đồng thời cũng có nhiều khoản thu được coi như thuế, chịu sự điều chỉnh của Luật quản lý thuế nói chung và các quy định bằng Nghị định của Chính phủ như: thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Quang Vƣợng
Trang 2cơ bản cũng nhƣ kiến thức chuyên ngành của mình và hoàn thành luận văn, đảm bảo các yêu cầu đã đề ra
- Lãnh đạo Cục thuế Thành phố Hải Phòng – nơi tôi đang công tác, đã động viên tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và hỗ trợ mọi mặt để tôi hoàn thành nhiệm
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 3iii
Phạm Quang Vượng
MỤC LỤC
Lời cam đoan ……….………i
Lời cảm ơn ……….… ii
Mục lục ……… iii
Danh mục các từ viết tắt.……….……….… … v
Danh mục hình vẽ… ……… vi
Danh mục bảng vii
MỞ ĐẦU……… ….1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ THU TTĐ, TMN……… 5
1.1 Những vấn đề chung về thu NS……… ………5
1.2 Nội dung quản lý thu NS ……… 7
1.3.Lý luận chung về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước………….……… 10
1.4 Cơ sở pháp lý về thu TTĐ, TMN……… 12
1.5 Khái quát về công tác quản lý thu TTĐ, TMN……….13
1.6.Đặc thù của DN khai thác kinh doanh cảng biển……… 17
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thất thu TTĐ, TMN………… …… …… 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU TIỀN TĐ, TMN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH DOANH CẢNG TẠI CỤC THUẾ HẢI PHÒNG………… 27
2.1 Giới thiệu chung về Hải Phòng……… ……….……27
2.2 Khái quát chung về DN cảng trên địa bàn thành phố Hải Phòng……….31
2.3 Giới thiệu về Cục thuế thành phố Hải Phòng………33
2.4 Thực trạng công tác quản lý thu TTĐ, TMN đối với DN cảng biển tại Cục thuế thành phố Hải Phòng ……… ……… 38
2.5 Đánh giá chung về thu TTĐ, TMN đối với DN cảng tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng………50
2.6 Kết quả đạt được……….………….55
Trang 4iv
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU TTĐ, TMN ĐỐI VỚI DN CẢNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG…….57 3.1 Mục tiêu của Cục thuế Thành phố Hải Phòng trong việc cải tiến quy trình quản
lý thu NS……… 57 3.2.Các biện pháp cơ bản tăng cường quản lý thu TTĐ, TMN đối với DN cảng 58 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… ………… 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… 73
Trang 5Người Tổ chức, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân
Trang 7vii
DANH MỤC BẢNG
2.1 Kết quả thu của toàn ngành thuế Hải Phòng 2010-2014 42
Trang 8viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Quá trình phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế, con người ngày càng nâng cao về mọi mặt trong đời sống xã hội.Trong những năm qua thu Ngân sách nhà nước đã có những bước tiến đáng kể, trong đó Thuế thực sự là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia, góp phần thực hiện các mục đích khác như định hướng sản xuất, tiêu dùng; điều tiết thu nhập…Hệ thống chính sách thuế đang dần được hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế đang được từng bước cải cách cho phù hợp với quá trình phát triển đất nước và thông lệ quốc tế
Ở Việt Nam có nhiều sắc thuế được thể chế hoá bằng Luật như: Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp đồng thời cũng có nhiều khoản thu được coi như thuế, chịu sự điều chỉnh của Luật quản lý thuế nói chung và các quy định bằng Nghị định
của Chính phủ như: thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; lệ phí trước bạ nhà, đất…
Đất đai là tài nguyên của mỗi quốc gia, do đó công tác quản lý đất đai là hết sức cần thiết, được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, trong đó việc giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền hay cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân sử dụng đất là hết sức cần thiết Để việc giao đất có thu tiền hay không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất có tác dụng với mục tiêu để việc sử dụng đất có hiệu quả, không để đất đai lãng phí và tạo sự bình đẳng trong kinh doanh; Đồng thời Người sử dụng đất phải có trách nhiệm , nghĩa vụ đóng một khoản tiền cho Ngân sách Nhà nước để thấy được giá trị của đất đai cũng như góp phần tăng thu Ngân sách Nhà nước Do đó, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách thu liên quan về đất như: thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thu thuế
sử dụng đất nông nghiệp
Những năm trước đây việc quản lý của cơ quan nhà nước và quản lý và sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân bị buông lỏng, Người sử dụng đất không hiệu quả, bỏ hoang, lãng phí đất đai diễn ra phổ biến Chính sách của Nhà nước về đất
Trang 92
đai cũng như việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ, quản lý đất đai của các cơ quan chuyên ngành và chính quyền địa phương chưa thường xuyên, chưa nghiêm Nhất là các doanh nghiệp sử dụng đất vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và thương mại dịch
vụ Trong đó có các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh Cảng
Thu tiền thuê đất, thuê mặt nước là một khoản thu về đất đối tượng nộp là các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước được Nhà nước giao đất không thu tiền, cho thuê đất, thuê mặt nước hoặc chuyển từ hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sang cho thuê đất để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ Thu TTĐ, TMN góp phần nhỏ trong tăng thu NSNN, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức kinh tế sử dụng đất, hạn chế được tình trạng sử dụng đất lãng phí, kém hiệu quả
Đối với các doanh nghiệp khai thác kinh doanh Cảng nói chung trong cả nước và tại Hải Phòng nói riêng có một đặc điểm là có nhu cầu sử dụng diện tích đất, diện tích mặt nước rất nhiều nhưng việc sử dụng, khai thác và thực hiện nghĩa vụ nộp tiền TĐ, TMN còn hạn chế, chưa đồng đều Việc cho thuê đất, thuê mặt nước đối với một số doanh nghiệp cảng tại Hải Phòng chưa được cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm, xử
lý triệt để, chặt chẽ, bài bản theo quy định nên dẫn đến việc quản lý và thu tiền TĐ, TMN của cơ quan Thuế đối với các doanh nghiệp này còn nhiều bất cập, hạn chế Đồng thời chính sách thu tiền thuê đất những năm gần đây có sự thay đổi điều chỉnh tăng tỷ lệ thu nhưng đúng giai đoạn khủng hoảng kinh tế nên đã dẫn đến hiệu quảthực hiện chưa cao
Hải Phòng là Thành phố Cảng do vậy cần có các tác động tích cực để các doanh nghiệp Cảng phát triển, đồng thời có các biện pháp để quản lý thu tiền TĐ, TMN nước tốt để tránh thất thu Ngân sách Nhà nước, quản lý tốt quỹ đất đai, đảm bảo công bằng đối với các doanh nghiệp thuê đất để đầu tư kinh doanh Cảng tại Hải Phòng Để Hải Phòng thực sự là thành phố Cảng xanh, sạch và phát triển bền vững
Được đào tạo tại trường Đại học Hàng hải Hải Phòng chuyên ngành Tổ chức - quản lý vận tải kết hợp với công việc nơi công tác, đồng thời với các lý do như trên,
em quyết định nghiên cứu viết đề tài:“Một số biện pháp tăng cường quản lý thu
Trang 103
tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với các doanh nghiệp Cảng tại cục thuế Hải
Qua nghiên cứu đề tài xác định các yếu tố tác động đến chất lượng công tác quản lý thu tiền TĐ, TMN của doanh nghiệp Cảng
Kết hợp giữa lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễnđể đưa ra một số biện pháp
cơ bản nhằm tăng cường quản lý đất đai, quản lý thu TTĐ, TMN với mục tiêu chống thất thu TTĐ, TMN đối với doanh nghiệp Cảng thời gian tới
Đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp Cảng được thuê đất, thuê mặt nước được ổn định để phát triển bền vững trên cơ sở hiện tại và tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài: Một số biện pháp chống thất thu tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với một số doanh nghiệp Cảng tại Cục Thuế Hải Phòng Tác giả khảo sát
số liệu của 9/37 Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh Cảng tại Hải Phòng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về không gian nghiên cứu: việc quản lý thu TTĐ, TMN tại cục thuế Hải Phòng đối với một số DN Cảng ở Hải phòng
+ Thời gian nghiên cứu: số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2010 đến năm
2014
4 Đóng góp mới của luận văn
Từ tình hình thực tế công tác quản lý thu với các số liệu và các biện pháp đã triển khai tại Cục Thuế thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến 2014, đề tài đã đưa
ra được một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện hơn về cơ chế, chính sách, công tác tổ chức, quản lý thu TTĐ, TMN của cơ quan Thuế tốt hơn nữa, nhất
Trang 114
là các doanh nghiệp thuê đất, thuê mặt nước để kinh doanh Cảng; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với các các DN Cảng trên địa bàn Thành phố do Cục Thuế Hải Phòng quản lý chấp hành tốt nhất chính sách thu TTĐ, TMN và ngày càng đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng số thuế trực thu đối với Ngân sách Thành phố cũng như của cả nước
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
+ Phương pháp biện chứng duy vật: Để tổng hợp các lý luận chung
+ Phương pháp phân tích hệ thống, thống kê và so sánh để tổng hợp các số liệu, từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá về từng vấn đề cụ thể
+ Phương pháp khái quát hóa: Từ những nhận xét mang tính bộ phận, sẽ khái quát thành những kết luận đặc thù, chung nhất
Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ tài liệu của Chính phủ, Bộ Tài chính,
Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Thuế, Cục Thuế Hải Phòng, các Báo cáo thường niên, các cơ quan thống kê, báo, tạp chí, các đề tài nghiên cứu…
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được xử lý trên Excel, công cụ như bảng so sánh chéo, thống kê, biểu bảng để phân tích cơ cấu và hiệu quả công tác quản lý thu TTĐ, TMN một số doanh nghiệp khai thác kinh doanh Cảng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần theo quy định, luận văn nghiên cứu gồm ba chương:
- Chương 1: Lý luận chung về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
- Chương 2: Thực trạng về quản lý thu tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với một số doanh nghiệp Cảng biển tại cục thuế Hải phòng
- Chương 3: Một số biện pháp để tăng cường quản lý tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với doanh nghiệp Cảng tại Hải Phòng
Trang 125
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH
VÀ THU TIỀN THUÊ ĐẤT, THUÊ MẶT NƯỚC
Thứ nhất, nội dung về thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa nhà nước và các cá nhân, tổ chức trong xã hội
Thứ hai, những mối quan hệ tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan
và có ý nghĩa xã hội đặc biệt Việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước
Thứ ba, theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Từ các đặc trưng trên của thuế có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Đặc điểm của thu NS:
Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc điểm riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác Đó là:
Tính bắt buộc
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước
Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền
tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt Phân
Trang 136
phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân Người nào không thực hiện là vi phạm pháp luật về thuế
Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế
Tính pháp lý cao
Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật
1.1.2 Chức năng, vai trò của thu NS trong nền kinh tế
Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước
Ngay từ lúc ra đời, thuế luôn luôn là phương tiện động viên nguồn tài chính cho nhà nước, đây là chức năng cơ bản của thuế Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước Chức năng này đã tạo
ra những tiền đề để nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội NSNN phụ thuộc rất nhiều vào thuế,
vì thuế là một nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất
Chức năng điều tiết kinh tế
Chức năng điều tiết kinh tế của Thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, các sắc thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải
Trang 147
nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế, sử dụng linh họat các ưu đãi và miễn, giảm thuế
Hai chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế
có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng huy động nguồn lực tài chính quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết Ngược lại, nhờ
sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển Chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiện để Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế
và xã hội Điều này tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính
Cùng với sự thống nhất đó, thì giữa hai chức năng này của thuế cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Sự tăng cường chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của nhà nước tăng lên Điều đó đồng nghĩa với việc
mở rộng khả năng của nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế
Do vậy, trong quá trình quản lý thuế, hoạch định các chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cần phải chú ý đến mỗi quan hệ giữa chức năng điều tiết kinh tế và chức năng huy động nguồn tài chính của thuế
1.2 Nội dung của quản lý thu NS
Điều 3, Luật quản lý thuế năm 2006 quy định nội dung quản lý thuế: bao gồm những hoạt động như đăng kí thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, quản lý thông tin người nộp thuế, kiểm tra - thanh tra thuế, cưỡng chế -
xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại…
Đăng kí thuế, kê khai, nộp thuế, ấn định thuế
Trang 158
Đối tượng đăng ký thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, cá nhân
có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật
Kê khai: Người nộp thuế phải kê khai đầy đủ, chính xác trung thực các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế
Nộp thuế: Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ Người nộp thuế phải nộp số thuế ấn định theo thông báo của cơ quan quản lý thuế Trường hợp không đồng ý với số thuế do cơ quan quản lý thuế ấn định thì người nộp thuế vẫn phải nộp số thuế đó, đồng thời có quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích hoặc khiếu nại, khởi kiện về việc ấn định thuế
Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Cơ quan quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại các văn bản pháp luật về thuế
Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Các trường hợp được xoá nợ tiền thuế, tiền phạt:
Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt
Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân
sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ
Quản lý thông tin về người nộp thuế
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển
cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin về người nộp thuế; tổ chức đơn vị chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu và bảo đảm duy trì, vận hành hệ thống thông tin về người nộp thuế
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Trang 169
Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Kiểm tra thuế tại bàn (tại cơ quan Thuế) công việc này phải thực hiện thường xuyên trên cơ sở hồ sơ khai thuế của Ngườ nộp thuế để đánh giá tính đầy
đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.Từ kết quả kiểm tra tại bàn phát hiện các dấu hiệu vi phạm để có kế hoạch thanh tra tại trụ sở Người nộp thuế
Thanh tra thuế khi doanh nghiệp có dấu hiệu nghi vấn hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế hoặc theo yêu cầu của các cơ quan quản lý
Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Các trường hợp Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế như quá thời gian quy định của pháp luật về vệc phải kê khai, phải nộp báo cáo, phải nộp thuế, bỏ trốn, phân tán tài sản
Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Mọi hành vi vi phạm pháp luật về thuế được phát hiện phải được xử lý kịp thời, công minh, triệt để Quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế phải do người
có thẩm quyền ký
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý thuế, hành vi hành chính của công chức quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Cơ quan quản lý thuế khi nhận được khiếu nại về việc thực hiện pháp luật về thuế phải xem xét, giải quyết trong thời hạn theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Có ba nguyên tắc chính trong quản lý thuế đó là:
Trang 1710
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.3 Lý luận chung về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
1.3.1 Khái niệm thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (TTTĐ, TMN) là loại thuế trực thu, thu trực tiếp Người đang sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng không phân biệt đã có Quyết định có thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hay Hợp đồng thuê đất hay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có
Người sử dụng đất là tổ chức, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình trong và ngà nước
1.3.2 Phạm vi điều chỉnh của thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Đất đai là nguồn tài nguyên của Quốc gia, việc cho thuê đất, giao đất để hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp để điều tiết một khoản đóng góp đó là tiền TĐ, TMN Khoản thu này giúp các DN có trách nhiệm hơn trong việc được giao quản lý và sử dụng đất có hiệu quả
Phạm vị điều chỉnh thu TTĐ, TMN rất rộng bao gồm diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất có mặt nước, các lọa đất khác theo quy định của Luật Đất Đai, mặt nước mà sử dụng vào sản xuất sản xuất, kinh doanh hoặc phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì Người được Nhà nước cho thuê hoặc đang có quyền quản lý, sử dụng đều phải kê khai và nộp tiền TĐ, TMN
Thuê đất để làm các công trình ngầm dưới mặt đất cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách thu TTĐ, TMN
1.3.3 Đặc điểm của thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Trang 1811
TTTĐ,TMN là một hình thức thu như thuế, mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định (Luật quản lý Thuế, Luật Đất đai) Điều tiết người sử dụng đất vào sản xuất, kinh doanh phải có nghĩa vụ và trách nhiệm nộp NSNN một khoản tiền đó là tiền TĐ, TMN
TTTĐ,TMN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp
TTTĐ,TMN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế với một số chính sách xã hội khác ( như phúc lợi công cộng, cơ sở hạ tầng đường xá…)
TTTĐ,TMN là thuế trực thu Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế TTTĐ,TMN có đối tượng thu rất rộng bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước được Nhà nước cho thuê đất hoặc có sử dụng đất, mặt nước hoặc giao đất phải chuyển sang thuê đất, ký Hợp đồng thuê đất theo Luật Đất đai đều phải kê khai nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước
Việc tính tiền thuê đất, thuê mặt nước theo các tiêu thức giá đất quy định của Thành phố, diện tích đất được thuê hoặc thực tế sử dụng để sản xuất kinh doanh, tỷ
lệ đơn giá thuê đất, thuê mặt nước
Xét về góc độ kinh tế, TTTĐ,TMN có ảnh hưởng lớn đến việc hạch toán giá thành của doanh nghiệp, nếu tiền thuê đất cao, thì chi phí sản xuất cao, nhiều doanh nghiệp kiến nghị giảm tỷ lệ
1.3.4 Đối tượng thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Đối tượng thu TTĐ, TMN là hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp trong và ngoài nước được Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước hoặc đang quản lý và sử dụng đất vào hoạt động sản xuất kinh doanh như làm văn phòng, nhà xưởng, bến bãi, bến tàu, bến cảng, khai thác mỏ, hay làm các công trình nhà ở để kinh doanh …v.v đều thuộc đối tượng nộp tiền TĐ, TMN
1.3.5 Vai trò của thu TTĐ, TMN
1.3.5.1 Đối với nền kinh tế - xã hội
Trang 1912
a.Thu TTĐ,TMN tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước
b Thu TTĐ, TMN góp phần quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, có hiệu quả
c Thu TTĐ,TMN góp phần thực hiện công bằng xã hội
1.3.5.2 Đối với hệ thống thuế
a Thu TTĐ,TMN góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thu về đất khác
b.Thu TTĐ,TMN góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế
1.4 Cơ sở pháp lý về việc thu TTĐ, TMN
Cơ sở pháp lý để thu TTĐ, TMN là Luật Đất đai, các Nghị định, các Thông tư của
Bộ Tài chính quy định , hướng dẫn về chính sách thu TTĐ, TMN Tại đó giao cơ quan Thuế là cơ quan tổ chức thu nộp tiền TĐ, TMN vào NSNN
Hiện nay đang thực hiện theo Luật Đất đai năm 3013, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền TĐ, TMN và Thống tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số Điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP của Chính phủ
Qua các văn bản quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước qua các thời kỳ cho
ta thấy chính sách TTTĐ, TMN của Nhà nước ta đã trải qua một thời gian thực hiện gần 20 năm (từ năm 1996) và nhiều lần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp thực tiễn Thời gian đầu chính sách thu tiền thuê đất, thuê mặt nước có sự khác biệt nhiều về giá đất và đơn giá thuê đất giữa tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đến nay đã không còn sự khác biệt trên Thông qua thực tiễn, chính sách thu TTĐ, TMN đã được Nhà nước ta sửa đổi, bổ sung để phù hợp với từng giai đoạn Hiện nay chính sách thu tiền thuê đất, thuê mặt nước được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, được Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Thông
tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014
Từ giai đoạn năm1996 đến năm 2004 do chính sách quy định và giá đất của Nhà nước quy định thời gian này thấp cùng các chế tài xử lý việc vi phạm chưa mạnh, tiền
Trang 2013
TĐ, TMN chưa được Người thuê đất quan tâm, vì nó chiếm một tỷ lệ nhỏ không đáng
kể trong chi phí sản xuất kinh doanh, từ đó dẫn đến việc quản lý và khai thác sử dụng đất của Người được giao đất kém hiệu quả Do vậy tình trạng để đất hoang hóa, sử dụng đất không đúng mục đích gây lãng phí, không hiệu quả Mặc dù đã vậy, nhiều Người sử dụng đất nợ tiền thuê đất dây dưa, trây ỳ không chịu nộp vào NSNN
1.5 Khái quát về công tác quản lý TTTĐ,TMN
1.5.1 Khái niệm về quản lý thu TTĐ,TMN
Quản lý thu tiền thuê đất, thuê mặt nước là công tác nghiệp vụ thu về đất của cơ quan Thuế Thông qua việc triển khai, tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Nhà nước và việc quản lý từ hồ sơ, tờ khai, sổ sách, mẫu biểu để nhằm quản lý, theo dõi, tính tiền, thông báo và đôn đốc các tổ chức, cá nhân thuê đất, sử dụng đất vào hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất kịp thời, đầy đủ vào Ngân sách Nhà nước
Quản lý thu TTĐ, TMN là quản lý đối tượng phải kê khai, phải nộp tiền TĐ, TMN; quản lý diện tích để tính tền TĐ, TMN; quản lý số tiền phải thu tiền TĐ, TMN của từng hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê đất hay đang quản lý và sử dụng đất vào hoạt động SXKD
Quản lý thu TTĐ, TMN thông qua công tác kiểm tra, thanh tra việc sử dụng đất đai để xử lý, uốn nắn kịp thời với mục tiêu không để đất lãng phí, hoang hóa, sử dụng hết được tiềm năng của đất đai phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh Đồng thời đôn đốc nộp tiền TĐ, TMN kịp thời vào NSNN
Đó là sự phối kết hợp giữa chính quyền các cấp, các Sở, ban ngành của tỉnh cũng như địa phương trong việc quản lý đất đai và chống thất thu ngân sách từ các nguồn thu về đất
1.5.2.Công tác quản lý TTTĐ,TMN
1.5.2.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách
Đây là công việc đầu tiên của cơ quan Thuế, cơ quan Thuế phải thực hiện tuyên truyền, phổ biến chính sách thu tiền TĐ, TMN đến các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất, hoặc giao đất nay phải chuyển sang
Trang 2114
thuê đất Tuyên truyền, phổ biến để các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế… đang sử dụng đất thực hiện kê khai nộp tiền TĐ, TMN đồng thời cung cấp hồ sơ về đất đai như: Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Hợp đồng thuê đất ký với Sở Tài nguyên và Môi trường, bản đồ (hoặc trích đo địa chính) của thửa đất cho cơ quan Thuế để làm căn cứ tính tiền thuê đất, thông báo cho Người sử dụng đất thực hiện
Các trường hợp được miễn, giảm tiền TĐ,TMN, thủ tục để được miễn, giảm tiền TĐ, TMN ( về hồ sơ xin miễn, gảm) theo quy định Công khai hóa các thủ tục, giấy tờ và các trường hợp được giảm, miễn để Người thuê đất biết, thực hiện
Hiện nay công tác tuyên truyền của cơ quan Thuế chưa chưa có phương án riêng đối vớ doanh nghiệp Cảng, nhiều DN cảng chưa thực sự quan tâm đến chính sách thu TTĐ, TMN Cụ thể là chưa chủ động cập nhật chính sách, chưa vào trang thông tin của ngành Thuế để tìm hiểu chính sách thu TTĐ, TMN, mà hầu như chỉ hiểu theo cảm tính Việc này là vấn đề cơ quan Thuế cần nghiên cứu để có phương pháp tuyên truyền, hỗ trợ DN Cảng được kịp thời để họ tránh được các vi phạm Luật quản lý thuế
1.5.2.2.Quản lý các đối tượng nộp tiền thuê đất, tính tiền TĐ,TMN
a Xác định đối tượng nộp tiền TĐ, TMN
Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án để thực hiện sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh, đất để
thực hiện dự ánđầu tư nhà ở để cho thuê…
Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao sử dụng đất để xây dựng trụ sở làm việc
Trang 2215
Như vậy, đối tượng nộp tiền thuê đất rất nhiều, ngay bản thân Người sử dụng đất nhiều khi còn không biết mình thuộc đối tượng có phải kê khai nộp tiền thuê đất hay không Thậm chí họ không quan tâm, chỉ biết ta đang sử dụng là bthuộc quyền của ta, việc thực hiện nghĩa vụ mtài chính với Nhà nước thì không quan tâm Hoặc biết nhưng
cố tình né tránh không thực hiện nghĩa vụ vớ Nhà nước
b Xác định căn cứ để tính tiền TĐ, TMN
Người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất phải nộp tiền thuê đất theo quy định của Luật Đất đai và được xác định trên các căn cứ sau: Diện tích đất cho thuê, Thời hạn cho thuê đất, Đơn giá thuê đất, Hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
Tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê mặt nước không thuộc phạm vi quy định tại Điều 10 Luật Đất đai phải nộp tiền thuê mặt nước và được xác định trên các căn cứ sau:
a) Diện tích mặt nước cho thuê
b) Mục đích sử dụng mặt nước
c) Đơn giá thuê mặt nước
d) Hình thức Nhà nước cho thuê mặt nước trả tiền thuê mặt nước hàng năm hoặc cho thuê mặt nước trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê
Trang 2316
kinh phí, ai sẽ bỏ ra Ngân sách Nhà nước thì hạn hẹp, Người sử dụng đất đang sử dụng, tự nhiên phải bỏ ra một khoản tiền để đo vẽ mà chẳng để làm gì, thậm chí còn phải nộp thêm tiền thì không bao gờ muốn và đồng ý
- Giá đất để tính tiền TĐ, TMN: Giá do UBND cấp tỉnh quy định tại bảng giá đất hàng năm nhân vớ hệ số đều chỉnh giá Hệ số đều chỉnh giá do UBND cấp tỉnh quy định hoặc giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định đối với từng dự án tùy theo từng trường hợp cụ thể
Giá đất do UBND các quận, huyện khảo sát giá đất thực tế xây dựng báo cáo lên Thành phố Nhiều khi giá đất có sự thay đổi nhưng người xây dựng giá làm qua loa, đại khái cho xong việc dẫn đến có nhiều nơi, nhiều chỗ bất hợp lý có kiến nghị Việc sửa đổi lại lâu, chậm chễ gây thiệt thòi cho doanh nghiệp hoặc thiệt hại cho NSNN
Hệ số điều chỉnh giá đất xây dựng phải cho từng Dự án, nhưng thực tế quy định chung cho một khu vực, do vậy cũng có rất nhiều bất cập
- Tỷ lệ đơn giá thuê đất: Tùy theo từng vị trí của thửa đất thuê ở trung tâm đô thị hay ven đô mà có tỷ lệ khác khau, nhưng mức cao nhất là 3%, mức thấp nhấtlà 0,5%
Tỉ lệ (%) đơn giá do UBND cấp tỉnh quy định
Thường những đường phố có giá trị lợi thế thương mại, sinh lời cao thì giá đất đã cao, nhưng lại điều tiết tỷ lệ tính đơn giá thuê đất cũng cao nữa cho nên vấn đề này cũng bất cập, chính sách cần xem xét sửa đổi cho phù hợp
- Đơn giá TĐ, TMN (đ/m2) = Giá đất để tính tiền TĐ, TMN (đ) x Tỷ lệ (%) đơn giá
1.5.2.3 Công tác đào tạo cán bộ công chức trong quản lý thuế
Công chức Thuế phần lớn học trong trường lớp đã được học và nghiên cứu nhưng chưa chuyên sâu về các chính sách thu liên quan đến đất đai, chỉ khi được tuyển dụng
và được phân công làm nhiệm vụ liên quan về quản lý thu tiền thuê đất lúc đó mới bắt đầu nghiên cứuchuyên sâu Bội dung chủ yếu nghiên cứu Luật Đất đai, Luật quản lý thuế, các văn bản liên quan và thực hiện theo Nghị định, Thông tư và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về thu tiền TĐ, TMN
Trang 241.5.2.4 Công tác kiểm tra về tiền thuê đất, thuê mặt nước
Cơ quan Thuế thực hiện kiểm tra định kỳ và đột xuất theo chuyên đề
Hàng năm cơ quan Thuế phối hợp các cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương thực hiện kiểm tra, rà soát các đối tượng sử dụng đất trên địa bàn để tiến hành đưa vào quản lý thu TTĐ, TMN với những đối tượng còn bỏ sót, hoặc những trường hợp đã hết thời hạn được miễn, giảm theo ưu đãi đầu tư….Qua đó xử phạt về hành vi không kê khai nộp tiền thuê đất và truy thu tiền thuê đất
1.5.2.5 Công tác xử lý vi phạm về thuế
Cơ quan Thuế đã xử lý nhiều trường hợp vi phạm về kê khai nộp tiền TĐ, TMN như kê khai không trung thực, thiếu diện tích, cung cấp hồ sơ cho cơ quan Thuế không đầy đủ
Phạt chậm nộp tiền thuê đất theo quy định của Luật quản lý thuế
Xử lý cưỡng chế các trường hợp trây ỳ dây dưa nợ tiền thuê đất theo quy định
Tuy nhiên chế tài xử phạt chưa đủ mạnh cho nên tình trạng trây ỳ, dây dưa nợ TTĐ, TMN còn phổ biến
1.6 Đặc thù của doanh nghiệp khai thác, kinh doanh Cảng
1.6.1 Khái niệm Cảng biển
Theo điều 57 Bộ luật hàng hải Việt Nam thì cảng biển là cảng được mở ra
để tàu biển ra, vào hoạt động
Theo định nghĩa của quy chế Gionevơ ngày 9/12/1923 thì những cảng thường thường có tàu biển ra vào và dùng cho ngoại thương được gọi là cảng biển Như vậy chỉ những cảng nào có tàu biển ra vào thường xuyên và dùng cho buôn bán đối ngoại mới được gọi là cảng biển Cảng biển là một bộ phận lãnh thổ quốc
Trang 25Điều 73 Bộ luật Hàng hải Việt Nam định nghĩa: “ Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng”
1.6.2.Vai trò của cảng biển
Là nơi lánh nạn của tàu Khi có ảnh hưởng về thời tiết, khí hậu, tàu cần phải lánh nạn vào Cảng để bảo đảm an toàn
Là nơi xếp dỡ và ga hành khách Đây là vai trò nguyên thủy của Cảng
Cung cấp dịch vụ cho tàu: Lương thực, thực phẩm, nước ngọt, sửa chữa tàu…
Là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp Điều này liên quan đến yêu cầu của công nghiệp và kết cấu hạ tầng của chúng, làm thuận tiện cho việc phát triển thương mại thông qua cảng Quan điểm phát trển gần đây là các cảng tự do
Là một mắt xích trong dây truyền vận tải, là điểm nối giữa sự phục vụ của tàu
và các dạng tàu vận tải khác để cung cấp một mạng lưới phân phối hàng hóa quốc
tế nói chung, thường là quan điểm vận chuyển liên hiệp Nó có thể liên quan đến đường sắt, đường bộ và đường sông
Trang 2619
Là một mắt xích trong dây chuyền vận tải từ điểm xuất phát cho đến điểm đích của hàng hóa và thường được coi là mắt xích yếu nhất quyết địch chất lượng của cả dây chuyền
Là cửa khẩu của một đất nước Thông qua cảng, một quốc gia có khả năng buôn bán với các nước khác
1.6.4 Đặc điểm hoạt động của Cảng
Quản lý hoạt động biển liên quan đến luật Hàng hải, sự tuân thủ và kiểm soát đường thủy trong phạm vi cảng và đường lân cận
1.6.4.2 Khu đất liền
Lưu kho hàng hóa: Có thể trong kho hoặc ngoài bãi phụ thuộc loại hàng và số lượng hàng, vào thời gian hàng ở cảng, vào phương tiện vận chuyển tiếp theo Kho bảo quản ngắn hạn, thông thường cho những hàng hóa lưu trong thời gian ngắn trong khi chờ phương tiện vận tải nội địa, vận tải thủy hoặc chờ để phân phối, chờ để đưa vào kho bảo quản dài hạn
Kho bảo quản dài hạn: Là kho đệm, từ đó hàng hóa được tiêu thụ trong một số trường hợp khó phân biệt giữa kho bảo quản ngắn hạn và dài hạn
Trang 2720
Kho chuyên dụng: Sử dụng để bảo quản một loại hàng chuyên biệt Hầu hết kho này đều bảo quản dài hạn Ví dụ: Kho đông lạnh, kho hàng lỏng, kho hàng nguy hiểm,…
Kho bãi liên quan đến việc dịch chuyển hàng hóa, phân loại, kiểm tra, dỡ hàng Thiết bị xếp dỡ cần thiết trong kho bãi
Quá trình tái chế: Áp dụng đối với những loại hàng yêu cầu quá trình tái chế trong phạm vi cảng để đảm bảo tập trung, phân phối hoặc nâng cao hiệu quản vận chuyển
Quá trình vận chuyển và bốc xếp trong nội bộ cảng
Kiểm soát giao thông trong cảng
1.6.5 Đặc điểm của doanh nghiệp Cảng:
Từ các đặc điểm trên của cảng biển thì các doanh nghiệp hoạt động khai thác kinh doanh cảng phải đáp ứng được phần lớn các đặc điểm của cảng Đặc điểm lớn nhất là mang tính phục vụ: Cảng phục vụ tất cả các loại tàu giao nhận hàng qua đường biển, cho thuê kho bãi để chứa hàng, neo đậu tàu
Tính thống nhất giữa sản xuất và tiêu thụ
Hoạt động của doanh nghiệp Cảng không có sản xuất dự trữ
Quá trình sản xuất của các doanh nghiệp này không làm thay đổi tính chất lý hoá mà chỉ làm thay đổi vị trí của đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm Lao động trong ngành doanh nghiệp không tạo ra sản phẩm mới mà chỉ làm tăng thêm giá trị của hàng hóa được vận chuyển
Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên Do vậy vị trí xây dựng Cảng thường ở giáp biển, sông và phải có diện tích kèm theo để xếp dỡ hàng hoá
Cảng phụ thuộc vào vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, môi trường hoạt động thời tiết, điều kiện thủy văn;
Một đặc đểm liên quan trực tiếp đến nội dung của luận văn là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cảng cần có một diện tích đất, mặt nước rất lớn để
Trang 28- Phương tiện vận chuyển
Ở Việt Nam, vận tải biển chiếm khoảng từ 70-80% lưu chuyển hàng hóa thương mại, đóng góp không nhỏ vào giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhất là trong hoạt động xuất - nhập khẩu… Tuy nhiên, những năm gần đây, các DN hoạt động trong lĩnh vực vận tải biển Việt Nam đã và đang gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại thế giới và thanh toán quốc tế của Chính phủ, tác động trực tiếp đến việc làm và thu nhập của nhiều cá nhân cũng như doanh thu và lợi nhuận của các DN vận tải biển
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thất thu tiền TĐ,TMN
1.7.1 Tổng quan về thất thu TTĐ, TMN
1.7.1.1 Khái niệm về thất thu TTĐ, TMN
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công Nhà nước ra đời thì thuế cũng ra đời để nuôi sống bộ máy nhà nước
Thất thu thuế là những khoản phải đóng góp của Người nộp thuế theo quy định của các Luật thuế, nhưng do một yếu tố khách quan hay chủ quan mà không được thu nộp kịp thời vào NSNN, hoặc không được nộp vào NSN
Thất thu TTĐ, TMN là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức sử dụng đất phục vụ cho hoạt động của mình, phải kê khai nộp TTĐ,TMN vào NSNN theo Luật định, nhưng vì lý do xuất phát từ phía cơ quan quản lý nhà nước hay Người nộp thuế mà khoản tiền đó không được nộp, hay nộp không kịp thời vào NSNN
1.7.1.2 Phân loại về thất thu TTĐ,TMN
Trang 2922
Tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất của Nhà nước phải kê khai nộp tiền TĐ, TMN sau đây gọi chung là Người thuê đất
Thất thu do không bao quát hết Người sử dụng đất của Nhà nước
Nguyên nhân này do Người sử dụng đất không tự giác kê khai, hoặc đã nghỉ, bỏ sản xuất, kinh doanh
Cơ quan quản lý Nhà nước chưa nắm, quản lý được hết các đối tượng phải
kê khai, nộp TTĐ, TMN
Nhiều đối tượng cố tình kê khai không đúng diện tích đất thực tế mà họ đang
sử dụng vào sản xuất kinh doanh
Thất thu do việc tính sai tiền TĐ, TMN so với chính sách quy định
Đây là nguyên nhân chủ quan của cán bộ thuế
Thất thu do thực hiện miễn, giảm không đúng người
Việc thất thu này nếu như không có việc hậu kiểm tra, thanh tra sau miễn, giảm TTĐ, TMN thì Nhà nước sẽ bị mất, Người sử dụng đất được trục lợi
Thất thu do việc phối hợp kiểm tra, rà soát, đối chiếu gữa các cơ quan quản
lý Nhà nước còn hạn chế
Các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này chưa bao quát được hết các doanh nghiệp phải chuyển sang thuê đất theo Luật Đất đai, chưa kết phối hợp trong đối chiếu, rà soát đối tượng, diện tích…
1.7.1.3 Nguyên nhân của việc thất thu thuế
Căn cứ vào tình trạng thất thu thuế như trên có thể đề cập đến một số nguyên nhân chủ yếu của việc thất thu thuế như sau:
+ Do xuất phát từ người nộp thuế: Để có thể đảm nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước thì Nhà nước phải có nguồn thu Cụ thể bằng cách động viên một phần thu nhập của các tầng lớp trong xã hội Với quyền lực của mình, Nhà nước đặt ra một
số loại thuế buộc mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội phải tuân theo Đất nước càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của nhà nước càng nhiều đương nhiên mức động viên của thuế càng cao Trong khi mục tiêu của các nhà kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, nên họ luôn tìm cách để làm tăng doanh thu, giảm chi phí trong hoạt
Trang 3023
động sản xuất, kinh doanh của mình, và thuế cũng là một khoản chi phí mà họ phải nộp cho nhà nước và làm giảm lợi nhuận mà các nhà kinh doanh này thu được Như vậy, luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người kinh doanh, chính vì lẽ đó tình trạng thất thu thuế, gian lận về thuế là không thể tránh khỏi
+ Xuất phát từ phía cơ quan quản lý Nhà nước
Quy trình quản lý thuế còn nhiều bất cập sửa đổi chưa kịp thời do đó tạo cho Người nộp thuế tâm lý ngại liên hệ, ngại đến cơ quan thuế Mặc dù Bộ Tài chính
đã cắt giảm rất nhiều thủ tục hành chính, đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian liên quan đến cơ quan thuế cho người nộp thuế, thời gian còn 121,5 giờ trong năm
2015, 420 giờ nộp thuế đã được cắt giảm Phấn đấu bằng các nước phát triển trong khu vực Asean Thời gian Người thuê đất làm các công việc về kê khai, nộp mất nhiều, ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ của Người TĐ, TMN
Chính sách thu tiền TĐ, TMN còn nhiều bất cập, chưa tạo được sân chơi bình đẳng
Công tác kiểm tra, thanh tra thuế đã được đổi mới và cải tiến rất nhiều nhưng kết quả vẫn chưa cao
Cơ quan Thuế cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước việc chủ động trong việc phối kết hợp kiểm tra, rà soát còn hạn chế Sự hoạt động còn mang tính “mạnh
ai người đấy làm” Bên cạnh đó, chế tài và xử lý các hành vi gian lận về thuế còn chưa nghiêm, mức xử phạt chỉ mang tính răn đe dẫn đến một số doanh nghiệp, cơ
sở kinh doanh vẫn còn tái phạm
Kết quả của việc thanh, kiểm tra vẫn mang tính hình thức, phạt và cho tồn tại, chưa cương quyết và xử lý triệt để các đối tượng vi phạm
Chính sách thu TTĐ, TMN còn có nhiều bất cập: như quy định về loại đất có
giá khác nhau như giá đất để sản xuất, kinh doanh thì thấp hơn giá đất thương mại, dịch vụ, trong khi Luật doanh nghiệp thì cho hoạt động mọi lĩnh vực Luật pháp không cấm
1.7.2 Hậu quả của việc thất thu NS nói chung và TTĐ, TMN nói riêng
Trang 3124
1.7.2.1 Ảnh hưởng tới chi tiêu của nhà nước
Ở nước ta thu từ thuế đóng góp khoảng 80% vào ngân sách (trừ thu từ dầu) Tiền thu được từ thuế để nhà nước đầu tư phát trển nguồn lực xã hội và duy trì hoạt động bộ máy nhà nước, tuy nhiên thất thu thuế thì nguồn thu của nhà nước sẽ giảm
đi, mọi kế hoạch chi tiêu của nhà nước sẽ bị thay đổi theo chiều hướng xấu Lúc này, nhà nước phải thực hiện các giải pháp tạm thời như:
- Giảm bớt các khoản chi đã lên kế hoạch: Cắt giảm một số khoản chi, cân đối lại chi, từ đó các chỉ tiêu phát triển về kinh tế, xã hội có thể sẽ không đạt được như kế hoạch đã đề ra Theo đó sự phát triển kinh tế sẽ chậm, trì trệ
- In thêm tiền chi tiêu: để thực hiện được kế hoạch đã đề ra buộc phải in thêm tiền, từ đó lượng tiền đưa vào lưu thông quá nhiều, lúc này đồng tiền mất giá dẫn đến lạm phát ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước
- Đi vay của các tổ chức,cá nhân trong và ngoài nước: Khi đó, sẽ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ sau nhất là khi các khoản đầu tư này không mang lại hiệu quả Hiện nay Việt Nam đang là một nước có số nợ nhiều đối với các nước phát triển
1.7.2.2 Ảnh hưởng đến điều chỉnh, định hướng cơ cấu kinh tế
Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình Thông qua chính sách thuế nhà nước có thể điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo vùng, theo lãnh thổ, theo lĩnh vực đảm bảo sự phát triển hài hòa, đồng đều giữa các vùng trong cả nước Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất
và tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng Cụ thể là điều chỉnh mức thuế suất tăng hoặc giảm, Chính phủ ra các Nghị quyết tháo gỡ như miễn, giảm thuế, cho phép giãn thời hạn nộp thuế TNDN
Khi nền kinh tế phát triển, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm
Trang 3225
tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội Hội chứng Vinashin các năm trước là một bài học lớn cho Việt Nam Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh
tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt,
có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế
Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định
1.7.2.3 Ảnh hưởng đến nhiều mặt khác của xã hội
Một trong những mục tiêu của thuế là đảm bảo công bằng xã hội Nhưng khi tồn tại thất thu thuế thì về sâu xa sẽ không có sự công bằng, bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, sự bình đẳng trước pháp luật Người nộp nhiều, người nộp ít, còn có người chiếm dụng tiền thuế, người trốn thuế thì làm sao có thể nói là công bằng xã hội Ngoài ra thông qua thu thuế, nhà nước có nguồn tài chính
để thực hiện phân bổ lại của cải xã hội Ví dụ như xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng còn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, chi trợ cấp cho người nghèo, đối tượng chính sách xã hội…nhưng khi thất thu thuế xảy ra thì nhà nước có nguy cơ
sẽ không có khả năng để thực hiện các chính sách này
Bên cạnh đó khi xảy ra tình trạng thất thu thuế còn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, những doanh nghiệp gian lận được thuế
sẽ có lợi thế hơn những doanh nghiệp không gian lận được thuế Khi đó còn ảnh hưởng đến kỷ cương xã hội, những doanh nghiệp trốn thuế sẽ tìm cách trốn mãi,
Trang 3427
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU TTĐ, TMN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH DOANH CẢNG TẠI CỤC THUẾ HẢI PHÒNG
2.1 Giới thiệu chung về Hải Phòng
2.1.1 Khái quát chung về Hải Phòng
Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 223 xã, phường và thị trấn Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ,
bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô
Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc
Hải Phòng có 125km bờ biển thuận lợi cho việc xây dựng cảng thủy nội địa cũng như cảng biểnquốc tế
Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, dân số 2.103,5 nghìn người (tính đến tháng 12/2015), mật độ dân số trung bình của thành phố là 1.218,78 người/km2, vào loại trung bình so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng Các điểm cực của thành phố Hải Phòng là:
- Cực Bắc là xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên
- Cực Tây là xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo
- Cực Nam là xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo
- Cực Đông là phường Ngọc Hải, quận Đồ Sơn
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển
Trang 3528
của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hải Phòng cũng là đầu mối, trung tâm luân chuyển hàng hóa từ Trung Quốc sang Việt Nam và đi các nước khác trong khu vực cũng như trên Thế giới
Trang 3629
người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%,
là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi
có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi
Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giầu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa Nơi đây có rừng quốc gia Cát Bà - khu dự trữ sinh quyển thế giới - là khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới Đồng thời, nơi đây còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp
Khí hậu của Hải Phòng cũng khá đặc sắc, ôn hoà, nhiều nhiệt ẩm và quanh năm có ánh nắng chan hoà, rất thích nghi với sự phát triển của các loài động thực vật nhiệt đới, đặc biệt rất dễ chịu với con người vào mùa thu và mùa xuân
Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giầu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa Nơi đây có rừng quốc gia Cát Bà - khu dự trữ sinh quyển thế giới - là khu rừng nhiệt đới nguyên
Trang 3730
sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới Đồng thời, nơi đây còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp
2.1.3 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội
a) Đặc điểm về kinh tế
Nằm ở vị trí chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong tam giác tăng trưởng Kinh Tế: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, Hải Phòng là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa chính ra biển của các tỉnh thành phố phía Bắc Việt Nam
Từ hàng trăm năm nay, Hải Phòng luôn giữ vai trò là hải cảng quốc tế, là nơi tiếp nhận vận chuyển hàng hoá quốc nội và quốc tế lớn nhất Việt Nam, trong đó có thể
kể tới cảng container Chùa Vẽ, cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng,
Hải Phòng có hệ thống hạ tầng công nghiệp hiện đại với quy hoạch phát triển 47 khu cụm công nghiệp trong đó có hơn 30 khu cụm công nghiệp đang hoạt động hiệu quả như KCN Tràng Duệ, KCN và đôthị VSIP Hải Phòng, KCN Nomura, KCN Đình Vũ, KCN Đồ sơn Hải Phòng chủ trương thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp then chốt với các sản phẩm mũi nhọn, có lợi thế cạnh tranh Ngoài vị thế của thành phố Cảng, trung tâm kinh tế vào loại lớn nhất cả nước, Hải Phòng còn là một địa danh du lịch hấp dẫn Đây là vùng đất có truyền thống, nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử tự nhiên độc đáo Các địa danh du lịch nổi tiếng của Hải Phòng như là Khu du lịch Đồ Sơn, Khu du lịch Cát Bà, suốt nước nóng Tiên Lãng, khu di tích Núi Voi,
b) Đặc điểm chính trị - xã hội
Hải Phòng là vùng đất đầu sóng, ngọn gió, “phên dậu” phía Đông của đất nước, có vị thế chiến lược trong toàn bộ tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Người Hải Phòng với tinh thần yêu nước nồng nàn, tính cách
Trang 3831
dũng cảm, kiên cường, năng động, sáng tạo, đã từng chứng kiến và tham gia vào nhiều trận quyết chiến trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Đây là vùng đất in đậm dấu ấn chống ngoại xâm trong suốt quá trình lịch sử
4000 năm của dân tộc Việt Nam, với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, của Lê Hoàn năm 981, của Trần Hưng Đạo năm 1288 mà đến nay, các chiến tích đó vẫn còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử, lưu truyền biết bao truyền thuyết dân gian, để lại cho hậu thế nhiều công trình văn hoá, nghệ thuật
có giá trị Cho nên đến Hải Phòng, đặt chân đến bất cứ đâu chúng ta cũng bắt gặp các di tích, các lễ hội gắn với những truyền thuyết, huyền thoại về lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm của Hải Phòng Những di tích, lễ hội này chính là nguồn tiềm năng quan trọng cần được quan tâm bảo vệ tôn tạo để phục vụ phát triển du lịch
Có thể nói rằng, Hải Phòng là nơi có lịch sử vinh quang ngàn năm, một vùng đất hội tụ đầy đủ khí thiêng sông núi, và một cư dân anh dũng, sáng tạo và rất cởi
mở, dễ hoà hợp với bè bạn bốn phương Những người dân từ nhiều miền quê đến sinh sống tại vùng đất cửa biển này đã hình thành nên tính cách kiên nghị, năng động, sáng tạo trong lao động, luôn nhạy bén với cái mới, làm cho người Hải Phòng sớm tiếp thu được những tinh hoa của thời đại trước biến thiên của lịch sử Tất cả những yếu tố trên đã và sẽ làm cho Hải Phòng trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế và Hải Phòng thực sự là một trong những trọng điểm du lịch hấp dẫn của vùng ven biển Bắc Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển
2.2 Khái quát chung về các doanh nghiệp Cảng biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Những năm qua, kinh tế biển Hải Phòng phát triển khá nhanh, một số ngành, lĩnh vực tăng trưởng cao đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, chủ quyền biển, đảo thành phố và đất nước Tuy nhiên, kinh tế biển của thành phố phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, cần có các biện pháp phát triển mạnh mẽ hơn, đầu tư lớn và có chiều sâu, đòi hỏi tính bền vững đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố
Trang 3932
Thành phố đặt ra các mục tiêu phát triển nhanh kinh tế biển góp phần đưa tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước đạt khoảng 4,5% năm 2010 và 7,3% năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 13 - 13,5% giai đoạn 2008 -
2015 và 14 - 15% giai đoạn 2015 - 2020, cao hơn mức tăng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ khoảng 1,3 lần; GDP bình quân đầu người đạt 2.900 - 3.000 USD vào năm 2015 và 4.900 - 5.000 USD vào năm 2020 Hình thành một số ngành, sản phẩm mũi nhọn của kinh tế biển có đóng góp cao về giá trị xuất khẩu để tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân 18 - 19% giai đoạn 2008 - 2015, và đạt 19
- 20% giai đoạn 2016 - 2020 Khối lượng hàng hoá thông qua các cảng khu vực Hải Phòng đạt 55 - 60 triệu tấn vào năm 2015, 80 - 100 triệu tấn vào năm 2020
Hiện tại Thành phố Hải Phòng có gần 40 doanh nghiệp sử dụng đất trực tiếp
để hoạt động kinh doanh cảng.Tại sao nói sử dụng đất vì có những doanh nghiệp được giao đất (chủ yếu các doanh nghiệp quân đội kết hợp quốc phòng với làm kinh tế), có doanh nghiệp được thuê đất để thực hiện dự án xây dựng Cảng hoạt động kinh doanh phục vụ nội bộ doanh nghiệp 25 DN có cầu cảng và có 15 DN hoạt động kinh doanh Cảng
Riêng công ty cổ phần Cảng Hải Phòng lượng hàng hóa qua Cảng năm 2014
là 26 triệu tấn, hàng năm là một trong doanh nghiệp có số nộp NSNN lớn của Thành phố
Mặc dù Hải Phòng được mệnh danh là thành phố Cảng, nhưng các Cảng của Hải Phòng đa số là các cảng sông, tàu biển lớn không vào cập cảng được mà phải chuyển tải, đây cũng là hạn chế Trước đến nay chỉ có một doanh nghiệp là Cảng Hải phòng (nay là công ty cổ phần cảng hải Phòng) là đầu tư lớn vào khai thác, kinh doanh cảng, có diện tích đất, mặt nước sử dụng nhiều nhất, nhưng hiện nay phương tiện, máy móc thết bị cũng đã lạc hầu cần thay thế
Khắc phục vấn đề này, Thành phố đã được Chính phủ cho phép và đang cho nhà đầu tư xây dựng Cảng lạch huyện quốc tế nước sâu tại huyện Cát Hải,dự kiến
dự án này hoàn thành mới thực sự là Cảng biển, dự án đi vào hoạt động sẽ phục vụ
Trang 402.3 Giới thiệu về Cục thuế Hải Phòng
2.3.1 Tổ chức bộ máy
Cục Thuế thành phố Hải Phòng được thành lập theo quyết định số 315/QĐ/TC– TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ Tài chính Trụ sở Văn phòng Cục Thuế Hải Phòng đặt tại số 6 Đà Nẵng, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Cục Thuế thành phố Hải Phòng dưới sự lãnh đạo của Bộ Tài chính – Tổng cục Thuế và Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Phòng, có trách nhiệm quản lý, khai thác, bồi dưỡng nguồn thu trên địa bàn theo sự phân công của cấp trên và tổ chức thực hiện hoàn thành chỉ tiêu thu hàng năm Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Cục Thuế) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn theo quy định của pháp luật.Cục Thuế có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật
Các năm gần đây Hải Phòng liên tục phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức, tiềm ẩn nhiều rủi ro do tổng cầu xã hội tăng chậm, sức mua chưa được cải thiện, dư nợ tín dụng tăng trưởng thấp, một số ngành kinh tế trọng yếu của thành phố như sản xuất xi măng, sắt thép và kinh doanh vật liệu xây dựng, vận tải biển tăng trưởng chậm… đã tác động trực tiếp đến tình hình thu NSNN trên địa bàn
Để bù đắp những khoản hụt thu trên đây, Cục Thuế đã triển khai tốt với các các cơ quan chức năng và các quận, huyện thực hiện quản lý tốt các khoản thu trên