Số lượng, chất lượng các lớp tập huấn, hướng dẫn thực hiện các văn bản đã ban hành; các lớp, các đợt tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn

- Số lớp tập huấn, hướng dẫn thực hiện các văn bản đã ban hành;

- Số lớp, đặt tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý CTR được thực hiện qua các năm;

- Nội dung các lớp tập huấn, phổ biến tuyên truyền, giáo dục pháp luật;

- Đối tượng, số người tham dự, kinh phí đối với từng lớp tập huấn, các đợt tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý CTR

Các chỉ tiêu đánh giá trên được tiến hành phân tích thông qua việc so sánh giữa các năm và giữa kế hoạch với thực hiện để thấy được xu thế, chiều hướng phát triển, kết quả triển khai thực tế

Số quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý chất thải rắn đã ban hành, sửa đổi

- Số lượng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về quản lý CTR được ban hành qua các năm

- Mức độ kịp thời, chất lượng của các quy chuẩn, tiêu chuẩn này

Chất lượng công tác việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn

- Số lượng, chất lượng các dự án được lập, thẩm định và phê duyệt qua các năm

- Công tác quy hoạch và ban hành quy hoạch về quản lý CTR

- Số lần sửa chữa điều chỉnh trước phê duyệt và số lần sửa chữa điều chỉnh sau phê duyệt, trong thi công

Trang 29

Chất lượng công tác Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn Đó là số lượng, là tiến độ, chất lượng, thời gian đầu tư các công trình:

- Các công trình thu gom, tập kết

- Phương tiện vận chuyển rác

- Công trình xử lý rác

Chất lượng công tác thu gom, tập kết, vận chuyển, xử lý chất thải rắn

- Tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn quận Gò Vấp

- Tổng lượng rác được thu gom, vận chuyển, tỷ lệ thu gom

- Số lượng người lao động tham gia công tác thu gom, vận chuyển

- Số lượng các trang thiết bị phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển

- Sự hài lòng của người dân về kết quả thu gom, vận chuyển rác thải

Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh về điều kiện kinh tế xã hội, CTR sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu

- Tổng diện tích đất đai, tổng số dân và mật độ dân số trên địa bàn nghiên

cứu

- Số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nghiên cứu

- Số trường học (trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ), số

bệnh viện, phòng khám đa khoa, số khu công nghiệp

- Khối lượng và thành phần CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn nghiên cứu

- Chi phí hiện tại cho hệ thống quản lý thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt

- Doanh thu từ việc thu phí và sự hỗ trợ của chính phủ

Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh công nghệ và kết quả xử lý CTR sinh hoạt

- Công nghệ xử lý CTR sinh hoạt hiện đang sử dụng trên địa bàn nghiên cứu

- Tổng lượng CTR sinh hoạt đã được xử lý với công nghệ phù hợp, tỷ lệ % so

với lượng CTR phát sinh

- Số lượng người lao động tham gia công tác xử lý CTR sinh hoạt

- Tình hình xây dựng, trang thiết bị, điều kiện hoạt động tại các khu vực xử lý

CTR sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu

Trang 30

- Đánh giá chất lượng các khu vực xử lý CTR trên địa bàn nghiên cứu,

1.4 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số địa phương trong nước

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý CTR sinh hoạt tại thủ đô Hà Nội

Sự tăng trưởng vượt bậc về kinh tế của thủ đô trong tương lai được dự báo là

sẽ kéo theo nhiều hệ lụy từ phát sinh CTR sinh hoạt gây ảnh hưởng đến môi trường Chính vì vậy Hà Nội đã có những giải pháp hết sức quyết liệt nhằm tháo gỡ vấn đề này Hà Nội đã xây dựng đề án thu gom và xử lý chất thải theo khu vực Đây được xem là lời giải cho bài toán chất thải của thủ đô trong thời gian không xa

Theo số liệu từ Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội cho thấy hiện mỗi ngày Hà Nội phát sinh 5.370 tấn CTR sinh hoạt, trong đó ở khu vực các quận, thị xã là 3.200 tấn, còn lại là trên địa bàn các huyện, với trên 2.000 tấn mỗi ngày Tuy nhiên, năng lực thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt đến các khu xử lý tập trung chỉ là 3.875 tấn, đạt tỷ lệ 72% Hà Nội hiện có 7 khu xử lý CTR sinh hoạt, trong đó có 4 bãi chôn lấp

là Nam Sơn, Kiêu Kỵ, Xuân Sơn, Núi Thoong và có 3 nhà máy xử lý CTR sinh hoạt

ở Kiêu Kỵ, Cầu Diễn, Sơn Tây Trong số 3.875 tấn CTR được xử lý mỗi ngày thì khối lượng rác được giải quyết bằng phương pháp chôn lấp là 3.670 tấn/ngày (xấp

Trang 31

gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm khu vực Hà Nội Điều này đang là bài toán nan giải mà Thủ đô Hà Nội gặp phải

Để giải quyết những khó khăn trên, mới đây, Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội vừa lập và trình thẩm định Đồ án Quy hoạch xử lý CTR Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 Đây là Đồ án cuối cùng trong số các đồ án quy hoạch chuyên ngành của Hà Nội sau khi Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô

Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Đồ án đưa ra những dự báo có tính toán về khả năng phát sinh của 6 loại CTR trên địa bàn Thủ đô từ nay đến năm 2050 cũng như quy hoạch mạng lưới những điểm trung chuyển CTR và các giải pháp công nghệ xử lý CTR

Mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu 99% lượng CTR trên địa bàn Thủ đô sẽ được thu gom và xử lý hợp lý Đến năm 2050, tỷ lệ này đạt mức 100% Việc tổ chức thu thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trên địa bàn Hà Nội sẽ theo 3 vùng: Vùng I

là khu vực nội đô, khu vực vành đai 2 đến sông Nhuệ, các khu vực đô thị phía Bắc sông Hồng Vùng II là khu vực phía Nam TP (gồm các quận, huyện Thanh Trì, Hà Đông, Thanh Oai, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức) Vùng III là khu vực phía Tây thành phố (gồm các huyện, thị xã Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Quốc Oai, Ba

Vì, Chương Mỹ, Sơn Tây)

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn tại thị trấn Đông Hưng tỉnh Thái Bình

Hiện nay, công tác quản lý chất thải rắn đã được các cấp, các ngành của thị trấn quan tâm chú trọng Đã từng bước quản lý được CTR sinh hoạt trên địa bàn thị trấn: Nắm được nguồn gốc phát sinh CTR sinh hoạt, khối lượng, thành phần chất thải trước mắt và lập kế hoạch quản lý CTR sinh hoạt Vì vậy trong những năm vừa qua có nhiều chuyển biến tích cực và bước đầu thu được thành công đáng kể Tỷ lệ thu gom đã đạt khoảng 75% lượng phát sinh

Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế và tái sử dụng như giấy vụn, kim loại, nhựa, thủy tinh được công nhân môi trường trong quá trình thu gom rác lựa chọn để thu hồi Khi rác về đến bãi rác, rác thải được những người nhặt rác lựa chọn

để tái thu hồi một lần nữa tỷ lệ thu hồi các chất từ nguồn phát sinh đến bãi rác

Trang 32

tương đối cao, tuy nhiên hoạt động thu gom các chất có thể tái sử dụng hoàn toàn tự phát và không có tổ chức quản lý

Công tác quản lý rác thải trên địa bàn đã thu hút được sự tham gia nhiệt tình của tổ dân phố, hội phụ nữ, đoàn thanh niên,… Sự tham gia của các cơ quan tổ chức, các cấp đơn vị đã giúp cho tình hình quản lý rác thải sinh hoạt ngày càng được nâng cao Các hình thức tuyên truyền về bảo vệ môi trường mà người dân trong thành phố đã dần được tiếp cận như: qua sách vở, qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, panô, áp phích và đặc biệt là qua cac cuộc họp tổ dân phố

Tuy đạt được những thành quả tích cực nhưng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế Công tác thu gom chưa được tổ chức tốt, chưa thu gom hết lượng CTR sinh hoạt phát sinh, thiết bị thu gom cũ kỹ, công tác xử lý còn thô sơ Việc phân loại rác tại nguồn còn chưa được tiến hành có hiệu quả, Chưa có sự phân loại trong xử lý CTR sinh hoạt, CTR phát sinh trong các nhà máy, xí nghiệp vẫn được xử lý chung cùng với CTR trong sinh hoạt Các khu tập kết rác tạm thời và các khu xử lý chưa được quy hoạch và đầu tư đồng bộ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nhận thức của người dân về vấn

đề CTR sinh hoạt còn nhiều hạn chế, còn thiếu ý thức tự giác trong việc giữ gìn vệ sinh chung nơi công cộng, hiện trạng thải bỏ rác bừa bãi trên các đường phố, các khu công cộng còn nhiều, đó là do công tác tuyên truyền, giáo dục chưa được chú trọng đúng mức, chưa có các hình thức tổ chức phù hợp nhằm lôi kéo sự tham gia của cộng đồng Vấn đề chất thải rắn chưa được sự quan tâm đúng mức từ các cấp, các ngành, kinh phí còn quá hạn hẹp

1.4.3 Tình trạng chung về QLCTR tại Việt Nam

Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và quy định trong lĩnh vực QLCTR và CTNH; thể chế, chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong QLCTR ở nước ta đã có những bước tiến vượt bậc, nhưng hệ thống chính sách

về QLCTR chưa đầy đủ, đồng bộ hoặc còn chồng chéo, chưa có một quy định thống nhất toàn diện cho công tác quy hoạch QLCTR quốc gia, thiếu chính sách, thể chế

Trang 33

đối với quy hoạch và đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý CTR các cấp từ trung ương đến địa phương;

Trách nhiệm QLCTR chồng chéo giữa các Bộ ngành Xây dựng (QLCTR đô thị), TN&MT (quản lý CTNH), Y tế (QLCTR y tế), Công thương (QLCTR công nghiệp không nguy hại) dẫn đến những chồng chéo trong việc triển khai các chương trình quản lý CTR ở cấp trung ương đến cấp địa phương đặc biệt là trong quản lý CTR sinh hoạt Ở các địa phương không thống nhất đầu mối QLCTR mà tùy theo quy định của từng địa phương làm cho công tác QLCTR ở cấp Trung ương cũng như tại nhiều địa phương phân tán và đạt hiệu quả thấp Hiện tại, CTR sinh hoạt nông thôn đặc biệt là chất thải ở các làng nghề, vẫn chưa xác định quyền quản

lý giữa 3 Bộ: Xây dựng, NN&PTNT và TN&MT;

Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt còn thấp (đạt 60-80% ở đô thị và 30-40% ở khu vực nông thôn), không đồng đều giữa các vùng (tỷ lệ thu gom ở trung tâm đô thị đạt gần 100% nhưng khu vực ngoại thành chỉ đạt khoảng 50%); việc đầu tư xây dựng các trạm trung chuyển và trang thiết bị, công nghệ xử lý CTR sinh hoạt chưa được quan tâm đầu tư, nhân lực tập trung cho công tác này còn thiếu và yếu;

Việc triển khai các chương trình/dự án 3R (Reduce, Re-use, Recycle) hay 3T (Tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế) mới chỉ dừng ở những mô hình trình diễn, thí điểm tai Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh và Tp Đà Năng, kết quả chưa hiệu quả do kế hoạch chưa hợp lý, phân bổ thời gian và kinh phí không hiệu quả, nhiều hạng mục không phù hợp với điều kiện thực tế cũng như nếp sống;

Công tác xã hội hóa, tư nhân hóa và huy động cộng đồng tham gia QLCTR sinh hoạt còn yếu kém; chưa có thể chế, chính sách để tư nhân hoá và xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt Nhận thức và năng lực của cộng đồng chưa đảm bảo đề thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác QLMT nói chung và QLCTR sinh hoạt nói riêng, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông dân nghèo;

Tóm lại, công tác QLCTR sinh hoạt đang đứng trước những thách thức lớn về việc tiêu huỷ lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều trong giai đoạn đẩy mạnh

Trang 34

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để vượt qua nhiều hạn chế về tài chính, tổ chức, kỹ thuật đòi hỏi các địa phương, các đơn vị khoa học công nghệ về môi trường phải nghiên cứu và thực hành các luận cứ có tính khoa học và thực tiễn mới

có thể xác lập được vị trí và công nghệ các khu xử lý CTR sinh hoạt đảm bảo an toàn về môi trường và được sự chấp nhận của địa phương

1.4.4 Những kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh

Để công tác QLCTR sinh hoạt trên địa bàn quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh đạt được hiệu quả phải tiến hành động bộ nhiều giải pháp, trong đó đặc biệt chú tọng đến thực hiện chương trình 3R hay 3T, xã hội hóa công tác QLCTR sinh hoạt, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các nhà máy xử lý CTR sinh hoạt và đổi mới công nghệ xử lý Để làm tốt điều này, cần phải xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, nghiên cứu khoa học - công nghệ và đặc biệt

là tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư cho các dự án xử lý CTR sinh hoạt, nâng cao nhận thức cho toàn dân Về mặt pháp lý cần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan

Về mặt pháp lý, cần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan, phân công đủ, đúng, rõ trách nhiệm cho các bộ phận quản lý, tránh sự chồng chéo, dấn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm khi sự việc phát sinh Song song với việc ban hành văn bản pháp luật thì khâu giám sát thực thi trách nhiệm và hình thức xử phạt cần thực hiện nghiêm túc hơn

Đẩy mạnh xã hội hóa và huy động cộng đồng tham gia thu gom, vận chuyển

và xử lý CTR sinh hoạt Có cơ chế khuyến khích đối với hoạt động giảm thiểu và tái chế chất thải, hỗ trợ cho khu vực tư nhân trong các dịch vụ quản lý chất thải bao gồm mở rộng các chương trình cho vay tín dụng nhỏ, phát triển thị trường cho các sản phẩm tái chế, phối hợp hoạt động giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước,

hỗ trợ hợp tác trong quản lý chất thải và tư vấn các hoạt động quản lý chất thải hợp

Trang 35

Quy hoạch và lựa chọn các công nghệ xử lý CTR sinh hoạt phù hợp, rà soát việc thực hiện nội dung quy hoạch xử lý CTR sinh hoạt trong quy hoạch đô thị và các điểm dân cư nông thôn Xây dựng và thực hiện quy hoạch xây dựng khu xử lý CTR sinh hoạt tới tận các làng xã nông thôn và có biện pháp huy động vốn nhằm giải quyết vấn đề này Áp dụng các công nghệ xử lý CTR sinh hoạt tiên tiến, an toàn

và phù hợp với điều kiện của từng địa phương, hạn chế chôn lấp

Cần đẩy mạnh và đa dạng hóa nguồn đầu tư cho quản lý, xử lý CTR sinh hoạt; tăng cường vận động tài trợ quốc tế; duy trì tính bền vững của các nguồn đầu

tư để đảm bảo việc vận hành và quy trình các hệ thông thu gom và xử lý CTR sinh hoạt được xây dựng Cần huy động các nguồn tài chính để hỗ trợ cho việc phát triển các công nghệ xử lý, tái chế CTR sinh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khí hậu và tình trạng CTR sinh hoạt của quận Gò Vấp, thành phố và cả nước

Nâng cao nhận thức cộng đồng khuyến khích hoạt động phân loại rác thải tại nguồn Ban hành và thực hiện các cơ chế hỗ trợ để người dân có cơ hội tham gia mô hình quản lý chất thải dựa vào cộng đồng: đảm nhận trách nhiệm phân loại, thu gom và

xử lý CTR sinh hoạt Tổ chức thí điểm các chương trình, dự án phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn trong cộng đồng dân cư, từ đó rút ra bài học để nhân rộng

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN

SINH HOẠT TẠI QUẬN GÒ VẤP ĐẾN NĂM 2015 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Gò Vấp ảnh hưởng đến quản

lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt

Gò Vấp là một quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm vào khoảng

106o48’15’’ kinh độ Đông và 10o5’29’’ vĩ độ Bắc Phía Bắc giáp quận 12, phía Tây giáp quận 12 và quận Tân Bình Phía Nam giáp quận Bình Thạnh và quận Phú Nhuận, phía Đông giáp quận 12 và quận Bình Thạnh Cách trung tâm thành phố 7

km

Về hành chính, hiện nay quận có 16 phường, bao gồm các phường: 1, 3, 4, 5,

6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 Theo số liệu tính đến ngày 01/01/2011,

Gò Vấp có 138.331 hộ với số dân 555.577 người, bình quân mỗi phường có 8.645

hộ, 34.723 nhân khẩu

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Diện tích tự nhiên của quận là 19,74 km2 trải dài theo hướng Đông – Tây, dài nhất là 7,5 km và theo hướng Bắc – Nam, rộng nhất là 5,9 km Quận Gò Vấp có sông Bến Cát chảy ra sông Sài Gòn với chiều dài 12 km, mặt sông rộng (trung bình

là 60m), nhất là đoạn từ cầu Bến Phân ra sông Sài Gòn Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy, xây dựng công viên cây xanh và khai thác cảnh quan ven sông phục vụ nghỉ ngơi, giải trí

Địa hình gò vấp tương đối bằng phẳng với độ dốc dưới 1% Nơi cao nhất là khu vực ven sân bay Tân Sơn Nhất và thấp nhất là khu vực ven sông Bến Cát

Đặc trưng thổ nhưỡng của quận chủ yếu là đất xám trên nền phù sa cổ được chia thành 2 vùng là: vùng cao và vùng trũng Vùng cao chiếm phần lớn diện tích của quận, phù hợp với việc xây dựng nhà máy sản xuất công nghiệp; vùng trũng nằm dọc theo sông Bến Cát thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng thường bị ngập bởi triều cường

Trang 37

Gò vấp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm là 280C Lƣợng mƣa trung bình là 1779,4 mm tập trung từ tháng 4 đến tháng

11, độ ẩm trung bình là 74%, số giờ nắng trung bình là 2245,9 giờ Khí hậu ở Gò

Vấp thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng

Trang 38

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Từ sau ngày giải phóng đến nay, cùng với sự phát triển chung của thành phố,

Gò Vấp từ một quận vùng ven trở thành một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hoá nhanh nhất thành phố

Nông nghiệp

Từ giữa thập niên 90, đặc biệt là năm 1996 trở đi, tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở quận Gò Vấp diễn ra khá nhanh và mạnh, nhất là chuyển diện tích trồng lúa không hiệu quả trên vùng bưng nhiều phèn sang thâm canh các loại rau, đậu, củ, đặc biệt là hoa tươi Sản phẩm nông nghiệp đặc thù của Gò vấp là hoa tươi Hoa Gò Vấp đã nổi tiếng, tuy nhiên nay không còn nhiều loài hoa và cây kiểng có chất lượng cao

Do tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn nên giá trị sản xuất nông nghiệp ngày càng suy giảm Diện tích đất nông nghiệp

ở Gò Vấp hiện nay còn lại rất ít nhưng do được sử dụng có hiệu quả nên không một

hộ dân nông nghiệp nào còn trong diện đói nghèo

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Sau giải phóng và nhất là trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, những ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống của Gò Vấp lụi tàn dần bởi vì thiết bị và công nghệ quá lạc hậu, nhiều làng dệt – nhuộm dần mai một do sản phẩm không thể cạnh tranh với thị trường

Trong lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, một loạt ngành sản xuất mới hoặc trước đây chưa phát triển, nay từng bước vương lên thay thế những ngành truyền thống: Sản xuất dụng cụ y tế, sản xuất giấy và sản phẩm giấy, sản xuất cơ khí, điện – điện tử (sản xuất thiết bị, máy móc và dụng cụ điện, lắp ráp máy thu hình, máy thu thanh, thiết bị truyền thông), sản xuất phụ tùng và sửa chữa phương tiện giao thông, sản xuất đồ nhựa – cao su; sản xuất đồ gỗ, giày da, may mặc và chế biến lương thực – thực phẩm

Bảng 2.1 Cơ sở và lao động SXCN trên địa bàn quận Gò Vấp từ 2010 – 2014

Trang 39

(Nguồn: Niên giám thống kê quận Gò Vấp năm 2014 )

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài – chủ yếu là 2 công ty liên doanh sản xuất

ô tô Mercedes – Benz của Đức và Isuzu của Nhật Bản tăng trưởng từng năm và là doanh nghiệp nước ngoài làm ăn có lãi ở Việt Nam

Gò Vấp còn đất đai đủ khả năng thành lập những cụm công nghiệp, làng công nghiệp – như đã khẳng định trong “ Quy hoạch phát triển đến năm 2020 ” của quận,

đó là 3 cụm công nghiệp tại phường 12, phường 5 và phường 11 (sản xuất đồ gỗ, nhất là gỗ mĩ nghệ) Cụm công nghiệp phường 12 đã xây dựng cơ sở hạ tầng (40,31 ha) hiện có 71 cơ sở sản xuất thuộc nhiều thành phần kinh tế hoạt động, phần lớn là

cơ sở sản xuất nhỏ Quận cũng đồng thời quy hoạch vùng sản xuất mới để di dời cơ

sở sản xuất xen kẽ trong các khu dân cư

Trang 40

(Nguồn: Niên giám thống kê quận Gò Vấp năm 2014 )

Các hộ kinh doanh thương mại ở Gò Vấp còn tập trung trên những tuyến đường lớn, đông khách qua lại, vì vậy hiệu quả kinh doanh khá cao; nhiều đường đã trở thành

“phố chuyên doanh”, như đường Quang Trung kinh doanh hàng kim khí - điện máy; đường Nguyễn Kiệm, Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Oanh chuyên kinh doanh công nghệ phẩm, hàng trang trí nội thất và vật liệu xây dựng; đường Phạm Văn Chiêu, Lê Đức Thọ,

Lê Văn Thọ kinh doanh tổng hợp và hàng may mặc Các dịch vụ ở Gò Vấp chủ yếu là

Ngày đăng: 14/10/2017, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1  Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt  10 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Hình 1.1 Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt 10 (Trang 8)
Hình 1.1.  Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Hình 1.1. Nguồn gốc hình thành chất thải rắn sinh hoạt (Trang 18)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính quận Gò Vấp - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Hình 2.1. Bản đồ hành chính quận Gò Vấp (Trang 37)
Bảng 2.4. Số cơ sở y tế, giường bệnh, CBYT trên địa bàn quận GV từ 2010 – 2014 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Bảng 2.4. Số cơ sở y tế, giường bệnh, CBYT trên địa bàn quận GV từ 2010 – 2014 (Trang 42)
Bảng 2.5. Khối lƣợng Rác thải sinh hoạt phát sinh và tỷ lệ thu gom trên toàn địa bàn - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Bảng 2.5. Khối lƣợng Rác thải sinh hoạt phát sinh và tỷ lệ thu gom trên toàn địa bàn (Trang 43)
Bảng 2.6. Nguồn thải và thành phần chất thải rắn sinh hoạt - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Bảng 2.6. Nguồn thải và thành phần chất thải rắn sinh hoạt (Trang 44)
Bảng 2.7. Danh sách số lƣợng chủ nguồn thải theo phân nhóm trên địa bàn - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Bảng 2.7. Danh sách số lƣợng chủ nguồn thải theo phân nhóm trên địa bàn (Trang 45)
Hình 2.2. Sơ đồ hệ thống Quản lí CTR trên địa bàn quận Gò Vấp - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Hình 2.2. Sơ đồ hệ thống Quản lí CTR trên địa bàn quận Gò Vấp (Trang 48)
Hình 2.3. Sơ đồ tóm tắt quy trình thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt trên địa bàn - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Hình 2.3. Sơ đồ tóm tắt quy trình thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt trên địa bàn (Trang 51)
Bảng 2.9. Khối lƣợng rác do Công ty DVCI quận Gò Vấp vận chuyển trong năm - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Bảng 2.9. Khối lƣợng rác do Công ty DVCI quận Gò Vấp vận chuyển trong năm (Trang 52)
Bảng 2.10. Danh sách các điểm thu gom rác trên địa bàn quận Gò Vấp - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận gò vấp năm 2016 2020
Bảng 2.10. Danh sách các điểm thu gom rác trên địa bàn quận Gò Vấp (Trang 55)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w