1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn thành phố hải phòng

80 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 884,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển Quản lý Nhà nước về kinh tế: QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng” là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

Tôi xin cam đoan mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày tháng năm

Tác giả

Nguyễn Quang Qúi

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Trụ Phi, thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Viện Đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế Trường Đại học Hàng hải Việt Nam cũng như các thầy cô đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt khóa học qua

Tôi xin đặc biệt cảm ơn những người thân trong gia đình đã động viên giúp

đỡ và là chỗ dựa tinh thần lớn lao để tôi hoàn thành luận văn này

Hải Phòng, ngày 10 tháng 9 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Quang Qúi

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN 3

1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động vận tải biển 3

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về vận tải đường biển 3

1.1.2 Đặc điểm của vận tải biển và phân loại vận tải biển 3

1.1.3 Tính kinh tế trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 6

1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống vận tải đường biển 9

1.1.5 Các bên liên quan đến vận tải đường biển 11

1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải 14

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển 14

1.2.2 Chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển 15

1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển 16

1.2.4 Công cụ quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển 18

1.2.5 Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển 19

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển 20

1.2.7 Một số tiêu chí đánh giá quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển23 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN Ở ĐỊA BÀN HẢI PHÒNG 28

Trang 4

2.1 Khái quát về hoạt động vận tải biển của Việt nam 28 2.2 Thực trạng QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng 39 2.3 Đánh giá về quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng 55 2.3.1 Một số thuận lợi trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng 55 2.3.2 Một số khó khăn trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn

HP 56 2.3.3 Một số thành công trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn HP 58 2.3.4 Một số tồn tại trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn

HP 58 2.3.5 Một số nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong công tác QL HĐVTB ở

HP 61 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QLNN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN Ở ĐỊA BÀN HẢI PHÒNG 66 3.1 Định hướng phát triển vận tải biển ở Hải Phòng 66 3.2 Một số biện pháp QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở địa bàn Hải Phòng68 3.2.1 Biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về QLNN đối với HĐVTB 68 3.2.2 Biện pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách phát triển HĐVTB 70 3.2.3 Biện pháp đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong QLNN đối với HĐVTB 71 3.2.4 Biện pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho QLNN đối HĐVTB

ở HP 72 3.2.5 Biện pháp liên kết và phát huy vai trò của các hiệp hội có liên quan tới VTB 74 KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải nghĩa

QLNN Quản lý Nhà nước

HĐVTB Hoạt động vận tải biển

BGTVT Bộ Giao thông vận tải

CVHHHP Cảng vụ hàng hải Hải Phòng

KTVTB Kinh tế vận tải biển

UBND Ủy ban nhân dân

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

Kinh tế xã hội Kinh tế - xã hội

TPHP Thành phố Hải Phòng

Trang 6

Hình 2.2 Sản lượng vận tải hàng hoá của đội tàu biển Việt Nam 38

Bảng 2.3 Một số văn bản pháp luật liên quan đến quản lý hoạt động

Bảng 2.4 Tình hình thực hiện 1 số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ

yếu của các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn Hải Phòng 45 Bảng 2.5 Lưu lượng hàng hóa qua cảng Hải Phòng qua các năm 48 Bảng 2.6 Kết quả thu ngân sách từ lĩnh vực vận tải trên địa bàn HP 50 Bảng 2.7 Tình hình sử dụng lao động, tạo công ăn việc làm 52

Bảng 2.8 Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian qua chúng ta đã có nhiều thành công đáng ghi nhận về QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng Tuy bên cạnh đó cũng còn tồn tại nhiều hạn chế đã cản trở phần nào sự phát triển hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng Chúng ta rất cần nhận diện rõ những tồn tại của QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng, tìm ra những nguyên nhân chính của tồn tại đó để phát huy hiệu quả hơn QLNN đối với sự phát triển loại hình dịch vụ này Để đạt được kết quả như mong muốn đòi hỏi phải có sự tăng cường về QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng, mà thực tế vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu Để thay đổi căn bản về QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng cần phải có sự đầu tư, nghiên cứu một cách đầy đủ và khoa học Xuất phát từ những phân tích trên tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Một

số biện pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng Thông qua việc hệ thống hóa, sâu sắc hóa cơ sở lý luận và tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng, phân tích thực trạng và đánh giá kết quả QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng, làm nổi bật các kết quả đạt được, các hạn chế cần khắc phục trong quá trình QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng, luận văn đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường QLNN đối với hoạt động vận tải biển ở Hải Phòng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

Phạm vi nghiên cứu: Thị trường vận tải biển khu vực Hải Phòng

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài thì các phương pháp được sử dụng trong đề tài bao gồm:

Áp dụng tổng hợp các phương pháp: Phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh để

xử lý các số liệu…

Phương pháp duy vật biến chứng, duy vật lịch sử…

Đưa ra các biện pháp chiến lược cho giai đoạn phát triển tiếp theo

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI VÀ QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động vận tải biển

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về vận tải đường biển

Vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt Nó thực hiện quá trình dịch chuyển hàng hoá và hành khách trong không gian, đáp ứng cho nhu cầu lưu thông trao đổi hàng hoá và thoả mãn sự đi lại của con người.[1]

Vận tải là một trong những ngành công nghiệp có tầm toàn cầu, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và thỏa mãn sự đi lại của con người.[1]

Nói cách khác: vận tải là một ngành kinh tế dịch vụ kiếm sống bằng việc bán các sản phẩm dịch vụ vận tải của mình cho xã hội

Vận tải biển là một ngành công nghiệp dịch vụ đáp ứng nhu cầu vận tải của xã hội thông qua việc cung cấp dịch vụ vận chuyển từ cảng này đến cảng khác trong không gian theo thời gian để nhận tiền công vận chuyển

1.1.2 Đặc điểm của vận tải biển và phân loại vận tải biển

1.1.2.1 Đặc điểm điểm của vận tải biển

a Đặc điểm chung của vận tải biển

- Vận tải biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng các biển, các đại dương làm các tuyến giao thông hàng hải để giao lưu giữa các vùng, các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới Cho đến nay vận tải đường biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế

- Vận tải đường biển thực hiện việc dịch chuyển các đối tượng của vận tải trong không gian từ cảng này tới cảng khác thông qua môi trường biển

- Vận tải biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng trong buôn bán quốc tế

- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở trên cự ly rất dài, khối lượng lớn

Trang 10

- Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông

tự nhiên, do đó không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về vốn

- Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn do khả năng thông qua của đường biển không bị hạn chế và sức chở của tàu biển rất lớn, có thể đến hàng trăm ngàn tấn

- VTB không thích hợp với chuyên chở những hàng hoá đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh

- Trong chuyên chở đường biển thường gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm, do luôn chịu tác động của điều kiện tự nhiên

b Ưu- nhược điểm của vận tải biển

Ưu điểm:

- Năng lực vận chuyển rất lớn, khả năng thông qua của đường biển không bị hạn chế, tàu biển thường có trọng tải lớn, trên cùng một tuyến đường có thể chạy nhiều tàu cùng thời gian

- Thích hợp với hầu hết các loại hàng hoá trong thương mại quốc tế Đặc biệt thích hợp với các loại hàng rời (bulk cargoes) có giá trị thấp như: Than, quặng, dầu

mỏ, nguyên liệu sản xuất phân bón, vật liệu xây dựng, v.v

- Chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp: hầu hết là sử dụng các tuyến đường tự nhiên, trừ việc xây dựng kênh đào và hải cảng

- Giá thành vận tải thấp: (bằng 1/10 so với đường hàng không; bằng 1/8 so với đường ô tô; bằng 1/4 so với đường sắt) Nguyên nhân chủ yếu là do trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên chở trung bình dài, năng suất lao động cao cho nên giá thành vận tải được coi là thấp nhất Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu quả kinh tế chắc chắn ngày một tăng lên

Nhược điểm:

- Vận tải biển phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, các tàu thường gặp các rủi ro hàng hải như: đâm vào đá ngầm, mắc cạn, đâm va lẫn nhau, bão tố, chìm đắm, mất tích, v.v do vậy dễ gây tổn thất cho xã hội

Trang 11

- Tốc độ giao hàng tương đối thấp: do tốc độ của tàu biển thấp và phụ thuộc vào năng lực bốc dỡ tại các cảng

1.1.2.2 Phân loại vận tải đường biển

a Căn cứ theo tính chất vận tải

- Vận tải công cộng (vận tải chuyên nghiệp hay vận tải kiếm sống):

Là hoạt động vận tải biển mà theo đó người chủ tàu biển lấy việc vận chuyển làm nhiệm vụ sản xuất chính của mình Đây là loại vận tải bán sản phẩm phục vụ của mình làm ra cho khách hàng (chở thuê để lấy tiền cước vận tải)

Các công ty vận tải biển chuyên kinh doanh vận chuyển hàng hóa và hành khách để lấy tiền cước đều thuộc loại vận tải kiếm sống Vì vậy, việc nghiên cứu loại hình vận tải này phải xem xét trên nhiều mặt: chiến lược giá cả, cạnh tranh thị trường, chi phí nội tại,

- Vận tải nội bộ (vận tải không chuyên nghiệp):

Là hoạt động vận tải trong nội bộ xí nghiệp nhằm hỗ trợ cho hoạt động khác của xí nghiệp như vận chuyển nguyên vật liệu, vận chuyển thành phẩm từ dây chuyền sản xuất đến kho

Trong hình thức này chủ phương tiện đồng thời là chủ hàng không lấy hoạt động vận tải làm nhiệm vụ chính và chi phí vận tải là bộ phận cấu thành trong giá thành của sản phẩm chính (các tập đoàn sản xuất công nghiệp) Vì vậy, việc nghiên cứu loại hình vận tải này chỉ cần xem xét các yếu tố nhằm cắt giảm chi phí vận tải, nâng cao chất lượng vận tải

b Căn cứ theo đối tượng phục vụ

- Vận tải hàng hoá

- Vận tải hành khách

c Căn cứ theo cách tổ chức quá trình vận tải

- Vận tải đơn phương thức: Là hình thức vận tải vận chuyển hàng hoá và hành khách từ nơi đi đến nơi đến bằng 1 phương thức vận tải

Trang 12

- Vận tải đa phương thức: Là hình thức vận tải vận chuyển hành khách và hàng hoá từ nơi đi đến nơi đến băng ít nhất 2 phương thức vận tải, sử dụng 1 chứng

từ và chỉ có 1 người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển

d Căn cứ vào khu vực vận hành

- Vận tải ven biển

e Căn cứ vào giới hạn thương mại

- Vận tải biển trong nước (vận tải biển nội địa)

- Vận tải biển quốc tế

1.1.2.3 Vai trò của vận tải biển trong phát triển kinh tế thế giới

Quan điểm về vận tải biển như một chất xúc tác của sự phát triển kinh tế đã được Adam Smith cha đẻ của học thuyết kinh tế hiện đại đã chỉ ra rằng: vận tải biển là một trong những nền tảng để kinh tế phát triển quốc tế Ông ta chỉ ra rằng thương mại của một nước nếu không liên hệ với thế giới bên ngoài thì có thể không bao giờ giành được hiệu quả cao, bởi vì một thị trường hạn hẹp sẽ hạn chế phát triển kinh tế

Vận tải biển là một trong những ngành công nghiệp quốc tế hàng đầu thế giớ i

và được xếp vào loại đứng đầu trong hoạt động kinh tế thế giới

Vận tải biển là một phương thức vận tải rẻ tiền, có khả năng mở rộng thị trường bởi chuyên môn hoá, bằng cách đưa ra dịch vụ vận tải đối với cả những loại hàng rẻ tiền bằng bất cứ giá nào Phát triển kinh tế thế giới có liên quan chặt chẽ với thương mại hàng hải thế giới

Hiện nay vận tải biển giữ vị trí đặc biêt quan trọng trong chuyên chở hàng hóa trên thị trường thế giới, theo thống kê của UNCTAD hàng năm vận tải biển đảm nhận chuyên chở khoảng 80% lượng hàng trong buôn bán quốc tế

1.1.3 Tính kinh tế trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

1.1.3.1 Lợi thế nhờ quy mô

Một trong những nguyên tắc cơ bản đối với kinh tế vận chuyển là giảm chi phí đơn vị vận chuyển, điều này có thể thực hiện được bằng cách tăng cỡ lô hàng trên tuyến vận tải Trong điều kiện nguồn cung dồi dào thì việc sử dụng các tàu cỡ

Trang 13

lớn sẽ có chi phí đơn vị thấp hơn so với việc sử dụng các tàu nhỏ hơn Kết quả làm xuất hiện hàng loạt các tàu chuyên dụng hàng rời cỡ lớn khi tăng độ lớn của lô hàng trên tuyến

Tuy nhiên, để áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi độ sâu tuyến đường tốt, năng suất xếp dỡ của cảng cao

1.1.3.2 Xếp dỡ hiệu quả

Công nghệ làm hàng có ảnh hưởng đến chi phí và thời gian của quá trình vận tải Khi tăng cỡ tàu lên gấp đôi nếu không thay đổi công nghệ làm hàng thì thời gian xếp dỡ hàng cũng sẽ tăng gấp đôi, chi phí tàu đỗ và chi phí tồn kho cũng tăng tăng theo Như vậy, tính kinh tế nhờ quy mô của tàu sẽ không phát huy hết hiệu quả, do đó đòi hỏi phải có công nghệ làm hàng mới nhằm tăng năng suất làm hàng cho tàu tại cảng

Ví dụ, một tàu tweendecker 14.000 dwt dỡ hàng rời phải mất một tuần nếu được làm hàng bằng cẩu tàu và gầu ngoạm với mức 2000 tấn/ngày Ngược lại, nếu dùng hệ thống băng chuyển làm hàng ngũ cốc chuyên dụng hiện đại có thể dỡ hàng với mức 1.000 tấn/ một giờ thì hàng hoá có thể được dỡ chỉ trong vòng một ngày

Hầu hết các cảng lớn đều có các bến hàng chuyên dụng (dầu thô, dầu thành phẩm, hàng rời khô và ngũ cốc) sử dụng các thiết bị xếp dỡ hàng hoá năng suất cao nhằm đóng góp cho chi phí toàn bộ quá trình vận chuyển giảm bằng cách giảm chi phí đơn vị xếp và dỡ, tối thiểu hóa thời gian xếp dỡ của tàu

Hàng rời đồng nhất như quặng sắt và than có thể được xếp dỡ rất hiệu quả bằng cách sử dụng thiết bị xếp hàng liên tục và dỡ hàng bằng cần cẩu cùng với gầu ngoạm lớn Các loại hàng như thép và lâm sản với số lượng lớn, đơn vị không đồng đều, được hưởng lợi từ việc đóng gói theo đơn vị xếp hàng tiêu chuẩn

Hàng xi măng rời được vận chuyển trên tàu chở xi măng chuyên dụng có thể được dỡ cơ giới vào hệ thống làm hàng tự động, được chứa trong các xilo và được xếp trực tiếp vào các toa xe hàng rời phù hợp

Trang 14

1.1.3.3 Vận tải tích hợp

Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Không thể gọi là tích hợp nếu các hoạt động được tiến hành một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống

Vận tải tích hợp là hệ thống vận tải mang tính thống nhất giữa các bộ phận hữu cơ của hệ thống, là sự kết hợp việc sử dụng các nguồn lực của các nhà vận tải

và các đơn vị xếp dỡ nhằm tối ưu hóa về chi phí và thời gian của toàn hệ thống Vận chuyển hàng bằng container kết hợp hệ thống tàu mẹ và tàu feeder là một điển hình của vận tải tích hợp

Biện pháp tốt nhất để thực hiện được vận tải tích hợp là tiêu chuẩn hoá đơn vị hàng hoá Các loại hàng hoá phải được đóng gói theo hình thức sao cho có thể xếp

dỡ chúng dễ dàng qua tất cả các chặng trong hệ thống vận chuyển, ví dụ xe tải hoặc toa Container tiêu chuẩn có thể được nhấc khỏi tàu lên xe tải Trong vận chuyển hàng rời sử dụng các đơn vị trung bình như các túi lớn, gỗ đóng

Quá trình vận chuyển hàng hóa sẽ ngày càng có hiệu quả hơn nếu quan tâm đến tích hợp hàng loạt các giai đoạn trong hệ thống vận chuyển Vấn đề đặt ra là phải thiết kế được tổng thể một hệ thống mà nó có thể chứa đựng và kết hợp tất cả các giai đoạn trong hệ thống vận chuyển

1.1.3.4 Tối ưu hóa lượng tồn kho cho nhà sản xuất và người tiêu thụ

- Hệ thống vận chuyển phải kết hợp giữa lưu kho và cỡ của lô hàng cần vận chuyển Do vậy, có hai yếu tố để cân nhắc: thứ nhất là quy mô thương mại, thứ hai

là chi phí tồn kho

- Nếu vận chuyển một lần với khối lượng lớn thì các nhà buôn sẽ được hưởng giá cước thấp gọi là lợi thế nhờ quy mô, sẽ chủ động dự trữ cho sản xuất và

Trang 15

phân phối nhưng mức chi phí tồn kho sẽ cao, thậm chí vượt quá mức tiết kiệm chi phí vận tải (giá cước)

- Nếu thuê các tàu nhỏ vận chuyển nhiều chuyến thì chi phí vận tải cao cho một đơn vị vận chuyển, nhưng giảm được chi phí tồn kho nhờ vào tối thiểu hóa hàng lưu kho Theo hướng này, đòi hỏi hệ thống vận chuyển có nhiều tàu với các lần giao hàng có khối lượng nhỏ

Kích cỡ lô hàng tối ưu khi vận chuyển là sự cân bằng giữa tồn kho tối ưu và hiệu quả nhờ quy mô của vận chuyển hàng hoá

1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống vận tải đường biển

1.1.4.1 Đường biển

Từ lâu loài người đã biết sử dụng đường biển để làm các tuyến giao thông phục vụ cho việc chuyên chở hàng hóa và hành khách giữa các nước với nhau Các tuyến đường biển hầu hết là các đường tự nhiên (trừ việc xây dựng hải cảng, kênh đào), do đó không đòi hỏi đầu tư nhiều về vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển (khác đường bộ) Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải biển thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác

Khả năng thông qua của đường biển rất lớn, không bị hạn chế như các phương thức khác (đường bộ bị hạn chế bởi khổ đường, tải trọng cho phép của cầu,…) Trên cùng một tuyến đường biển có thể tổ chức chạy nhiều tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều với các cỡ tàu khác nhau Tuy nhiên, các điều kiên tự nhiên trên biển như: hải văn (sóng, thủy triều, hải lưu), thời tiết (sương mù, lượng mưa và độ ẩm, vòi rồng, lốc xoáy), khí tượng (gió, nhiệt độ môi trường, ) là những nguyên nhân gây ra các tổn thất rất lớn cho tàu, hàng hóa và môi trường

1.1.4.2 Cảng biển

Cảng biển là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng của hệ thống vận tải đường biển Theo quan điểm kinh tế vận tải thì cảng biển được coi là đầu mối liên kết các loại hình vận tải khác nhau Tại đó hàng hoá được chuyển từ phương tiện này sang phương tiện khác

Trang 16

Cảng biển có nhiều loại khác nhau, nhưng về mặt kinh tế, trên thực tế người

ta chia cảng biển thành 2 loại cơ bản dựa vào quy mô và hiệu suất của chúng, gồm:

- Cảng tổng hợp: là loại cảng phục vụ xếp dỡ cho tất cả các loại hàng hoá khác nhau do kết cấu mặt hàng qua cảng rất đa dạng Đây là những cảng có quy

mô lớn nhưng năng suất bình quân thấp, thời gian tàu đỗ cảng dài

- Cảng chuyên dụng: là loại cảng có trang bị kỹ thuật phục vụ chủ yếu cho việc xếp dỡ một loại hàng xác định hoặc một nhóm hàng hoá xác định (dầu, than, quặng, container) Các cảng chuyên dụng có năng suất làm hàng rất cao (hàng nghìn tấn/h), rút ngắn thời gian tàu đỗ tại cảng

1.1.4.3 Hệ thống kho bãi và trang thiết bị của cảng

Để phục vụ cho việc giải phóng tàu nhanh cũng như đáo ứng nhu cầu lưu kho bãi của chủ hàng, các cảng phải có hệ thống kho bãi phù hợp với luồng hàng qua cảng

Kho bãi của cảng có nhiều loại khác nhau, tùy theo công dụng của chúng mà

có thể bao gồm các loại như: các kho kín, kho bán lộ thiên, các bãi bảo quản hàng ngoài trời (than, quặng, gỗ, container,…)

Trang thiết bị xếp dỡ của cảng cũng phụ thuộc vào loại cảng Nhìn chung, trang thiết bị xếp dỡ của cảng gồm có các loại cần cẩu, xe nâng hàng, băng chuyền hàng, gầu xúc,…

1.1.4.4 Hệ thống giao thông hàng hải

Để đảm bảo cho tàu hoạt động an toàn và kinh tế cần có sự hỗ trợ của hàng loạt các cơ sở vật chất kỹ thuật khác như: Kênh dẫn tàu, luồng ra vào cảng, vũng chờ, khu chuyển tải, hệ thống thông tin liên lạc và chỉ dẫn hàng hải (đài liên lạc, hải đăng, phao tiêu, biển báo)

1.1.4.5 Đội tàu biển

Đội tàu biển là tư liệu sản xuất chủ yếu để tạo ra sản phẩm của vận tải biển Nhờ có các tàu mà hàng hóa và hành khách mới được dịch chuyển trong không gian Tùy thuộc vào tính năng, công dụng và kích cỡ khác nhau mà đội tàu biển cũng được phân chia thành nhiều loại khác nhau Về mặt kinh tế, các tàu cỡ lớn sẽ

Trang 17

có giá thành thấp hơn so với các tàu cỡ nhỏ cùng loại Các tàu chuyên môn hóa hẹp

sẽ có năng suất làm hàng cao hơn nhiều lần so với các tàu tổng hợp cùng cỡ

Quy mô đội tàu biển quốc gia là một trong những tiêu thức đanh giá khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia trên thị trường quốc tế, đồng thời nó phản ánh tiềm lực phát triển kinh tế của quốc gia đó Phần lớn các quốc gia và lãnh thổ đã phát triển kinh tế đều có đội tàu mạnh tham gia vào thị trường thế giới, thậm chí cả các quốc gia không có biển như Thụy Sỹ

Theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, năm 2009 đội tàu Việt Nam có tổng trọng tải trên 6,5 triệu DWT Theo thống kê của UNCTAD năm 2009, đội tàu biển Việt Nam đứng trong Top 35 của đội tàu thế giới Sự phát triển đội tàu mỗi quốc gia phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế và chính sách quốc gia đó

1.1.4.6 Các cơ sở cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho tàu

- Các nhà máy đóng mới: Đây là những cơ sở quan trọng tạo ra năng lực của vận tải biển, là một trong các nhân tố làm thay đổi giá cả thị trường vận tải biển, đồng thời cũng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mức độ hiện đại hóa đội tàu biển

- Các cơ sở sửa chữa tàu: Tùy theo quy mô và tính chất, các cơ sở này thường được phân bố tại nhiều nơi trong nước nhằm phục vụ cho việc sửa chữa các

hư hỏng của tàu Các cơ sở sửa chữa tàu có thể phân bố trên bờ (xưởng, nhà máy) hoặc trên mặt nước (ụ nổi)

1.1.5 Các bên liên quan đến vận tải đường biển

1.1.5.1 Các cơ quan quản lý Nhà nước

a/ Các cơ quan ban hành cơ chế chính sách về vận tải biển

- Quốc Hội: là cơ quan quyền lực cao nhất chịu trách nhiệm ban hành và sửa đổi Bộ luật hàng hải Việt Nam (Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990, sửa đổi năm 2005)

- Chính Phủ: Ban hành các Quyết định liên quan đến chiến lược phát triển và các Quy hoạch phát triển vận tải biển theo các thời kỳ phát triển kinh tế đất nước (Quyết định 1601/CP-2009 phê duyệt quy hoạch phát triển vân tải biển Việt Nam

Trang 18

năm 2020 và định hướng đến 2030; Quyết định 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Nghị định của chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 07 năm 2007 về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển )

- Bộ GTVT: là cơ quan trực thuộc Chính phủ, chịu trách nhiệm nghiên cứu

đề xuất Chính Phủ ban hành các Nghị định và Quyết định, Bộ GTVT có quyền ban hành một số văn bản về vận tải biển (các Chỉ thị, Thông tư, Quyết định: Ví dụ Quyết định số 59/2005/QĐ-BGTVT ngày 21/11/2005 ban hành quy đ ịnh về trang thiết bị an toàn Hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển lẵp đặt trên tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa.)

- Cục Hàng hải VN: là cơ quan trực thuộc Bộ GTVT, chịu trách nhiệm nghiên cứu đề xuất các ý kiến sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy liên quan đến vận tải biển, xây dựng các mẫu biểu thống nhất cho việc quản lý vận tải biển trên phạm vi cả nước, theo dõi và kiểm tra tình hình thực hiện cơ chế chính sách và luật

lệ liên quan đến vận tải biển ở Việt Nam

b/ Các cơ quan kiểm tra tàu tại cảng: Gồm:

- Cảng vụ: Kiểm tra tính hợp pháp của tàu trong mọi vấn đề khai thác tàu

- Công an Biên phòng: Kiểm tra tính hợp pháp của thuyền viên và hành khách

và về mặt an ninh

- Hải quan: Kiểm tra phòng chống gian lận thương mại và buôn lậu hàng hóa

- Kiểm dịch: Kiểm tra và ngăn ngừa dịch tễ lây lan từ tàu lên bờ và ngược lại

- PSC (Port State Control): Kiểm tra hành chính về an toàn, an ninh và phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ tàu

1.1.5.2 Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải biển (Hãng tàu)

- Chủ tàu biển (Ship Owner)

Chủ tàu là người đứng tên mình thực hiện công tác quản lý và khai thác tàu,

là người đứng ra ký kết các hợp đồng hàng hải liên quan đến tàu biển

Chủ tàu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hoạt động của mình liên quan đến tàu biển

Trang 19

- Người chuyên chở đường biển (Sea Carrier)

Người chuyên chở đường biển là người dùng tàu biển thuộc sở hữu của mình hoặc tàu biển thuê của người khác để thực hiện các dịch vụ vận chuyển hàng hóa hoặc hành khác nhằm mục đích nhận tiền cước vận chuyển Ngưòi chuyên chở đường biển là một bên chính của hợp đồng vận tải, có thể là chủ tàu (Ship Owner) hoặc là người thuê tàu đứng ra ký kết hợp đồng vận tải với người thuê vận chuyển

1.1.5.3 Các bên sử dụng dịch vụ vận tải biển

- Người thuê vận chuyển:

Người thuê vận chuyển là người nhân danh mình hoặc nhân danh người khác

ký kết hợp đồng để thuê người vận chuyển tiến hành v/c hàng hoá

Người thuê vận chuyển sẽ phải chịu trách nhiệm thực hiện các điều khoản của hợp đồng, cho dù họ là người được ủy thác thuê tàu

- Người thuê tàu:

Là người đi thuê tàu của chủ tàu để tự mình thực hiện các dịch vụ vận chuyển Họ có thể là người thuê tàu trần hoặc người thuê tàu định hạn

1.1.5.4 Các bên cung cấp dịch vụ hỗ trợ vận tải biển:

- Công ty môi giới hàng hải (Ship Broker): Đây là những người đứng ra tìm kiếm cơ hội kinh doanh cho các chủ tàu, đồng thời họ tìm kiếm luôn các nhà cung cấp các dịch vụ khác cho chủ tàu Người môi giới sẽ được hưởng hoa hồng môi giới (Commission) do chủ tàu trả khi đã tìm được nguồn hàng vận chuyển hoặc đã tìm được người thuê tàu định hạn

- Công ty đại lý (Shipping Agency): Là những người thay mặt chủ tàu tại các cảng để tiến hành các hoạt đông chăm sóc tàu tại cảng, theo sự ủy thác của chủ tàu trên cơ sở của hợp đồng đại lý theo từng chuyến hoặc theo thời hạn

- Công ty xếp dỡ (Stevedore): những người lập kế hoạch xếp dỡ và chỉ đạo xếp dỡ hàng hóa cho tàu theo đúng yêu cầu của tàu trên cơ sở hợp đồng xếp dỡ

- Người kiểm kiện (Tally man/Checker): là những người được chủ tàu thuê tại cảng xếp và cảng dỡ để tiến hành kiểm đếm giao nhận hàng hóa với chủ hàng Người kiểm kiện chỉ cung cấp dịch vụ kiểm đếm hàng cho tàu

Trang 20

- Công ty giao nhận (Freight Forwarder):

- Công ty giám định (Surveyor): là những người được chủ tàu thuê để tiến hành giám định số lượng và chất lượng hàng hóa xếp trên tàu; giám định các tổn thất của tàu trong quá trình khai thác do các nguyên nhân khách quan gây ra để đòi bồi thường từ các bên khác

- Công ty hoa tiêu hàng hải (Sea Pilot): Cung cấp dịch vụ dẫn dắt tàu ra vào cảng hoặc trên các đoạn đường có hạn chế về mặt hành hải Chủ tàu trực tiếp hoặc

ủy thác cho đại lý đứng ra ký các hợp đồng cung cấp dịch vụ hoa tiêu cho tàu tại các cảng (trừ khi các cảng cho phép thuyền trưởng đảm nhận tự hoa tiêu)

- Xí nghiệp Lai dắt (Towage Service Co.): Cung cấp dịch vụ lai dắt tàu ra vào luồng, rời cập cầu

1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

Quản lý Nhà nước về kinh tế: QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và

mở rộng giao lưu quốc tế.[2]

Theo nghĩa rộng, QLNN về kinh tế ược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước

Theo nghĩa hẹp, QLNN về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải:

Xuất phát từ khái niệm QLNN về kinh tế ở trên có thể xác lập khái niệm: QLNN đối với hoạt động vận tải biển là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động của các tổ chức trong hệ thống vận tải biển nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế trong lĩnh vực vận tải

Trang 21

biển nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc gia, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế

1.2.2 Chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển nhằm thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước bao gồm:

+ Định hướng cho sự phát triển hoạt động vận tải biển nhằm đạt đến mục đích (mục tiêu) nhất định Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Nhà nước định hướng phát triển đối với các hoạt động của hoạt động vận tải biển và hướng dẫn các nhà kinh doanh trong lĩnh vực này hoạt động theo mục tiêu chung của đất nước

+ Nhà nước tạo lập môi trường cho sự phát triển của hoạt động vận tải biển là tập hợp tất cả các yếu tố, điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại và phát triển của lĩnh vực này Bao gồm các loại môi trường: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính trị, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường kỹ thuật, môi trường dân số, môi trường quốc tế để đảm bảo hoạt động vận tải biển phát triển thuận lợi nhất

+ Nhà nước sử dụng quyền năng chi phối của Nhà nước lên các hành vi của các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động của lĩnh vực này, ràng buộc chúng phải tuân thủ các quy định đã có sẵn, nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường của nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước

+ Nhà nước xây dựng hệ thống chính sách pháp luật trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển đồng thời dựa vào nó để kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chủ trương, chính sách và các kế hoạch, pháp luật trong lĩnh vực này

Để thực hiện công tác QLNN đối với hoạt động vận tải biển được giao cho hai cấp bao gồm: Cấp Bộ (Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính)

và cấp địa phương (các tỉnh, thành phố)

Trang 22

1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

QLNN đối với hoạt động vận tải biển là quản lý và định hướng các hoạt động hoạt động vận tải biển thông qua hệ thống các văn bản pháp luật nhằm thực hiện các nội dung quản lý của Nhà nước bao gồm:

Thứ nhất, ban hành luật pháp, và hướng dẫn các cơ quan QLNN triển khai công tác QLNN đối với hoạt động vận tải biển Trên cơ sở các luật được Quốc hội thông qua, Chính phủ ban hành các nghị định, quyết định hướng dẫn thi hành luật; Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định, quyết định ban hành các quy chế triển khai thực hiện từng hình thức QLNN, quy định các điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động vận tải biển được phép mở rộng thêm các hình thức kinh doanh; các cấp Bộ, ngành ban hành các thông tư, quyết định và UBND tỉnh, thành phố ban hành các quyết định nhằm phối hợp cùng các Bộ hướng dẫn, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải biển phù hợp với đặc thù của ngành, phù hợp với đặc thù kinh tế -

xã hội của từng địa phương; Cảng vụ Hàng hải ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các các doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải biển trên địa bàn được phân cấp quản lý từng bước mở rộng các hình thức, loại hình và phương thức hoạt động Qua ban hành luật pháp, và hướng dẫn thực hiện, đã tạo khung pháp lý

và hướng dẫn chi tiết cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ vận tải biển hoạt động và phát triển

Thứ hai, định hướng về QLNN đối với hoạt động vận tải biển qua xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch: Hệ thống chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án được xây dựng và phê duyệt, Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội cho từng vùng, ngành, từng khu vực Các Bộ chủ quản và các tỉnh, thành phố, UBND tỉnh, thành phố phê duyệt đề án và kế hoạch phát triển đối với hoạt động vận tải biển.Việc triển khai thực hiện các quy hoạch, đề án và các chương trình phát triển kinh tế-xã hội là những công cụ QLNN quan trọng, định hướng các mục tiêu, các chỉ tiêu, biện pháp

tổ chức thực hiện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; là cơ sở khoa học và

Trang 23

là cơ sở thực tiễn định hướng mục tiêu, chỉ tiêu của QLNN đối với hoạt động vận tải biển phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội

Thứ ba, chỉ đạo thực hiện về QLNN đối với sự phát triển hoạt động vận tải biển phù hợp quốc tiến trình hội nhập tế: Thực hiện mở cửa thị trường vận tải biển theo lộ trình cam kết, tham gia các điều ước quốc tế, các diễn đàn khu vực và quốc

tế về hoạt động vận tải biển Bộ Giao thông Vận tải chủ động phát triển quan hệ hợp tác đa phương và song phương trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển Đồng thời, các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan QLNN thực hiện công tác QLNN đối với hoạt động vận tải biển phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực vận tải biển

Thứ tư, kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình QLNN đối với hoạt động vận tải biển: Cơ quan thanh tra, giám sát của các cấp QLNN thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình phát triển các hình thức, loại hình, phương thức vận tải biển theo phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ trên cơ sở rủi ro đối với từng hình thức, loại hình, phương thức vận tải biển Nội dung thanh tra, giám sát bao gồm: Thanh tra việc chấp hành các điều kiện được cấp phép hoạt động, tuân thủ các quy chế của các doanh hoạt động vận tải biển; Thu thập, tổng hợp và

xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầu thanh tra, giám sát; xem xét, đánh giá mức độ phát triển hoạt động vận tải biển; Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu QLNN đối với hoạt động vận tải biển; Kiến nghị, yêu cầu các Bộ, ngành có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro; Phát hiện, ngăn chặn và xử

lý theo thẩm quyền; Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực vận tải biển

Thứ năm, cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu QLNN đối với hoạt động vận tải biển: Các cấp QLNN tổ chức thống kê, dự báo về hoạt động vận tải biển, công khai thông tin về tình hình hoạt động, phát triển về hoạt động vận tải biển cũng như hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động vận tải biển Các cơ quan QLNN tổ chức hệ thống thông tin và cung ứng dịch vụ thông tin, chia sẻ thông

Trang 24

tin về tình hình hoạt động, phát triển về hoạt động vận tải biển nhằm ngăn ngừa

và hạn chế rủi ro trong lĩnh vực vận tải biển; tổ chức, giám sát việc cung cấp thông tin của các khách hàng có quan hệ với hoạt động, phát triển dịch vụ vận tải biển

Thứ sáu, tổ chức công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực: Bộ Giao thông vận tải tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học thông qua các trường, viện, như Đại học Hàng hải Việt Nam, Đại học Ngoại thương, Đại học Thương Mại, các trường đại học, cao đẳng khác tổ chức đào tạo huấn luyện nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý trong lĩnh vực vận tải biển, đào tạo các bộ quản lý và nghiệp vụ cho lĩnh vực vận tải biển

1.2.4 Công cụ quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

a Công cụ

Công cụ của QLNN đối với hoạt động vận tải biển là tổng thể những phương tiện hữu hình và vô hình mà Nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh doanh trong chuỗi hoạt động vận tải biển nhằm mục tiêu quản lý

Công cụ QLNN đối với hoạt động vận tải biển bao gồm:

- Pháp luật, là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển xã hội theo các đặc trưng đã định

- Kế hoạch, là phương án hành động, là quá trình xây dựng, quán triệt, chấp hành

và giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án QLNN đối hoạt động vận tải biển

- Chính sách, là một tập hợp các biện pháp nhất định nhằm thực hiện để đạt được các mục tiêu xác định trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển

Trang 25

1.2.5 Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

QLNN đối với hoạt động vận tải biển là một tất yếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nó là kết quả của đường lối tăng cường kinh tế của Nhà nước, của quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động sâu sắc Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, hoạt động vận tải biển ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng Vai trò của QLNN đối với hoạt động vận tải biển được thể hiện ở các nội dung sau

Thứ nhất, QLNN đối với hoạt động vận tải biển là thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong việc tạo môi trường và hành lang cho hoạt động vận tải biển phát triển trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế trong các hệ thống của cảng; đảm bảo sự phát triển

ổn định, đúng hướng; nâng cao hiệu quả hoạt động hoạt động vận tải biển, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của khu vực và đất nước Đối với nền kinh tế quốc dân, hoạt động vận tải biển đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối Nếu xem xét ở góc độ tổng thể thì hoạt động vận tải biển là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá

Thứ hai, QLNN đối với hoạt động vận tải biển giúp cho việc định hướng cho sự phát triển kinh tế xã hội đối với khu vực cảng biển, là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn bộ hệ thống của cảng biển bao gồm cung cấp, dịch vụ, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho cảng QLNN đối với hoạt động vận tải biển tốt nhằm định hướng đúng sự phát triển kinh tế của khu vực vận tải nằm trong tổng thể kinh tế xã hội của khu vực Bằng các công cụ, phương tiện liên kết toàn bộ vận tải biển và các lĩnh vực khác nhau trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm chuẩn mực cho các hoạt động của doanh nghiệp, tăng cường sức thu hút và cạnh tranh cho khu vực cảng biển

Thứ ba, QLNN đối với hoạt động vận tải biển tốt sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, giảm chi phí trong kinh doanh quốc tế, đảm bảo dân

Trang 26

chủ, công bằng xã hôi hoạt động vận tải biển có tác dụng như chiếc cầu nối trong xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các nước trên thị trường đúng yêu cầu về thời gian

và tiến độ đặt ra QLNN đối với hoạt động vận tải biển cảng tốt có tác dụng rất lớn trong việc quản lý và triển khai, mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, loại bỏ các chi phí không cần thiết, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, dân chủ và công bằng xã hội

Thứ tư, QLNN đối với hoạt động vận tải biển nhằm trực tiếp quản lý, điều hành các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển, góp phần giảm thiểu chi phí trong quá trình xuất nhập khẩu, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tạo tiền đề thúc đẩy các doanh nghiệp khác cùng phát triển

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

Tác động đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển là những yếu

tố ảnh hưởng đến định hướng phát triển, đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội trong lĩnh vực dịch vụ logistics cảng, trong đó có các nhân tố chủ yếu sau

+ Mức độ mở cửa của nền kinh tế trong hội nhập

Mức độ mở cửa của nền kinh tế thường được đo bằng chỉ số giữa tổng giá trị ngoại thương (bao gồm giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu) so với tổng GDP cả nước Mức độ mở cửa của nền kinh tế là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia Mức độ mở cửa của nền kinh tế được thể hiện ở chính sách thuế quan, các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá…Một quốc gia có mức độ mở cửa nền kinh tế cao có nghĩa là nước đó có giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu lớn, có chính sách đối ngoại mở cửa, thông thoáng, chính sách thuế xuất nhập khẩu hợp lý, hạn chế các biện pháp phi thuế để bảo hộ sản xuất trong nước Mặt khác, các nước có mức độ mở cửa kinh tế lớn sẽ dẫn đến khả năng thu hút đầu tư nhiều hơn Với mức độ mở cửa nền kinh tế lớn, ngoài việc tăng nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu, những năm qua, Việt Nam còn

có mức độ gia tăng FDI lớn trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới Đòi hỏi các cơ quan QLNN phải có các chính sách đúng, để mức độ đầu tư FDI tăng làm

Trang 27

tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, tăng khối lương hàng hóa thông qua các cảng biển tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ logistics cảng hoạt động vận tải biển là một hoạt động kinh tế quan trọng Do đó hoạt động này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách xuất nhập khẩu Những thay đổi trong hoạt động xuất nhập khẩu làm thay đổi căn bản hoạt động vận tải biển, đến lượt mình, những thành công của hoạt động vận tải biển thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển Chính vì thế ảnh hưởng không nhỏ đến QLNN đối với hoạt động vận tải biển

+ Thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh

Thể chế, chính sách là những quy định pháp lý của các quốc gia nhằm điều chỉnh hoạt động của một ngành, một lĩnh vực nào đó của nền kinh tế Đây là yếu

tố cấu thành môi trường kinh doanh và là điều kiện hết sức quan trọng cho sự phát triển của ngành, lĩnh vực đó Các chính sách của Nhà nước đối với từng lĩnh vực kinh tế nói chung và hoạt động vận tải biển nói riêng là công cụ quản lý của Nhà nước cần được quy định rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, dễ áp dụng nhằm tạo cho các doanh nghiệp tham gia vào hệ thống dịch vụ logistics cảng biển được thuận lợi, bình đẳng QLNN đối với hoạt động vận tải biển càng được quan tâm đầu tư hoàn chỉnh sẽ giúp cho hệ thống dịch vụ vận tải biển có cơ sở để phát triển và hoàn thiện Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, một quốc gia áp dụng chính sách

mở cửa kinh tế, khối lượng và trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên, các yêu cầu về hoạt động vận tải biển phục vụ cho việc lưu chuyển hàng hóa đều gia tăng

cả về số lượng và chất lượng đòi hỏi các cơ quan QLNN phải xây dựng một hệ thống thể chế, chính sách hoàn chỉnh và tiên tiến

+ Sự phát triển của kết cấu hạ tầng, công nghệ thông tin và truyền thông

Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống đường xá, bến bãi, sân bay, bến cảng, mạng trục viễn thông, hệ thống cấp điện, nước phục vụ cho việc lưu chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu thụ cuối cùng Kết cấu hạ tầng là điều kiện quan trọng cho sự phát triển hoạt động vận tải biển, đặc biệt là cơ sở hạ tầng giao thông Tuy không trực tiếp tác động lên hàng hóa, nhưng hệ thống kết cấu hạ tầng này là không thể thiếu được trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa.Với vai trò

Trang 28

như là cầu nối, hệ thống đường xá, bến bãi, hệ thống trục viễn thông đóng góp hết sức quan trọng và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của dịch vụ logistics cảng Nếu khi có nhu cầu về một loại hàng hóa nào đó cần xuất nhập khẩu, mặc

dù đã có hàng hóa sẵn sàng nhưng với cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu phương tiện vận chuyển, hệ thống đường xá chất lượng kém, không có các phương tiện thông tin hiện đại để trao đổi, giao dịch… thì việc xuất nhập khẩu vẫn không đạt được hiệu quả cao Nhà nước quan tâm đến đầu tư phát triển mạng lưới giao thông sẽ làm cho quá trình vận chuyển hàng hóa thông suốt rút ngắn thời gian vận chuyển, giải phóng nhanh hàng hóa xuất nhập khẩu tăng hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác QLNN đối với hoạt động vận tải biển

+ Nguồn nhân lực cho QLNN đối với hoạt động vận tải biển

Cũng như các ngành kinh tế, trong điều kiện hội nhập, yếu tố nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của hệ thống dịch vụ logistics cảng, nhất là nguồn nhân lực cho QLNN Vì hoạt động vận tải biển trong hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ giới hạn trong phạm vi một hoặc một số quốc gia nhất định mà phạm vi hoạt động của nó mang tính toàn cầu, cảng biển là của ngõ giao lưu với các nước trên thế giới nên cho dù các hãng kinh doanh hoạt động vận tải biển cảng có năng lực tài chính mạnh, có trang thiết bị hiện đại, có hệ thống thông tin hiện đại mà được hỗ trợ bởi nguồn nhân lực QLNN tốt sẽ nắm bắt được đòi hỏi của các doanh nghiệp, tham mưu kịp thời với các cấp quản lý để đưa ra hệ thống chính sách, pháp luật thuận lợi giúp doanh nghiệp phát triển, tạo cho các doanh nghiệp có thể đạt hiệu quả kinh doanh cao Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ trong bộ máy QLNN đối với lĩnh vực kinh doanh vận tải biển cảng phải tinh thông nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ, có khả năng và kinh nghiệm ứng xử với những biến động của kinh tế thị trường, được đào tạo các kiến thức quản lý Nhà nước

về kinh tế, về chuyên ngành, về tin học để họ có thể lập các báo cáo theo yêu cầu, cập nhật thông tin về các hoạt động vận tải biển để tham mưu đúng hướng cho các cấp quản lý, vạch ra chiến lược cụ thể và xác định đúng, kịp thời mục tiêu cho tương lai nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển hoạt động vận tải biển Vì vậy

Trang 29

các cơ quan QLNN quản lý tốt quá trình đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực cho QLNN đối với hoạt động vận tải biển sẽ góp phần tăng cường năng lực công tác QLNN, tạo tiền đề tăng hiệu quả hoạt động của hoạt động vận tải biển theo kịp tiến độ phát triển của thế giới trong thời đại mới Kinh tế thị trường phát triển, khối lượng và giá trị hàng hóa trao đổi trên thị trường giữa các quốc gia, các nền kinh tế tăng nhanh chóng Các hoạt động vận tải biển phục vụ cho quá trình vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu cũng ngày càng phát triển

+ Các loại hình hoạt động vận tải biển ngày càng đa dạng

Ngày nay sự phát triển của các loại hình hoạt động vận tải biển ngày càng đa dạng, phát triển đã có tác dụng giảm thiểu các loại chi phí giấy tờ, chứng từ trong xuất nhập khẩu quốc tế (một giao dịch thương mại quốc tế thường tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ mà theo đánh giá của Liên hợp quốc, chi phí về giấy tờ phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại quốc tế hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD;

1.2.7 Một số tiêu chí đánh giá quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải biển

Các tiêu chí đánh giá về QLNN đối với hoạt động vận tải biển cho đến nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện Tuy nhiên, xuất phát từ các cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta

và vận dụng các tiêu chí đánh giá QLNN của Ngân hàng phát triển Châu Á là các tiêu chí về hiệu lực, hiệu quả, sự công bằng, sự bền vững và phù hợp, bước đầu tác giả có thể đưa ra các tiêu chí như sau: Tiêu chí hiệu lực, tiêu chí hiệu quả, tiêu chí phù hợp, tiêu chí công bằng và tiêu chí bền vững

Thứ nhất, tiêu chí hiệu lực: Hiệu lực QLNN là một phạm trù xã hội chỉ mức

độ pháp luật được tuân thủ và mức độ hiện thực quyền lực chỉ huy và phục tùng trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý trong những điều kiện lịch sử nhất định Do vậy, Hiệu lực QLNN đối với hoạt động vận tải biển chỉ mức độ tuân thủ pháp luật, chấp hành mọi chỉ đạo từ các cơ quan QLNN của các

tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển; đồng thời, biểu hiện mức

độ hiện thực quyền lực Nhà nước của các cơ quan QLNN và uy tín của các cơ

Trang 30

quan QLNN đối với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển Việc đánh giá mức độ hiệu lực qua 2 mức độ:

- Đánh giá hiệu lực QLNN qua mức độ tuân thủ các quy định pháp luật:

Xem xét mức độ tuân thủ về đối tượng đối với quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp hoạt động vận tải, các quy định pháp luật có liên quan đến quá trình phát triển hoạt động vận tải biển Đồng thời đánh giá việc tuân thủ các mức quy định theo các tiêu chí, chỉ tiêu chính yếu đối với quá trình điều tiết, kiểm tra, giám sát hoạt động đối với hoạt động vận tải biển

- Đánh giá hiệu lực QLNN qua mức độ hiện thực quyền lực Nhà nước:

Đánh giá mức độ thực hiện việc tổ chức xây dựng và triển khai định hướng phát triển hoạt động vận tải biển; mức độ ban hành pháp luật đầy đủ, đồng bộ, kịp thời tạo điều kiện pháp lý cho phát triển đa dạng các loại hình, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển, các loại và phương thức cung cấp dịch vụ vận tải biển; mức độ điều tiết, can thiệp của Nhà nước trong quá trình phát triển hoạt động vận tải biển; mức độ thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển

Thứ hai, tiêu chí hiệu quả: Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh trình độ khai thác các yêu tố đầu vào để tạo ra kết quả hoạt động tối đa với chi phí hoạt động tối thiểu, hoăc là chỉ tiêu phản ánh năng suất hoạt động, hiệu suất sử dụng các chi phí đầu vào Do vậy, có thể hiểu hiệu quả QLNN đối với hoạt động vận tải biển phản ánh kết quả hoạt động QLNN với mức tối đa và chi phí QLNN ở mức tối thiểu Hiệu quả QLNN được đánh giá bằng mức độ đạt được của nội dung QLNN so với các mục tiêu QLNN đối với hoạt động vận tải biển đã đặt ra Kết quả của hoạt động định hướng, ban hành pháp luật, điều tiết và kiểm tra, thanh tra, giám sát của Nhà nước so với các mục tiêu QLNN đối với hoạt động vận tải biển Hoạt động định hướng có hiệu quả khi đề ra các biện pháp đối với hoạt động vận tải biển đảm bảo an toàn, hiêu quả kinh doanh của các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển và tạo cơ hội cho mọi tổ chức, cá nhân tiếp cận với tất cả các hoạt động vận tải biển Trong công tác xây dựng, ban hành các quy định pháp luật, tạo khung

Trang 31

pháp lý ổn định lâu dài, ít điều chỉnh, bổ sung, đảm bảo công khai, minh bạch thông tin pháp luật đối với hoạt động vận tải biển, thực hiện tốt các quy định trong quá trình triển khai các hoạt động đối với hoạt động vận tải biển, góp phần gia tăng hiệu quả QLNN đối với hoạt động vận tải biển Hoạt động điều hành của Nhà nước tạo thuận lợi cho các tổ chức trong hệ thống dịch vụ vận tải biển phát triển lâu dài

Thứ ba, tiêu chí phù hợp: Tiêu chí phù hợp trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển bao gồm: Sự phù hợp của các mục tiêu định hướng; các quy định của pháp luật có nội dung bên trong phù hợp nhau, phù hợp trong quy định pháp luật giữa các mối quan hệ của các tổ chức QLNN với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hoạt động vận tải biển, sự phù hợp giữa luật với các văn bản hướng dẫn thực hiện của các tổ chức QLNN với các doanh nghiệp hoạt động vận tải biển, sự phù hợp giữa quy định đối với từng tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển với các quy định pháp luật khác, sự phù hợp giữ quy định với thực tế; phù hợp nội dung, phương pháp điều hành; sự phù hợp về nội dung, phương thức, hình thức, kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình hoạt động của các tổ chức trong hoạt động vận tải biển

Thứ tư, tiêu chí công bằng: Tiêu chí công bằng trong QLNN đối với các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển đòi hỏi sự cân đối về quyền và nghĩa

vụ giữa cá tổ chức trong tiếp cận và phát triển các hình thức, loại và phương thức hoạt động trong hoạt động vận tải biển Mọi hoạt động của các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển phải bảo đảm công bằng, cân xứng Việc đảm bảo công bằng, lợi ích cho các tổ chứchoạt động trong hoạt động vận tải biển và lợi ích chung của nền kinh tế là yếu tố quan trọng thúc đẩy các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển phát triển, thể hiện qua việc ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển khai thác được những lợi, quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức, giúp cho các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển hạn chế rủi ro, phân tán được rủi ro, Bên cạnh, hướng dẫn các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển phục vụ cho mục

Trang 32

tiêu phát triển kinh tế-xã hội bền vững, phục vụ cho các ngành, lĩnh vực kinh tế, phục vụ cho nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống và ổn định xã hội

Thứ năm, tiêu chí bền vững: Tiêu chí bền vững trong QLNN đối với hoạt động vận tải biển được biểu hiện qua sự ổn định về định hướng, ổn định về pháp lý

và đảm bảo hài hòa lợi ích cho các các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển và lợi ích chung cho phát triển kinh tế-xã hội Nhà nước ban hành pháp luật liên quan đến triển khai từng hình thức, từng loại hình và phương thức hoạt động cho các tôt chức phải được cụ thể, rõ ràng, ít điều chỉnh, bổ sung, đầy đủ nội dung cần thiết để đảm bảo cho các tổ chức hoạt động hoạt động vận tải biển cảng biển triển khai được dễ dàng, đảm bào cho quy trình thực hiện từng hình thức, từng loại hình, phương thức hoạt động được ổn định lâu dài, đảm bảo cho việc thực thi pháp luật của các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển

Các tiêu chí đánh giá kết quả QLNN đối hoạt động vận tải biển là hiệu lực, hiệu quả, hợp lý, công bằng và bền vững đều có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại nhau Cụ thể, khi quy đ ịnh pháp luật về hoạt động cho các tổ chức trong hoạt động vận tải biển chỉ có hiệu lực thi hành khi ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của các luật đã ban hành, nhằm đưa quy đ ịnh pháp luật đi vào thực tiễn đời sống xã hội; mức độ tuân thủ các quy định pháp luật của các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển và mức độ hiện thực quyền lực Nhà nước, trên cơ sở đảm bảo tiêu chí phù hợp trong QLNN với các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển, giúp đạt được của nội dung QLNN so với c ác mục tiêu QLNN đối với hoạt động vận tải biển đã đặt ra theo tiêu chí hiêu quả và qua đó đáp ứng được các yêu cầu sự ổn định về định hướng, về pháp lý và đảm bảo sự công bằng, hài hòa lợi ích cho các tổ chức hoạt động trong hoạt động vận tải biển và lợi ích chung cho phát triển kinh tế-xã hội theo tiêu chí bền vững Tuy vậy, do tác động bởi nhiều yếu tố, làm cho kết quả QLNN đối với hoạt động vận tải biển đạt được ở mức độ nhất định

Để đánh giá công tác quản lý hoạt động vận tải biển, một số chỉ tiêu có thể được sử dụng

Trang 33

1 Sản lượng và doanh thu vận chuyển

Đây là chỉ tiêu quan trọng, phán ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Và đây cũng là cơ sở để phân tích các chỉ tiêu khác Nếu việc phân tích đạt yêu cầu: đầy đủ , khách quan,triệt để,và thực hiện các mục đích trên sẽ tạo điều kiện xác định được nguyên nhân gây ra tình hình thực hiện chỉ tiêu kết quả sản xuất cuối cùng của SXKD Tạo điều kiện để người quản lý doanh nghiệp thấy được tình hình thực tế cũng như những tiềm năng của doanh nghiệp.từ đó có những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp

2 Lao động và tiền lương

Đây là chỉ tiêu giúp người quản lý doanh nghiệp thấy được thực trạng của doanh nghiệp về lao động, thấy được nhiều mặt yếu cần bổ sung, sửa đổi về cơ cấu, quy mô sức lao động, từ đó có kế hoạch và biện pháp tăng giảm lao động trong doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả Đồng thời thấy được những tiềm năng chưa khai thác hết hoặc chưa được khai thác Từ đó doanh nghiệp có biện pháp cụ thể sử dụng sức lao động của mình có hiệu quả hơn

3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Là chỉ tiêu đánh giá chất lựơng hoạt động sản xuất kinh doanh, chất lượng

sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất nhân tài, vật lực

Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng đề tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân

và của doanh nghiệp

Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích ngời lao động và doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở có chính sách phân phối đúng đắn

Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng, vì vậy phân tích tình hình lợi nhuận rất có ý nghĩa Chỉ có thông qua việc phân tích mới đề ra các biện pháp không ngừng nâng cao lợi nhuận, thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp

Trang 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN Ở ĐỊA BÀN HẢI PHÒNG 2.1 Khái quát về hoạt động vận tải biển của Việt nam

Trong vận chuyển hàng hóa, hành khách, vận tải biển đóng vai trò quan trọng do có nhiều lợi thế hơn các loại hình vận tải khác như: giá thành vận chuyển thấp, có khả năng chở hàng với số lượng lớn, hàng siêu trường, siêu trọng, có thể tới được tất cả các châu lục trên thế giới Thực tế hiện nay, trên 90% lượng hàng hóa được vận chuyển giữa các châu lục bằng đường biển Xu hướng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trong tương lai vẫn không ngừng phát triển, đặc biệt là hàng container

Việt Nam là quốc gia ven biển, về cơ cấu đội tàu biển, tính đến 15/12/2014, đội tàu Việt Nam qu ản lý có 1.840 tàu với tổng trọng tải 7,3 triệu DWT Cơ cấu đội tàu còn chưa hợp lý, đặc biệt là tỷ trọng tàu công-ten-nơ trong tổng trọng tải đội tàu rất thấp với 32 tàu công-te-nơ chỉ chiếm khoảng 3,81% so với 14% của thế giới Số chủ tàu nhiều nhưng năng lực tài chính, trình độ quản lý còn hạn chế Trong số 597 chủ tàu hiện nay có đến hơn 500 chủ tàu nhỏ nhưng chỉ quản lý 27% tổng trọng tải đội tàu

Trang 35

BẢNG 2.1 SỐ LƢỢNG TÀU VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM NĂM 2014 (*)

TT Loại tàu

Số lƣợng (chiếc)

Dung tích (GT)

Trọng tải (MT)

Trang 36

HÌNH 2.1 SẢN LƯỢNG VẬN TẢI BIỂN GIAI ĐOẠN 2006 – 2014

Trong thời gian vừa qua, do áp dụng quyết liệt các biện pháp nhằm bảo vệ quyền vận tải nội địa, thị phần vận tải nội địa của đội tàu biển Việt Nam gia tăng nhanh chóng, chiếm trên 90% thị phần vận tải nội địa bằng đường biển Số lượng tàu container mang cờ quốc ti ̣ch Viê ̣t Nam đưa vào vâ ̣n tải nô ̣i đi ̣a cũng tăng từ 19 tàu lên 30 tàu trong vòng hơn 1 năm, không còn tình tra ̣ng tàu neo đâ ̣u dài ngày do không có hàng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp vận tải biển trong giai đoạn khó khăn hiện nay

Trang 37

BảNG 2.2 TỔNG HỢP SẢN LƯỢNG VẬN TẢI BIỂN CỦA ĐỘI TÀU BIỂN VIỆT NAM NĂM 2010-2014

Chỉ tiêu Đơn vi ̣ Sản lượng 2011 Sản lượng 2012 Sản lượng 2013 Sản lượng 2014

I Sản lượng vận tải biển Tấn 96,300,000 100,500,000 98,363,056 98,493,076

TEU 2,062,000 2,079,000 2,201,224 1,573,036 1000TKm 183,907,000 173,228,000 150,585,450 135,748,000

1 Vận tải nước ngoài Tấn 66,291,000 69,727,000 55,127,000 28,386,504

TEU 1,427,000 1,435,000 1,269,263 265,660 1000TKm 162,219,000 157,240,000 128,032,780 92,448,000

2 Vân tải trong nước Tấn 30,025,000 30,841,000 43,236,056 70,106,572

1000TKm 21,688,000 15,988,000 22,552,670 43,300,000

Trang 38

HÌNH 2.2 SẢN LƯỢNG VẬN TẢI HÀNG HOÁ CỦA ĐỘI TÀU BIỂN

VIỆT NAM

Sản lượng vận tải biển: Chịu ảnh hưởng của sự suy giảm chung của nền kinh

tế thế giới, khu vực nên mức độ tăng trưởng hàng hóa vận tải biển của đội tàu biển Việt Nam suy giảm trong những năm gần đây, cụ thể năm 2014, tỷ lệ tăng chỉ đạt 0.13% so vớ i năm 2013, trong đó vâ ̣n tải nước ngoài giảm 51%, vâ ̣n tải trong nước tăng 62% Do chính sách hỗ trợ đô ̣i tàu phát triển và viê ̣c thực hiê ̣n hiê ̣u quả

Phương án thay thế tàu nước ngoài vâ ̣n tải nô ̣i đi ̣a bằng tàu Viê ̣ t Nam đã làm cho tỷ

lê ̣ vâ ̣n tải trong nước của đô ̣i tàu biển Viê ̣t Nam phát triển ma ̣nh Đối với vận tải biển nước ngoài, ngoài việc thị trường tiếp tục sụt giảm do khủng hoảng kinh tế, thế giới, các chủ tàu Việt nam còn gánh chịu thêm những hậu quả kéo theo của việc đầu tư đội tàu già cũ với giá đầu tư cao, dẫn đến thừa cung trọng tải, chi phí tài chính lại, các tàu già, không đáp ứng đủ tiêu chuẩn vận chuyển quốc tế, rất nhiều tàu bị bắt giữ tại nước ngoài vì lý do kỹ thuật, và cả lý do kinh tế do các khoản nợ khai thác của các chủ tàu Việt Nam, vì vậy sản lượng sụt giảm mạnh

Trang 39

- Về tốc độ tăng trưởng vận tải của đội tàu biển Việt Nam: Mức độ tăng trưởng chung bình quân hàng năm do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận giai đoạn 2002-2008 là 19,6%, đến năm 2009 là 17%, năm 2012 là 4,41%, năm 2014 đạt 0.13%

Kết quả trên cho thấy, vận tải biển Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng trong ngành Hàng hải, Giao thông vận tải, đã có đóng góp tích cực vào sự phát triển của Ngành và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước

2.2 Thực trạng QLNN đối với hoạt động vận tải biển trên địa bàn Hải Phòng 2.2.1 Tình hình tổ chức công tác quản lý Nhà nước về vận tải biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Công tác QLNN đối với hoạt động vận tải biển là công tác ban hành luật pháp, hướng dẫn các cơquan QLNN triển khai công tác QLNN đối với với hoạt động vận tải biển; Định hướng về QLNN đối với với hoạt động vận tải biển qua xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch; Chỉ đạo thực hiện về QLNN đối với sự phát triển với hoạt động vận tải biển phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế; kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình QLNN đối với với hoạt động vận tải biển; Cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu QLNN đối với với hoạt động vận tải biển; tổ chức công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực Dựa trên các tiêu chí hiệu lực, hiệu quả, phù hợp, công bằng và bền vững

Trang 40

BảNG 2.3 MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ

HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN Ở KHU VỰC HẢI PHÒNG

hành

32/NQ-TW

Nghị quyết của Bộ Chính trị IX "Về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

05/8/ 2003

40/2005/QH11 Bộ luật Hàng hải nước Cộng hòa xã hội chủ

71/2006/NĐ-CP Nghị định về quản lý cảng biển và luồng hàng hải 25/07/2006

09/NQ-TW Nghị quyết của BCH Trung ương Đảng, khóa X

“Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” 09/02/2007

6/12/2013

Ngày đăng: 14/10/2017, 16:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w