phạm trù hiệu quảsản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chúng ta cần: -
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉrõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 01 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Lan Thủy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lýkinh tế, Việnđàotạo sau đại học, Trường đại học Hàng Hải Việt Nam và các đồng nghiệp tại Công ty cổ phầnBao bì Bia - Rượu - Nước giải khátđã có nhiều đóng gópquý báu choviệc học tập và nội dung luận văn này
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơnPGS.TS.Nguyễn Hồng Thái, người đã
tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trong thời gian học tập và làm luận văn, do quỹ thời gian và khả năngcó hạn, luận văn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong quýThầy, Cô,bạn bè, đồng nghiệp đóng góp ý kiến để luận văn hoàn thiện hơn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm về kinh doanh 4
1.1.2 Khái niệm, bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh 4
1.1.3 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 10
1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh 14
1.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp 14
1.2.2 Một số chỉ tiêu hiệu quả từng lĩnh vực 16
1.2.3 Tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 20
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan 20
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan 24
1.3.3 Phương hướng chung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ BIA - RƯỢU - NƯỚC GIẢI KHÁT 31
2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát 31
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động 33
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 35
Trang 42.2 Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì
Bia - Rượu - Nước giải khát giai đoạn 2013-2015 38
2.2.1 Nhóm chỉ tiêu các yếu tố đầu vào 40
2.2.2 Nhóm chỉ tiêu kết quả 44
2.3 Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát giai đoạn 2013-2015 52
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp 52
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động 54
2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định 55
2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động 57
2.4 Những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong giai đoạn 2013-2015 58
2.4.1 Những kết quả đạt được 58
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 59
CHƯƠNG 3.BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ BIA - RƯỢU - NƯỚC GIẢI KHÁT 62
3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát đến năm 2020 62
3.1.1 Định hướng 62
3.1.2 Mục tiêu 63
3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát 64
3.2.1 Đổi mới công tác quy hoạch, chính sách thu hút, đào tạo và duy trì nguồn nhân lực 64
3.2.2 Tăng cường nghiên cứu và khai thác thị trường 67
3.2.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả vốn cố định 71
3.2.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả vốn lưu động 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn giai đoạn 2013-2015 41
2.3 Phân tích cơ cấu sản phẩm chính (nắp khoén) giai đoạn
2.4 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2013-2015 50
2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanhtổng hợp giai đoạn 2013-2015 53 2.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động giai đoạn
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một nền sản xuất hàng hóa Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới nhưng đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp Để có thể đứng vững trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chếthị trường đòi hỏicác doanh nghiệp phải luôn vận động, tìm tòi một hướng đi mới cho phù hợp.Vì vậy, các doanh nghiệp cần quan tâm, tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh củadoanh nghiệp mình
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu hàng đầu, quyết địnhsự tồn tại của mỗi doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại phải làm ăn “có lãi”, nhất là những doanh nghiệp bước vàohoạt động với tư cách là công ty cổ phần, vận hành theo cơ chế thị trường,tự chịu trách nhiệm với công việc sản xuất kinh doanh của mình Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ chủ đạo của mỗi doanh nghiệp.Có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển, qua đó mở rộng sản xuất, nâng cao đời
sống cán bộ công nhân viên và tạo sự phát triển vững chắc củadoanh nghiệp
Vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn là bài toán khóđối với nhiều doanh nghiệp Ở nước ta hiện nay, số doanh nghiệp đạt được hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh vẫn chưa nhiều Điều này có nhiều nguyên nhân như hạn chế trong công tác quản lý, hạn chế về năng lực sản xuất hay kém thích ứng với nhu cầu của thị trường Do đó, nâng caohiệu quả sản xuấtkinh doanh trong lĩnh vựckinh doanh liên quan đến rượu, bia, nước giải khátcàng ngày càng phải đượcchú trọng, đặc biệt là trongmôi trường cạnh tranhquốc tế như hiện nay
Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bìBia Rượu Nướcgiải khát” làm nội dung nghiên cứu luận văn cao học Quản lý kinh tế Thông
-qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giáhiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, luận văn mong muốn đề xuất một số biện pháp nhằm khắc
Trang 9phục nhữnghạn chế, phát huy những điểm mạnh,từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
2 Mục đích nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu, hệ thống hóa những lý luận cơ bản vềkinh doanh, hiệu quả kinh doanh, các phương pháp đánh giá, phân tích vàcácyếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Công ty;
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá về hiệu quả kinh doanh củaCông tycổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát, trên cơ sở đó nghiên cứu và đề xuất một
số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian tới Cụ thể, luận văn nghiên cứu trả lời cáccâu hỏi: Hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian qua như thế nào? Công ty cần phải làm gì để nâng cao hiệu quảkinh doanh của Công ty?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu thực trạnghiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bìBia - Rượu -Nước giải khát trong những năm qua;
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát trong những năm gần đây và dự báo sự phát triển từ nay đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như phương pháp duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic,đồng thời cònsử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, phương pháp điều tranghiên cứu, phương pháp chuyên gia để nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bìBia - Rượu - Nước giải khát từ năm 2013 đến năm 2015, nhằm đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công tytrong những năm tương lai
Trang 105 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công tycổ phầnBao bìBia - Rượu - Nước giải khát
Chương 3: Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củaCông tycổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về kinh doanh
Khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả cáccông đoạn của quá trình, đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trênthị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Khái niệm kinh doanh này đề cập đến mục đích của hành vi và nơi mà hành vi của chủ thể có thể thực hiện, nó bao trùm tất cả các giai đoạn của hoạt động đầu tư kinh doanh, từ việc bỏ vốn vào đầu tư, đến sản xuất,gia công, chế biến hàng hóa, cung ứng các loại dịch vụ trên thị trường nhưđại lý, môi giới, ủy thác, dịch vụ giao nhận… nhằm tìm kiếm lợi nhuận Nói một cách khác, khái niệm nàytập trung vào bản chất và mục đích của hành vi chứ không phải kết quả cụ thể mà các bên đạt được trong thực tiễn
Khái niệm về kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp hàm ý ba đặc tínhcơ bản:
- Hoạt động kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp;
- Hoạt động kinh doanh diễn ra trên thị trường;
- Hoạt động kinh doanh có mục đích là lợi nhuận
1.1.2 Khái niệm, bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì làm
ăn phải có hiệu quả Đây là một sự thật hiển nhiên, một chân lý và để hiểu rõ điều này thì trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu về khái niệm hiệu quả
Ngày nay, người ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về hiệu quả.Ở mỗi góc độ, lĩnh vực khác nhau thì hiệu quả cũng được xem xét nhìn nhận khác nhau
và thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì chúng ta xem xét
Trang 12vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị vàxã hội Tương ứng ta có03 (ba) phạm trù là hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội
Hiệu quả kinh tế
Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thìchúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế Có thể hiểu hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả thu vềđề cập trong khái niệm này
có thể là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm… Hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ
sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hiệu quả chính trị, xã hội
Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì chúng ta có 02 (hai) phạm trù hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội Hai phạm trù nàyphản ánh ảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việcgiải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Và hai loại hiệu quả này có vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững Hiệu quả chính trị, xã hội phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình
độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý và mức sống bình quân
Phải luôn có sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị,xã hội Đây là một nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách liên tục và lâu dài Bất kỳ một sự mất cân đối nào sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
Dưới góc độ của doanh nghiệp, ta có khái niệm hiệu quả sản xuấtkinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh có bản chất của hiệu quả kinh tế và cũng có bản chất của hiệu quả chính trị, xã hội (đời sống người lao động…).Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị,xã hội Nếu áp dụng những quan điểm đó vào phạm vi của doanh nghiệp thìcó thể coi đó là các quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh Qua đóchúng ta sẽ hiểu rõ hơn về khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 13Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫnchưa có sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quảsản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử cũng như góc độ nghiên cứukhác nhau
Quan điểm 1:Trước đây người ta coi “Hiệu quả là kết quả đạt đượctrong hoạt
động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa”.Theoquan điểm này thìhiệu quả
là tốc độ tăng của kết quả đạt được nhưtốc độ tăng của doanh thu, lợi nhuận Như vậy, hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêukết quả hay vớinhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy Quan điểm này thực sự không còn phù hợp vớiđiều kiện ngày nay Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộngsử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất) Trường hợp haidoanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuấttuy có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau Điều này thật khó chấp nhận
Quan điểm2:“Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăngtổngsản phẩmxã hội
hoặc thu nhập quốc dân” Theo quan điểm này, khi xét trên phạm vi của doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhịp độ tănggiá trị tổng sản lượng là một
Ở một góc độ nào đó thì quan điểm nàycũng gần giống với quan điểm 1 Nó cũng không đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó Nếu tốc độ tăng chi phí sản xuất các nguồn lực được huy động tăng nhanh hơn nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng thì sao Hơn nữa, việc chọn năm gốc cóảnh hưởng rất lớn đến kết quảso sánh Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lạicó mức hiệu quả khác nhau của cùng một năm nghiên cứu
Quan điểm3: Đây là quan điểm về hiệu quả được trình bày tronggiáo
trìnhkinh tế học của P.Samueleson và W.Nordhmas (Viện quan hệquốc tế -Bộ Ngoại giao xuất bản, bản dịch tiếng Việt năm 1991) Quan điểm này cho rằng“Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăngsản lượng một loạihàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năngsản xuất của nó Nhìn nhậnquan điểm
Trang 14này dưới góc độ doanh nghiệp thìtình hình sản xuất kinh doanh cóhiệu quả khi nằm trên đường giới hạnkhả năng sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệpđược xác định bằng giá trị tổng sản lượng tiềm năng,là giá trị tổng sản lượng cao nhất có thể đạt được ứng với tình hình công nghệ và nhân côngnhất định” Theo quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh giữa mức thực tế và mức “tối đa” về sản lượng Tỷ lệ so sánh càng gần 1 thì càng có hiệu quả Mặt khác ta thấy quan điểm này tuy đã đề cập đến các yếu tốđầu vào nhưng lại đề cập không đầy đủ
Tóm lại quan điểm này là chính xác, độc đáo nhưng nó mang tính chất lý thuyết thuần tuý, lý tưởng, thực tế rất khó đạt được
Quan điểm 4:“Hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là mức độ hữu ích của
sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị” Theo tác giả của quan điểm này, mức độ thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu tượng nào đó.Tuy nhiên quan điểm này gặp phải trở ngại là khó (nếu không muốn nói là không thể) tính được tính hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra Và nếu vậy thì chúng ta không thể so sánh được tính hữu ích giữa các sản phẩm, do đó cũngkhôngđánh giá được tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
Quan điểm5:“Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữasựtăng
lên của đại lượng kết quả và chi phí” Công thức biểu diễn phạm trù này:
(1.1)
ΔC Trong đó: H là hiệu quả sản xuất kinh doanh;
ΔK là phần gia tăng của kết quả sản xuất;
ΔC là phần gia tăng của chi phí sản xuất
Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn Nó mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưađề cập đến toàn
bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Xét trên quan điểmtriết học Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đềucó mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với
Trang 15nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập.Sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố “tăng thêm” “giảm đi”có liên hệ với các yếu tố sẵn
có Chúng trực tiếp hoặc gián tiếptác động tới kết quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanhluôn là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Quan điểm này chỉ đề cập đến phần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là chƣa đầy đủ, thiếu chính xác
Quan điểm6: Theo quan điểm này “Hiệu quả kinh tế đƣợc xác định bởi tỷ
sốgiữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả”.Từ khái niệm trên ta
có công thức để biểu diễn khái quát phạm trùhiệu quả sản xuất kinh doanh:
C Trong đó: H là hiệu quả sản xuất kinh doanh;
K là kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh;
C là chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả K)
Nhƣ vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánhchất lƣợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số lƣợng của hoạt động sản xuất kinh doanh Vậy khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp thì phải quan tâm cả kết quả cũng nhƣ hiệu quả củadoanh nghiệp đó
Quan điểm này đã đánh giá đƣợc tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc trong sựvận động và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh,không phụ thuộc vào quy
mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng(dẫn theo [13])
1.1.2.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lƣợng của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng đƣợc
Trang 16phạm trù hiệu quảsản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chúng ta cần:
- Thứ nhất,phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanhthực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra đểsử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Mối quan hệ so sánh ở đây
có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể làso sánh tương đối
- Thứ hai, phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
- Thứ ba, phải phân biệt hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vàomục tiêu của doanh nghiệp nên tính chất hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau
Xét về tính lâu dài, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộhoạt động sản xuất kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động củadoanh nghiệp là lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi
Xét về tính hiệu quả trước mắt (hiện tại), phụ thuộc vào mục tiêuhiện tại mà doanh nghiệp đang theo đuổi Trên thực tế để thực hiện mục tiêu lâu dài làtối đa hoá lợi nhuận, có rất nhiềudoanh nghiệp hiện tại đangthực hiện cácmục tiêu về nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tíndanh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả vềchiều sâu lẫn chiều rộng… Các chỉ tiêu
Trang 17hiệu quả về lợi nhuận ở đâykhông cao nhưng các chỉ tiêu có liên quan đến mục tiêu
đã đề ra lại cao thì không thể kết luận là doanh nghiệp đanghoạt động không có hiệu quả, mà phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt độngcóhiệu quả Như vậy, chỉ tiêu hiệu quả và tính hiệu quả trước mắt có thể trái với các chỉ tiêu hiệu quảlâu
dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằmthực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài
1.1.3 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh
Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thìdoanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.Ở mỗi giai đoạn phát triển, doanh nghiệp có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanhlà tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối
ưu các nguồn lực Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để các nhà quản trịthực hiện chức năng quản trị của mình.Thông qua việc tính toán hiệu quảsản xuất kinh doanh không những cho phép kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hoạt động có hiệu quả hay không
và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn phân tích tìm racác yếu tốảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra đượccác biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm thiểuchi phí, tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh.Là một công cụ quản trị kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp
mà còn được sử dụng để kiểm trađánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vitoàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp.Xét trênphương diện lý luận và thực tiễn thì hiệu quảsản xuấtkinh doanh đóng vai tròrất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và
Trang 18phân tích nhằm đưa ra các biện pháp tối ưu nhất,lựa chọn được phương pháp hợp
lý nhất để thực hiện các mục tiêu doanh nghiệp đã đề ra
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệpphải luôn gắn mình vớithị trường, nhất là trong một nền kinh tế mở Do vậy, để thấy được vai trò của việcnâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp trongnền kinh tế trước hết chúng ta cần nghiên cứu cơ chế thị trường và hoạt động của các doanh nghiệp trong thị trường
Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa Nó tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan nào Bởi vì, thị trườngra đời và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa Ngoài ra, thị trường còn có một vai trò quan trọng trong việc điều tiết vàlưu thông hàng hóa Thông qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết đượcsự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả trên thị trường
Trên thị trường luôn luôn tồn tại các quy luật vận động của hàng hóa,giá cả,tiền tệ… như các quy luật thặng dư, quy luật giá cả, quy luậtcạnh tranh… Các quy luật này tạo thành một hệ thống thống nhất và hệ thống này chính là linh hồn,
là cha đẻ của cơ chế thị trường Như vậy, cơ chếthị trường được hình thành bởisự tác động tổng hợp của các quy luậttrong sản xuất, trong lưu thông trênthị trường Thông qua các quan hệmua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường,cơ chế thị trường tác động đến việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và làmthay đổi cơ cấu sản phẩm,cơ cấu ngành… Nói cách khác, cơ chế thị trườngđiều tiết quá trìnhphân phối, phân phối lại các nguồn lực trong sản xuấtkinh doanh nhằmđáp ứng nhu cầu xã hội một cách tối ưu
Tóm lại, sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đếnsự biểu hiện gần đúng nhu cầu thị trường của xã hội Song, doanh nghiệpkhông được đánh giá quá cao hoặc tuyệt đối hóa vai trò của thị trường, coicơ chế thị trường là hoàn hảo Bởi lẽ thị trường luôn chứa đựng những khuyết tật của nó như đầu cơ, lừa lọc, độc quyền…Bởi vậy mỗi mộtdoanh nghiệp phải xác định được cho mình một phương thức hoạt động riêng phù hợp Cụ thểdoanh nghiệp phải xác định cho mình
Trang 19cơ chế hoạt động trên hai thị trường đầu vào và đầu ra để đạt đượckết quả cao nhất
và kết quả này không ngừng phát triển nâng caohiệu quả về mặt chất cũng như vềmặt lượng
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò vô cùngquan trọng với doanh nghiệp
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh tế trong kinh doanh là mục tiêuphát triến nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII nêu rõ: “Một thành tựu khác về đổi mới kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”
Phát triển kinh tế nhiều thành phần phải đảm bảo cho tổng sản phẩmxã hội c+v+m và thu nhập quốc dân m+v đủ để thỏa mãn 02 (hai) yêu cầu sau:
- Một là, bù đắp đầy đủ, kịp thời chi phí về tư liệu sản xuất và chi phí lao động đã hao phí (c+v) trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóanhiều thành phần;
- Hai là, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân có được một sự tích lũyquan trọng
để tái sản xuất mở rộng và đáp ứng những nhu cầu của xã hội
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở cơ bản đểđảm bảo
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt củadoanh nghiệp trên thị trường, trong khi đó lại là yếu tố trực tiếp đảm bảosự có mặt này, đồng thời
là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệpluôn tồn tại, phát triển một cách vững chắc
Do vậy, thu nhập của doanh nghiệp phải không ngừng nâng lên Nhưng trong điều kiện vốn và các kỹ thuật chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận bắt buộc các doanh nghiệp phải tăng hiệu quả sản xuấtkinh doanh Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện hết sứcquan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Một cách nhìn khác, sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởisự tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu củaxã hội đồng thời tạo ra tích lũy cho xã hội Để thực hiện được điều đó thìmỗi doanh nghiệp đều phải
Trang 20vươn lên đảm bảo thu nhập, bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình sản xuất kinh doanh Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế
Do đó chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhnhư là một điều tất yếu
Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là một yêu cầu mang tính chất giản đơn, còn sự phát triển và mở rộng doanh nghiệp lại là một yếu tố quan trọng.Bởi vì sự phát triển, mở rộng của doanh nghiệp không những đòi hỏi sựtồn tại của doanh nghiệp
mà còn đòi hỏi sự tích lũy đảm bảo cho quá trìnhtái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển Như vậy, để phát triển và mở rộng doanh nghiệp, mục tiêu lúc này không còn là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích lũyđáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và một lần nữa nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh được nhấn mạnh
Thứ ba, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yếu tố thúc đẩycạnh tranh
và sự tiến bộ trong kinh doanh
Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Trong khithị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệpngày càng khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không chỉ là các mặt hàng mà cạnh tranh cảchất lượng, giá cả… Trong khi mục tiêu chung củacác doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm chodoanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể bóp chết doanh nghiệp trênthị trường Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đều phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Để đạt được điều này thìcác doanh nghiệp phải có hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả hợp lý
Mặt khác, hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với việc giảmgiá thành, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, chất lượng không ngừng đượcnâng cao…Như vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả, chính là hạt nhân cơ bản của thắng lợi trong cạnh tranh.Và các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Chính sự nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh là con đường để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của mình
Trang 21Tóm lại, có thể nóihiệu quả sản xuất kinh doanh vừa có vai trò làcông cụ đểthực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh, vừa là mục tiêu để quản trịkinh doanh(dẫn theo [13])
1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quảsản xuất kinh doanh tổng hợp
1.2.1.1 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị vốn chủ sở hữu đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế, là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất hiệu quảlượng tiền mà chủ
sở hữu đã bỏ ra đầu tư
Vốn chủ đầu tư
1.2.1.2 Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, do vậy nhà quản trị thường đánh giá hiệu quảsử dụng các tài sản đã đầu tư
Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận được tạo ra trên một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất
Tổng tài sản
1.2.1.3 Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuậnsau thuế, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt
Đây là yếu tố giúp nhà quản trị mở rộng thị trường, tăng doanh thu
Tổng doanh thu (Doanh thu thuần)
1.2.1.4 Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, một đồng vốn tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh trình độ lợi dụngyếu tố vốn của doanh nghiệp
Trang 22Doanh lợi vốn kinh doanh đƣợc xác định theo công thức:
DVKD (%) = (ΠR + TLVV)
VKD Trong đó: DVKD
(%) là doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh một kỳ;
ΠR là lãi ròng thu đƣợc của kỳ tính toán;
TLVV là lãi trả vốn vay của thời kỳ đó;
VKD là tổng vốn kinh doanh bình quân của kỳ tính toán
1.2.1.5 Doanh lợi của vốn tự có
VTC Trong đó: DVTC
là doanh lợi vốn tự có của kỳ tính toán;
là doanh lợi của doanh thu bán hàng của một kỳ;
TR là doanh thu bán hàng của kỳ tính toán đó
1.2.1.7 Hiệu quả kinh doanh tiềm năng
là hiệu quả kinh doanh tiềm năng;
CPKDtt là chi phí kinh doanh thực tế phát sinh trong kỳ;
CPKDkh: chi phí kinh doanh kế hoạch
1.2.1.8 Sức sản xuất của một đồng vốn kinh doanh
VKD Trong đó: SSX
VKD là sức sản xuất của một đồng vốn kinh doanh
1.2.1.9 Sức sản xuất của một đồng chi phí kinh doanh
CPKD
Trang 23Trong đó: SSX
CPKD là sức sản xuất của một đồng chi phí kinh doanh;
CPKD là chi phí kinh doanh
1.2.2 Một số chỉ tiêu hiệu quả từng lĩnh vực
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
a) Sức sinh lời bình quân của lao động
ΠBQ
LD = ΠR
(1.13)
LBQTrong đó: ΠBQ
LDlà lợi nhuận bình quân một lao động tạo ra trong kỳ;
LBQ là số lao động bình quân của kỳ tính theo phương pháp bình quân gia quyền
b) Năng suất lao động
LBQTrong đó: NSBQ
LD là năng suất lao động bình quân của kỳ tính toán;
K là kết quả của kỳ tính bằng đơn vị hiện vật hay giá trị
c) Hiệu suất tiền lương
SSXTL = ΠR
(1.15)
∑TLTrong đó: SSX
TLlà hiệu suất tiền lương của kỳ tính toán;
∑TL là tổng quỹ tiền lương và tiền thưởng có tính chấtnhư lương trong kỳ
Trang 241.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và tài sảncố định
a) Sức sản xuất của tài sản cố định (TSCĐ)
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị bình quân TSCĐ bỏ ra kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
b) Suất hao phí của tài sản cố định
Tổng doanh thu năm
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho thấy để có một đồng doanh thu thì cần bỏ vào sản xuất kinh doanh bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ
c) Sức sinh lợi của tài sản cố định
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân TSCĐsử dụng trong năm đem lại mấy đồng lợi nhuận
1.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất Tốc độ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn và ngược lại.Hiệu quả
sử dụng vốn lưu động cao nhất khi số vốn lưu động cần cho một đồng luân chuyển
là ít nhất Quan niệm này thiên về chiều hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốn lưu động chomột đồng luân chuyển thì càng tốt Nhưng nếu hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được thì hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng không cao
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh số lợi nhuậnthu được khi bỏ ra một đồng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm vốn lưu động một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăngdoanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơntốc độ tăng vốn lưu động
Trang 25Nói tóm lại, cho dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quảsử dụng vốn lưu động, song khi nói đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động, chúng ta phải có một quan niệm toàn diện hơn và không thể tách rời nó khỏi một chu kỳ sản xuất kinh doanh hợp lý (chu kỳ sản xuất kinh doanhcàng ngắn, hiệu quả sử dụng vốn càng cao), một định mức sử dụng đầu vào hợp lý, công tác tổ chức quản lý sản xuất, tiêu thụ và thu hồi công nợchặt chẽ Do vậy cần thiết phải đề cập tới các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụngvốn lưu động[2, tr.32-40]
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Như đã nói ở trên, để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều kiện không thể thiếu là vốn Khi đã có đồng vốn trong tay thì một câu hỏi nữa đặt
ra là phải sử dụng đồng vốn đó như thế nào để vốn đó sinh lời,vốn phải sinh lời là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp Lợi ích kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồng vốn, tiết kiệm được vốn, tăng tích lũy để thực hiện tái sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn hơn
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanhnói chung của doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho phép các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp có cái nhìn chính xác, toàn diện về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của đơn vị mình, từ đó đề ra các biện pháp, chính sách, quyết định đúng đắn, phù hợpđể việc quản lý và sử dụng đồng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng ngày càng có hiệu quả trong tương lai.Suy cho cùng việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là nhằm vào việc nâng cao lợi nhuận Có lợi nhuận mới có tích luỹ để tái sản xuấtngày càng mở rộng.Để tính hiệu quả sử dụng vốn lưu động ta sử dụng cáccông thức tính sau: -Vòng quay vốn lưu động
Vốn lưu động bình quân
Trang 26- Kỳ luân chuyển vốn lưu động
- Khả năng thanh toán hiện có
VLD là sức sinh lời của một đồng vốn lưu động;
VLD là vốn lưu động bình quân của kỳ tính toán
-Vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm
VLDTrong đó: SVVLDlà số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm
-Vòng luân chuyển nguyên vật liệu
KD NVL
(1.24) NVLDT
Trong đó: SVNVL
là số vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong kỳ (năm);
CPKDNVL là chi phí kinh doanh sử dụng nguyên vật liệutrong kỳ; NVLDT là giá trị nguyên vật liệu dự trữ của kỳ tính toán
- Vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong sản phẩm dở dang
SVNVLSPDD = Z
HHCB
(1.25) NVLDT
Trong đó: SVNVL
SPDD là số vòng luân chuyển nguyên vật liệu trongsản phẩm
dở dang; ZHHCB là tổng giá thành hàng hoá đã chế biến
1.2.3 Tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đảm bảo ba lợi ích: cá nhân, tập thể và nhà nước
Hiệu quả của doanh nghiệp phải gắn liền hiệu quả của xã hội
Hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo hệ thống pháp luậthiện hành
Trang 271.3 Cácyếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế thị trường với cơ chế lấy thu bù chi, cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng tăng, các doanh nghiệp phải chịu sức ép từ nhiều phía Đặc biệt, đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bước vào nền kinh tếthị trường đã gặp phải không ít những khó khăn, sản xuất kinh doanh trì trệ,hoạt động kém hiệu quả
là do chịu tác động của nhiều yếu tố Song nhìnmột cách tổng quát có hai nhóm yếu tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tốkhách quan
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Mỗi biến động của một yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp đều có thể ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh, làm cho mức độ hiệu quả củaquá trình sản xuất của doanh nghiệp thay đổi theo cùng xu hướng củayếu tố đó
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp ta thấynổi lên tám yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh,mức độ hoạt động, hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tùy thuộc vàotác động của tám yếu tố này
1.3.1.1 Nguồn nhân lực và cơ cấu lao động
Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng cho quá trìnhsản xuất kinh doanh, là tổng hợp các kỹ năng, mức độ đào tạo, trình độgiáo dục có sẵn tạo cho một cá nhân có khả năng làm việc và đảm bảonăng suất lao động Như vậy, nguồn nhân lực của doanh nghiệp làlượnglao động hiện có, cùng với đó là kỹ năng, tay nghề, trình độ đào tạo, tính sáng tạo và khả năng khai thác của người lao động Nguồn nhân lựckhông phải là cái sẽ có mà là cái đã có sẵn tại doanh nghiệp, thuộc
sự quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Do đó, để đảm bảo hiệu quả sản xuấtkinh doanh thì doanh nghiệp phải hết sức lưu tâm đến yếu tố này Vì đây là chất xám, là yếu tố trực tiếp tác động lên đối tượng lao động, tạo rasản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh, có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với sự tồn tại và hưng thịnh của doanh nghiệp
Trong đó, trình độ tay nghề của người lao động trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, cùng với ý thức trách nhiệm trong công việc sẽ giúpnâng cao
Trang 28năng suất lao động, đồng thời tiết kiệm và giảm đượcđịnh mức tiêu hao nguyên vật liệu, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trình độ tổ chức quản lý của cán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ tại đây yêu cầu mỗi cán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ phải có kiến thức, có năng lực và năng động trong cơ chế thị trường Cần tổ chức phân công lao động hợp lý giữa cácbộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp; sử dụng đúng người, đúng việc sao cho tận dụng được năng lực, sở trường, tính sáng tạo của đội ngũ cán bộ,nhân viên nhằm tạo ra sự thống nhất, hợp lý trong tiến trình thực hiệnnhiệm vụ chung của doanh nghiệp
Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần áp dụng các hình thức trách nhiệm vật chất, sử dụng các đòn bẩy kinh tế, thưởng phạt nghiêm minh nhằm tạo động lực thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn trong phạm vi trách nhiệmcủa mình, tạo ra được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.1.2 Công tác tổ chức quản lý
Đây là yếu tố liên quan tới việc tổ chức, sắp xếp các bộ phận, đơn vị thành viên trong doanh nghiệp Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh thì yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải có một cơ cấutổ chức quản lý phù hợp với chức năng cũng như quy mô của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Qua đó, phát huy tính năng động tự chủ trongsản xuất kinh doanh và nâng cao chế độ trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao của từng bộ phận, từng đơn vị thành viên trong doanh nghiệp Công tác quản lý phải sát thực tế sản xuất kinh doanh, nhằm tránhtình trạng
“khập khiễng”, không nhất quán giữa kế hoạch và thực hiện.Hơn nữa, sự gọn nhẹ
và tinh giảm của cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quảsản xuất kinh doanh
1.3.1.3 Quản lý và sử dụng nguyên liệu, hàng hóa
Nếu dự trữ nguyên liệu, hàng hoá quá nhiều hay quá ít đều có ảnh hưởng không tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh Vấn đề đặt ra là phải dự trữmột lượng nguyên liệu hợp lý sao cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn Bởi
vì, khi thu mua hay dự trữ quá nhiều nguyên liệu, hàng hoásẽ gây ứ đọng vốn và
Trang 29thủ tiêu tính năng động của vốn lưu động trongkinh doanh Còn dự trữ quá ít thì không đảm bảo sự liên tục của quá trìnhsản xuất và thích ứng với nhu cầu của thị trường Điều này, dĩ nhiênảnh hưởng không tốt đến sản xuất cũng như công tác tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp
Hơn nữa, về bản chất thì nguyên liệu là một bộ phận của tài sảnlưu động, vậy nên tính năng động và tính linh hoạt trong sản xuất kinh doanh là rất cao Tính hợp lý khi sử dụng nguyên liệu ở đây được thể hiện quakhối lượng dự trữ phải nằm trong mức dự trữ cao nhất và thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất cũng như lưu thông hàng hoá được thông suốt, cơ cấu dự trữ hàng hoá phải phù hợp với
cơ cấu lưu chuyểnhàng hoá, tốc độ tăng của sản xuất phải gắn liền với tốc độ tăng của mứclưu chuyển hàng hoá
Ngoài ra, yêu cầu về tiết kiệm chi phí nguyên liệu trong sản xuấtkinh doanh cũng cần được đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp Qua đó,nhằm giảm bớt chi phí cung ứng trong giá thành s ản phẩm, mà chi phívề nguyên liệu thường rất lớn, chiếm 60-70% (đối với các doanh nghiệpsản xuất) Như vậy, việc tiết kiệm nguyên liệu trong quá trình sản xuất làhết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quảkinh tế của sản xuất kinh doanh
1.3.1.4 Nguồn vốn và trình độ quản lý, sử dụng vốn
Nguồn vốn là một yếu tố biểu thị tiềm năng, khả năng tài chính hiện có của doanh nghiệp Do vậy, việc huy động vốn, sử dụng và bảo toàn vốn giữ một vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Đây là một yếu tố hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải chú trọng ngay từ việc hoạch định nhu cầu về vốn làm cơ sở cho việclựa chọn phương án kinh doanh, huy động các nguồn vốn hợp lý trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn lực sẵn có của mình Từ đó, tổ chức chu chuyển, tái tạo nguồn vốn ban đầu, bảo toàn và phát triển nguồn vốn hiện có tạidoanh nghiệp
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô củaNhà nước thì việc bảo toàn và phát triển vốn trong các doanh nghiệp làhết sức quan trọng Đây
là yêu cầu tự thân của mỗi doanh nghiệp, vì đó là điều kiện cần thiết cho việc duy
Trang 30trì, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh Bởi vì, muốn đạt hiệu quả kinh tế và phát triển nguồn vốn hiện có thì trước hết các doanh nghiệp phải bảo toàn được vốncủa mình
Xét về mặt tài chính thì bảo toàn vốn của doanh nghiệp là bảo toànsức mua của vốn vào thời điểm đánh giá, mức độ bảo toàn vốn so vớithời điểm cơ sở (thời điểm gốc) được chọn Còn khi xét về mặt kinh tế,tức là bảo đảm khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với thời điểm cơ sở, về khía cạnh pháp lý phải bảo đảm tư cách kinh doanh của doanh nghiệp
Từ việc huy động, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn được thực hiệncó hiệu quả sẽ góp phần tăng khả năng và sức mạnh tài chính củadoanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
1.3.1.5 Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật
Thực tế cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện quy mô và là yếu tố cơ bảnđảm bảo cho sự hoạt động của doanh nghiệp Đó là toàn bộ nhà xưởng,kho tàng, phương tiện vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị… nhằm phục vụ cho quá trình s ản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp Yếu tố này cũng cóảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, vì đó là yếu tốvật chất ban đầu của quá trình sản xuất kinh doanh Tại đây, yêu cầu đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để cơ sở vật chất đã
có, còn phải không ngừngtiến hành nâng cấp, tu bổ, sữa chữa và tiến tới hiện đại hoá, đổi mớicông nghệ của máy móc thiết bị Từ đó, nâng cao sản lượng, năng suấtlao động và hiệu quả kinh tế
1.3.1.6 Hiểu biết về thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hàng hoá của mình thông qua thị trường Thị trường thừa nhận hàng hoá đó chính là người mua chấp nhận nó phù hợp với nhu cầu của xã hội Ngược lại, nếu người mua không chấp nhận tức là sản phẩm của doanh nghiệp chưađáp ứng đúng nhu cầu của người mua về chất lượng, thị hiếu, giá cả…Bởi vậy, để hoạt động tốt hơn, tiêu thụ được nhiều hàng hoá, tăng lợi nhuận thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanhbắt buộc phải nghiên cứuthị trường, nghiên cứu cung cầu của thị trườngvề
Trang 31hàng hoá bao gồm cơ cấu, chất lượng, chủng loại Tác dụng của việc nghiên cứu thị trường là cơ sở để dự đoán, cho phép doanh nghiệp đề ra hướng phát triển, cạnh tranh đối với các đối thủ, sử dụng tốt các nguồn lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu của mình và biết được thế đứng trong xã hội, tìm
ra và khắc phục những nhược điểm còn tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
1.3.1.7 Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ
Ngày nay, mọi người, mọi ngành, mọi cấp đều thấy ảnh hưởng củakhoa học
kỹ thuật đối với tất cả các lĩnh vực (nhất là lĩnh vực kinh tế).Trước thực trạng đó
để tránh tụt hậu, một trong sự quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là nhanh chóng nắm bắt được và ứng dụng tiến bộ khoa họckỹ thuật vào sản xuấtnhằm đạt hiệu quả chính trị - xã hội cao Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốn thắng thế trong cạnh tranh thì một yếu tốcơ bản là phải có trình độ khoa học công nghệ cao, thỏa mãn nhu cầu củathị trường cả về số lượng, chất lượng, thời gian Để đạt được mục tiêu này yêu cầu cần đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để cơ sở vật chất đã có (toàn bộ nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị)còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu sửa, sửa chữa và tiến tớihiện đại hoá công nghệ, máy móc, thiết bị, từ đó nâng cao sản lượng,năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả ngày càng cao
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan
1.3.2.1 Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, của ngành
Đây là một yếu tố có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tế Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế Do vậy, doanh nghiệpmuốn tồn tại, phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao thì nhất thiết phải có mộtmôi trường kinh doanh lành mạnh
Tuy nhiên, trong một nền sản xuất công nghiệp có trình độ phân công và hiệp tác lao động cao thì mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp chỉ là một mắt xích trong một hệ thống nhất Vì lẽ đó, khi chỉ có sự thay đổi về lượng và chất ở bất kỳ mắt xích nào trong hệ thống cũng đòi hỏi và kéo theo sự thay đổi của các mắt xích khác, đó là sự
Trang 32ảnh hưởng giữa các ngành, các doanh nghiệpcó liên quan đến hiệu quả kinh tế chung Thực chất, một doanh nghiệp,một ngành muốn phát triển và đạt hiệu quả kinh tế đơn lẻ một mình làmột điều không tưởng Bởi vì, quá trình sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư - sản xuất - tiêu thụ là liên tục và có mối quan hệ tương ứng giữa các ngành cung cấp tư liệu lao động, đối tượng lao động và các ngành tiêu thụ sản phẩm Do vậy, để đạt hiệu quả cao cần gắn với sự phát triển của nền kinh tế vàcác ngành có liên quan
1.3.2.2 Mức sống và thu nhập của dân cư, khách hàng
Thực chất, yếu tố này xét về một khía cạnh nào đó cũng thể hiện sựphát triển
và tăng trưởng của nền kinh tế Tuy nhiên, do mức độ quan trọng và tính đặc thù của yếu tố này nên ta có thể tách ra và xem xét kỹ hơn Đó làsản phẩm hay dịch vụ tạo ra phải được tiêu thụ, từ đó doanh nghiệp mới có thu nhập và tích luỹ Nếu như thu nhập của khách hàng cao thì có thể tốc độ tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện dịch
vụ của doanh nghiệp là cao và ngược lại
Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận, tuy nhiên mối quan hệ này lạiphụ thuộc vào ý muốn tự thân của khách hàng, hay giá cả cũng nhưchính sách tiêu thụ cụ thể của doanh nghiệp Hơn nữa, việc tiêu thụ sản phẩm và thực hiện dịch vụ là công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuấtkinh doanh mang lại thu nhập chodoanh nghiệp và trực tiếp tác động lên hiệu quả sản xuất kinh doanh Do vậy, khi phân tích và quản
lý kinh tế,các doanh nghiệp phải hết sức lưu ý đến yếu tố này
1.3.2.3 Cơ chế quản lý và các chính sách của Nhà nước
Tại mỗi quốc gia đều có một cơ chế chính trị nhất định, gắn với nó là cơ chế quản lý và các chính sách của bộ máy Nhà nước áp đặt lên quốc gia đó Ảnh hưởng của yếu tố này rất rộng, mang tính bao quát, không những tác động đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân mà còn ảnh hưởng(thông qua sự quản lý gián tiếp của Nhà nước) tới hiệu quả sản xuấtkinh doanhcủa các doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp được tự chủ trong sản xuất kinh doanh dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì hiệu quả kinh tế được đánh giá thông qua mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, với mục tiêu là
Trang 33cực đại các khoản thu nhập và giảm tổi thiểu mức chi phíđầu tư, chứ không chỉ đơn thuần là hoàn thành hay vượt mức kế hoạch đãđề ra
Gắn với từng cơ chế quản lý thì có từng chính sách kinh tế vĩ mônhất định Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động trực tiếp tớihoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởngnhất định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, Nhà nước còn tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua một loạtcác công cụ quản lý kinh tế
1.3.2.4 Nguồn cung ứng và giá cả của nguyên vật liệu
Nguyên liệu có vai trò tham gia cấu thành nên thực thể của sản phẩm,do đó nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ tr ọng lớn, mà hầu hết nguyên liệu chính đều có nguồn gốc do mua ngoài Trong khitính sẵn có của nguồn cung ứng nguyên vật liệu thường ảnh hưởng phần nào lên kế hoạch và tiến độ sản xuất của doanh nghiệp, giá cả nguyên liệu chính có tác động rất lớn đến giá thành sản phẩm Vì vậy, sự quan tâm tới giá cả và nguồn cung ứng nguyên liệu có vai trò
và ý nghĩa rất quan trọngtrong việc đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế Đây là một yếu tốkhách quan và nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp
1.3.2.5 Môi trường cạnh tranh và quan hệ cung cầu
Ngày nay, trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là rất gay gắt vàquyết liệt, mang tích chắt lọc và đào thải cao Do vậy, đòi hỏi mỗi mộtdoanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế trongsản xuất kinh doanh, qua đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpvà đứng vững trên thương trường Điều này, buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi phương án nhằm giảm bớt chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm nếu không muốn đi đến bờ vực của sự phá sản và giải thể Dù muốnhay không, mỗi doanh nghiệp đều bị cuốn vào sự vận động của môi trường cạnh tranh Do vậy, để không bị cuốn trôi thì doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó, mối quan hệ cung cầu trên thị trường cũng có ảnh hưởngđối với
cả “đầu vào” và “đầu ra” của quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, mà
cụ thể là giá cả trên thị trường Nếu sự lên xuống củagiá cả nguyên liệu đầu vào
Trang 34không đồng nhất với sản phẩm bán ra củaquá trình sản xuất kinh doanh sẽ gây nên nhiều bất lợi cho doanh nghiệp.Khi đó thu nhập của doanh nghiệp không được đảm bảo tương ứng sẽ làm giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh
Dù đây là những yếu tố khách quan nhưng các doanh nghiệp cũng cần phải theo dõi và nghiên cứu kỹ lưỡng để có những sách lược phù hợp
1.3.3 Phương hướng chung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.3.1 Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh
Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động đó Quản trị kinh doanhhiện đại cho rằng không thể chống đỡ được với những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh và phát triển thể hiệntính chất động và tấn công Chỉ có trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện được những thời cơ cần tận dụng hoặc những đe dọa có thể xảy ra để cóđối sách thích hợp Chất lượng của hoạch định và quản trị chiến lược tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, vị thế cạnh tranhcũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, chiến lượckinh doanh phải được xây dựng theo quy trình khoa học, phải thể hiệntính linh hoạt cao[12, tr.22]
1.3.3.2 Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả
a) Quyết định mức sản xuất và sự tham gia của các yếu tố đầu vào
Khi tiến hành một quyết định sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều quan tâm đến lợi nhuận mà họ có thể đạt được từ hoạt động đó và đều quyết định tiến hành sản xuất theo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Quy tắc chung tối đa hóa lợi nhuận là doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng cho tới chừng nào doanh thu cận biên (MR) còn vượt quá chi phí cận biên (MC) Trong đó, chi phí cận biên (MC) là chi phí tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Doanh thu cận biên (MR) là doanh thu tăng thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm Để đạt được mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận, trongmọi thời kỳ kinh doanh, doanh nghiệp phải quyết định mức
Trang 35sản xuất thoả mãn điều kiện doanh thu biên thu được từ đơn vị sản phẩm thứ i phải bằng vớichi phí kinh doanh biên để sản xuất ra đơn vị sản phẩm thứ i đó:
Mặt khác, để sử dụng các nguồn lực đầu vào có hiệu quả nhất,doanh nghiệp quyết định sử dụng khối lượng mỗi nguồn lực sao cho mứcchi phí sản xuất kinh doanh để có đơn vị yếu tố đầu vào thứ j nào đóphải bằng với sản phẩm doanh thu biên (MRP) mà yếu tố đầu vào đó tạo ra:
b) Xác định và phân tích điểm hoà vốn
Để sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp phải tính toán,xây dựng mối quan hệ tối ưu giữa chi phí và thu nhập Sản xuất bao nhiêu sản phẩm và bán với giá nào thì đảm bảo hòa vốn bỏ ra, và bao nhiêusản phẩm tiêu thụ trên mức đó
để mang lại lợi nhuận Điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu điểm hòa vốn và phân tích hòa vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng với tổng chi phíbỏ ra Tại điểm hoà vốn,kết quả kinh doanh loại sản phẩm đóbằng không Đây chính là ranh giới giữa âm hoặc dương của mức doanh lợi[12, tr.31-40]
Phân tích điểm hoà vốn chính là xác lập và phân tích mối quan hệ tối ưu giữa chi phí kinh doanh, doanh thu, sản lượng và giá cả Điểm mấu chốt để xác định chính xác điểm hoà vốn là phảiphân chia chi phí kinh doanh thành chi phí cố định
và chi phí biến đổi, đồng thời xác định được chi phí cố định cho từng loại sản phẩm Công thức đểxác định điểm hòa vốn:
Trang 36AVCKD là chi phí biến đổi bình quân để sản xuất một đơn vị sản phẩm
1.3.3.3 Phát triển và tạo động lực cho đội ngũ lao động
Trong doanh nghiệp, động lực cho tập thể và cá nhân người lao động chính là lợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn
Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảocông bằng, hợp
lý, thưởng phạt nghiêm minh Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với những nhân viên giỏi, trình độ tay nghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến… Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý những trường hợpvi phạm Trong kinh doanh hiện đại,
ở nhiều doanh nghiệp, hình thức báncổ phần cho người lao động và người lao động
sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãi chia theo cổ phần cũng là một trong những biện phápgắn người lao động với doanh nghiệp bởi lẽ cùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêm nguồn thu nhập từ doanh nghiệp
mà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham gia vào các công việc của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu lao động tối ưu, đảm bảo đủviệc làm trên
cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, phù hợp vớinăng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người Khi giao việc phảixác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, phải đảm bảocung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết của quá trình sản xuất, đảm bảosự cân đối thường xuyên trong sự biến động của môi trường và phải chú trọng công tác vệ sinh công nghiệp và điều kiện an toàn lao động[4, tr.117]
1.3.3.4 Hoàn thiện hoạt động quản trị
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh, phải xác định rõ chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn, chế
độ trách nhiệm, mối quan hệ giữa các bộ phận,cá nhân trong bộ máy quản trị và phải được quy định rõ ràng trong điều lệ cũng như hệ thống nội quy của doanh nghiệp Doanh nghiệp phảithường xuyên duy trì và đảm bảo sự cân đối tăng cường quan hệ giữacác khâu, các bộ phận trong quá trình sản xuất…từ đó nâng caotinh
Trang 37thần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong sản xuất[4, tr.127-128]
1.3.3.5 Phát triển công nghệ kỹ thuật
Trong giai đoạn hiện nay, khi tốc độ phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày càng nhanh và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thếtất yếu, các nhà kinh tế đều cho rằng, đổi mới đã thật sự trở thành yếu tốcó tính quyết định đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.Sự đổi mới liên tục về công nghệ và
tổ chức trong các ngành kinh tế đãtrở thành yếu tố then chốt để duy trì sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhu cầu đổi mới kỹ thuật công nghệ là rất chính đáng song phát triển kỹ thuậtcông nghệ luôn đòi hỏi phải đầu tư lớn, đầu tư đúng hay sai sẽ tác động tới hiệu quả lâu dài trong tương lai Đổi mới công nghệ phải đảm bảo vànâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt công tác kiểm tra kỹ thuật và nghiệm thu sản phẩm, tránh đểnhững sản phẩm chất lượng kém tiêu thụ trên thị trường[3, tr.155]
1.3.3.6 Tăng cường và mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp và xã hội
Bất cứ một doanh nghiệp nào biết sử dụng mối quan hệ sẽ khai thác được nhiều đơn hàng, tiêu thụ tốt Hoạt động kinh doanh muốn đạt hiệu quả cao cần tranh thủ tận dụng các lợi thế, hạn chế khó khăn của môi trường kinh doanh bên ngoài Cùng với sự phát triển và mở rộngthị trường, sự phụ thuộc giữa các doanh nghiệp với thị trường cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau càng chặt chẽ, doanh nghiệp nào biết khai thác tốt thị trường cũng như các quan hệ bạn hàng, doanh nghiệp đó có cơ hộiphát triển kinh doanh Muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao,doanh nghiệp phải biết tận dụng cơ hội, hạn chế khó khăn, tránh các cạm bẫy[2, tr.69]
Trang 38CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ BIA - RƯỢU - NƯỚC GIẢI KHÁT 2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu -Nước giải khát
- Tên công ty: Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát;
- Tên giao dịch quốc tế: Beer - Alcohol - Beverage Packaging Joint Stock Company;
- Tên viết tắt: BALPAC;
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0203001481 do SởKế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp, đăng ký lần đầu cấp ngày 16/05/2005,đăng ký thay đổi lần thứ nhất cấp ngày 08/07/2008 và đăng ký thay đổilần thứ hai cấp ngày 18/08/2015 với mã số doanh nghiệp 0200159453;
- Vốn điều lệ: 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng);
Trong đó: Nhà nước nắm giữ 68,95% - giá trị là 13.790.000.000 đồng;
- Địa chỉ trụ sở chính: Số 38 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai,quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Việt Nam
tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm thủy tinh,kinh doanh dịch vụ nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho ngành thủy tinh
Trang 39Công ty Thủy tinh Hải Phòng là doanh nghiệp Nhà nước thuộcTổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam, hạch toán độc lập, cótư cáchpháp nhân đầy
đủ, có tài khoản tại ngân hàng và có dấu riêng đểgiao dịch theo quy định của Nhà nước
Tuy nhiên, tại thời điểm đó, khi Công ty TNHH thủy tinh Sanmiguel Yamamura Hải Phòng đi vào hoạt động với ưu thế lớn về trình độ công nghệ và quy mô sản xuất đã làm thay đổi về cơ bản môi trường kinh doanh của Công ty Thủy tinh Hải Phòng Nếu Công ty tiếp tục sản xuất sản phẩmthủy tinh bao bì cùng loại thì đương nhiên chịu sự tác động tất yếu củaquy luật cạnh tranh Xác định rõ điều này, trên cơ sở phân tích thị trườngmục tiêu, công nghệ và năng lực sản xuất, Công ty Thủy tinh Hải Phòngchủ yếu tập trung khai thác các thị trường nhỏ lẻ mà quy mô sản xuất lớn của liên doanh không tương thích Để đáp ứng được yêu cầu
về chất lượng sản phẩm thủy tinh bao bì ngày một cao của thị trường, Công ty cần phảiđầu tư chiều sâu Song, trong những năm này, Công ty chưa xác định được phương hướng dài hạn khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty rất khó khăn
Căn cứ theo Quyết định 125/QĐ-TTg ngày 28/01/2003 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới Tổng công tyNhà nước và Công ty Nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp giai đoạn 2003-2005,Tổng công ty Rượu
- Bia - Nước giải khát Việt Nam được tách ra thành02 Tổng công ty là Tổng công
ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (Habeco) vàTổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) Trong đó, Công tyThủy tinh Hải Phòng là đơn vị thành viên của Habeco Lãnh đạo Habeco đã kiến nghị với Bộ Công nghiệp cho phép Công tyThủy tinhHải Phòng được chuyển đổi hướng sản xuất kinh doanh và
tổ chức sắp xếp lại mô hình hoạt động.Ngày 11/08/2003, Hội đồng quản trị Habeco
đã có Nghị quyết số 02/HĐQT yêu cầu Công ty Thủy tinh Hải Phòng ngừngsản xuất thủy tinh và triển khaicác bước công việc cần thiết của tiến trình cổ phần hóa Ngày12/05/2004, Bộ Công nghiệp ra Quyết định số 1034/QĐ-TCCB về việc
cổ phần hóa Công ty Thủy tinh Hải Phòng Công ty Thủy tinh Hải Phòng chuyển
Trang 40thành Công ty cổ phần Bao bìBia - Rượu - Nước giải khát căn cứ theo Quyết định
số 166/2004/QĐ-BCNngày 08/12/2004 củaBộ Công nghiệp
Ngày 19/04/2005, Công ty đã tiến hành Đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát Đại hội đồng cổ đông
đã thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần, thông qua phương hướng sản xuất kinh doanh và bầu ra Hội đồng quản trị Công ty,Ban kiểm soát Công ty Hội đồng quản trị Công ty đã chỉ đạo Công tythực hiện việc đăng kýkinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phốHải Phòng, nộp con dấu của doanh nghiệp nhà nước và xin khắc dấu của công ty cổ phần
Ngày 16/05/2005, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng đã cấp giấy phép kinh doanhsố 0203001481 cho Công ty cổ phần
Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát chính thức đi vào hoạt động theo Luật doanh nghiệp từ 01/06/2005
Cùng với việc sắp xếp, quy hoạch lại cơ cấu tổ chức của Công tycổ phần, việc xác định mục tiêu xây dựng ngành bia - rượu - nước giải khátViệt Nam thành một ngành kinh tế mạnh, sử dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước để phát triển sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứngnhu cầu tiêu dùngđã được quán triệt bằng hành động thiết thực như đưa ra chương trình, kế hoạch hoạt động và những nhiệm vụ cụ thể mà Công ty cần thực hiện trong quá trình hoạt động của mình:
- Đầu tư mới về công nghệ thiết bị đảm bảo tiên tiến hiện đại, sản phẩm có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và đảm bảo các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường;
- Chấm dứt sản xuất chai thủy tinh, chuyển hướng sang sản xuấtnút khoén phục vụ cho việc sản xuất bia đóng chai, nước giải khát đóng chai trên toàn quốc
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ
Trong bối cảnh thị trường đồ uống ngày càng nhiều và đa dạng thì việc sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng cao với giá thà nhcạnh tranh là điều vô cùng cần thiết Đặc biệt là đối với các loại đồ uống đóng chai thìnắp chai là