1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng ngân hàng tại cục thi hành án dân sự thành phố hải phòng

75 325 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 580,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân sự có chức năng thi hành các bản án, quyết định định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài s

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong đời sống kinh tế - xã hội, yêu cầu thi hành nghiêm chỉnh các bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có ý nghĩa quan trọng và được quy định trong Hiến pháp Hiến pháp năm 2013 (trước đây là Hiến pháp năm

1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001) tại Điều 106 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”

Để đảm bảo hiệu quả thi hành án, pháp luật đã quy định về các cơ quan

có thẩm quyền và trình tự, thủ tục thi hành án Đối với thi hành án dân sự, Luật

Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn bản

hướng dẫn thi hành đã quy định về thẩm quyền của các cơ quan thi hành án dân sự và các trình tự, thủ tục thi hành án dân sự để thi hành các bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại

Trên cơ sở các quy định pháp luật, trong những năm qua, công tác thi hành án dân sự đã có những chuyển biến tích cực Trong năm 2015, các cơ quan thi hành án dân sự trong toàn quốc phải thụ lý thi hành 791.441 việc (tương ứng với số tiền là 125.956 tỷ 441 triệu 959 nghìn đồng), trong đó có 598.790 việc có điều kiện giải quyết (tương ứng với số tiền là 54.414 tỷ 499 triệu 409 nghìn đồng) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 534.045 việc (đạt tỷ lệ 89,19%) và 42.834 tỷ 120 triệu 577 nghìn đồng (đạt tỷ lệ 78,72%) Riêng đối với các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng, số việc phải giải quyết trong toàn quốc là 16.041 việc, tương ứng với số tiền là 59.662 tỷ 44 triệu

Trang 2

970 nghìn đồng (chiếm 2,26% về việc và 48,92% về tiền so với tổng số việc và tiền phải giải quyết của toàn quốc) Kết quả đã giải quyết xong 1.833 việc, thu được số tiền là 8.879 tỷ 858 triệu 764 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 11,42% về việc và 14,88% về tiền (so với cùng kỳ năm 2014 tăng 6,12% về việc và 4% về tiền) [Báo cáo công tác thi hành án năm 2015 của Chính phủ]

Ở thành phố Hải Phòng, trong những năm qua công tác thi hành án dân sự bên cạnh những kết quả đạt được, thì cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định, trong đó có những tồn tại, hạn chế liên quan đến việc thi hành các vụ

việc tín dụng, ngân hàng Trong năm 2015 (từ ngày 01/10/2014 đến ngày 30/9/2015), các cơ quan thi hành án dân sự của thành phố Hải Phòng phải thi

hành 16.559 việc (với số tiền là 4.134.078.146.000 đồng), trong đó có 318 việc

liên quan đến tín dụng, ngân hàng (với số tiền là 2.995.058.262.000 đồng) Như

vậy, số việc thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng chỉ chiếm 0,2% về việc nhưng chiếm 72% về tiền so với tổng số việc và tiền mà các cơ quan thi hành án dân sự của thành phố Hải Phòng phải thi hành Kết quả thi hành án, đã thi hành được 44 việc với số tiền giải quyết là 531.764.248.000 đồng, đạt tỷ lệ 14% về việc và 18% về tiền [Báo cáo kết quả công tác thi hành dân sự năm

2015, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2016 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng]

Kết quả nêu trên cho thấy còn tồn đọng số lượng lớn các việc thi hành án dân sự liên quan đến tín dụng, ngân hàng phải chuyển sang năm 2016 Điều này cũng cho thấy rằng hiệu quả thi hành án đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng còn thấp so với yêu cầu chỉ tiêu, nhiệm vụ đặt ra Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân như: người phải thi hành án không tự nguyện thi hành; sự phối hợp chưa hiệu quả giữa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức liên quan; một số quy định pháp luật thiếu khả thi; việc xử lý tài sản đảm bảo kéo dài, khó xử lý Từ đó, để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự nói chung, hiệu quả thi hành các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng thì cần phải có những giải pháp, biện pháp khả thi, phù hợp với thực tiễn công tác thi

Trang 3

hành án dân sự của thành phố Hải Phòng Vì vậy, việc chọn đề tài nghiên cứu:

“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng” có ý

nghĩa cấp thiết, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Về hiệu quả thi hành án dân sự ở nước ta, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố với những cách tiếp cận khác nhau, trong

đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

- “Đổi mới tổ chức và hoạt động Thi ha ̀ nh án dân sự ở Việt Nam” của tác

giả Nguyễn Quang Thái, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003;

- “Một số vấn đề về tổ chức và Thi ha ̀ nh án dân sự Việt Nam” của tác giả

Trần Văn Quảng , Luận văn Thạc sĩ Luật học , Trường Đa ̣i ho ̣c luâ ̣t Hà Nô ̣i , 1997;

- “Xã hội hóa một số nội dung Thi ha ̀ nh án dân sự” của tác giả Lê Xuân

Hồng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002;

- “Đổi mới thủ tục Thi ha ̀ nh án dân sự Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004;

- “Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong Thi ha ̀ nh án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Đức Nghĩa, Luận văn Thạc sĩ

Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005;

- “Những vướng mắc trong cơ chế phối hợp về Thi ha ̀ nh án dân sự” của

tác giả Hoàng Thế Liên và Nguyễn Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 5/2001;

- "Giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Hoàng Thế

Anh (Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005);

Trang 4

- “Vấn đề đổi mới thủ tục Thi ha ̀ nh án dân sự ở nước ta hiện nay” của tác

giả Nguyễn Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên

đề về Thi hành án dân sự, năm 2006);

- “Thực trạng về án tồn đọng và những giải pháp của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Văn Lực và Đào Anh Dũng đăng

trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề về Thi hành án dân sự , năm 2008);

- “Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”

của tác giả Lại Anh Thắng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2010

- "Một số vấn đề về công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức hoạt động kiểm sát thi hành bản án, quyết định dân sự" của tác giả Trần Thị Nguyệt đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 10 (tháng 5.2008)

- „„Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp‟‟ của tác giả Hoàng Thi ̣ Hoa , Luận văn Thạc sỹ luật ho ̣c , Khoa

luâ ̣t, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;

- "Những bất cập trong giải quyết các giao dịch liên quan đến tài sản của người phải thi hành án", Tạp chí Kiểm sát, số 5 (tháng 3/2011) của TS Đoàn

Đức Lương, Đại học Huế

Ngoài ra cũng còn những bài viết, sách liên quan đến công tác thi hành án dân sự đã được công bố đề cập nhiều đến những vấn đề lý luận, thực tiễn về công tác thi hành án dân sự ở các góc độ khác nhau, nhưng ít có công trình nghiên cứu về hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng do các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện trên một địa bàn cụ thể Vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu này hy vọng sẽ đáp ứng các yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với công tác thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay

3 Mục đích va ̀ nhiê ̣m vu ̣ của luận văn

Trang 5

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận

và thực tiễn công tác thi hành án dân sự nói chung, thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng nói riêng của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và phân tích một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng

- Để đạt mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:

+ Nghiên cứu một một số vấn đề lý luận về thi hành án dân sự và hiệu

quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng

+ Đánh giá thực trạng hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín

dụng, ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

+ Phân tích, kiến nghị một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến hoạt

động thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận và thực tiễn

trong hoạt động thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng tại

Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng trong 5 năm (từ 2011 đến 2015)

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ, hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thi hành án dân sự nói chung, thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng nói riêng

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý thi hành án dân

sự, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức liên quan trong chỉ đạo, phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự

6 Nội dung nghiên cứu của luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn được bố cục trong 3 chương

Trang 6

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thi hành án dân sự và hiệu quả

thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng

Chương 2: Đánh giá thực trạng hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ

việc tín dụng, ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với

các vụ việc tín dụng, ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

Trang 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN

DÂN SỰ VÀ HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI

CÁC VỤ VIỆC TÍN DỤNG, NGÂN HÀNG

1.1 Đặc điểm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự

1.1.1 Vị trí, chức năng của cơ quan thi hành án dân sự

Vị trí, chức năng của cơ quan thi hành án dân sự hiện nay được quy định trong Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn

bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015

của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật

Thi hành án dân sự; Quyết định 32/2009/QĐ-TTg ngày 02/3/2009 của Thủ

tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp; Thông tư số 09/2015/TT-BTP ngày 26/06/2015 của Bộ Tư pháp quy định việc phân cấp quản lý công chức viên chức, người lao động thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan Thi hành án dân sự; Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp; Thông tư số 09/2012/TT-BTP ngày 01/09/2012 của Bộ Tư pháp quy định trình tự thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại,

từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức công chức lãnh đạo cấp Vụ thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự; lãnh đạo Cục, lãnh đạo các phòng chuyên môn

và tương đương thuộc Cục Thi hành án dân sự; lãnh đạo Chi cục Thi hành án dân; Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BTP-BQP ngày 01/02/2013 của Bộ

Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự; Thông tư số 13/2013/TT-BTP ngày 13/09/2013 của Bộ Tư pháp quy định tiêu chuẩn chức danh công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự; Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư

Trang 8

pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân

sự có chức năng thi hành các bản án, quyết định định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản,

án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định) và Chấp hành viên là người có thẩm quyền được giao trực tiếp tiến hành các trình

tự, thủ tục tổ chức thi hành án các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành Căn

cứ Điều 13 Luật Thi hành án dân sự và Điều 52, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự được

tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất, gồm có:

- Ở Trung ương: Tổng cục Thi hành án dân sự là cơ quan quản lý thi hành

án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp;

- Ở cấp tỉnh: Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương (sau đây gọi chung là Cục Thi hành án dân sự) là cơ quan thi hành án dân sự trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự;

- Ở cấp huyện: Chi cục Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố

thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chi cục Thi hành án dân sự) là cơ quan thi hành án dân sự trực thuộc Cục Thi hành án dân sự

Như vậy, theo quy định trên thì cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự Tùy thuộc vào sự phân cấp, các cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau:

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thi hành án dân sự:

Trang 9

+ Quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm: Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự; Chỉ đạo hoạt động thi hành

án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành

án dân sự trên địa bàn; Kiểm tra công tác thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; Tổng kết thực tiễn thi hành án dân sự; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp

+ Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cùng địa bàn; Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao; Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành

án dân sự cấp huyện mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải

ủy thác tư pháp về thi hành án

+ Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan Công an trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù

+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này

Trang 10

+ Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp

+ Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173 của Luật Thi hành án dân sự (đó là: chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân

sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh)

+ Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản

án, quyết định khi có yêu cầu [Điều 14, Luật Thi hành án dân sự]

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Thi hành án dân sự:

+ Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án

nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành

án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác

+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền

theo quy định của Luật Thi hành án dân sự

Trang 11

+ Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện

hoạt động được giao theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh

+ Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi

hành án theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân

sự cấp tỉnh

+ Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự

+ Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo

quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của Luật Thi hành án dân sự (đó là: Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân

sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự; Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện)

+ Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban

nhân dân theo quy định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản

án, quyết định khi có yêu cầu [Điều 16, Luật Thi hành án dân sự]

Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nêu trên của các cơ quan thi hành

án dân sự, pháp luật cũng quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên – chức danh do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm có thẩm quyền tổ chức thi hành án

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về Chấp hành viên như sau:

- Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản

án, quyết định theo quy định Chấp hành viên có 3 ngạch gồm Chấp hành viên

sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp; việc bổ nhiệm Chấp hành viên phải thông qua thi tuyển

Trang 12

- Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên: Ngoài tiêu chuẩn chung phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp phải

có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên, đã được đào tạo nghiệp

vụ thi hành án dân sự và trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp phải có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên và trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên trung cấp Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên cao cấp phải có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên và trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên cao cấp Người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trong quân đội phải là sỹ quan quân đội tại ngũ

- Đối với người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên chuyển công tác đến cơ quan thi hành án dân sự có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên ở ngạch tương đương mà không qua thi tuyển Trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định, người có đủ tiêu chuẩn chung, đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp hoặc đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 15 năm trở lên thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp

Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản

án, quyết định theo quy định Đó là: Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; uyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải

Trang 13

quyết phá sản; Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Tuy nhiên, việc được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án còn phụ thuộc vào ngạch Chấp hành viên (Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp) và theo thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự nơi Chấp hành viên làm việc

Để đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Chấp hành viên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền

- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên

- Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án

- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan

xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án

- Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành

Trang 14

luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm

- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác

- Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ

- Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

Đồng thời, với yêu cầu công khai, minh bạch trong hoạt động thi hành án dân sự, pháp luật quy định Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín; Chấp hành viên không được làm những việc pháp luật cấm (ví dụ như: Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án; sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án; sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan,

tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án )

1.1.2 Nội dung hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự

Chức năng của cơ quan thi hành án dân sự là thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực thi hành và người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ thi hành án là Chấp hành viên Vì vậy, hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự được thể hiện thông qua quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo những trình tự, thủ tục pháp luật quy định Có thể khái quát các hoạt động cơ bản của cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án như sau:

Thứ nhất, ra quyết định thi hành án

Trang 15

Sau khi nhận bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, tùy vào các khoản phải thi hành, cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án và/hoặc ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

- Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án và phân

công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định về: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

- Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu khi

nhận được đơn yêu cầu thi hành án đối với phần bản án, quyết định ngoài các khoản thuộc diện chủ động thi hành (như đã nêu trên)

Thứ hai, thông báo thi hành án

Để đảm bảo tính công khai về thi hành án dân sự, sau khi ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự phải lập hồ sơ thi hành

án và thực hiện việc thông báo thi hành án Đó là thông báo các quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó Đồng thời, gửi các quyết định

về thi hành án (trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định) cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (để kiểm sát) và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi

tổ chức cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án (đối với quyết định cưỡng chế thi hành án)

Việc thông báo thi hành án có thể được thực hiện theo các hình thức: Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật; Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Thứ ba, xác minh điều kiện thi hành án

Trang 16

Sau khi thực hiện thông báo thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành vụ việc tiến hành xác minh điều kiện thi hành (trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay) Khi thực hiện xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với

cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình Trên cơ sở kê khai của người phải thi hành án, Chấp hành viên xác minh cụ thể tài sản, tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó

Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành để đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết Trong thời hạn ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại

từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh

Đối với trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các biện pháp tổ chức thi hành án theo quy định pháp luật

Thứ tư, áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án

Trang 17

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án, theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương

sự Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường

Chấp hành viên được áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án là: Phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản

Ngoài việc có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên còn có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Sau khi người phải thi hành án được thông báo các quyết định về thi hành án,

hết thời hạn tự nguyện thi hành án (10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án) nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự

nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế Chấp hành viên có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử

lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ Khai thác tài sản của người phải thi hành án Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

Thứ năm, xử lý tài sản bảo đảm, tài sản đã cưỡng chế kê biên

Theo quy định pháp luật, tùy từng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, thì Chấp hành viên phải thực hiện các trình tự, thủ tục cụ thể để xử lý tài sản để đảm bảo tính minh bạch, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Trang 18

và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Một trong số các biện pháp xử lý tài sản quan trọng để đảm bảo thi hành án là bán tài sản đã kê biên Việc bán tài sản đã kê biên có thể được thực hiện theo hình thức bán đấu giá và bán không qua thủ tục đấu giá (tuy nhiên, trong thực tiễn thì phần lớn các tài sản đã kê biên được xử lý thông qua các trình tự, thủ tục bán đấu giá được pháp luật quy định

Trên cơ sở kết quả bán đấu giá tài sản cũng như việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án, số tiền thi hành án thu được sẽ được thanh toán cho người được thi hành án trong từng vụ việc cụ thể theo quy định pháp luật Ngoài các hoạt động cơ bản được khái quát ở trên, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự còn thực hiện các hoạt động khác theo các trình tự, thủ tục như: hoãn thi hành án; tạm đình chỉ thi hành án; đình chỉ thi hành án; ủy thác thi hành án; thu phí thi hành án dân sự

1.1.3 Vai trò của cơ quan Thi hành án dân sự

Cơ quan thi hành án dân sự có chức năng thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định của Trọng tài thương mại Vì vậy, thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự có một

số vai trò cơ bản sau đây:

Một là, Cơ quan thi hành án dân sự đảm bảo thực thi các bản án, quyết

định có hiệu lực pháp luật; bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các quyền

và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân

Thực tiễn cho thấy rằng hoạt động thi hành án nói chung, thi hành án dân

sự nói riêng có ý nghĩa quan trọng, bởi vì thông qua hoạt động này, những phán quyết, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền được thực thi, đảm bảo công lý trong đời sống xã hội Chỉ khi các bản án, quyết định được tổ chức thi hành trong thực tế thì mới thực sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, các bên liên quan theo đúng quy định của pháp luật Do đó, kết quả hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự chính là sự thể hiện mức độ bảo

Trang 19

đảm, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân liên quan Hay nói cách khác là nếu các cơ quan thi hành án dân sự không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì mục đích xét xử, mục đích thi hành án sẽ không đạt được và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn

xã hội, niềm tin của nhân dân đối với công lý, tính nghiêm minh của pháp luật

Hai là, hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự góp phần nâng cao chất

lượng hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp của Tòa án và cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền

Kết quả xét xét xử, giải quyết tranh chấp của Tòa án và cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền là các bản án, quyết định, theo đó phán quyết, xác định về quyền, nghĩa vụ của các đương sự Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là các phán quyết, quyết định đó có trở thành hiện thực và mức độ hiện thực như thế nào trong đời sống xã hội Yêu cầu này được thể hiện qua hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự Điều này cũng có nghĩa là thông qua các trình tự, thủ tục thi hành án thì các bản án, quyết định mới có hiệu lực thực tế, đồng thời tính thực tế, khả thi của các bàn án, quyết định cũng là cơ sở kiểm chứng chất lượng hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp để từ đó Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể nhận diện những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của mình để từ đó nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp Bởi vì, thực tế công tác thi hành án dân sự cho thấy có những bản án, quyết định vi phạm pháp luật, không khả thi, có sai sót, khó thi hành đã xâm phạm quyền và lợi ích của các nhân, tổ chức và ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự

Ba là, hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý

thức pháp luật, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong xã hội

Hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến việc thi hành các nghĩa vụ, trách nhiệm về dân sự của các cá nhân, tổ chức theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, do đó, việc tổ chức thi hành án đòi hỏi không chỉ ở tính chủ động, trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự mà còn cần có sự tích cực, phối

Trang 20

hợp có hiệu quả của các cơ quan, tổ chức liên quan, sự ủng hộ của xã hội Do

đó, thông qua các hoạt động thi hành án dân sự, các cá nhân, tổ chức trong xã hội sẽ nhận thức rõ hơn ý thức, trách nhiệm của mình đối với việc nghiêm chỉnh chấp hành các bàn án, quyết định có hiệu lực pháp luật Đặc biệt là khi

cơ quan thi hành án dân sự tổ chức cưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức

cố tình trốn tránh, chây ỳ, cản trở, chống đối việc thi hành án thì ý thức trách nhiệm của cộng đồng sẽ được thể hiện qua sự ủng hộ, phối hợp để đảm bảo cho giá trị, kết quả thi hành án không chỉ dừng ở sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, các cá nhân, tổ chức liên quan mà còn thể hiện ở giá trị thực thi pháp luật, giá trị công lý được tôn trọng trong đời sống xã hội, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

1.2 Đặc điểm thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng

1.2.1 Hoạt động tín dụng và vụ việc tín dụng, ngân hàng

Tín dụng theo nghĩa chung nhất được coi là phạm trù thể hiện mối quan

hệ giao dịch giữa bên cho vay và bên vay, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Dưới góc độ kinh tế, có thể thấy rằng tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay và bên vay với những cam kết về quyền, nghĩa vụ để đảm bảo rằng sự vận động, lưu thông giá trị tiền tệ, tài sản được bên cho vay giao phó cho bên vay được sử dụng trong thời hạn nhất định để khi có sự hoàn trả thì lượng giá trị mà bên cho vay nhận được cao hơn so với khi cho vay ban đầu Trên cơ sở thể chế hiện hành có thể thấy rằng hoạt động tín dụng liên quan đến hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngân hàng Theo quy định của

Luật các tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một,

một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng

nhân dân Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả

Trang 21

các hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng ngân hàng gắn chặt với sự vận động và phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động của các nhà sản xuất, kinh doanh Trong các hoạt động ngân hàng, cho vay là một trong những hoạt động cấp tín dụng quan trọng nhất, thể hiện mối quan hệ vay

và trả nợ giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các nhà sản xuất kinh doanh Đồng thời đây có thể coi là hoạt động ngân hàng linh hoạt và chủ yếu của nền kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu huy động vốn phục vụ cho việc đầu tư, sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đặc biệt là hoạt động của các doanh nghiệp

Hoạt động tín dụng được thể hiện qua các cam kết giữa các bên, tuy nhiên khi các bên không thực hiện đúng cam kết mà không tự thỏa thuận, giải quyết được thì vụ việc, tranh chấp sẽ được giải quyết theo các thiết chế mà pháp luật quy định (trong đó chủ yếu là qua Tòa án) Các tranh chấp về tín dụng ngân hàng liên quan đến hoạt động cho vay được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi

là các vụ án về kinh doanh thương mại liên quan đến hoạt động ngân hàng, hay còn được gọi là các vụ việc tín dụng ngân hàng Kết quả giải quyết các vụ việc tín dụng ngân hàng được thể hiện bằng các bản án, quyết định xác định quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan đến việc trả nợ và là cơ sở để các bên nghiêm chỉnh chấp hành Nếu các bên không nghiêm chỉnh thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành liên quan đến tín dụng ngân hàng thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình được xác lập theo pháp luật

1.2.2 Thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng

Như đã nêu ở trên, theo các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành liên quan đến việc thanh toán, bồi thường cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng không được người phải thi hành án nghiêm chỉnh thi hành thì các tổ chức tín dụng, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

tổ chức thi hành án

Trang 22

Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy rằng các vụ việc tín dụng, ngân hàng thường liên quan đến việc người phải thi hành án phải thanh toán một khoản tiền có giá trị lớn, bao gồm cả lãi suất, tiền phạt, đồng thời để thu được các giá trị tiền đó thì thường phải xử lý các tài sản đảm bảo (thế chấp, bảo lãnh ) theo các trình tự, thủ tục pháp luật quy định Do đó, việc thi hành

án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng không chỉ có ý nghĩa khôi phục, bồi hoàn những giá trị, lợi ích bị thiệt hại trực tiếp về mặt kinh tế của người được thi hành án là tổ chức tín dụng, ngân hàng và những người có quyền, lợi ích liên quan mà còn góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu rủi

ro cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng, tạo ổn định, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật Vì vậy,

có thể quan niệm: Thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng

là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bồi thường thiệt hại cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành

Với quan niệm như vậy, việc thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng có thể là thi hành các bản án, quyết định về kinh doanh thương mại; bản án, quyết định về hình sự theo đó xác định các quyền, nghĩa

vụ liên quan đến việc trả các khoản vay, bồi thường cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng (chủ yếu tổ chức tín dụng, ngân hàng là người được thi hành án)

1.2.3 Nội dung thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng

Việc thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng thường liên quan đến thu hồi tiền, tài sản có giá trị lớn cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng, do đó quá trình tổ chức thi hành án ngoài những đặc điểm chung còn có những đặc điểm đặc thù nhất định

Theo quy định chung về thi hành án dân sự, quá trình tổ chức thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng phải tuân thủ các trình tự, thủ tục theo pháp luật quy định Đó là: các tổ chức tín dụng, ngân hàng phải làm

Trang 23

đơn yêu cầu thi hành án để trên cơ sở đó cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án Trên cơ sở quyết định thi hành án, Chấp hành viên tiến hành các thủ tục thông báo, xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định cưỡng chế và tổ chức xử lý tài sản của người phải thi hành án Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được pháp luật quy định phải tăng cường trách nhiệm phối hợp với nhau để đảm bảo tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục thi hành án Điều này cũng cho thấy rằng nội dung hoạt động thi hành án dân sự để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng không chỉ là hoạt động của riêng cơ quan thi hành án dân sự mà còn đòi hỏi trách nhiệm tham gia, phối hợp của các cơ quan, tổ chức

có liên quan để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

Để đảm bảo hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng, nội dung hoạt động thi hành án dân sự có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Quá trình tổ chức thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng phải đảm bảo tính chủ động, độc lập của cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên

Hoạt động thi hành án là chức năng, nhiệm vụ chỉ được giao cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên, do đó, hiệu quả thi hành án phụ thuộc nhiều vào tính độc lập của cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên khi phải tuân thủ các trình tự, thủ tục pháp luật quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật Chấp hành viên là người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án, do

đó để đảm bảo tính chủ động và độc lập của Chấp hành viên, pháp luật đã quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên như: Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; kịp thời xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp

Trang 24

tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với

cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án; Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả thi hành án, pháp luật còn quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên; mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị

xử lý theo quy định của pháp luật

- Hoạt động thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng phải đảm bảo tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự

Hoạt động thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng cũng

có đặc trưng liên quan đến việc xử lý tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, do đó nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt hoạt động thi hành án là phải tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự Nguyên tắc này càng phải được quán triệt và coi trọng hơn đối với việc thi hành các vụ việc tín dụng, ngân hàng, bởi vì đây là những vụ việc có giá trị tài sản lớn, liên quan nhiều đến đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của người phải thi hành án, nhất là khi việc thi hành án ảnh hưởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp Chính vì vậy, quá trình tổ chức thi hành án đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng đòi hỏi Chấp hành viên phải tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục pháp luật quy định để đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích của đương sự và các cá nhân,

tổ chức liên quan, đặc biệt là khi lựa chọn áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

- Hoạt động thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 25

Thi hành các bản án, quyết định liên quan đến việc thu hồi nợ, bồi thường cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng không chỉ liên quan đến các bản án, quyết định dân sự, mà còn liên quan đến các bản án, quyết định về kinh doanh thương mại, hình sự do đó quá trình tổ chức thi hành các vụ việc tín dụng, ngân hàng liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, điều này cũng có nghĩa là trong quá trình tổ chức thi hành án chịu sự điều chỉnh của pháp luật ở nhiều lĩnh vực (Luật Thi hành án dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Đất đai; Luật Doanh nghiệp; Luật Đầu tư; Luật Nhà ở; Luật Chứng khoán; Luật Phá sản ) Chính vì quá trình thi hành án liên quan và chịu sự ràng buộc của pháp luật trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như vậy nên việc thu hồi tiền, tài sản cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng đòi hỏi phải mất nhiều thời gian; tốn kém chi phí và gặp nhiều khó khăn Ví dụ như việc xử lý tài sản thế chấp là các tài sản thế chấp đặc thù như: nhà xưởng, quyền sử dụng đất, tàu

biển, dây chuyền sản xuất )

1.3 Hiệu quả thi hành án dân sự và các tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng

1.3.1 Hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng

Hiệu quả có thể được tiếp cận, giải thích theo các cách khác nhau Có quan điểm cho rằng hiệu quả là “Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại” [Từ điển Tiếng Việt (2005), Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, tr.440] Quan điểm khác cho rằng hiệu quả là “kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả

mà con người chờ đợi và hướng tới”[Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), tập 3, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.289] Hiệu quả, theo nghĩa chung nhất

có thể hiểu là sự so sánh giữa kết quả đạt được và mục đích đặt ra trước đó; hoặc là sự so sánh giữa kết quả trước và sau khi tiến hành một hoạt động, giữa kết quả đã có và kết quả sẽ có Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, hiệu quả còn có thể được hiểu và tiếp cận khác nhau như hiệu suất lao động, năng suất lao động, lợi ích, lợi nhuận của hoạt động

Trang 26

Thực tiễn đời sống xã hội cho thấy rằng khi thực hiện một hành vi, một hoạt động nào đó, con người đều xác định trước một hoặc nhiều mục đích nhất định và đi kèm theo đó là cách thức, biện pháp thực hiện; các nguồn lực, điều kiện để đạt được mục đích đề ra Tuy nhiên, kết quả có thể không đúng như mục đích đặt ra, do đó việc xem xét hoạt động có hiệu quả hay không thường được dựa vào sự so sánh, mối tương quan giữa mục đích và kết quả; giữa kết quả và chi phí bỏ ra Với cách tiếp cận như vậy, việc đánh giá hiệu quả của một hoạt động phải trên cơ sở mục đích được xác định mà hoạt động

đó hướng tới; đồng thời phải đánh giá cả các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến việc đạt được kết quả đó để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động Đối với hoạt động thi hành án dân sự, quá trình tổ chức thi hành án phải trên cơ sở các trình tự, thủ tục pháp luật quy định Do đó, ngoài yêu cầu đảm bảo cho các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được nghiêm chỉnh chấp hành, hiệu quả thi hành án dân sự còn được đánh giá, nhìn nhận ở các góc độ như lĩnh vực tác động; phạm vi tác động và thời gian tác động của hoạt động thi hành án dân sự Điều này cũng có nghĩa là hiệu quả thi hành án dân sự được thể hiện qua việc đánh giá tính khả thi của bản án, quyết định; các nghĩa

vụ được thi hành; mức độ ảnh hưởng của việc thi hành án đối với an ninh trật

tự xã hội; nhận thức, ý thức pháp luật của các đương sự; mức độ chống đối, trì hoãn của người phải thi hành án; sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; thời gian kết thúc việc thi hành án; giá trị tiền, tài sản thi hành

án thu được Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, hiệu quả thi hành án dân sự có thể được nhìn nhận qua việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự theo các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành trong sự so sánh với các chi phí phải bỏ ra để thu được các giá trị tiền, tài sản đó

Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng là sự phản ánh kết quả đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,

Trang 27

trong đó chủ yếu và cơ bản nhất là kết quả thi hành án về giá trị (tiền, tài sản) cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng

Tiêu chí, theo Từ điển tiếng Việt là “tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để

nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm” [Từ điển Tiếng Việt (2005),

Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, tr.990] T ừ đ ó , c ó t h ể q u a n n i ệ m tiêu chí để đánh giá hiệu quả thi hành án dân sự là những tính chất, dấu hiệu để xác định mức độ đạt được mục đích thi hành án dân sự, hay nói cách khác đó

là những căn cứ đánh giá kết quả, tác động của hoạt động thi hành án dân sự trong một hoặc nhiều việc thi hành án cụ thể trong từng thời điểm nhất định

Về nguyên tắc, để đánh đánh giá hiệu quả của một hoạt động thì cần căn

cứ vào sự so sánh, mối tương quan giữa kết quả thu được tối đa so với chí phí thực hiện kết quả ở mức tối thiểu Tuy nhiên, với những đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự thì hiệu quả hoạt động thi hành án cần dựa trên sự so sánh giữa kết quả thu được tối đa so với chi phí thực hiện kết quả thi hành án ở mức tối thiểu Tuy nhiên, với tính chất đặc thù của công tác thi hành án dân sự, việc đánh giá một cách chính xác, toàn diện hiệu quả thi hành án dân sự là một việc rất khó khăn, phức tạp và tùy vào các tiêu chí xác định ban đầu Hiệu quả công tác thi hành án dân sự không chỉ thuần tuý về mặt số học, bởi vì, trong công tác thi hành án dân sự, với mục đích đảm bảo hiệu lực của quyền lực nhà nước, đảm bảo trật tự pháp luật tại một địa bàn cụ thể thì có thể chi phí bỏ ra có thể lớn hơn giá trị thu được, thậm chí hiệu quả thi hành án lúc đó không chỉ dừng ở thời điểm kết thúc việc thi hành án mà còn thể hiện ở hiệu ứng, ảnh hưởng tích cực về mặt xã hội (nâng cao ý thức pháp luật của cá nhân,

tổ chức; sự thay đổi theo hướng tích cực trong nhận thức và hành vi của các

tổ chức, cá nhân đối với công tác thi hành án nói chung, đối với việc thi hành án cụ thể nói riêng); mức độ giảm thiểu chi phí nguồn lực con người, thời gian cho công tác thi hành án dân sự

Trang 28

Từ thực tiễn công tác thi hành án dân sự có nhiều khó khăn, phức tạp nên hiệu quả thi hành án dân sự có thể được tiếp cận ở góc độ đánh giá mang tính

"định tính” hoặc "định lượng” với các tiêu chí cụ thể khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ quan niệm về hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng như nêu trên, có thể đưa ra một số tiêu chí có bản để đánh giá hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng như sau:

Một là, mức độ đạt được của mục đích, yêu cầu thi hành án dân sự

Mục đích của thi hành án dân sự là đảm bảo thi hành trên thực tế các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng Chính vì vậy, khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành thì các đương sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều mong muốn bản án, quyết định được thi hành nghiêm chỉnh Tuy nhiên, do đối tượng đặc thù của thi hành án dân sự là tài sản, quyền tài sản nên khi đánh giá hiệu quả thi hành án dân sự cần phải dựa trên điều kiện thi hành án của đương sự (tiền, tài sản) và khả năng thực hiện nghĩa vụ Bởi vì nếu đương sự chưa có điều kiện thi hành án thì cho dù cơ quan thi hành án dân sự có tác động, thuyết phục đương sự thì vụ việc vẫn thuộc diện chưa có điều kiện thi hành, điều này cũng có nghĩa chưa đạt được mục đích thi hành án Từ đó, việc đánh giá hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng cần phải tính đến số lượng các vụ việc có điều kiện được đưa ra thi hành thì mới đảm bảo tính khách quan, khả thi

Hai là, sự tiến triển của quá trình thi hành án sau khi cơ quan thi hành án

dân sự tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án

Để đánh giá hiệu quả thi hành một vụ việc tín dụng, ngân hàng trước hết cần căn cứ vào tình hình tiến triển của các hoạt động thi hành án Bởi vì, khi vụ việc có điều kiện thi hành, các hoạt động của Chấp hành viên, cơ quan thi hành

án dân sự phải tiến hành và đi kèm theo đó là các chi phí vật chất, thời gian thì không ngoài mục đích là thu được tiền, tài sản cho người được thi hành án là các tổ chức tín dụng, ngân hàng Kết quả của những tiến triển này có thể được

Trang 29

thể hiện qua việc người phải thi hành án hợp tác hay cản trở, trốn tránh việc thi hành án; các cơ quan, tổ chức liên quan có ủng hộ, tích cực phối hợp hay không; tính khả thi của việc kê biên, xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh để thi hành nghĩa vụ; tính chính xác của việc áp dụng pháp luật của Chấp hành viên trong quá trình thi hành án (điều này đảm bảo cho việc thi hành án không bị gián đoạn do bị khiếu nại, tố cáo) Chính vì vậy, để đảm bảo tiêu chí này thì Chấp hành viên phải thường xuyên cập nhật thông tin về người phải thi hành

án, nắm chắc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cũng như những mong muốn của các bên có thể đi đến thỏa thuận thi hành án; nắm vững quy định pháp luật để áp dụng phù hợp với thực tế diễn biến của quá trình thi hành án

Ba là, kết quả cụ thể về giá trị đạt được do tác động trực tiếp của hoạt

động thi hành án dân sự

Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả thi hành án dân

sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng là phải căn cứ vào những kết quả thực

tế do tác động của hoạt động thi hành án mang lại Trong quá trình thi hành án,

cơ quan thi hành án dân sự phải dành các nguồn lực nhất định (trang thiết bị làm việc, chi phí cho việc xác minh, thẩm định tài sản; thù lao cho các cơ quan, đơn vị phối hợp cưỡng chế Do đó khi kết thúc một giai đoạn hay một

vụ việc thi hành án; việc xử lý xong tài sản đảm bảo thì phải xác định được các kết quả đạt được về giá trị qua quá trình thi hành án đó (thu được bao nhiêu tiền, giá trị tài sản mà người được thi hành án nhận để trừ vào nghĩa vụ của người phải thi hành án ) sau khi trừ các chí phí thực tế và các chi phí pháp luật quy định (phí thi hành án; chi phí thẩm định giá ) Hiệu quả thi hành án theo tiêu chí này được thể hiện ở kết quả thi hành án về giá trị, qua đó

có thể xác định chính xác tỷ lệ % về giá trị mà người phải thi hành án đã thi hành được đối với người được thi hành án Hay nói cách khác tiêu chí này là

cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành

Trang 30

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng

Hiệu quả thi hành án dân sự nói chung, đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nhất định

Từ thực tiễn thi hành án dân sự có thể nhận diện một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án dân sự đối với vụ việc tín dụng, ngân hàng như sau:

1.4.1 Các quy định pháp luật về thi hành án dân sự

Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến hiệu quả thi hành án dân

sự Các quy định pháp luật về thi hành án dân sự là cơ sở cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động thi hành án dân sự Nếu các quy định pháp luật về thi hành án dân sự không quy định cụ thể, chặt chẽ về hoạt động thi hành án dân sự hoặc không đồng bộ, thống nhất với các quy định có liên quan thì sẽ cản trở, gây khó khăn

và không đảm bảo tính minh bạch, tính nghiêm minh và khả thi của hoạt động thi hành án dân sự, từ đó sẽ làm giảm hiệu quả công tác thi hành án dân sự Ví dụ: trong thời gian qua, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành

án dân sự đã có một số quy định mới về xác minh điều kiện thi hành án, hoãn thi hành án nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của hoạt động thi hành

án dân sự

Như vậy, vấn đề đặt ra là để đảm bảo hiệu quả thi hành án dân sự nói chung, thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng nói riêng thì các cơ quan có thẩm quyền phải thường xuyên rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của quá trình thực tế hóa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

1.4.2 Tổ chức bộ máy, hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là quá trình phức tạp, ảnh hưởng đến các quyền con người, quyền công dân (nhất là quyền sở hữu, sử dụng tài sản của cá nhân, tổ chức)

do đó để đảm bảo hiệu quả thi hành án thì các cơ quan thi hành án dân sự phải

Trang 31

được tổ chức và hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; nếu các cơ quan thi hành án dân sự không đủ mạnh và được tổ chức đồng bộ, hợp lý thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành án

Thực tế công tác thi hành án dân sự cho thấy rằng trong thời gian qua, số việc các cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành ngày càng tăng, nhất là có nhiều vụ việc tín dụng, ngân hàng có giá trị phải thi hành rất lớn, phức tạp, do đó nếu cơ quan thi hành án dân sự không được tổ chức hợp lý, đội ngũ Chấp hành viên, công chức thi hành án dân sự không được đào tạo, tập huấn thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì sẽ không đáp ứng được các yêu cầu của công tác thi hành án dân sự

1.4.3 Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm của Chấp hành viên

Chấp hành viên là người có thẩm quyền tổ chức thi hành án, do đó đây là yếu

tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành án dân sự Thực tế cho thấy rằng yếu tố con người có vai trò quyết định, do đó ngoài việc bố trí đủ số lượng Chấp hành viên của các cơ quan thi hành án dân sự thì đội ngũ Chấp hành viên phải thực sự có năng lực và bản lĩnh, trách nhiệm nghề nghiệp

Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên phải đối mặt với nhiều khó khăn, áp lực (yêu cầu tuân thủ pháp luật, sự cản trở, chống đối của người phải thi hành án; sự tác động, chi phối của các cơ quan, tổ chức liên quan ), do đó để đảm bảo hiệu quả thi hành án dân sự, pháp luật đã có quy định cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện để bổ nhiệm Chấp hành viên; các quy định về ngạch Chấp hành viên (Chấp hành viên sơ cấp, trung cấp và cao cấp) để tạo cơ sở cho việc phân công tổ chức thi hành án theo tính chất phức tạp của vụ việc

Bên cạnh đó, mặc dù Chấp hành viên có đủ điều kiện theo quy định pháp luật nhưng nếu Chấp hành viên không thường xuyên học tập nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là nếu không có bản lĩnh, thiếu trách nhiệm thì

dễ mắc sai lầm trong áp dụng pháp luật; không đảm bảo sự độc lập trong quá trình

tổ chức thi hành án, thậm chí gây phiền hà cho đương sự hoặc vi phạm pháp luật

Trang 32

1.4.4 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, chế độ đãi ngộ đối với Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự

Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc là yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự (trụ sở làm việc, kinh phí hoạt động, trang thiết bị, phương tiện làm việc ) Do đặc thù thi hành án dân sự phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro, sự chống đối, cản trở của đương sự nên trong thời gian qua, Chấp hành viên các cơ quan thi hành án dân sự đã được trang bị tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc (ô tô, xe máy, công cụ hỗ trợ, trang phục ) và chế độ đãi ngộ nhất định

để đảm bảo thực thi nhiệm vụ Tuy nhiên, trong thời gian tới yêu cầu thi hành

án ngày càng cao, các vụ việc ngày càng phức tạp, do đó muốn nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc về tín dụng, ngân hàng thì các cơ quan thi hành án dân sự cần đầu tư nhiều hơn nữa về các điều kiện đảm bảo, đặc biệt là kinh phí phục vụ cho việc xử lý tài sản, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan trong hoạt động thi hành án dân

sự

1.4.5 Ý thức pháp luật của các đương sự

Ý thức pháp luật của các đương sự cũng có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả thi hành án dân sự Thực tiễn cho thấy rằng các bản án, quyết định được đưa ra thi hành là kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong một thời gian nhất định, các đương sự liên quan đã phải tốn nhiều thời gian, chi phí cho quá trình tố tụng, do đó đến giai đoạn thi hành án nếu các đương sự nhận thức đầy đủ được trách nhiệm thi hành án thì sẽ tạo thuận lợi, đảm bảo hiệu quả thi hành án Tuy nhiên, trong đa số các vụ việc do quá trình thi hành án trực tiếp ảnh hưởng đến quyền về tài sản nên người được thi hành

án mong muốn thi hành án nhanh, trong khi người phải thi hành án thường có thái độ phản ứng, trốn tránh, cản trở, tìm mọi cách kéo dài quá trình thi hành

án Từ đó, để nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự, đặc biệt là người phải thi hành án trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên

Trang 33

cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; Chấp hành viên cần coi việc nghiêm túc tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục thi hành án cũng là một kênh quan trọng để tuyên truyền nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự, đồng thời qua đó cũng tránh được những khiếu nại, tố cáo phát sinh

Trang 34

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI CÁC VỤ VIỆC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Đặc điểm hoạt động của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái Bình Là nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong cả nước

và các quốc gia trên thế giới Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học – công nghệ từ nước ngoài để rồi lan toả chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) với công suất vài chục triệu tấn tạo thành cụm cảng có quy

mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hoá của Bắc bộ đến các vùng của cả nước, cũng như tham gia dịch vụ vận tải hàng hoá quá cảnh cho khu vực Tây Nam Trung Quốc

Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519 km2, bao gồm cả huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vĩ) Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố chủ yếu

ở phía Bắc, do vậy địa hình phía bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùng trung du với những đồng bằng xen đồi Phía Nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển, có

độ cao từ 0,7 – 1,7 m so với mực nước biển Vùng biển có đảo Cát Bà được ví

Trang 35

như hòn ngọc của Hải Phòng, một đảo đẹp và lớn nhất trong quần thể đảo có tới trên 360 đảo lớn, nhỏ quây quần bên nó và nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long Đảo chính Cát Bà ở độ cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý Cách Cát Bà hơn 90 km về phía Đông Nam là đảo Bạch Long Vĩ, khá bằng phẳng và nhiều cát trắng

Hải Phòng ở vị trí thuận lợi, cửa ngõ giao thương của miền Bắc Việt Nam Là một trong ba đỉnh của tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Hệ thống đường thuỷ cùng với mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển và hàng không đã tạo cho Hải Phòng nhiều điều kiện thuận lợi trong lưu thông phát triển kinh tế Đặc biệt, thời gian qua, quốc lộ 5 được nâng cấp theo tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống cảng Hải Phòng được mở rộng, sân bay Cát Bi được cải tạo và nâng cấp đã tạo cho Hải Phòng nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu cho tỉnh vùng Bắc Bộ, các tỉnh Tây Nam Trung Quốc, đồng thời có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải và hàng không với các nước trong vùng Đông Nam Á và thế giới

Riêng về phát triển kinh tế, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015

ước tăng 10,17% so với cùng kỳ Cơ cấu các ngành dịch vụ - công nghiệp –

xây dựng- nông, lam, thủy sản tương ứng 54,53%-37,84%-7,63% Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2015 ước tăng 16,52% so với cùng kỳ Hoạt động

thương mại, dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,61% so với cùng kỳ, không đạt kế hoạch Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4,22 tỷ USD, tăng 18,22% so với cùng kỳ, đạt kế hoạch Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 4,32 tỷ USD, tăng 21,08% so với cùng kỳ Về tín dụng, tổng nguồn vốn huy động năm 2015 ước đạt 113.568 tỷ đồng, tăng 15%; tổng dư nợ cho vay ước đạt 68.584 tỷ đồng, tăng 13,73% so với cùng kỳ Chi nhánh Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với ngân hàng; nhiều doanh nghiệp đã được cơ cấu lại nợ nhiều

lần, miễn, giảm lãi suất cho vay đối với khoản vay trước đây [Báo cáo thực

Trang 36

hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2015; mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng]

Các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội cơ bản nêu trên có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả công tác thi hành án nói chung, thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng

2.1.2 Khái quát lịch sử hình thành, phát triển và nhiệm vụ của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng

Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng là cơ quan thi hành án dân

sự cấp tỉnh, được được hình thành và phát triển cùng với lịch sử công tác thi hành án dân sự ở nước ta Trước năm 1993, các cơ quan thi hành án dân sự trực thuộc sự quản lý của hệ thống tòa án Theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 21/4/1993 – dấu mốc quan trọng tạo bước ngoặt của công tác thi hành án dân sự, từ ngày 01/7/1993, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự chính thức tiến hành theo cơ chế mới Các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được hình thành từ Trung ương đến các địa phương trong cả nước

Theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, công tác thi hành án dân sự được giao cho Chính phủ thống nhất quản lý Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về công tác thi hành án dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án, được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, gồm có: Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Thi hành

án quân khu và cấp tương đương; Đội Thi hành án thuộc phòng thi Tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, hệ thống tổ chức thi hành

án dân sự tiếp tục được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất, theo đó Phòng

Trang 37

Thi hành án thành phố Hải Phòng có tên gọi là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng Từ khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đến nay, Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng có tên gọi là Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, thực hiện chức năng thi hành án dân sự,

có nhiệm vụ giúp Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quản lý một

số mặt công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan Thi hành án dân sự địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Đối với việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng có nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố; chỉ đạo hoạt động thi hành

án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành

án dân sự trên địa bàn thành phố; kiểm tra công tác thi hành án dân sự đối với

cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự, trong đó có các bản án, quyết định về tín dụng, ngân hàng

Như vậy, từ các quy định hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân

sự có thể thấy rằng nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thi hành án dân sự thành phố không chỉ trực tiếp tổ chức thi hành mà còn quản lý, chỉ đạo, đôn đốc việc thi hành án dân sự đối với các vụ việc về tín dụng, ngân hàng Hay nói cách khác, hiệu quả thi hành án dân sự đối với các vụ việc tín dụng, ngân hàng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng không chỉ thể hiện ở kết quả thi hành án của các Chấp hành viên thuộc Cục mà còn ở kết quả đôn đốc, chỉ đạo thi hành án tại các Chi cục Thi hành án dân sự

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và lực lượng lao động

- Về tổ chức bộ máy: Cục Thi hành án dân sự thành phố có 05 Phòng chuyên

môn thuộc Cục, 15 Chi cục Thi hành án dân sự quận, huyện

Ngày đăng: 14/10/2017, 16:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w