Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế còn nhỏ tốc độ tăng trưởng nền kinh tế chưa đạt được mục tiêu đề ra, sức cạnh tranh còn yếu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao độn
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KS NGUYỄN MẠNH HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH KINH TẾ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỀN NĂM 2025 TẦM NHÌN 2035
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HẢI PHÒNG - 2015
Trang 2BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KS NGUYỄN MẠNH HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH KINH TẾ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỀN NĂM 2025 TẦM NHÌN 2035
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Thủy
HẢI PHÒNG - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn trích dẫn rõ ràng
Ngày 09 tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Mạnh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS
Nguyễn Thanh Thủy, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn này
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Đào tạo sau đại học, trường đại học Hàng Hải Việt Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quí báu để giúp đỡ em một cách vững chắc và tự tin trong công việc
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các thầy, cô luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4
1.1 Tăng trường kinh tế 4
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 4
1.1.2 Các thước đo tăng trưởng kinh tế 4
1.1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế 6
1.2 Các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế 14
1.2.1 Các nhân tố kinh tế 14
1.2.2 Các nhân tố phi kinh tế 19
1.3 Các lý thuyết và mô hình tăng trường kinh tế 20
1.3.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển 20
1.3.2 Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx 21
1.3.3 Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes 21
1.3.4 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển 22
1.3.5 Mô hình tăng trưởng nội sinh 23
1.3.6 Các mô hình tăng trưởng xét đến nhân tố phi kinh tế 24
1.4 Xây dựng mô hình lý thuyết áp dụng cho cấp tỉnh, thành phố và một số quan điểm xây dựng mô hình nghiên cứu tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh 24
1.4.1 Quan điểm hệ thống trong phân tích mối quan hệ giữa địa phương và trung ương 24
Trang 61.4.2 Quan điểm hệ thống trong phân tích quan hệ giữa các ngành, các yếu tố
trong cấu trúc kinh tế - xã hội địa phương 25
1.4.3 Quan điểm hệ thống trong phân tích tương tác giữa phân hệ kinh tế địa phương trong mối quan hệ với siêu hệ: kinh tế - xã hội của địa phương 25
1.4.4 Sử dụng các mô hình kinh tế và và hệ thống dữ liệu trong phân tích kinh tế - xã hội địa phương 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 28
2.1 Giới thiệu chung về thành phố Hải Phòng 28
2.2 Thực trạng của mô hình phát triển kinh tế Hải Phòng 30
2.2.1 Kinh tế Hải Phòng tăng trưởng theo chiều rộng 30
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế dựa vào các ngành chưa phù hợp 34
2.2.3 Chưa thể hiện rõ vai trò của các ngành công nghiệp 38
2.2.3.1 Vai trò của các ngành công nghiệp 38
2.2.3.2 Hải Phòng chưa thể hiện rõ vai trò của các ngành công nghiệp 39
2.2.4 Tăng trưởng tập trung dựa vào kinh tế nhà nước 41
2.2.4.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng hiện nay 41
2.2.4.2 Tăng trưởng tập trung vào kinh tế nhà nước 42
2.3 Phân tích SWOT tại Hải Phòng 42
2.3.1 Điểm mạnh 42
2.3.2 Điểm yếu 47
2.3.3 Cơ hội 48
2.4 Nguồn nhân lực nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình phát triển bền vững 50
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH KINH TẾ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẾN NĂM 2025 TẦM NHÌN 2035 53
3.1 Định hướng phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng đến năm 2025 tầm nhìn 2035 53
Trang 73.2 Một số giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế nâng cao sức cạnh tranh kinh tế Hải Phòng đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đến năm 2025 tầm nhìn 2035 55 3.2.1 Biện pháp thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, phục vụ tăng trưởng của Hải Phòng: 55 3.2.2 Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác quy hoạch gắn quy hoạch với tái
cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng 57 3.2.3 Phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội 58 3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, đổi mới phương thức nâng cao chất lượng xúc tiến đầu tư 61 3.2.5 Tạo ra được những liên kết hợp lý giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng quốc tế 63 3.2.6 Xây dựng chiến lược lộ trình tiếp thu kỹ thuật, công nghệ trong thu hút đầu tư 64 3.2.7 Chủ động đào tạo nguồn nhân lực cho các dự án đầu tư, đầu tư nước ngoài; cho quá trình tái cấu trúc kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng 65 3.2.8 Tăng cường quản lý nhà nước với việc thu hút và sử dụng vốn FDI 66 3.2.9 Tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan quản
lý nhà nước 68 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 92.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 phân
theo khu vực kinh tế
30
2.4 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) từ năm 2010 đến
2014
32
2.5 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời
điểm 1/7 hàng năm trong nền kinh tế đã qua đào tạo
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành công nhất định,
đó là, trình độ dân trí được nâng cao rõ rệt, đó là, đời sống dân chúng đã được cải thiện, là sự phát triển của các thành phố, khu vực kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những phát triển nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, cụ thể, đó là việc phát triển không đồng bộ các khu vực kinh tế, sức cạnh tranh yếu, kinh tế bị phụ thuộc các nước xung quanh, đặc biệt tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 2008-2009 xảy ra
đã thể hiện rõ sự yếu kém này Để đáp ứng phù hợp với tình hình phát triển của đất nước nói chung và Hải Phòng nói riêng, trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần phải
có những sắp xếp phù hợp với từng khu vực cụ thể, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững thì việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng là một yêu cầu rất cần thiết trong giai đoạn 2015 – 2035
Thành phố Hải Phòng đã đạt được những thành tựu khá toàn diện và rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Kinh tế tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP liên tục đạt ở mức khá, quy mô kinh tế được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế còn nhỏ tốc độ tăng trưởng nền kinh tế chưa đạt được mục tiêu đề ra, sức cạnh tranh còn yếu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp chưa đóng góp nhiều, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu đầu tư bộc lộ nhiều bất cập, hiệu quả thấp, chất lượng tăng trưởng, khả năng cạnh tranh hạn chế, nguy cơ ô nhiễm môi trường tăng cao Những hạn chế, yếu kém đó càng bộc lộ rõ rệt hơn khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Vì những lý do trên
để góp phần vào công cuộc đổi mới của thành phố, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp dổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế nâng cao sức cạnh tranh kinh tế Hải Phòng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đến năm 2025, tầm nhìn đến năm năm 2035” làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
3 Nội dung nghiên cứu
Những vấn đề lý luận về điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế Hải Phòng Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của mô hình tăng trưởng kinh tế Hải
Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế vùng trọng điểm của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian : Thành phố Hải Phòng
- Thời gian : Đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2035
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận chung về các mô hình tăng
trưởng kinh tế nâng cao sức cạnh tranh nói chung của đất nước và từ góc độ thành
phố Hải Phòng nói riêng
Để làm sáng tỏ nô ̣i dung đề tài nghiên cứu, trong luâ ̣n văn này chúng t ôi đã sử dụng phương pháp phân tích , đánh giá , phương pháp tổng hợp và phương pháp logic, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp định lượng, định tích
5 Đóng góp của luận văn vào thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp dổi mới mô hình tăng trưởng kinh
tế nâng cao sức cạnh tranh kinh tế Hải Phòng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Trang 13đến năm 2025, tầm nhìn đến năm năm 2035” có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể là:
Những đóng góp của luận văn:
+ Đánh giá những mặt đạt được và chưa đạt của công tác quản lý kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế
+ Nghiên cứu thực trạng mô hình tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng, đổi mới
mô hình tăng trưởng kinh tế nâng cao sức cạnh tranh đáp ứng phát triển bền vững giai đoạn từ nay đến năm 2025
+ Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế thành phố Hải Phòng
6 Dự kiến kết quả đạt đươc
Sau khi thực hiện đề tài chúng ta có thể có được một số kết quả như sau:
Nêu lên được điển mạnh, điểm yếu của mô hình tăng trưởng kinh tế của thành phố Hải Phòng
Thực trạng của mô hình phát triển kinh tế Hải Phòng
Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển từ nay đến 2025, định hướng phát triển cho thành phố đến năm 2035
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng trưởng kinh tế và các mô hình tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng từ năm 2010 đến năm 2015
Chương 3: Một số giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế nâng cao sức cạnh tranh kinh tế Hải Phòng đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đến năm 2025 tầm nhìn 2035
Một số kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Tăng trường kinh tế
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của kinh
tế học trong nhiều thập niên qua vì rõ ràng một trong những mục tiêu quan trọng nhất
mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi là duy trì mức tăng trường kinh tế hợp lý Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế, các nguồn tăng trưởng kinh tế, từ
đó hoạch định được chính sách tăng trưởng kinh tế có hiệu quả, có chất lượng là rất quan trọng
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một thời
kỳ nhất định, thường là một năm Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng) Trong phân tích kinh
tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng Đây là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc
1.1.2.Các thước đo tăng trưởng kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, thước đo được dùng để đánh giá tăng trưởng kinh tế là các chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, thu nhập (hay sản lượng) thường được thể hiện dưới dạng giá tri:
có thể là tổng giá trị thu nhập (sản lượng), hoặc có thể là thu nhập (sản lượng) bình quân trên đầu người Các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia bao gồm: tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GN1); trong đó chỉ tiêu GDP thường là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biến nhất
Tổng giá trị sản xuất (GO)
Tổng giá trị sản xuất là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một
Trang 15năm) Đây chính là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các dơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hoặc tổng giá trị sản xuất có thể tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng (VA) từ sản phẩm vật chất và dịch vụ đó trong nền kinh tế quốc dân
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc nội đo lường tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời
kỳ nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ (thường là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình
Như vậy, GDP là thu nhập tạo thêm từ tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, cho dù chủ thể sản xuất kinh doanh là người nước ngoài hay người trong nước Muốn xem xét thu nhập thuộc sở hữu trong nước (GNP) thì phải lấy GDP trừ đi thu nhập trả cho người nước ngoài, đồng thời cộng thêm vào thu nhập của người trong nước nhận được từ đầu tư ra nước ngoài
GDP có nhiều cách tính khác nhau dưới các góc độ: sản xuất, tiêu dùng và phân phối
- Nếu tiếp cận từ thu nhập, GDP được xác định trên cơ sở các khoản hình thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, gồm thu nhập của người có sức lao động dưới hình thức tiền công, tiền lương (W), thu nhập của người có đất cho thuê (R); thu nhập của người có tiền cho vay (In); thu nhập ròng của công ty (Pr); khấu hao tài sản cố định (Dp) và cuối cùng là thuế kinh doanh (thuế gián thu Ti), nghĩa là GDP = w + R + Pr + In+ Dp + Ti
- Nếu tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng của Chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình (C), Chi tiêu của chính phủ (G), Đầu tư của doanh nghiệp (I) và Chi tiêu qua thương mại quốc tế (Xuất khẩu (X)-Nhập khẩu (M)), tức là GDP = C +I + G + (X-M)
Tổng thu nhập quốc dân (GN1)
GNI- Tổng thu nhập quốc dân là chỉ tiêu xuất hiện trong SNA năm 1993 thay
Trang 16cho chỉ tiêu GNP trong SNA năm 1968 Về nội dung thì GNP và GNI là như nhau Tuy nhiên, GNI tiếp cận dưới góc độ từ thu nhập chứ không phải dưới góc độ sản phẩm sản xuất ra như GNP
Thu nhập bình quân đầu người
Đổ đánh giá xác thực hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia dưới góc độ mức sống dân cư và so sánh mức sống giữa các nước, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn như GDP bình quân đầu người (hay GNI bình quân đầu người) Khi đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người phụ thuộc hai yếu tố: tốc độ tăng trưởng thu nhập (sản lượng) và tốc độ tăng trưởng dân số:
Tốc độ tăng trưởng GDP/người = Tốc độ tăng trưởng GDP - Tốc độ gia tăng dân số
1.1.3.Chất lượng tăng trưởng kinh tế
GDP hay GDP/người là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, sự biến động của chỉ tiêu này chỉ phản ánh tăng trưởng kinh tế về mặt lượng, nhưng không dù để đánh giá tăng trưởng của nền kinh tế một cách toàn diện, chưa phản ánh được chất lượng của tăng trưởng Muốn đánh giá chất lượng tăng trưởng và để đánh giá tăng trưởng về nhiều mặt của nền kinh tế, cần xét đến nhiều chỉ số không nằm trong hệ thống tài khoản quốc gia Trong các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được sử dụng
ở Việt Nam và trên thế giới, có thể quy về ba nội dung chất lượng tăng trưởng kinh tế
có tính chất khái quát như sau:
(i) Tăng trưởng kinh tế xét theo các yểu tố bên trong (nội tại) của quá trình sàn xuất xã hội như tăng trường gắn liền với chuyển đổi cơ cấu, tăng trưởng xét theo quan điểm hiệu quả, các yếu tố tác dộng đến tăng trường, tăng trường gắn liền với năng lực cạnh tranh Nói khái quát là tăng trưởng xét trên góc độ các yếu tố kinh tế
(ii) Tăng trưởng gắn liền với nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của người dân, xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho lao động, đảm bảo công bằng xã hội
(iii) Tăng trưởng gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguycn thiên nhiên, không gây ô nhiễm môi trường hoặc khai thác bừa bãi, làm cạn kiệt tài
Trang 17nguyên của đất nước
Phù hợp với 3 nội dung trên có 3 nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trường kinh tế
Các chỉ tiêu phản ánh sư chuyển dich cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thể hiện cấu trúc nội tại của nền kinh tế, được biểu hiện qua tỷ trọng và quan hệ của các yếu tố cấu thành Cơ cấu kinh tế quyết định sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng của tất cả yếu tố cấu thành và cuối cùng đem lại kết quả tăng trưởng chung cho nền kinh tế Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Cơ cấu ngành và nội bộ ngành: là cơ cấu kinh tế xem xét số lượng và chất lượng cũng như các mối quan hệ giữa các ngành và nội bộ từng ngành trong nền kinh
tế Theo hệ thống thống kê hiện nay, nền kinh tế Việt Nam được phân chia thành ba nhóm ngành lớn là nông-lâm nghiệp-thuỷ sản, công nghiệp-xây dựng và dịch vụ Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hiện đại hơn và tiên tiến hơn, cụ thể là tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nhóm ngành nông-lâm nghiệp-thuỷ sản trong GDP Bên cạnh đó, việc chuyển dịch
cơ cấu trong nội bộ từng ngành cung cần được xem xét
- Cơ cấu lãnh thổ là cơ cấu kinh tế được xem xét theo phân bổ lực lượng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ trong nền kinh tế Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ vừa cần đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng để đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển, vừa phải xem xét đến vai trò động lực và thế mạnh của từng vùng để lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển
Các chỉ tiêu phản ánh hiêu auả kinh tế
Nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hay không được thể hiện qua các chỉ tiêu: năng suất sử dụng các yếu tố đầu vào chủ yếu là lao động và vốn, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) với tăng trưởng kinh tế, và tỷ lệ chi phí trung gian trong sản xuất
Trang 18Chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng đầu vào lao động
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng đầu vào lao động là năng suất lao động được tính trên nhiều góc độ khác nhau Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế (năng suất lao động xã hội), lấy GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) Nếu GDP bình quân trên mỗi lao động càng lớn, thi năng suất lao động xã hội càng cao
Dưới góc độ ngành hay doanh nghiệp, thay GDP bằng các chỉ số khác tương đương như giá trị sản phẩm của ngành/doanh nghiệp, từ đó có chỉ số giá trị sản phẩm trên một giờ lao động, là chỉ số theo dõi năng suất lao động của ngành hay doanh nghiệp
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng đầu vào vốn
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện trong một thời kì nhất định (thường là một năm), kí hiệu là ICOR Do vậy, hệ số này phản ánh hiệu quả của việc
sử dụng vốn dầu lư trong việc tạo nên tăng trưởng, là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng sử dụng đầu vào vốn, chất lượng tăng trưởng kinh tế
Hệ số 1COR thấp, chứng tỏ cần ít vốn hơn để tạo ra một đơn vị sản lượng, và đầu tư như vậy có hiệu quả hơn Tuy nhiên, theo quy luật lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế tăng trưởng thì với giả định các điều kiện khác không thay đổi, xu hướng là cần phải có nhiều vốn hơn mới tạo ra được một đơn vị sản lượng, tức là phải cần hệ
số ICOR cao hơn Nói cách khác, để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng, cần một tỷ
lệ vốn đầu tư sa với GDP cao hơn
Hệ số ICOR có thể được đo bằng số tuyệt đối hay số tương đối:
Theo sổ tuyệt đối:
ICOR =
0 1
1
Y Y
I
Trong đó, II là tổng vốn đầu tư của năm nghiên cứu, Y 1 là GDP của năm
nghiên cứu, và Y 0 là GDP của năm trước đó Các chỉ tiêu về vốn đầu tư và GDP để tính hệ số ICOR theo phương pháp này phải được đo theo cùng một loại giá (giá thục
tế hoặc giá so sánh) Hệ số này nói lên cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư năm nghiên
Trang 19cứu để tạo được một đơn vị sản lượng tăng lên trong năm nghiên cứu
Theo số tương đối: Chia cả tử số và mẫu số của (1.1) cho Y 1
ICOR =
y g
Năng suất nhăn tồ tổng hợp (TFP)
Cùng với các chỉ tiêu năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiều trong phân tích hiệu quả kinh tế, theo các nhà kinh tế tân cổ diển, trong sản xuất có ba yếu tố chính làm tăng GDP: lao dộng, vốn sản xuất và các nhân
tố khác, gộp chung lại gọi là nhân tổ tổng hợp và để đánh giá hiệu quả tác động của nhân tố này, ta có chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) Năng suất nhân tố tổng hợp chi là phần tăng GDP sau khi trừ đi vai trò của việc tăng số lượng lao động và vốn được sử dụng trong sản xuất Phần thặng dư này phản ánh việc tăng chất lượng của các yếu tố khác, bao gồm: tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất, v.v Trên thực tế, TFP là chỉ số phụ thuộc vào hai yếu tố: (a) tiến bộ công nghệ và kỹ thuật và (b) hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào lao động và vốn
Có thể thấy, tốc độ tăng TFP và tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phản ánh xác thực và tổng hợp nhất hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức, quản lý sản xuất của mỗi quốc gia TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm duy trì được tốc độ tăng trường dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài
Tốc độ tăng TFP được xác định theo công thức (với giả định hàm sản xuất là Cobb-Douglas):
Trong đó: g Y là tốc độ tăng GDP; gK là tốc độ tăng vốn, gL là tốc độ tăng số
Trang 20lượng lao động; và lần lượt là hệ số đóng góp của vốn và lao động ( + = 1),
các hệ số này thường được xác định bằng phương pháp hạch toán tăng trường hoặc dựa trên ước lượng hồi quy hàm sản xuất Cobb-Douglas
Mối quan hệ giữa giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA), và chi phí trung gian (IC) trong sản xuất
Giá trị gia tăng chi bao gồm phần giá trị mới tăng thêm (mới sáng tạo ra) trong nền kinh tế Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí vật chất và chi phí dịch vụ đã chi ra cho quá trình sản xuất để tạo nên giá trị gia tăng đó Chi phí trung gian không làm gia tăng của cải cho xã hội mà chỉ là tiêu dùng của cải vật chất và dịch vụ của xã hội trong quá trình tái sản xuất Mối quan hệ giữa giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và chi phí trung gian được thể hiện như sau:
GO = VA + IC hay VA-GO-IC (1.4)
Khi nói đến tăng trưởng kinh tế, người ta thường chỉ quan tâm đến phần tăng lên, phần giá trị mới sáng tạo VA (xét trên góc độ đơn vị sản xuất kinh doanh, ngành hoặc nhóm ngành kinh tế) hoặc GDP (xét trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân) Theo công thức trên, VA tỷ lệ thuận với GO và nghịch với 1C Do đó, tỷ ỉệ chi phí trung gian là một chi tiêu kinh tế quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất của xã hội, tỷ lệ này càng thấp thể hiện sản xuất càng hiệu quả
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng canh tranh của nền kinh tế
Khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế được xem xét dưới ba góc độ: doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và quốc gia
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Để đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước, thường sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh hoặc trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn sản xuất =
Lơi nhuận thưc hiên
x 100 Vốn sản xuất
(1.6)
Trang 21Tỷ suất lợi nhuận càng cao nghĩa là doanh nghiệp sản xuất càng có hiệu quả Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tỷ suất lợi nhuận có cùng xu thế thỉ doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả và nền kinh té có chất lượng tăng trưởng tốt
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước
Hàng hóa sản xuất trong nước có thể được chia làm hai loại: hàng xuất khẩu
và hàng thay thế nhập khẩu
Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu
Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu được tính bằng tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu trên giá trị sản xuất hay GDP
Tỷ lệ xuất
khẩu =
Giá trị xuất khẩu theo giá thực tế
x 100 Giá trị sản xuất theo giá thực tế
(1.7)
Tỷ lệ xuất khẩu của một đất nước càng cao chứng tỏ nước này sản xuất ra sản phẩm đảm bảo chất lượng tốt, được thị trường thế giới ưa chuộng nên xuất khẩu tốt
và do vậy là có khả năng cạnh tranh tốt và ngược lại
Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh
của hàng xuất khẩu còn thể hiện ở
tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sản xuất
từ nguyên liệu trong nước, từ nền
kinh tế trong nước: Tỷ lệ xuất khẩu
sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu
(1.8)
Nếu như hàng xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu trong nước càng nhiều,
tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm từ nguycn liệu trong nước càng cao, thì có nghĩa là với cùng tổng giá trị xuất khẩu như nhau, có thể thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước hơn, lận dụng được nhiều công ăn việc làm cho người dân hơn
Tỷ lệ xuất khẩu nông sản
Giá trị xuất khẩu nông sản qua chế biến
x 100 Tổng giá trị xuất khẩu nông sản
(1.9)
Trang 22Nông sản xuất khẩu có hai loại: nông sản nguyên dạng như lạc, cà phê hạt, hạt tiêu hạt và nông sản qua chế biến như kẹo lạc, kẹo vừng, các sản phẩm công nghiệp làm từ nông sản Cùng là xuất khẩu nông sản, nhưng nếu qua chế biến thì giá trị gia tăng sẽ cao, giá trị xuất khẩu sẽ lớn hơn, tỷ suất lợi nhuận sẽ cao hơn, thu hút được nhiều lao động tham gia vào hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu hơn Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những nước còn nghèo, nông sản xuất khẩu phong phú và dư thừa lao động như Việt Nam
Khả năng cạnh tranh của hàng thay thế nhập khẩu
Trên thực tế, hàng thay thế nhập khẩu thường được bảo hộ bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy những hàng rào bảo hộ này sẽ ngày càng hạ thấp và tiến đến dỡ bỏ hoàn toàn
Năng lực cạnh tranh quốc gia là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện khả năng đạt được tăng trường bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân của một nền kinh tế Hàng năm, diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế trên thế giới, thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GCI) Chỉ số GC1 được xây dựng trên cơ sở 3 thành tố cơ bản: môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng của các định chế quốc gia và khoa học công nghệ
Yếu tố thứ hai của GCI là thể chế công của đất nước Trong nền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế tư nhân là khu vực sản xuất ra của cải Tuy nhiên, doanh nghiệp tu nhân vẫn phải hoạt động trong khuôn khổ quốc gia và phải tuân thủ luật pháp Vì vậy, GCI bao hàm việc đo lường chất lượng của định chế công và coi đó là yếu tố quan trọng thứ hai của năng lực cạnh tranh tăng trường của một quốc gia
Yếu tố thứ ba là phát triển khoa học công nghệ của một đất nước Các nhà kinh tế trường phát tân cổ điển cho rằng nguồn gốc cơ bản của sự tăng trưởng kinh tá
về mặt dài hạn chính là phát triển khoa học công nghệ
WEF sử dụng các số liệu chính thức và kết quả điều tra tại trên 100 quốc gia
để xác định ba chỉ số cấu thành, nhằm biểu thị ba tiêu chí cạnh tranh tăng trưởng
Trang 23kinh tế nêu trên để xác định năng lực cạnh tranh của một quốc gia
Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan tới đảm bảo phúc lợi
xã hội
Các thước đo này phản ánh tác động và hiệu quả xã hội của tăng trưởng, thể hiện tác động lan toả của tăng trưởng đến các đối tượng thụ hưởng thành quả của tăng trưởng trong xã hội
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và thời gian nông nhàn ở khu vực nông thôn, tạo các cơ hội tăng thu nhập của người lao động Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, tăng thu nhập bao gồm so sánh tốc độ tăng số lao động trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ
lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn, tăng trường thu nhập và chi tiêu,
cơ cấu thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình
Tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo
Trong một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng, tăng trưởng kinh tế phải đi kèm xoá đói giảm nghèo Các chỉ tiêu như tỷ lệ nghèo đói của quốc gia, của các vùng, khu vực, tỷ lệ nghèo của người thiểu số, tốc độ giảm tỷ lệ nghèo đói, % giảm nghèo so với % tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng để phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
Tăng trưởng kinh tế và tiến hộ xã hội
Tiến bộ xã hội là một nội dung của chất lượng tăng trưởng Tiến bộ xã hội được thể hiện rõ nhất ở hai lĩnh vực giáo dục-đào tạo và y tế Những tiêu chí về cơ sở vật chất và mạng lưới của lĩnh vực giáo dục-đào tạo và y tế, số lượng và cơ cấu học sinh, số lượng và cơ cấu giáo viên, cán bộ y tế gia tăng và cải thiện sẽ phản ánh tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến nâng cao phức lợi xã hội cho người dân Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật được nâng cao, sức khoẻ và chăm sóc y tế đối với người dân được cải thiện (tuổi thọ, tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ) có thể coi
là kết quả của sự gia tăng phúc lợi xã hội và thể hiện rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế Chỉ số phát triển con người (HDI), do Chương trình Phát triền của Liên Hợp
Trang 24Quốc (UNDP) đưa ra và sử dụng lần đầu tiên năm 1990, là một chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện khá toàn diện tiến bộ của một quốc gia trên hai mặt kinh tế (GDP/người) và xã hội (tuổi thọ và trình độ giáo dục) Ngoài ra, từ năm 1997, chỉ số nghèo về con người (HPI-1) cũng được áp dụng khá rộng rãi để đo lường thành tựu về phúc lợi xã hội dối với các nước đang phát triển
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một biểu hiện của tiến bộ xã hội Do nội hàm rộng của khái niệm công bằng xã hội nên khái niệm này-tuy rất thông dụng và phổ biển-nhưng lại rất phức tạp và khó thống nhất trong việc đo lường Trong kinh tế học, trong các công trình nghiên cứu, các báo cáo phát triển chính thức ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế thường sử dụng một số công cụ và thước đo chủ yếu như: đường cong Lorenz; hệ số Gini; mức độ thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người; chỉ sổ phát triển xã hội tổng hợp; chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống
1.2 Các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế
Việc tìm hiểu yếu tố nào tạo nên tăng trưởng kinh tế từ lâu đã trở thành một trong những câu hỏi trung tâm của kinh tế học Trong quá trình phát triển của kinh tế học, quan điểm về các nhân tổ tác động và nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế cũng
đã thay đổi theo thời gian, với xu hướng ngày càng xét đầy đủ và rõ ràng hơn những lực lượng chi phối sự tăng trưởng
1.2.1.Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế bao gồm: vốn vật chất, lao động, vốn con người và tiến bộ
kỹ thuật được coi là bốn nhân tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế.Các nhà kinh tế học cổ điển chủ trọng đến cơ chể tích lũy vốn (bao gồm tài sản tài chính và vật chất) trong thị trường cạnh tranh tự do và các nhà kinh tế này cho rằng tích lũy vốn chính là động lực tạo nên tăng trưởng kinh tế Đây là một tư tưởng mang tính cách mạng trong một thời đại khi đó đất đai được coi là thứ tài sản lớn nhất Như vậy
là phải mất tới gần 100 năm, các chính trị gia mới chấp nhận tư tưởng mới mẻ này và
từ bỏ lối suy nghĩ rằng đất đai và tài nguyên thiên nhiên là thứ tài sản duy nhất cần tích lũy và cần gây chiến tranh để đạt được sự giàu có của một quốc gia
Trang 25Chúng ta có thể thấy được nhận định trên của Rostov qua một công thức rất giản đơn về quan hệ giữa tốc độ tăng trường và tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) bắt nguồn từ
mô hình tăng trưởng Harrod-Domar của trường phái Keynes:
c
s
g
Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng sản lượng, s là tỷ lệ tiết kiệm và c là hệ số
gia tăng giữa vốn và sản lượng (ICOR) Giả định trong ngắn hạn, ICOR không thay đổi, thì tốc độ tăng trường thu nhập quốc dân sẽ tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm: tiết kiệm và đầu tư càng nhiều thì tăng trường càng nhanh Cũng theo mô hình này, trờ ngại chính đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước nghèo là khả năng huy động vốn tương đối thấp do thu nhập thấp Bởi vì tỷ lệ tiết kiệm được coi là tăng tỷ lệ với thu
nhập bình quân đầu người, nên s ở các nước đang phát triển (có thu nhập thấp) chắc chắn rất thấp, dẫn đến g thấp nếu như các vấn đề về tiết kiệm và đầu tư là do thị
trường tự do quyết định Cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo: thu nhập thấp -> tỷ lệ tích lũy thấp ->trình độ kỹ thuật thấp -> năng suất thấp -> thu nhập thấp cho thấy khoảng cách giữa các nước và các vùng phát triển với các nước và các vùng kém phát triển ngày càng gia tăng
Lao động
Theo cách hiểu rộng, lao động gồm hai khía cạnh: lao động thô và vốn con người Trong việc phân tích các nhân tố tác động đến tăng trưởng, hai khía cạnh này thường được tách riêng và biến số lao động được hiểu ở đây là số lượng (quy mô) lao động, có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động Những bàng chứng thực tế đối với nền kinh tế Mỹ kể từ đại chiến thế giới lần 2 do Nicholas Kaldor đưa ra vào
Trang 26năm 1985 mô tả các mối quan hệ giữa tỉ lệ tăng trưởng sản lượng và những nhân tổ đầu vào, trong đó có lao động (Branson, 1989) Theo nghiên cứu này, tỉ lệ tăng trưởng của sản lượng tiềm năng và đầu vào lao động là khá ổn định, với tỷ lệ tăng trưởng sản lượng tiềm nặng cao hơn tỷ lệ tăng trường lao động, nên tỷ lệ tăng trưởng sản lượng bình quân lao động là lớn hơn không
Vốn con người
Theo cách hiểu phổ biến nhất, vốn con người là tập hợp kiến thức và kỹ năng
mà một người lao động có được thông qua giáo dục, đào tạo và kinh nghiêm làm việc, qua đó làm tăng giá trị của người lao động trên thị trường lao động Dưới góc
độ kinh tế, vốn con người được coi là kết quả của quá trình đầu tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng suất lao động cá nhân như giáo dục, y tế, đào tạo tại chỗ Nhìn chung, đầu tư vào vốn con người sẽ mang lại những lợi ích to lớn và có ảnh hưởng sâu rộng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế Ở cấp độ cá nhân, có trình độ giáo dục cao đồng nghĩa với cơ hội kinh tế nhiều hơn và quyền tự chù lớn hơn, đặc biệt là với người phụ nữ Ở cấp độ quốc gia và vùng lãnh thổ, lực lượng lao động có trình độ giáo dục cao được coi là yếu tố cơ bản dẫn đến tiến bộ kỹ thuật và phát triển kinh tế-xã hội Trong lịch sử phát triển kinh tế học, đã có nhiều nhà kinh tế nổi tiếng quan tâm đển vốn con người và vai trò của giáo dục Schultz (1961) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên coi giáo dục như một khoản đầu tư vào con người và nó cũng có tác động như một loại vốn, đó là “vốn con người” Ông rất chú trọng đến những vấn đề chính sách liên quan đến đầu tư vào vốn con người và cho rằng việc loại bỏ những rào cản đối với đầu tư vào vốn con người sẽ mang lại nhiều lợi ích cho
xã hội
Tiến bộ công nghệ được cho rằng là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng kinh tế ngày nay Nguồn gốc cơ bản của tiến bộ công nghệ là các hoạt động đầu tư vào R&D Tiến bộ công nghệ cần được hiểu đầy đủ ở hai góc độ: thứ nhất, đó là những thành tựu khoa học, những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các két quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung
Trang 27của sản xuất Nghiên cứu và phát minh, sáng chế sẽ tạo ra kiến thức, còn quá trình triển khai và cải tiến sẽ đưa kiến thức mới vào sản xuất Theo cách hiểu rộng hơn, tiến bộ công nghệ còn thu được qua quá trình “học thông qua làm” (learning by doing), theo đó công nhân, người quản lý, nhà đầu tư tích lũy kinh nghiệm và kết quả là có thể tăng hiệu quả sản xuất trong tương lai Tiến bộ công nghệ cũng có được
từ đầu tư vào vốn con người, đặc biệt thông qua giáo dục và đào tạo
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, tác động của yếu tố tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố phi kinh tế Chẳng hạn, quá trình truyền bá kiến thức mới phụ thuộc nhiều vào sự sẵn sàng đón nhận cái mới của rnỗi cộng đồng Do đó, tầm quan trọng của tiến bộ công nghệ ở mỗi nước lại
có sự khác biệt, chịu sự chi phối của nhiều lực lượng kinh tế và xã hội phức tạp, và vì thế, thước đo tác động của nó tới tăng trường kinh tế luôn là câu hỏi lớn của khoa học kinh tế
Các nhân tố kinh tế khác
Trong các mô hình kinh tế tân cổ điển, tăng trưởng kinh tế thường được coi là một hàm của các nhân tố vốn vật chất, vốn con người, lao động và tiến bộ công nghệ, trong đó công nghệ chịu trách nhiệm giải thích cho toàn bộ phần tăng trưởng không do các đầu vào của quá trình sản xuất (vốn vật chất, vốn con người và lao động) mang lại Tuy nhiên, trong hầu hết các nghiên cứu ngày nay về tăng trưởng, người ta còn đưa vào mô hình nhiều nhân tố kinh tế mang tính cơ cấu như thương mại, phân phối thu nhập, chi tiêu chính phủ, chuyển dịch kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài để giải thích cho sự tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn của nền kinh tế
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong những thập kỷ gần đây, với xu hướng ngày càng tự do hơn trong việc di chuyển các luồng vốn quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư tại mỗi quốc gia Năm 1998, FDI chiếm tới trên một nửa các luồng vốn tư nhân vào các nước đang phát triển Sự thay đổi này trong cấu thành các dòng vốn là kết quả của những chuyển hướng chiến lược phát
Trang 28triển ở các nước đang phát triển, nhằm mục tiêu thu hút FDI, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng nợ vào những năm 1980 và tình trạng phụ thuộc đầu tư tài chính nước ngoài tại các nền kinh tế mới nổi Các nhà kinh tế cho rằng, FDI có những tác động tích cực tới quá trình chuyển giao công nghệ (dây chuyền sản xuất, kỹ năng quản lý, kiến thức về thị trường, đào tạo nhân lực, mạng lưới sản xuất và buôn bán quốc tế )
và tăng năng suất lao động
Thương mại quốc té
Xuất khẩu cũng luôn được coi là một nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Phát triển xuất khẩu sẽ tạo nên những ngoại ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Các doanh nghiệp xuất khấu thu được nhiều lợi ích thông qua việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, khai thác được tính kinh tế theo quy mô (do chuyên môn hóa sản xuất), tận dụng được lợi thế so sánh, thúc đẩy cải tiến công nghệ (do phải cạnh tranh trên thị trường thế giới) Mặt khác, xuất khẩu có thể mang lại ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị và các loại hàng hóa trung gian, hình thành nên vốn vật chất, góp phần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đây là nền tảng và nội dung chủ yếu của các lý thuyết tăng trưởng dựa trên xuất khẩu, mà thành công của các nền kinh tế Đông Á trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX thường được dẫn chứng là một ví dụ
Vai trò của nhà nước và chỉ tiêu công cộng
Đã có nhiều trường phái kinh tế xem xét đến vai trò của nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế Đối với trường phái cổ điển và tân cổ điển, vai trò của nhà nước đối với tăng trường kinh tế là rất mờ nhạt Từ thực tế của cuộc Đại suy thoái, Keynes (1936) lại cho rằng nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong tăng trưởng kinh
tế Ngày nay, nhà nước và khung khổ pháp lý được coi là nhân tố vật chất thực sự cho quá trình tăng trưởng Rõ ràng cơ chế chính sách có thể có sức mạnh kinh tế thực
sự, bởi chính sách đúng có thể sinh ra vốn, tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng Ngược lại, nhà nước quyết sách sai, điều hành kém, cơ chế chính sách không hợp lý
sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế, kìm hãm tăng trưởng cả về mặt số lượng và chất lượng Stiglitz (2000) cho rằng thị trường hiệu quả chỉ có được với các điều kiện nhất định, trong đó một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quả đầu ra sẽ khó
Trang 29đạt được nếu không có sự can thiệp của chính phủ
Cơ cấu ngành kinh tế
Các mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế dài hạn chỉ đạt được nhờ đổi mới công „nghệ trong chính hệ thống kinh tế mỗi quốc gia Khác với công nghiệp và dịch vụ, sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển không tạo nên những hiệu ứng ngoại sinh đáng kể về giáo dục và công nghệ để đảm bảo cho sự phát triển bền vững Trong khi đó, các hiệu ứng lan tỏa của quá trình công nghiệp hóa sẽ thúc đẩy đổi mới công nghệ, một đồng vốn đầu tư vào một doanh nghiệp có thể mang lại sự phát triển công nghệ ở tất cả các doanh nghiệp Bời vậy, một cơ cấu ngành kinh tế thiên về nông nghiệp có thể là nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng nhanh, ngược lại khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế, có thể kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng cao hơn
Vai trò của các doanh nghiệp nhà nước
Về lý thuyết, vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế cũng bao gồm các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, ảnh hưởng của việc duy trì các doanh nghiệp nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế là một đặc điểm riêng của các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi (từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường) như Trung Quốc và Việt Nam Bởi vậy, trong nhiều nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi, các nhà kinh tế coi đây là một yếu tố cần xem xét riêng Phần lớn kết quả các nghiên cứu này đều đưa đến kết luận rằng tỷ trọng các doanh nghiệp không thuộc khu vực nhà nước càng cao, thì nền kinh tế càng tăng trưởng nhanh Nói cách khác, các doanh nghiệp nhà nước thường hoạt động không hiệu quả bằng khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Tình trạng này thường được lý giải bởi khả năng thích ứng với cơ chế thị trường của các doanh nghiệp nhà nước không cao như khối doanh nghiệp tư nhân
1.2.2.Các nhân tố phi kinh tế
Khác với các nhân tố kinh tế như vốn và lao động, các nhân tố chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế, có tác động gián tiếp và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế Một số nhân tố
Trang 30phi kinh tế tác động đến tăng trưởng bao gồm: các yếu tố văn hóa xã hội, thể chế, và
sự tham gia của cộng đồng
Văn hóa xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều mặt tới quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nhân tố văn hóa-xã hội bao gồm tri thức phổ thông, tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống, phong tục tập quán Trình độ văn hóa cao là nhân tố quan trọng của trình độ văn minh cao
và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Trình độ văn hóa của mỗi dân tộc được coi là nhân tố cơ bản trong việc tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý
1.3 Các lý thuyết và mô hình tăng trường kinh tế
Mô hình tăng trưởng kinh tế là một cách diễn đạt cơ bản nhất về tăng trường kinh tế và các nhân tố tác động đến tăng trưởng Ngay từ đầu thế kỷ XX, các mô hình tăng trưởng kinh tế đã trở thành công cụ hữu ích, giúp các nhà kinh tế mô tả và lượng hoá các nguồn tăng trưởng của nền kinh tế một cách cụ thể và chính xác hơn Từ những ý niệm, tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế cổ điển, đến các mô hình nội sinh vô cùng đa dạng, phong phú ngày nay, lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế
đã trải qua những bước tiến lớn lao
1.3.1.Lý thuyết tăng trưởng cổ điển
Từ thế kỷ XVII trở về trước, dường như nền kinh tế thế giới không hề tăng trưởng, mức thu nhập trong dài hạn không tăng, mức sống của người nông dân châu
Âu thế kỷ XVI chỉ nhỉnh hơn thời kỳ La Mã một chút Malthus đã giải thích rằng: khi cung lương thực, thực phẩm tăng lên thì dân số cũng tăng lên, thậm chí với tốc độ còn nhanh hơn, do đó lượng lương thực, thực phẩm bình quân đầu người luôn chỉ ở mức đủ sống Nhưng đến thế kỷ XVIII, mặc dù dưới áp lực của tăng dân số và quy luật lợi tức giảm dần trong nông nghiệp, thu nhập bình quân ở Hà Lan và Anh vẫn tăng Rõ ràng, lý thuyết của Malthus không còn đúng nữa, bởi vì lúc này, của cải được tạo ra nhanh hơn tốc độ tăng dân số Vào đầu thế kỷ XVIII, những người theo trường phái trọng nông đã phân tích tăng trường sản lượng và sản lượng bình quân lao động, và kết luận rằng tăng trưởng của nền kinh tế chỉ có được trong khu vực
Trang 31nông nghiệp, bởi vì chỉ những lao động được thuê trong khu vực khai thác đất đai mới có thể tạo ra sản phẩm thặng dư, lớn hơn giá trị các đầu vào cộng với lao động được thuê
Trong số các nhà kinh tế cổ điển, ba người có đóng góp lớn nhất đối với lý thuyết tăng trưởng kinh tế là Adam Smith, David Ricardo và Karl Marx Tuy nhiên, đóng góp lý thuyết của Marx rất đặc biệt, nên người ta thường tách lý thuyết của ông
ra khỏi nhánh kinh tế chính trị cổ điển
1.3.2.Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx
Các nhà kinh tế thế giới đã khẳng định rằng việc xem xét lý thuyết của Marx vẫn luôn cần thiết cho dù hệ thống xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ trong thế giới thực Lý thuyết của Marx chiếm một vị trí đặc biệt trong lịch sử về lý thuyết tăng trưởng; và
về vấn đề này, rõ ràng là ông đà chịu ảnh hưởng của các nhà lý luận cổ điển khi gìữ cách nhìn bi quan đối với sự tăng trưởng tư bản Cũng như các nhà kinh tế cổ điển,
dự bảo của Marx về sự tăng trưởng trì trệ trong dài hạn do sự suy giảm của tỷ suất lợi tức trên vốn Hơn nữa, khác với lý thuyết cổ điển là tích luỹ trong quá trình tăng trưởng chỉ là “tư bản lưu động”, lý thuyết tăng trưởng của Marx tập trung vào chủ nghĩa tư bản công nghiệp và tích luỹ tư bản cổ định (thể hiện sự tiến bộ công nghệ) Marx dự đoán rằng sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ gây nên mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp người lao động và nhà tư bản, và tất yếu sẽ dẫn đến đấu tranh bằng bạo lực, và chủ nghĩa tư bản dựa trên chế độ tư hữu của một số ít cá nhân sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu
Dự đoán này đẵ không trở thành hiện thực trong lịch sử các nền kinh tế công nghiệp tiên tiến Số liệu thống kê từ cuối thể kỷ XIX đến nay cho thấy ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, mức lương thực tế của người công nhân đã tăng lên và tỷ phần thu nhập của lao động (trong tổng thu nhập quốc dân) cũng đã tăng lên
1.3.3.Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes
Khi nền kinh tế thế giới chìm trong cuộc Đại suy thoái những năm 1930, thì sự phát triển của kinh tế học đã đi được một bước xa trên con đường này Kinh tế học trường phái Keynes cho rằng các nền kinh tế hiện đại cần các chính sách chính phủ
Trang 32chủ động để quản lý và duy trì tăng trưởng kinh tế Dựa vào tư tường của Keynes về vai trò của vốn đầu tư trong tăng trưởng kinh tế, vào những năm 1940, với sự nghiên cứu một cách độc lập, hai nhà kinh tế học là Roy F Harrod ở Anh và Evsey Domar ở
Mỹ đã đồng thời đưa ra mô hình lượng hoá mối quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu
về vốn, được gọi chung là mô hình “Haưod- Domar”
Trong mô hình Harrod-Domar, đầu tư liên kết với mức sản lượng thông qua
số nhân, trong khi nó cũng liên kết với tốc độ tăng trường sản lượng thông qua sự thay đổi của khối lượng vốn Các mô hình tăng trưởng của Harrod và Domar đã giả thiết rằng các nhân tố sản xuất không thể thay thế cho nhau và các quyết định đầu tư
là hàm của cầu dự kiến về hàng hoá và dịch vụ Logic kinh tế của phương trình tăng trưởng trong mô hình Harrod-Domar rất đơn giản Để tăng trưởng, các nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập của mình Tiết kiệm và đầu tư càng nhiều thì tăng trưởng càng nhanh Ví dụ, nếu một nước có ICOR bằng 3 và tỷ lệ tiết kiệm bằng 6% GDP, thì theo công thức trên, nước đó có tốc độ tăng trường kinh tế bằng 2% Nếu nước này có thể tăng tỷ lệ tiết kiệm lên 15% thì GDP có thể tăng lên 5% Vậy, bí mật của tăng trường chỉ đơn giản nằm trong vấn đề gia tăng tiết kiệm và đầu
tư quốc gia
Do vậy, theo mô hình này, trở ngại chính đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước nghèo là khả năng huy động vốn tương đối thấp do thu nhập thấp Mô hình Harrod-Domar hàm ý rằng cần có kế hoạch hoá và mệnh lệnh của chính phủ nhằm thúc đẩy đầu tư, qua đó đẩy nhanh tăng trường kinh tế ở các nước đang phát triển
1.3.4 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Tuy nhiên, thất bại của chiến lược tăng trưởng nhờ huy động tiết kiệm trong nước cao độ theo ý chí của chính phủ đã phủ một bóng mây nghi ngờ lên quan điểm truyền thống cho rằng tích luỹ vốn là chìa khoá của tăng trưởng kinh tế và ràng tỷ lệ tiết kiệm thấp chính là giới hạn chủ yếu của tăng trưởng đối với các nước đang phát triển Solovv và Swan đã phản bác lại ý tưởng này của trường phái Keynes khi cho rằng nếu xã hội ngày càng tích luỹ nhiều vốn sản xuất (máy móc, thiết bị), thì lợi tức cận biên của việc đầu tư thêm sẽ giảm dần và đến một điểm nào đó, động cơ tiết kiệm
Trang 33và tích luỹ sẽ biến mất
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển do Solovv (1956) và Swan (1956) xây dựng được coi là mô hình tăng trưởng kinh tế chuẩn đầu tiên Ngay từ khi ra đời, mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã gây một tiếng vang lớn, bởi đây thực sự là mô hình hoàn chỉnh đầu tiên về táng trưởng kinh tế, là điểm khởi đầu cho nhiều công trình nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Các giả thiết cơ bản của mô hình này là lợi tức không đổi theo quy mô, năng suất cận biên của vốn giảm dần, công nghệ sản xuất là ngoại sinh, vốn và lao động có thể thay thế cho nhau, và không có một hàm đầu tư độc lập Nếu như mô hình Haưod-Domar nguyên bản chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng Mô hình này chỉ rõ tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và tốc độ tăng trường của một nền kinh tế theo thời gian Dạng cơ bản của mô hình Solow xem xét một nền kinh tế đóng, sản xuất một hàng hoá nhờ sử dụng cả lao động và vốn, nhưng tiến bộ công nghệ là cho trước và tỷ lệ tiết kiệm mang tính ngoại sinh
1.3.5.Mô hình tăng trưởng nội sinh
Những hạn chế của mô hình tăng trường Solovv là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời một loạt mô hình tăng trưởng được gọi là các mô hình tăng trưởng nội sinh Gọi
là mô hình tăng trưởng nội sinh là bời các mô hình tăng trường mới này cố gắng nội hoá sự tăng trưởng Kể từ cuối những năm 1980 đến nay, nhiều mô hình đã được xây dựng với mục đích làm sáng tỏ cơ chế nội sinh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nếu như trong mô hình tân cổ điển, tiết kiệm dẫn đến tăng trường tức thời, song lợi tức giảm dần trên vốn đã buộc nền kinh tế đi trên con đường tăng trưởng trạng thái dừng, thì ngược lại, với tăng trưởng nội sinh, đầu tư có thể dẫn tới tăng trường liên tục và do đó có thể giải thích được tăng trưởng bên trong một nền kinh tế
Trên thực tế, các mô hình tăng trưởng nội sinh đã quay trở về với vai trò truyền thống của đầu tư với tư cách là một thành tố quyết định tăng trưởng, nhưng khái niệm truyền thống về von đã được khái quát hoá để bao gồm cà vốn con người; hoặc bằng cách khai thác những hiệu ứng năng suất và công nghệ “bao hàm” trong
Trang 34đầu tư, và do đó lý thuyết tăng trưởng nội sinh hầu như đã loại bỏ giới hạn lợi tức cận biên giảm dần đổi với vốn Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, tăng năng suất có thể được tạo ra từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế, và đây là nhân tố tạo nên tàng trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người Do đó, tăng năng suất-“làm việc thông minh hơn” chứ không phải là “làm việc chăm chỉ hơn”-là yếu tố thiết yếu của tăng trưởng kinh tế nói chung
1.3.6 Các mô hình tăng trưởng xét đến nhân tố phi kinh tế
Từ lâu người ta đã nhận ra rằng các nhân tố phi kinh tế cũng có mối tương tác với quá trình tăng trưởng Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh, các nhân tố như lịch sử, văn hóa và thể chế không được đề cập đến Rõ ràng
là các kỹ thuật của mô hình tăng trưởng hiện nay chủ yếu là nhằm mục đích đo tầm quan trọng tương đối của mức vốn, lao động và công nghệ trong quá trình tăng trưởng kinh tế và điều này chỉ được thực hiện trong khuôn khổ một hàm sản xuất kinh tế vĩ mô Thế nhưng các nhà kinh tế thể chế hiện đại lại có quan điểm khác Chẳng hạn, North (1994) cho rằng thể chế là cấu trúc mang tính thúc đẩy của một xã hội, do đó các luật lệ, quy tắc tạo nên nền tảng thể chế của một xã hội sẽ chi phối sự phân bổ các nguồn lực của xã hội và nền kinh tế
1.4 Xây dựng mô hình lý thuyết áp dụng cho cấp tỉnh, thành phố và một số quan điểm xây dựng mô hình nghiên cứu tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh
1.4.1 Quan điểm hệ thống trong phân tích mối quan hệ giữa địa phương và trung ương
Ta có thể xem xét nền kinh tế của một quốc gia như một hệ thống hoàn chỉnh, thì kinh tế ở mỗi thành phố, tỉnh được coi như một phân hệ Nền kinh tế của một địa phương một mặt phụ thuộc vào sự chi phối của kinh tế trung ương như vốn đầu tư, lãi suất, thị trường, các văn bản pháp luật về kinh tế, các nguồn lực, tài nguyên của đất nước Mặt khác kinh tế địa phương còn phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội, vị trí địa lí của địa phương, nên kinh tế địa phương có tính độc lập tương đối Vì vậy, khi phân tích hành vi của địa phương trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta phải coi địa phương là một phân hệ của phân hệ lớn - quốc gia Đồng thời vừa là một hệ thống có tính độc lập tương đối Với nhận thức
Trang 35này, khi xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương chúng ta phải
lưu ý các yếu tố đặc thù của địa phương, mối liên hệ tương tác giữa địa phương với
các địa phương khác, giữa địa phương với trung ương Đồng thời với vai trò phân hệ
có tính độc lập tương đối, mỗi địa phương cần được xem xét với đầy đủ các đặc
trưng của hệ thống môi trường, mục tiêu, chức năng, các phần tử, cơ cấu hệ thống
1.4.2 Quan điểm hệ thống trong phân tích quan hệ giữa các ngành, các yếu tố
trong cấu trúc kinh tế - xã hội địa phương
Nền kinh tế ở nước ta hoạt động theo cơ chế thị trường, dưới sự lãnh đạo của
Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu nền kinh tế Việt Nam theo ba nhóm
ngành lớn: nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp, nhóm ngành công nghiệp - xây
dựng, nhóm ngành dịch vụ Cơ chế quản lí của nước ta vừa theo ngành, vừa theo
lãnh thổ, do đó khi phân tích chúng ta phải coi các ngành, các yếu tố vừa là phần tử
của hệ thống trong phạm vi quốc gia, vừa là phần tử của phân hệ đối với từng địa
phương
1.4.3 Quan điểm hệ thống trong phân tích tương tác giữa phân hệ kinh tế địa
phương trong mối quan hệ với siêu hệ: kinh tế - xã hội của địa phương
- Như chúng ta đã phân tích, các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền
kinh tế bao gồm các nhân tố kinh tế và các nhân tố phi kinh tế như: đặc điểm văn hoá
- xã hội, các thể chế kinh tế - chính trị - xã hội, nhân tố dân tộc, nhân tố tôn giáo Vì
vậy khi nghiên cứu phân tích phát triển kinh tế, ta phải xét trong mối quan hệ kinh tế
với các yếu tố văn hoá - xã hội khác của địa phương
- Về cơ chế chính sách, ngoài việc tuân thủ theo các chính sách của trung ương,
ở địa phương còn ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể các chủ trương
chính sách của trung ương tại địa phương, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tại địa
phương, đặc biệt là các chính sách nhằm phát triển kinh tế địa phương như thu hút
đầu tư, thu hút nhân tài, giải phóng mặt bằng …đó chính là yếu tố vô cùng quan
trọng trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương
- Ngoài ra các yếu tố xã hội: truyền thống địa phương, các nghề truyền thống,
tính cách con người, giáo dục đào tạo của địa phương cũng là những yếu tố đặc thù
ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế của địa phương Vì vậy trong phân tích và dự
Trang 36báo kinh tế địa phương, ta cần xem xét đến sự ảnh hưởng của các yếu tố này tới sự tăng trưởng kinh tế địa phương
1.4.4 Sử dụng các mô hình kinh tế và và hệ thống dữ liệu trong phân tích kinh tế
- xã hội địa phương
Để có thể có những phân tích định lượng và dự báo đáng tin cậy, điều kiện tiên quyết là phải xác lập được các mô hình phản ánh những yếu tố và các quan hệ cơ bản liên quan đến đối tượng phân tích và dự báo Đồng thời với nó, phải có hệ thống dữ liệu về các đối tượng trên làm cơ sở để sử dụng các phương pháp định lượng Hiện nay có rất nhiều mô hình lý thuyết để dự báo kinh tế, mỗi mô hình đều có ưu, khuyết điểm Vì vậy, khi sử dụng chúng, ta phải căn cứ vào điều kiện, đặc điểm của đối tượng, từ đó lựa chọn các mô hình phù hợp nhất, đáp ứng yêu cầu, mục đích của nghiên cứu
Trong quản lý và điều khiển thì thông tin là cơ sở quan trọng, vì vậy nếu thiếu thông tin thì việc áp dụng mô hình để phân tích dự và báo sẽ không đạt kết quả Từ
mô hình lý thuyết, cần “ráp” những thông tin, dữ liệu ban đầu vào để tiến hành lượng hoá và phân tích các mối quan hệ trong mô hình (các biến kinh tế) Thông tin cho việc xây dựng mô hình dự báo phát triển kinh tế - xã hội là hệ thống cơ sở dữ liệu kinh tế - xã hội bao gồm các dữ liệu về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các nguồn lực
và tình hình phân bố, sử dụng các nguồn lực, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương, mối quan hệ với kinh tế trung ương của địa phương
Nhìn chung hệ thống số liệu, dữ liệu của các địa phương nói chung cũng như của Hải Phòng nói riêng còn nhiều bất cập Theo đánh giá sơ bộ, hệ thống dữ liệu còn các nhược điểm cơ bản sau đây:
- Hệ thống số liệu của tỉnh và trung ương không khớp nhau, không đồng bộ và thiếu nhất quán
- Các ngành có thống kê theo ngành, do đó số liệu của ngành và của tỉnh có những yếu tố không phù hợp với nhau Bởi vì các tỉnh thống kê không hết các ngành, đồng thời các ngành lại ít khi quan tâm đến số liệu cấp địa phương
- Cũng vì việc thống kê tính toán giữa địa phương và trung ương phối hợp thiếu đồng bộ nên dẫn đến số liệu giữa hệ thống quản lý ngang và hệ thống quản lý dọc
Trang 37vừa chồng chéo vừa thiếu sót
Do ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch, quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở địa phương diễn ra quá chậm chạp Các thị trường vốn, lao động mới hình thành, chưa hoàn hảo Việc di chuyển vốn và lao động giữa các địa phương diễn ra không linh hoạt Vì những lý do đó và lý do số liệu nên chúng ta có thể áp dụng một
số mô hình tăng trưởng của một quốc gia vào địa phương Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các thị trường vốn, lao động của Hải Phòng dần linh hoạt hơn, nên đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến những hạn chế khi sử dụng các mô hình tăng trưởng ở địa phương
Kết luận, trong chương 1, luận văn đã hệ thống các quan điểm về tăng trưởng
kinh tế, đặc biệt là quan điểm về chất lượng tăng trưởng kinh tế, ngày càng được nhiều người nghiên cứu Quan điểm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nói chung và cũng như của thành phố Hải Phòng nói riêng, hài hoà với quan điểm hiện đại của thế giới, đồng thời nó thể hiện đúng định hướng của Đảng về nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Luận văn cũng đã trình bày một cách có hệ thống các mô hình tăng trưởng kinh tế: từ các mô hình đơn giản như mô hình Harrod-Domar, đến các mô hình tăng trưởng nội sinh nêu bật vai trò của sự tích luỹ kiến thức và vốn con người Trong điều kiện số liệu thống kê chưa đầy đủ, ở Việt Nam nói chung cũng như ở Hải Phòng nói riêng, theo tôi nên chọn mô hình Solow-Swan để áp dụng, đồng thời nếu có thể được nên áp dụng các mô hình nội sinh để bổ sung kết quả xem xét tăng trưởng cho hoàn thiện hơn
Trên quan điểm tiếp cận hệ thống, luận văn cũng nêu lên một số nguyên tắc khi phân tích tăng trưởng kinh tế địa phương trong mối quan hệ với kinh tế cả nước, đồng thời cũng được xem xét cùng với hệ thống kinh tế - xã hội ở địa phương Luận văn đã đưa ra hai phương pháp phù hợp để có thể xây dựng các mô hình đánh giá vai trò của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, và tiến bộ công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế ở các địa phương nói chung và của Hải Phòng nói riêng
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA HẢI PHÒNG
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 2.1 Giới thiệu chung về thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố với diện tích 1.519Km, có vùng bờ, biển và đảo rộng lớn, nằm trong chiến lược biển của cả nước với 126 km bờ biển và hơn 4.000 km2 diện tích mặt biển nội hải, Hải Phòng có nhiều tiềm năng, thế mạnh và giữ vị trí trọng yếu trong phát triển kinh tế - xã hội của miền Bắc và giao thương quốc tế, là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc Hải Phòng có những lợi thế vượt trội nằm trong vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay Cảng Hải Phòng được xếp vào nhóm các cảng quan trọng nhất trong 536 cảng biển của khu vực Đông Nam Á Nằm trong 2 hành lang kinh tế Côn Minh- Lào Cai- Hà Nội- Hải Phòng và Nam Ninh- Lạng Sơn- Hà Nội- Hải Phòng, trong khu vực “Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ”, Hải Phòng có vị trí quan trọng trong giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước trong khu vực… Bởi vậy, thành phố ưu tiên thu hút đầu tư các lĩnh vực phát huy thế mạnh: phát triển hệ thống cảng biển và dịch vụ; hạ tầng cơ sở trọng yếu; bất động sản công nghiệp và du lịch ven biển
Việc thu hút được các tập đoàn kinh tế nước ngoài lớn sẽ góp phần làm cho hệ thống cảng biển Hải Phòng ngày càng hoàn thiện, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển mang tầm vóc khu vực và quốc tế Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về phát triển cụm cảng cửa ngõ Lạch Huyện đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, cảng Lạch Huyện sẽ trở thành Cảng cửa ngõ quốc tế khu vực miền Bắc Tàu 6.000 TEU hoặc tàu chở hàng tổng hợp 80.000 tấn trở lên có thể ra vào cảng thuận tiện Hiện các nhà đầu tư Nhật Bản rất quan tâm đến cụm cảng này; tháng 3/2009, Rent A Port vương quốc Bỉ và một số doanh nghiệp khác đã ký cam kết với Tổng công ty hàng hải Việt Nam và Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng về việc tham gia đầu tư xây dựng bến số 3 và số 4 của Cảng Lạch Huyện1
1 http://www.a rid.gov.vn/
Trang 39Với tầm ảnh hưởng của các tập đoàn quốc tế, cảng Lạch Huyện sẽ thu hút một lượng khách không nhỏ đến Việt Nam Hải Phòng đang trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải và vận tải biển lớn nhất Việt Nam
Bảng 2.1: Các khu công nghiệp chính của Hải Phòng và các thông số hạ tầng 2
Diện tích 150 ha Pha 1 :164ha
42,000 lines IDD, ADSL and Wimax
ADSL, TEL
TEL, ADSL, optical ADSL
1500 lines ADSL,TEL
TEL, ADSL, optical ADSL
Trang 40
Với những ưu thế trên, Hải Phòng hội tụ đầy đủ các yếu tố để sớm vươn mình
trở thành thành phố năng động phát triển, là trung tâm kinh tế - xã hội của cả nước.3
2.2 Thực trạng của mô hình phát triển kinh tế Hải Phòng
2.2.1 Kinh tế Hải Phòng tăng trưởng theo chiều rộng
Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng là việc phát triển kinh tế bằng cách tăng
số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài
sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kĩ thuật như trước Trong điều kiện một
nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử
dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển kinh tế theo
chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát
triển kinh tế theo chiều sâu Nó thể hiện ở chỗ mức tăng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân vừa dựa vào lực lượng lao động và tài sản cố định, vừa dựa vào cải tiến
thiết bị, kĩ thuật, công nghệ và tăng năng suất lao động Tuy nhiên, phát triển kinh tế
theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp
Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 phân theo
khu vực kinh tế
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm Tổng số Nông,
lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây
dựng
Dịch vụ
Thuế nhập khẩu Tổng số
Trong đó công nghiệp