Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, phân tích thực trạng quản lý thu thuế ở địa phương, từ đó tì
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
CN HOÀNG VĂN CƯỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN - HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
CN HOÀNG VĂN CƯỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN - HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ; MÃ SỐ: 60340401
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoàng Tiệm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc bảo vệ một học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đƣợc trân trọng chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS NGUYỄN HOÀNG TIỆM, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Viện đào tạo sau đại học-Trường đại học Hàng Hải Việt Nam, Quý thầy cô khoa QLKT, đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Phòng Tài chính-Kế hoạch, Chi cục thuế, Chi cục Thống kê huyện Kinh Môn, đã giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này
Tác giả luận văn
HOÀNG VĂN CƯỜNG
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ 5
1.1 Khái niệm về thuế và quản lý thuế 5
1.2 Cơ chế tự khai tự nộp, những đặc điểm và điều kiện thực hiện cơ chế 10
1.3 Nội dung của quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế 15
1.4 Quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế 20
1.5 Kinh nghiệm áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp trong quản lý thu thuế ở một số quốc gia và một số địa phương 22
1.6 Bài học kinh nghiệm chung 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN GIAI ĐOẠN 2010-2014 28
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội huyện Kinh Môn 28
2.2 Thực trạng hoạt động thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại Chi cục thuế huyện Kinh Môn giai đoạn 2010-2014 32
2.3 Đánh giá chung 56
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN 63
Trang 63.1 Định hướng phát triển kinh tế của huyện Kinh Môn và mục tiêu của ngành Thuế giai đoạn 2015-2020 63 3.2 Một số biện pháp hoàn thiện quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại chi cục thuế huyện Kinh Môn 67 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Trình độ chuyên môn của các cán bộ, công chức chi cục thuế
huyện Kinh Môn
39
2.3 Kết quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT 2010 - 2014 42
2.5 Báo cáo kết quả kiểm tra tại trụ sở NTT giai đoạn 2010-2014 46 2.6 Báo cáo kết quả quản lý thu nợ và cƣỡng chế nợ thuế (2010-
2014)
49
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.4 Báo cáo kết quả kiểm tra tại trụ sở NNT giai đoạn 2012-2014 47 2.5 Biểu đồ quản lý thu nợ và cƣỡng chế nợ thuế (2010 - 2014) 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất Tỷ trọng các khoản thu từ thuế thường chiếm trên 80% tổng thu của ngân sách Ở nước ta nếu không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ thuế cũng chiếm trên 90% tổng các khoản thu của ngân sách nhà nước (NSNN) trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây Bên cạnh đó, chính sách thuế còn là công
cụ hiệu quả để quản lý vĩ mô nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và hội nhập quốc tế Chính sách thuế là một trong những nội dung quan trọng của chính sách tài chính quốc gia Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp tục quan tâm đến chính sách thuế và công tác quản lý thu thuế nhằm hướng tới một nền quản lý thuế hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế
Theo chương trình cải cách hệ thống thuế ở nước ta đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thì việc triển khai áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế được xem là một bước ngoặt quan trọng, bước đột phá cơ bản trong chiến lược cải cách hệ thống thuế nói chung và cải cách công tác quản lý thu thuế nói riêng Cơ chế này đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước phát triển và ngày càng có nhiều nước đang phát triển nghiên cứu triển khai, áp dụng Việt Nam chính thức áp dụng cơ chế quản lý này kể từ ngày 01/7/2007 khi Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành
Đối với địa bàn huyện Kinh Môn sau sáu năm thực hiện quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp đối với tất cả các sắc thuế và các đối tượng nộp thuế (ĐTNT), ngoài những thành công bước đầu, thì trong quá trình thực hiện cơ chế quản lý thu thuế mới này vẫn còn nảy sinh không ít những vấn đề bất cập, đó chính
là tính tự giác chấp hành pháp luật thuế của mỗi người dân còn quá thấp nên thất thu là điều không tránh khỏi Mặt khác, trình độ năng lực của một số cán bộ thuế
Trang 11người nộp thuế (NNT) đạt hiệu quả chưa cao Công tác theo dõi, kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế và xử lý các trường hợp vi phạm còn nhiều hạn chế Các thủ tục hành chính còn rườm rà, gây phiền hà, mất thời gian cho (NNT)
Trước thực tế nêu trên đòi hỏi phải có nghiên cứu một cách hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về vấn đề quản lý thu thuế theo cơ chế mới ở chi cục thuế (CCT) huyện Kinh Môn để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém và giải pháp khắc phục, đảm bảo nguồn thu cho NSNN Là một cán bộ đang công tác trong
ngành thuế, xuất phát từ lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp hoàn
thiện quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại chi cục thuế huyện Kinh Môn - Hải Dương” làm luận văn tốt nghiệp hệ cao học chuyên ngành: Quản
lý kinh tế tại trường đại học Hàng Hải Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có một số đề tài và công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý thu thuế với những cách tiếp cận khác nhau, điển hình như:
- “Cơ chế tự kê khai, tự nộp và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam”, tác giả
Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Việt Cường, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2007
- “Quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện nay” luận văn
thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Tú, Hà Nội, 2009
- “Hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”
luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Lê Thị Lan Hương, Hà Nội, 2009
- “Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”, tác giả Đặng Hạnh Thu, Tạp chí Cộng Sản số
803(9), tr 62-65, 2009
Những đề tài trên đều đi sâu nghiên cứu về quản lý thu thuế nhưng ở khía cạnh và phạm vi khác so với đề tài này Cho đến nay trên địa bàn huyện Kinh Môn cũng chưa thấy có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp như đề tài tác giả lựa chọn
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, phân tích thực trạng quản lý thu thuế ở địa phương, từ đó tìm kiếm giải pháp, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách thuế trên địa bàn huyện và đóng góp vào việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế và quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Kinh Môn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, trong
đó tập trung nghiên cứu về đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo mô hình chức năng; công tác tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT; công tác thanh tra, kiểm tra thuế; công tác thu nợ và cưỡng chế thuế
- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý thu thuế nội địa đối với các sắc thuế bao
gồm: thuế giá trị gia tăng (GTGT); thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB); thuế môn bài; thuế thu nhập cá nhân (TNCN); thuế tài nguyên; thuế nhà, đất trên địa bàn huyện Kinh Môn giai đoạn 2010-2014 và đề xuất giải pháp đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Vận dụng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, lý luận chung có liên quan đến thuế và quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, so
sánh, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu thực hiện đề tài
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu đề tài chủ yếu là các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn, chủ yếu là các báo cáo tổng kết hàng năm của Chi cục thuế Kinh Môn, của Ủy ban nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương về tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trang 136 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận của công tác Quản lý
thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp
+ Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thuế theo cơ chế tự khai,
tự nộp
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá chính xác thực trạng quản lý thu thuế
theo cơ chế tự khai, tự nộp tại CCT huyện Kinh Môn
+ Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại chi cục thuế huyện Kinh Môn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế và cơ chế tự khai, tự nộp thuế đối với các đối
tượng nộp thuế
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại
Chi cục Thuế huyện Kinh Môn giai đoạn 2010-2014
Chương 3: Biện pháp hoàn thiện quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
tại Chi cục Thuế huyện Kinh Môn
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ ĐỐI
VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ 1.1 Khái niệm về thuế và quản lý thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế, phân loại thuế và đặc điểm của thuế
1.1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước Thuế là công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình Sự phát triển kinh tế-xã hội qua các thời kỳ tạo sự hình thành
bộ máy Nhà nước và đòi hỏi phải có một khoản thu NSNN ổn định - đó là Thuế
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau
Các quan niệm tuy cách diễn đạt khác nhau song đều thống nhất những nội dung chính của thuế là:
Thuế là biện pháp động viên của Nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước về một khoản đóng góp cho ngân sách nhà nước
Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào NSNN
Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng
Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được Nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào NSNN
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhận thức một cách toàn diện
về thuế như sau:
Trang 15“Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước, thuộc phạm trù phân phối nhằm tập trung một bộ phận nguồn lực của cải xã hội vào NSNN để đáp ứng với nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thích ứng từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế - xã hội” [17]
1.1.1.2 Phân loại thuế [20]
Thuế có nhiều loại khác nhau, nguồn gốc hình thành, đặc điểm qui mô, tỷ trọng khác nhau Vì vậy phân loại thuế để thấy rõ về từng loại thuế và từ đó có chính sách thuế, cơ chế quản lý thuế, động viên đóng góp cho NSNN một cách phù hợp, nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài
Tùy theo tiêu chí và mục đích phân loại, thuế được chia thành:
- Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức, cá nhân Thuế trực thu là loại thuế mà người hoạt động, tài sản chịu thuế và người nộp thuế là một Thuế trực thu bao gồm:
+ Thuế Thu nhập cá nhân;
+ Thuế Thu nhập doanh nghiệp;
+ Thuế tài sản
- Thuế gián thu: Là loại thuế cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá
cả hàng hóa Thuế gián thu là hình thức thu gián tiếp qua một đơn vị trung gian để đánh vào người tiêu dùng do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Thuế gián thu bao gồm:
+ Thuế giá trị gia tăng;
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt;
+ Thuế xuất nhập khẩu
1.1.1.3 Đặc điểm của thuế [20]
- Tính bắt buộc: Bằng quyền lực của mình, Nhà nước đặt thành nghĩa vụ
cho mọi người phải đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật, thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong hiến pháp, là đạo luật cơ bản của mỗi nước Chỉ có Quốc hội - cơ quan thẩm quyền cao nhất trong
Trang 16bộ máy quyền lực của mỗi quốc gia có quyền ban hành, sửa đổi và bãi bỏ các thứ thuế Thuộc tính cơ bản vốn có của thuế chính là tính bắt buộc
- Tính không hoàn trả trực tiếp: Khoản nộp về thuế không có tính hoàn trả
và ngang giá trực tiếp, tạo điều kiện cho Nhà nước sử dụng một cách linh hoạt, hiệu quả khoản thu tiền thuế thu được Trước khi thu thuế, Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT Lợi ích từ việc nộp thuế sẽ được hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước cho cộng đồng xã hội Tuy nhiên, sự hoàn trả này không có tính hoàn nguyên tuyệt đối bởi sự hoàn trả không mang tính chất đối ứng Đây chính là điểm khác biệt giữa thuế và các khoản phí, lệ phí bởi nó có tính chất đối ứng và trao đổi ngang bằng giữa các khoản phải trả và lợi ích mà người nộp có thể nhận được
- Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao Điều
đó được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước Thuế do cơ quan lập pháp ban hành theo những quy trình, thủ tục quy định rất chặt chẽ Vì vậy, trong luật thuế phải quy định rõ phạm vi, hình thức, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế
Tóm lại: Từ sự phân tích trên, thuế tồn tại một cách tất yếu khách quan
cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Đặc trưng cơ bản thuộc về bản chất thuế, đó là tính pháp luật đã quy định mức đóng góp theo nghĩa vụ của các thể nhân và pháp nhân Nhà nước muốn có nguồn thu ổn định, vững chắc để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của mình đương nhiên phải tiến hành bằng phương pháp cưỡng chế của pháp luật Điều này làm sáng tỏ vấn đề bản chất giai cấp Nhà nước đã quy định tính chất giai cấp của thuế
1.1.2 Quản lý thu thuế
1.1.2.1 Khái niệm
Quản lý thu thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có nhiều quan niệm khác nhau Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thu thuế ở một
Trang 17góc độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy các quan niệm về quản lý thu thuế đều có các điểm chung là:
- Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế;
- Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng bị quản
lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý thuế là cơ quan nhà nước có chức năng và thẩm quyền được xác định (mà trực tiếp là cơ quan Thuế các cấp) Đối tượng bị quản lý là các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để ĐTNT và các đối tượng liên quan thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các quy định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý
Quản lý thu thuế bao gồm ba hoạt động vừa độc lập riêng biệt, kế tiếp nhau vừa quan hệ chặt chẽ với nhau đó là: Xác định ĐTNT, xác định số thuế phải nộp
và thu thuế Chức năng chủ yếu của quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các khoản phạt theo luật thuế để răn đe những ĐTNT vi phạm Đồng thời, quản lý thu thuế cũng đảm bảo bên thứ ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch
vụ với ĐTNT phải báo cáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có phát sinh thuế nộp NSNN theo quy định của luật
Có thể nói, quản lý thu thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện Đặt ra thuế là đặc quyền thuộc Nhà nước Lập kế hoạch thu, tổ chức thu thuế, kiểm tra, thanh tra và xử phạt thuế đương nhiên là những nghiệp vụ thuộc nội hàm đặc quyền đó Chúng được gọi chung và thuộc về khái niệm là quản lý thu thuế Có thể hiểu đơn giản đấy là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy
đủ, kịp thời và đúng luật định Đặc biệt, khi hiểu biết chung của toàn xã hội về ý nghĩa và vai trò của thuế ngày càng gia tăng thì càng đòi hỏi bộ máy quản lý thu thuế hoàn thiện tính chuyên nghiệp và hợp tác thân thiện với ĐTNT Nộp thuế trở thành hành vi thể hiện quyền công dân Quản lý thu thuế phải góp phần hỗ trợ công dân thực thi quyền và nghĩa vụ của mình
Trang 18Như vậy, “ quản lý thu thuế là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra theo đúng các qui định của pháp luật liên quan” [17]
1.1.2.2 Vai trò của quản lý thuế
Quản lý thu thuế đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý của Nhà nước, thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- Quản lý thu thuế sẽ tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh Do vậy, để có nguồn thu phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thì công tác tổ chức, quản lý thu thuế phải đáp ứng được yêu cầu đề ra Quản lý thu thuế tốt một mặt sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy
đủ và kịp thời số thu cho NSNN, mặt khác với thuế suất chung hợp lý sẽ kích thích
mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng ĐTNT, do đó vừa tăng thu cho NSNN vừa tăng qui mô của nền kinh tế
- Thông qua quản lý thu thuế kịp thời nắm bắt những vướng mắc phát sinh
từ cơ sở để báo cáo cơ quan có thẩm quyền đề ra giải pháp xử lý tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh không ngừng phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu ổn định cho NSNN
- Quản lý thu thuế còn góp phần tăng cường và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư
1.1.2.3 Những yêu cầu mới đặt ra đối với quản lý thuế
Để đảm bảo thực hiện tốt quản lý thuế trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cơ quan Thuế phải cải tiến các quy trình thủ tục quản lý thu thuế để tạo mọi điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho NNT thực hiện kê khai và nộp tiền thuế vào NSNN, đồng thời tổ chức tuyên truyền và hỗ trợ cho NNT hiểu và thực hiện tốt nghĩa
vụ thuế với nhiều hình thức phong phú, phù hợp và chất lượng cao
Trang 19Để đạt được những nội dung trên, yêu cầu đặt ra đối với quản lý thu thuế, đó là:
Thứ nhất, hệ thống chính sách thuế phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu để NNT
có thể hiểu đúng và tự tính thuế, khai thuế và nộp thuế đầy đủ, chính xác, kịp thời
Thứ hai, các thủ tục hành chính thuế đơn giản, thuận tiện và không gây
phiền hà cho NNT Có hệ thống thông tin về NNT đầy đủ, chính xác
Thứ ba, tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT trong việc thực hiện pháp luật thuế một
cách toàn diện và có chất lượng cao Thanh tra, kiểm tra thuế có mục đích và hiệu quả, kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm và xử phạt công bằng, nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật thuế Giải quyết các khiếu nại về thuế của NNT nhanh chóng, công bằng
Thứ tư, hệ thống quy trình quản lý nội bộ của cơ quan Thuế thống nhất,
đồng bộ và có hiệu quả Cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan Thuế gọn nhẹ, hợp lý Đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp, công tâm, văn minh, lịch sự Hệ thống tin học ngành Thuế hiện đại và hiệu quả
1.2 Cơ chế tự khai tự nộp, những đặc điểm và điều kiện thực hiện cơ chế [19]
1.2.1 Khái niệm
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thu thuế trong đó các ĐTNT căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào những quy định của pháp luật về thuế để tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp
và tự nộp thuế vào NSNN theo đúng thời hạn quy định của pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai Cơ quan Thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của các ĐTNT, trừ khi phát hiện ra các sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế Trong cơ chế này, cơ quan Thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để ĐTNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế và thông qua công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của ĐTNT
Trang 201.2.2 Đặc điểm của cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thu thuế hiện đại, hiệu quả, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan Thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý theo yêu cầu rõ ràng, làm tăng sự minh bạch trong quản lý thu thuế, đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế
Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đòi hỏi tổ chức, cá nhân nộp thuế phải nâng cao trách nhiệm vì tờ khai thuế là do tổ chức, cá nhân nộp thuế tự lập trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần có
sự xác nhận của cơ quan Thuế Tổ chức, cá nhân nộp thuế chịu trách nhiệm về kết quả của việc tính thuế, kê khai thuế của mình trước pháp luật
Để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân nộp thuế hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật thuế từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ kê khai nộp thuế, cơ quan Thuế phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giải đáp các vướng mắc về chính sách chế độ thuế mà các tổ chức, cá nhân nộp thuế thường gặp phải trong quá trình
kê khai nộp thuế
Cơ quan Thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của tổ chức,
cá nhân kinh doanh, nhưng cơ quan Thuế sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra và áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật định đối với những trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như không kê khai, không nộp thuế, trốn thuế, gian lậu về thuế,
Mục tiêu của cơ chế tự khai, tự nộp thuế là phát huy tính tự giác, tự chịu trách nhiệm của ĐTNT Trong hệ thống này, trách nhiệm pháp lý về kê khai, tính thuế được chuyển sang ĐTNT Do vậy, phương thức quản lý này đã giảm bớt yêu cầu về nguồn nhân lực của cơ quan Thuế thông qua việc giải phóng cơ quan Thuế khỏi công việc kiểm tra tờ khai và ra thông báo thuế Cơ quan Thuế sẽ tập trung vào trợ giúp ĐTNT, thanh tra, kiểm tra, giải quyết các trường hợp ĐTNT không tuân thủ đúng nghĩa vụ nộp thuế Việc áp dụng hệ thống tự khai, tự nộp thuế sẽ
Trang 21giúp cơ quan Thuế nâng cao tính hiệu quả của công tác quản lý thu thuế Cơ chế tự khai, tự nộp thuế ràng buộc trách nhiệm cả hai bên: ĐTNT và cơ quan Thuế
1.2.3 Điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp
Một là, hệ thống luật thuế phải thực sự minh bạch, người dân có thể dễ dàng
tiếp cận và tìm hiểu chính sách thuế
Để áp dụng cơ chế quản lý thu thuế tiên tiến đòi hỏi ĐTNT phải nắm chắc các quy định của luật thuế để tự mình kê khai, tính toán đúng số thuế phải nộp cho Nhà nước Muốn vậy, các luật thuế phải đơn giản, dễ hiểu, minh bạch, từng quy định trong các luật thuế phải được rõ ràng, không mơ hồ, không làm cho người dân muốn hiểu thế nào cũng được
Hai là, trình độ dân trí cao, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật của người dân
tốt, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đạt hiệu quả thiết thực
ĐTNT là người trực tiếp tính toán số thuế mà mình phải nộp cho NSNN, do
đó đòi hỏi họ phải có một kiến thức cơ bản để hiểu được các quy định của luật thuế Mặt khác, cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao của ĐTNT do vậy mà người dân cần phải có ý thức cao, tự giác tuân thủ pháp luật Để đạt được điều kiện này thì cơ quan Thuế phải đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các chính sách thuế
Ba là, các cơ quan hành pháp phải có cơ chế phối hợp tốt với cơ quan Thuế
trong công tác quản lý hành chính
Trong khi cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi ĐTNT phải có sự tự giác tuân thủ cao thì có một bộ phận không nhỏ dân chúng có ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan hành pháp nói chung và cơ quan Thuế nói riêng phải có trình độ quản lý cao để đảm bảo thực hiện đúng những quy định của pháp luật
Bốn là, các thủ tục như đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế phải đơn
giản Các chương trình thanh tra thuế và cưỡng chế thuế phải có hiệu quả và hiệu lực
Trang 22Các thủ tục về thuế phải đơn giản để giúp các tổ chức, cá nhân dễ dàng hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Đồng thời cơ quan Thuế phải luôn luôn thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các ĐTNT vì gian lận, trốn lậu thuế là một căn bênh kinh niên tồn tại song song cùng với việc thu thuế của Nhà nước
Năm là, cần có chế tài pháp luật đủ nghiêm để răn đe các hành vi vi phạm
Khi áp dụng mô hình quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thì các chế tài pháp luật nghiêm minh là rất cần thiết, rất quan trọng trong bối cảnh khả năng lợi dụng sự cho phép tự giác của Nhà nước để trốn lậu thuế là khá cao, nhất là đối với nước ta - một nước có trình độ phát triển chưa cao về mọi mặt
1.2.4 Những ưu điểm và hạn chế của cơ chế tự khai, tự nộp
Với cơ chế quản lý thu thuế trước đây trách nhiệm pháp lý của ĐTNT đối với tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp không cao bởi vì số thuế họ phải nộp được xác định theo thông báo của cơ quan Thuế Vì vậy, có thể có tình trạng các cơ sở kinh doanh tính toán số liệu một cách qua loa, đại khái và nếu cán
bộ thuế kiểm tra không kỹ thì có thể dẫn đến sai số thuế phải nộp mà các cơ sở kinh doanh không hề có lỗi Nhưng khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì ĐTNT phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của số liệu kê khai và cả tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp Tức là, ĐTNT được nâng cao trách nhiệm pháp lý trong việc kê khai thuế với Nhà nước, tăng sự tự giác, được chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình Hơn nữa, còn thiết lập được niềm tin giữa cơ quan Thuế và NNT
Trang 23Đối với cơ quan Thuế: Áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế cơ quan Thuế có điều kiện để cải tiến cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có, công tác quản lý thu thuế được tổ chức theo hướng ngày càng hiện đại và chuyên môn hóa Nhờ việc không mất thời gian tính toán lại số thuế phải nộp của ĐTNT và phát hành thông báo thuế mà cán bộ thuế có điều kiện tập trung thời gian và công sức cho các công việc quản lý khác như: Công tác phục vụ,
hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hiểu và tự giác thực hiện các nghĩa
vụ thuế của mình đối với NSNN, công tác thanh tra, kiểm tra, công tác đôn đốc thu nộp và cưỡng chế thuế… Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành Thuế đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý mà cụ thể là đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ tin học trong công tác quản lý thu thuế Đó là tiền đề để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế
Ngày nay, xu thế hội nhập, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực và tiến tới toàn cầu hoá kinh tế ngày càng ở mức độ cao là tất yếu khách quan, theo đó, hội nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và sâu nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, ngoài việc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích, công tác quản lý thu thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm thu hút mạnh mẽ đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy kinh tế phát triển
Thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế chính là xu hướng cải cách quản lý thuế quốc tế hiện nay Cơ quan Thuế thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT nâng cao tính tuân thủ tự giác chấp hành các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm Ứng dụng CNTT vào tất cả các khâu quản lý thu thuế
Áp dụng cơ chế quản lý thu thuế mới còn nhằm để thu hẹp khoảng cách
về trình độ quản lý thuế giữa nước ta với các nước tiên tiến trên thế giới Nếu không đẩy mạnh cải cách quản lý thuế, chúng ta sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn so với trình độ quản lý thuế trong khu vực và các nước phát triển cả về cơ chế quản
lý, công nghệ quản lý, tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý
Trang 24* Hạn chế
Khi áp dụng một cơ chế chính sách mới bên cạnh những lợi ích to lớn thì cũng có nhiều điểm hạn chế Do đó, việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp nếu không đáp ứng đựợc những điều kiện nhất định thì sẽ có những hạn chế đó là:
- Nguy cơ trốn lậu thuế, thất thoát thuế lớn nếu trình độ dân trí thấp và không có biện pháp quản lý thu thuế phù hợp Chẳng hạn công tác kiểm tra không
kịp thời, việc phổ biến các luật thuế kém hiệu quả, công tác hướng dẫn các ĐTNT không đầy đủ, chu đáo… Có thể dẫn đến các tình trạng ĐTNT lợi dụng việc không kiểm tra tính toán lại số thu thường kỳ của cơ quan Thuế để cố tình kê khai sai nhằm trốn lậu thuế Trong trường hợp do hiểu biết các Luật thuế của ĐTNT kém
và công tác hướng dẫn của cơ quan Thuế không hiệu quả thì có thể có tình trạng kê khai sai số thuế phải nộp Với trình độ dân trí của nước ta còn thấp, ý thức tự giác
và tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao thì nguy cơ thất thoát thuế là rất lớn
- Đòi hỏi cao về cơ sở vật chất và trình độ quản lý của các cơ quan Nhà nước Để áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp một cách hiệu quả đòi hỏi cơ sở vật chất
của ngành Thuế phải được hiện đại hóa, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thông tin, liên lạc sao cho việc kiểm tra, đối chiếu số liệu có thể phục
vụ nhanh chóng và chính xác Do đó, cần phải có sự đầu tư rất lớn trong khi NSNN còn hạn hẹp Mặt khác, trình độ quản lý của các cơ quan hành pháp hiện nay còn thấp, nếu không có sự chuẩn bị kỹ càng có thể xảy ra tình trạng buông lỏng công tác quản lý thu thuế
1.3 Nội dung của quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Nội dung quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp được quy định tại một
số văn bản pháp lý có liên quan, cụ thể:
1.3.1 Một số văn bản có liên quan đến quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế [19]
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 197/2003/QĐ-TTg về việc thí điểm thực hiện cơ chế cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế đối với hai loại thuế: GTGT và TNDN Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 127/2003/TT-BTC
Trang 25hướng dẫn về thời hạn, thủ tục kê khai, nộp thuế và việc quyết toán thuế GTGT và thuế TNDN có những thay đổi nhằm tạo thuận lợi cho cơ sở kinh doanh tự giác tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế theo qui định Thực chất, đây chính là việc thực hiện thí điểm hiện đại hóa quản lý thu thuế trên diện hẹp, từ đó rút kinh nghiệm để triển khai diện rộng trên toàn quốc Ngày 30/6/2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 161/2005/QĐ-TTg về việc mở rộng thí điểm cơ sở sản xuất kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế đối với thuế TTĐB ở khâu sản xuất trong nước; thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và thuế môn bài Trên cơ sở Quyết định số 161/2005/QĐ-TTg, Bộ Tài chính đã ban hành Thông
tư 82/2005/TT-BTC ngày 21/9/2005 hướng dẫn thí điểm cơ sở sản xuất kinh doanh
tự khai, tự nộp thuế TTĐB; Thông tư 83/2005/TT-BTC ngày 22/9/2005 hướng dẫn thí điểm cơ sở sản xuất kinh doanh tự khai, tự nộp thuế tài nguyên; Thông tư số 41/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn mở rộng thí điểm cơ sở sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế nhà đất, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và thuế môn bài
Bộ Tài chính cho phép thực hiện thí điểm mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên phạm vi cơ quan Thuế cấp Cục Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 3483/QĐ-BTC ngày 07/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc mở rộng thí điểm cơ chế tự khai, tự nộp đối với cơ sở sản xuất kinh doanh; Quyết định số 3483/QĐ-BTC ngày 07/10/2005 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính về việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức của 5 Cục Thuế thí điểm Theo mô hình tổ chức mới, việc bố trí, sắp xếp cán bộ theo hướng tăng cường nguồn lực cán
bộ cho các phòng có chức năng quản lý ĐTNT như: Tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT, thanh tra thuế, quản lý thu nợ thuế, xử lý tờ khai và kế toán thuế Trên cơ sở đó nâng cao chất lượng cán bộ, xây dựng phương pháp làm việc của CBCC theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu
Theo đó là một số quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đó là:
- Quyết định số 316/QĐ-BTC ngày 17/02/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc ban hành Quy chế thi cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế
Trang 26- Quyết định số 422/QĐ-TCT ngày 22/4/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế
- Quyết định số 477/QĐ-TCT ngày 15/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình thu nợ thuế
- Quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 22/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình hoàn thuế
- Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình kiểm tra thuế
- Quyết định số 598/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình miễn, giảm thuế
- Quyết định số 460/QĐ-TCT ngày 05/5/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình thanh tra thuế
- Quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 8/5/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình cưỡng chế nợ thuế
1.3.2 Về các chính sách thuế và tổ chức bộ máy
1.3.2.1 Yêu cầu về chính sách thuế và luật thuế
Để thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, hệ thống chính sách thuế được sửa đổi theo hướng đơn giản, đơn nghĩa, rõ ràng, tạo điều kiện cho ĐTNT có thể hiểu được và thực hiện được nghĩa vụ thuế của mình Đồng thời với việc cải cách
hệ thống chính sách thuế là việc xây dựng Luật quản lý thuế qui định rõ quyền hạn
và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh và cơ quan Thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, đặc biệt là những qui định bảo vệ quyền lợi chính đáng của ĐTNT và những thẩm quyền bảo đảm cơ quan Thuế thực hiện công tác thanh tra, cưỡng chế, thu nợ thuế
Thể hiện các yêu cầu của Luật thuế liên quan đến việc tính thuế, xác định
số thuế phải nộp, nộp thuế… một cách cụ thể, rõ ràng, dễ tiếp cận nhất Tổ chức các qui trình quản lý, quản trị nội bộ dựa trên những thành tựu về công nghệ thông tin để giải quyết tốt nhất các yêu cầu, các đề nghị từ phía ĐTNT
Các văn bản pháp lý cho thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế được thực hiện trong khuôn khổ luật thuế và các văn bản pháp luật có liên quan hiện hành
Trang 27Luật thuế quy định rõ việc chuyển trách nhiệm tính thuế từ cơ quan Thuế sang ĐTNT, những quy định về thời hạn nộp thuế, thủ tục kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế được cải tiến theo hướng không những tạo điều kiện thuận lợi cho ĐTNT
tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế, mà còn phải đảm bảo đầy đủ các thông tin cần thiết
để cơ quan Thuế thực hiện quản lý thu thuế
1.3.2.2 Yêu cầu về tổ chức bộ máy ngành thuế
Tổ chức bộ máy của ngành Thuế phải đảm bảo mục tiêu và nguyên tắc sau:
- Về mục tiêu
Phải hiện đại hoá bộ máy quản lý thu thuế cả về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức, đủ sức thực hiện thắng lợi mục tiêu, chương trình cải cách và hiện đại hoá đã được Bộ Chính trị thông qua, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; thực hiện tốt các quy định của Luật Quản lý thuế đã được Quốc hội ban hành
Thứ nhất, phản ảnh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
của cơ quan quản lý thu thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, có phân công, phân cấp rõ ràng Bộ máy của Tổng cục Thuế được tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương
Thứ hai, tổ chức bộ máy quản lý thu thống nhất tại tất cả cơ quan Thuế các
cấp theo mô hình chức năng, phù hợp với cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế Mỗi chức năng quản lý thu thuế như tuyên truyền - hỗ trợ; xử lý tờ khai thuế; quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế có một bộ phận chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ quản lý
Thứ ba, cơ cấu bộ máy cơ quan Thuế hợp lý; chức năng, nhiệm vụ của từng
bộ phận phải đầy đủ, rõ ràng, không chồng chéo, không bỏ sót Quy mô của từng
bộ phận cơ cấu phải hợp lý, tương xứng với khối lượng công việc được phân công
và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn mới
Thứ tư, tổ chức bộ máy Tổng cục Thuế phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam
về quản lý hành chính, kinh tế, ngân sách, về trình độ của NNT trong giai đoạn
Trang 28hiện nay và khả năng chuyển đổi trong giai đoạn sắp tới; đáp ứng hội nhập quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với thế giới và các nước trong khu vực
Căn cứ mục tiêu và nguyên tắc trên, bộ máy quản lý thu thuế ở cơ quan Thuế các cấp được tổ chức tập trung theo các chức năng: tuyên truyền, hướng dẫn ĐTNT; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế nhằm chuyên môn hoá, nâng cao năng lực quản lý thu thuế ở từng chức năng
Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng, cơ quan Thuế phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các phòng, ban, bộ phận, giữa cấp trung ương và cấp địa phương, trong đó tăng cường vai trò của cấp trung ương trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn giám sát và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của các địa phương
Chức năng và nhiệm vụ của từng cấp cơ quan Thuế được phân cấp như sau:
- Tổng cục Thuế thực hiện các nhiệm vụ: Tham gia nghiên cứu, xây dựng
các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế theo phân cấp của Bộ Tài chính để hướng dẫn thực hiện trong phạm vi cả nước; Nghiên cứu, xây dựng các quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các quy trình, biện pháp nghiệp vụ, quản lý biên chế, kinh phí, bảo đảm thống nhất trong toàn ngành Thuế Tổng cục Thuế cũng thực hiện chỉ đạo cơ quan Thuế các cấp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật thuế, trực tiếp tổ chức thanh tra thuế đối với những ĐTNT lớn, có phạm vi kinh doanh đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương hoặc quốc tế
- Cục Thuế: Bên cạnh nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo các Chi cục Thuế thực
hiện các chức năng quản lý thu thuế trên địa bàn, còn trực tiếp quản lý thu thuế đối với các DN lớn và vừa, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều quận huyện, tỉnh, thành phố; các DN thuộc diện phải hoàn thuế GTGT; quản lý những nguồn
Trang 29thu lớn, quan trọng, gồm các sắc thuế: GTGT, TTĐB, TNDN, TNCN theo phương pháp khấu trừ tại nguồn, các khoản phí, lệ phí của các tổ chức, DN thuộc tỉnh, thành phố quản lý Thực hiện chức năng thanh tra đối với tất cả các DN trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Chi cục Thuế: Trực tiếp quản lý thu thuế đối với các tổ chức, cá nhân nộp
thuế còn lại, đó là các DN có quy mô nhỏ, các ĐTNT TNCN (không qua khấu trừ tại nguồn), các khoản thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, các loại phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn huyện Chi cục Thuế thực hiện tất cả các chức năng quản lý thu thuế, trừ nhiệm vụ thanh tra thuế
Theo khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ đã được xác định, cơ cấu tổ chức của
hệ thống Chi cục Thuế được kiện toàn theo hướng:
- Thành lập mới và kiện toàn các bộ phận quản lý thu thuế theo chức năng gồm: bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ; bộ phận xử lý kê khai và kế toán thuế; bộ phận
quản lý nợ và cưỡng chế thuế; bộ phận thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm về thuế để thực hiện quản lý thu thuế theo chức năng trong toàn bộ hệ thống thuế
- Thành lập mới và kiện toàn hệ thống tư vấn pháp chế để giúp thủ trưởng
cơ quan Thuế các cấp quyết định xử lý hành chính thuế đúng quy định pháp luật thuế, xử lý các tranh chấp, tố tụng về thuế tại toà án
- Thành lập bộ phận kiểm tra giám sát nội bộ để giúp thủ trưởng cơ quan
Thuế các cấp kiểm tra việc chấp hành công vụ của đội ngũ cán bộ thuế
- Sáp nhập các bộ phận có chức năng tương tự như nhau vào một bộ phận;
lồng ghép các nhiệm vụ quản lý thu thuế mà khối lượng công việc không nhiều vào một bộ phận cơ cấu để giảm thiểu các các đầu mối quản lý thu thuế
- Phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận cơ cấu, khắc phục tình trạng cùng một loại việc nhưng có nhiều bộ phận cùng thực hiện
1.4 Quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
1.4.1.Yêu cầu về nội dung của quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế
Quy trình quản lý thu thuế là một bộ phận hợp thành các thủ tục hành chính thuế tương ứng với một cơ chế quản lý thuế nhất định Quy trình quản lý thể hiện
Trang 30các thủ tục hành chính cơ bản phải thực hiện; thứ tự các bước công việc phải hoàn thành; trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận hành thu; phương pháp và kỹ thuật
xử lý các quy trình trong điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị thích hợp
Quy trình quản lý thu thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế phải hàm ý được
sự thuận tiện, sự lô-gic, sự khác biệt so với quy trình quản lý của các cơ chế quản
lý hành thu khác Thể hiện được sự cải tổ bộ máy theo hướng chức năng Đó là: chức năng tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; chức năng tiếp nhận, xử lý tờ khai, kế toán thuế; chức năng thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thu nợ thuế Với các chức năng
cơ bản này, một hệ thống các quy trình quản lý thu theo sự phân đoạn tương đối về các thủ tục hành chính đã được thiết lập và ban hành làm cơ sở cho việc thực hiện các khâu nghiệp vụ ở các bộ phận có liên quan
Để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, các quy trình quản lý được cải cách theo hướng hiện đại với sự hỗ trợ lớn của CNTT Các quy trình này được xây dựng phù hợp với bộ máy tổ chức theo mô hình chức năng và thể hiện nguyên tắc quản lý theo rủi ro Đồng bộ với việc xây dựng các quy trình mới là việc đẩy mạnh các nghiệp vụ quản lý theo từng chức năng quản lý
1.4.2 Các bước của quy trình nghiệp vụ quản lý thuế
Bước 1: Tuyên truyền, hỗ trợ cơ sở sản xuất, kinh doanh hiểu và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thuế và cơ chế tự khai, tự nộp thuế theo quy định của Pháp luật này
Bước 2: Theo dõi việc kê khai, nộp thuế của cơ sở sản xuất, kinh doanh; thông báo, nhắc nhở hoặc xử lý theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp kê khai, nộp thuế chậm
Bước 3: Thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời theo thẩm quyền các hành vi
Trang 311.5 Kinh nghiệm áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp trong quản lý thu thuế ở một
số quốc gia và một số địa phương
1.5.1 Một số quốc gia
1.5.1.1 Cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở Mỹ
Để thực hiện thành công cơ chế tự khai, tự nộp thuế, cơ quan Thuế của Mỹ
đã xây dựng được một hệ thống pháp luật và cơ chế hành thu rất chặt chẽ
Thứ nhất, Luật thuế của Mỹ quy định cụ thể, rõ ràng quyền và nghĩa vụ của
ĐTNT Điều này vừa thúc đẩy tính tự giác, tuân thủ tự nguyện của NNT, vừa nâng cao tính dân chủ trong việc thực thi pháp luật thuế
Trong Luật thuế quy định cụ thể NNT có nghĩa vụ phải tự xác định thu nhập gộp, các khoản khấu trừ, giảm trừ được phép và tính toán số thuế phải nộp Ngoài
ra, NNT còn phải có nghĩa vụ thông báo các thông tin về thuế một cách đúng hạn
và đệ trình việc thanh toán
Đi đôi với việc thực hiện nghĩa vụ thuế, NNT có quyền được trợ giúp trong việc tự kê khai, tự nộp thuế Ngoài ra NNT còn được quyền sử dụng đại lý kê khai thuế (1/2 số NNT ở Mỹ đã sử dụng dịch vụ này) và quyền khiếu nại về thuế NNT
có thể khiếu nại ở ba cấp: Khiếu nại tại cơ quan Thuế địa phương, khiếu nại tại toà
án thuế và khiếu nại tại toà án Quận hoặc yêu sách
Thứ hai, Cơ quan Thuế được quyền áp dụng các chế tài xử lý rất nghiêm
khắc theo quy định của Luật thuế để đảm bảo tính tuân thủ của ĐTNT trong việc tự
kê khai, tự nộp thuế Mục tiêu đề ra của Cục thu nội địa Mỹ (IRS) là đạt mức tuân thủ luật 90%
Các hành vi kê khai chậm nộp thuế trong tháng có thể bị phạt bằng 5%-25%
số thuế kê khai chậm nộp Nếu kê khai thiếu chính xác mức phạt bằng 20% số thuế được xác định theo luật định Còn mức phạt đối với hành vi kê khai không nghiêm túc có thể bị toà án thuế phạt đến 5.000 đôla Những NNT liên quan đến việc trốn thuế sẽ bị phạt đến 100.000 đôla hoặc có thể bị phạt tù đến 5 năm
Thứ ba, để nâng cao tính tự giác, tuân thủ của ĐTNT thì ngoài việc áp dụng
các chế tài nghiêm khắc, IRS áp dụng nhiều biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận
Trang 32lợi cho NNT tự kê khai nộp thuế Chẳng hạn như đơn giản hoá cả trong chính sách thuế và thủ tục chấp hành luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT Thường xuyên nghiên cứu và sửa đổi các chính sách, thủ tục chấp hành luật thuế theo hướng đơn giản, minh bạch Áp dụng các biện pháp thích hợp cải thiện sự chấp hành tự nguyện của ĐTNT
Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra của cơ quan Thuế
Hàng năm có khoảng 1-1,5% số tờ khai thuế thu nhập cá nhân được IRS chọn ra để thanh tra Đầu tiên thông qua hệ thống chức năng phân biệt (DIF) khoảng 2/3 số tờ khai được lựa chọn để đưa vào máy tính xử lý Trong số này sẽ có khoảng 10% tờ khai bị coi là “có vấn đề” cần được thanh tra Tiếp theo cán bộ thuế sẽ trực tiếp kiểm tra lại để xác định khả năng sai sót Sau khi cán bộ thuế kiểm tra, số tờ khai phải thanh tra sẽ được giảm bớt xuống còn khoảng 1% Ngoài ra IRS còn đưa ra nhiều chương trình, hoạt động khác như: Chương trình đánh giá tuân thủ luật (TCMP), chương trình chuyên môn hoá thị trường, thanh tra tình trạng tài chính, các hoạt động điều tra tội phạm để cập nhật dữ liệu thông tin từ đó có cơ sở chắc chắn về tính hợp lý trong kê khai của NNT
Thứ năm, nhằm khuyến khích sự kiểm soát lẫn nhau của các thành viên
trong xã hội, IRS chấp nhận thanh toán một khoản phí cho những người cung cấp thông tin về trường hợp gian lận trong kê khai nộp thuế Đây là biện pháp rất hiệu quả đối với những hành vi cố tình gian dối mà cơ quan Thuế không thể phát hiện nếu không có người cung cấp thông tin Hàng năm ở Mỹ thu được hàng trăm triệu đôla nhờ những thông tin này
1.5.1.2 Cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở Nhật Bản
Chính phủ Nhật đã tiến hành công cuộc cải cách thuế trong nhiều năm như sau:
Thứ nhất, hiện đại hoá cơ cấu thuế của thuế TNCN và giảm gánh nặng thuế
thu nhập sẽ giúp xoá bỏ sự không thiện chí của NNT về thuế và giảm bớt số lượng ĐTNT
Thứ hai, thực hiện việc đơn giản hoá thủ tục hành chính và tăng cường tính
tuân thủ của cả cơ quan Thuế và NNT
Trang 33Thứ ba, thay đổi mẫu tờ khai thuế đơn giản hơn để tạo điều kiện thuận lợi
cho nhiều đối tượng loại nhỏ
Thứ tư, phát triển hệ thống tư vấn thuế cho phù hợp với thực hiện cơ chế tự
khai, tự nộp thuế Cùng với sự phát triển của CNTT, dịch vụ tư vấn miễn phí của
cơ quan Thuế ngày càng đa dạng nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho ĐTNT thực hiện kê khai nộp thuế
Thứ năm, áp dụng chương trình ưu đãi về thuế đối với các ĐTNT thực hiện
việc kê khai thuế dựa theo các chuẩn mực kế toán bắt buộc nhằm tăng cường việc
sử dụng sổ sách kế toán của đối ĐTNT
Thứ sáu, sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu tự động và quản lý tổng hợp thuế
trên toàn quốc Hệ thống này đã được tin học hoá quá trình tính và thu thuế, xử lý, lựa chọn tờ khai cho thanh tra và quản lý số thu
Thứ bảy, công tác điều tra thuế được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích rủi ro
Điều này sẽ giúp cho việc điều tra thuế có trọng tâm, trọng điểm tránh tràn lan, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thu thuế Cơ quan Thuế có quyền cưỡng ép và điều tra theo phương pháp của cảnh sát hình sự khi điều tra tội phạm có liên quan đến hành vi gian lận về thuế
1.5.2 Một số địa phương phía Bắc
Quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở Quảng Ninh
Để tạo điều kiện cho NNT thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế theo quy định, Cục Thuế Quảng Ninh đã gửi ĐTNT tờ khai thuế GTGT, TNDN để kê khai và nộp cho cơ quan Thuế trực tiếp hoặc qua bưu điện Cơ quan Thuế đã theo dõi sát sao, kịp thời phát hiện các sai sót để hướng dẫn ĐTNT chỉnh sửa Bên cạnh đó, các lỗi sai sót của DN còn được bộ phận xử lý tờ khai tổng hợp nhằm đánh giá ý thức tuân thủ của ĐTNT, cung cấp cho bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ để có biện pháp tư vấn,
hỗ trợ cho DN nâng cao dần chất lượng kê khai
Bộ phận đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế tại Cục Thuế Quảng Ninh đã tiến hành rà soát, theo dõi số thuế tồn về mức nợ, thời gian nợ, phân loại nợ của các
Trang 34DN, bao gồm: nợ thông thường, nợ do sát nhập, giải thể, nợ do khoanh nợ, chờ xóa nợ để có các biện pháp phù hợp
Đổi mới công tác quản lý thu thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan Thuế không thực hiện dàn trải ở tất cả các DN mà tập trung ở các đối tượng có độ rủi ro cao nhất đối với NSNN Thực hiện việc phân loại ĐTNT theo quy mô lớn, vừa và nhỏ, phân tích thông tin cơ bản để lựa chọn các ĐTNT cho thanh tra trên cơ sở một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro chủ yếu, dựa vào các thông tin trên cơ sở dữ liệu của ngành
Tóm lại, có thể thấy những thành công cơ bản của việc quản lý thu thuế theo
cơ chế tự khai, tự nộp ở Quảng Ninh ở một số điểm sau:
Một là, đã thiết lập được mối quan hệ bình đẳng giữa cơ quan Thuế và NNT
Từ đó, NNT đã nâng cao được ý thức tuân thủ pháp luật thuế và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
Hai là, sự thông thoáng về các thủ tục kê khai, báo cáo đã góp phần giảm
bớt chi phí quản lý cho cả cơ quan Thuế và DN Việc giảm bớt thủ tục kê khai thuế giúp cho DN giảm bớt thủ tục và có điều kiện về thời gian để chuẩn bị tờ khai thuế chu đáo hơn Bên cạnh đó, cơ chế quản lý thu thuế mới còn giúp cơ quan Thuế thực hiện cải cách thủ tục hành chính, sắp xếp bộ máy quản lý thu thuế theo các chức năng chuyên sâu
Ba là, đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thu thuế, rà
soát nắm chính xác số nợ thuế của từng ĐTNT, nguyên nhân và khả năng thu hồi đối với từng khoản nợ Xây dựng chế độ kế toán tài khoản thuế của ĐTNT, quy định rõ ràng nghiệp vụ xử lý dữ liệu về thuế có liên quan đến nghĩa vụ thuế, thanh toán thuế, tính nợ, tính phạt của ĐTNT được thực hiện thống nhất trong toàn ngành
và công khai cho ĐTNT biết
1.6 Bài học kinh nghiệm chung
Việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế là xu hướng tất yếu trong điều kiện quản lý thu thuế hiện nay Để đảm bảo sự thành công của cơ chế này cơ quan Thuế cần phải trang bị hoàn chỉnh cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý theo
Trang 35cơ chế mới Nước Nhật do áp dụng vội vàng, thiếu thời gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết nên thất bại trong những năm đầu áp dụng Nước Anh đã dành hai năm để chuẩn bị trước khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế, bao gồm việc tuyên truyền hướng dẫn ĐTNT làm quen với mẫu tờ khai mới, cách thức quản lý mới; đào tạo cán bộ về những thay đổi mới của luật; chuẩn bị phần mềm ứng dụng phục vụ quản
lý theo cơ chế mới nên đã thành công
Cơ quan Thuế cần hoàn thiện các cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Xây dựng hệ thống luật thuế, tờ khai thuế đơn giản, rõ ràng, thu hẹp dần các trường hợp miễn thuế
Các hình thức xử phạt đối với các trường hợp không tuân thủ các yêu cầu về thuế cần đủ nghiêm khắc để ngăn chặn các trường hợp không tuân thủ (ở Anh áp dụng hình thức phạt luỹ kế khi ĐTNT chậm nộp thuế)
Quy định các biện pháp thu nợ, cưỡng chế thuế có hiệu lực và hiệu quả bao gồm trình tự, thủ tục để thực hiện các biện pháp thu nợ, cưỡng chế thuế; trách nhiệm của cơ quan Thuế, các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện các biện pháp này
Cơ quan Thuế cần chuyển đổi về cơ cấu tổ chức, sắp xếp lại bộ máy tổ chức quản lý thu thuế chuyên sâu theo chức năng Trong đó đặc biệt chú trọng tới hai chức năng tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT và chức năng thanh tra, kiểm tra Đây là hai chức năng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của cơ chế tự khai, tự nộp thuế (ở Anh số cán bộ thuế làm công tác tuyên truyền chiếm đến 28%, công tác thanh tra là 31%)
Áp dụng phương pháp phân loại ĐTNT và quản lý theo tuân thủ Việc phân chia ĐTNT như vậy sẽ tạo điều kiện để cơ quan Thuế tìm hiểu rõ hơn về hành vi
và nhu cầu của từng nhóm đối tượng, từ đó có chiến lược hợp lý để cải thiện việc tuân thủ phù hợp với từng nhóm
Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT: Qua kinh nghiệm của một
số nước cho thấy chiến lược lâu dài và hiệu quả nhất của quản lý thu thuế nhằm
Trang 36làm tăng sự tuân thủ tự nguyện của NNT là thông qua tăng cường các dịch vụ hỗ trợ ĐTNT Sự tuân thủ tự nguyện của ĐTNT chính là nền tảng của hệ thống quản
lý thu thuế hiện đại
Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra: Quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, việc thanh tra, kiểm tra được thực hiện trên cơ sở phân tích rủi
ro về ĐTNT (chỉ chọn những đối tượng có độ rủi ro cao nhất để tiến hành thanh tra) Chẳng hạn ở Mỹ, việc lựa chọn đối tượng thanh tra được thực hiện thông qua:
hệ thống chức năng phân biệt, chương trình đánh giá tuân thủ, chương trình thanh tra thực trạng tài chính và việc cung cấp thông tin từ các đối tượng bên ngoài
Ứng dụng tối đa CNTT trong quản lý thu thuế: Có thể nói, thành công của các nước khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế, một phần là do ứng dụng có hiệu quả thành tựu của CNTT vào công tác quản lý thu thuế CNTT sẽ giúp cho cơ quan Thuế xác minh việc tuân thủ của ĐTNT, thông tin về ĐTNT, tiến hành thanh tra, kiểm tra trên mạng Vì vậy, ứng dụng CNTT trong quản lý thu thuế là điều kiện quan trọng để thực hiện thành công cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THEO CƠ CHẾ
TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN
GIAI ĐOẠN 2010-2014 2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội huyện Kinh Môn
2.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên huyện Kinh Môn
Kinh Môn là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hải
Dương, có diện tích tự nhiên 8.331,24 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Đông giáp TP Hải Phòng
Với vị trí quan trọng và thuận tiện cho việc buôn bán, giao lưu, lại nằm trên
đường ra cảng biển Hải Phòng hoặc Quảng Ninh, hàng năm Kinh Môn thu hút một
khối lượng hàng hoá khá lớn So với khu vực đồng bằng Bắc bộ thì kinh tế Kinh
Môn phát triển hơn cả cũng nhờ vị trí quan trọng và thuận tiện này
Vị trí giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch
vụ thương mại và du lịch trên địa bàn huyện
Do ưu thế về giao thông qua đó có thể dễ dàng, nhanh chóng lưu chuyển hàng hoá, khách du lịch đi các vùng khác trong cả nước cũng như các nước
ASEAN Kinh Môn ngày càng có vị trí quan trọng đối với thị trường trong nước và
ngoài nước Đây là một trong những cơ hội thuận lợi phục vụ chiến lược phát triển
kinh tế hướng ngoại của huyện Kinh Môn Dân số Kinh Môn năm 2013 là 757,6
ngàn người, trong đó chủ yếu là nông nghiệp Khí hậu, thổ nhưỡng và tài nguyên
Kinh Môn mang đặc trưng của vùng khí hậu á nhiệt đới rất thích hợp với các loại
cây trồng ôn đới, á nhiệt đới và nhiệt đới Đặc biệt là cây vụ đông hành, tỏi là
những sản phẩm đặc trưng của huyện Kinh Môn, đồng thời có trữ lượng lớn về đá
vôi, có điều kiện phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng
Huyện Kinh Môn có 22 xã và 03 thị trấn Trung tâm huyện là thị trấn Kinh Môn
Trang 382.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010-2014
* Lĩnh vực kinh tế
Kinh tế huyện Kinh Môn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tích cực Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn
2008-2014 đạt 10,04%, năm 2009 đạt 10,34%, năm 2010 đạt 11,58%, năm 2011 đạt
12,08%, năm 2012 đạt 9,52%, trong đó: nông lâm nghiệp tăng 5,04%, công nghiệp
- xây dựng tăng 13,33%, dịch vụ tăng 10,98% Cơ cấu kinh tế: nông lâm nghiệp
41,1%, công nghiệp - xây dựng: 20,54%, dịch vụ: 38,36% Năm 2014 thu nhập
bình quân đầu người đạt 13,3 triệu đồng
GDP huyện Kinh Môn từ năm 2010-2014 có sự tăng đều qua các năm Năm
2012 tăng 23,11% so với năm 2010, mức tăng là 1.541 tỷ đồng Sang năm 2014
GDP huyện Kinh Môn tiếp tục tăng 3.409 tỷ đồng , tỷ lệ 51,13%
Sản xuất nông, lâm nghiệp năm 2014 đạt kết quả khá Tổng sản lượng lương
thực 283,7 ngàn tấn, tăng 3% so với năm 2012 Các loại cây công nghiệp ngắn
ngày và rau màu tăng mạnh cả về diện tích và sản lượng như cây vụ đông hành,tỏi
Trang 39tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm, tập trung chỉ đạo Diện tích trồng rừng mới 11.839 ha, đạt 103% kế hoạch, tăng 0,9% so với năm trước, độ che phủ của rừng 48,1% Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực, dần hình thành một số vùng cây chuyên canh có giá trị và chất lượng cao
Sản xuất công nghiệp tương đối ổn định và đạt mức tăng trưởng nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 15-18%, dần hình thành và ổn định phát triển một số cơ sở công nghiệp mũi nhọn, quy mô tương đối lớn như cơ sở khai thác vật liệu xây dựng, Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Nhà máy xi măng Phúc Sơn, các
cơ sở khai thác đá xây dựng và một cơ sở luyện gang thép của tập đoàn Hòa Phát Hiện trên địa bàn huyện đang xúc tiến triển khai xây dựng một số khu, cụm công nghiệp quy mô từ 30 ha trở lên Chính sách hỗ trợ kích cầu đầu tư bước đầu đã có tác dụng, tạo điều kiện cho DN ổn định sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động
Năm 2014 kinh tế địa bàn huyện Kinh Môn đạt khá Thương mại nội địa tiếp tục phát triển, các loại hình dịch vụ và hệ thống kênh phân phối tương đối đa dạng, năng động cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng cao Hoạt động du lịch đạt mức tăng khá, thu hút khách du lịch
Công tác xúc tiến đầu tư, phát triển DN có chuyển biến tiến bộ, đã tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Khu công nghiệp Hiệp Sơn Trong năm có
180 DN đăng ký thành lập mới, tổng vốn đăng ký khoảng 650 tỷ đồng, tăng 14,65% Uỷ ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo triển khai xây dựng Khu công nghiệp và đã đạt một số kết quả bước đầu
Từ điều kiện thực tế và tình hình phát triển như đã nêu trên, dự báo đến năm
2020, cơ cấu kinh tế của huyện Kinh Môn: Nông, lâm nghiệp 37,5%, Công nghiệp
- xây dựng 24,5%, Dịch vụ 39% Năm 2014 thu nhập bình quân đầu người đạt 14,9 triệu đồng, phấn đấu đến năm 2020 thu nhập bình quân đầu người đạt 19,5 triệu đồng [14]
Trang 40*Lĩnh vực văn hoá - xã hội
Quy mô giáo dục và đào tạo được giữ vững Công tác dạy và học tiếp tục
được đổi mới, đẩy mạnh giáo dục toàn diện, trú trọng giáo dục đạo đức, lối sống và pháp luật Kết quả phổ cập giáo dục tiếp tục được củng cố; số trường học đạt chuẩn quốc gia vượt kế hoạch; cơ sở vật chất trường lớp học từng bước được tăng cường, nhất là chương trình kiên cố hóa trường lớp học
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực; cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế được tăng cường, các bệnh viện tuyến huyện đang được đầu tư nâng cấp, mở rộng; chất lượng chuyên môn của đội ngũ y, bác sỹ được nâng lên Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tiến hành định kỳ thường xuyên; Công tác y tế dự phòng, phòng chống các bệnh xã hội được tăng cường
Cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả của cơ quan hành chính các cấp Ủy ban nhân dân huyện đã tích cực chỉ đạo các ngành, các đơn vị thực hiện thống kê, rà soát thủ tục hành chính theo Quyết định số 30/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tiến hành rà soát
và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế "một cửa", tổ chức triển khai cơ chế "một cửa liên thông" trong một số lĩnh vực có đủ điều kiện Kết quả là thủ tục hành chính ở nhiều cơ quan, đơn vị đã từng bước được đơn giản hoá, thời gian giải quyết công việc được rút ngắn, tinh thần trách nhiệm của CBCC thực thi công vụ được nâng lên, bộ máy vận hành nhịp nhàng, thông suốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và DN
Tóm lại, nền kinh tế của huyện Kinh Môn tiếp tục được duy trì và phát triển với nhịp độ tăng trưởng khá; nhiều lĩnh vực kinh tế đã tăng lên đáng kể, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, từng bước khai thác và phát huy được tiềm năng, thế mạnh của huyện Tuy vậy, Kinh Môn vẫn là một huyện nghèo, tốc độ đô thị hóa còn chậm, sản xuất công nghiệp nhỏ bé, các hiện tượng như buôn lậu, gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp, thu nhập bình quân đầu người chưa cao Những vấn đề trên đã tác động không nhỏ đến quản lý thu thuế trên địa bàn huyện Kinh Môn Yêu cầu đạt ra cho cơ quan Thuế làm sao để thu đúng, thu đủ, thu kịp