CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1Tín dụng 1.1.1 Khái niệm về tín dụng “Tín dụng được xem là một hoạt động giao dịch về tài sản, tài sản
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Rủi ro tín dụng luôn là n ổi lo lắng cho các ngân hàng Dù xẩy ra ít hay nhiều thì nó cũng làm giảm lợi nhuận cũng như giảm nguồn vốn tự có của các ngân hàng
Do vậy, nếu rủ i ro tín du ̣ng không đư ợc kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ các khoản cho vay mất vốn tăng lên quá cao, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản Theo nghiên cứu của Corsetti được thực hiện năm 1998 thì chính khủng hoảng tài chính là nguyên nhân quan trọng nhất trong việc dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân hàng tăng cao là một trong những yếu tố chính dẫn đến khủng hoảng Trước khi khủng hoảng xẩy ra thì tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân hàng thương mại Thái Lan là 13%, Indonesia là 13%, Phillipines là 14%, Malaysia là 10%
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm 2007 – 2009 vừa qua cho thấy
sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ với xuất phát điểm đầu tiên là từ rủi ro tín dụng gây ra Theo công bố của cục dự trữ liên bang Mỹ, hàng loạt ngân hàng lâu đời và có tiềm lực tài chính mạnh vào bậc nhất thế giới vẫn không thể thoát nổi Chỉ có 26 ngân hàng phá sản trong năm 2008 nhưng năm 2009 con số này đã lên tới 140 ngân hàng – một con số không hề nhỏ
Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng đặc biệt có mục đích đưa chính sách ưu đãi tín dụng đến các hộ nghèo và các đối tượng chính sách Hoạt động của ngân hàng không đưa mục đích lợi nhuận lên hàng đầu mà nhằm giúp giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Tuy nhiên không phải vì thế mà các ngân hàng này
lơ là với rủi ro tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng càng tốt, thì kết quả đầu tư càng cao hay nói khác hơn điều này dẫn đến mục tiêu của Đảng và Nhà nước ổn định xã hội càng có kết quả tốt Có quản lý tốt, đầu tư hợp lý thì đời sống người dân mới được cải thiện đảm bảo dân giàu nước mạnh
Quá trình hoạt động vừa qua, ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú, HCM đã gặt hái được nhưng thành công nhất định Đã có hàng trăm hộ thoát nghèo vươn lên làm giàu Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động cho vay hộ nghèo tại
Trang 2đây hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn hạn chế như nguồn vốn huy động thiếu tính
ổn định cũng như qui mô cho vay còn nhỏ, thêm vào đó điều kiện cho vay còn thiếu rõ ràng, và đặc biệt, thủ tục cho vay còn rườm rà
Để nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động cho vay hộ nghèo nói chung và hạn chế rủi ro xẩy ra, cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú tại thành phố HCM cần tìm được các giải pháp thiết thực phù hợp nhất, thiết thực nhất để hạn chế tối đa việc xẩy ra rủi ro tín dụng
Với ý nghĩa trên, là một cán bộ đang công tác lâu năm trong ngành tại ngân hàng chính sách Quận Tân Phú, tác giả mạnh dạn đóng góp quan điểm của mình
qua đề tài: “Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú” với hy vọng tìm được các giải pháp phù
hợp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hạn chế rủi ro tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ thực hiện các nội dung nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản trị rủi ro tín dụng
- Thứ hai, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
Trang 34.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài chọn nghiên cứu cán bộ, nhân viên và khách hàng đã sử dụng dịch vụ tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
- Thời gian: Từ năm 2012- 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp: chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp từ các dữ liệu thứ cấp để phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú Nguồn dữ liêu thứ cấp được thu thập từ các số liệu báo cáo của Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú số liệu thống kê báo cáo của tổng cục thống kê,
số liệu trên web, các báo cáo tình hình kinh tế xã hội, các đề tài liên quan; sách báo, tạp chí chuyên ngành
Phương pháp nghiên cứu theo hướng tư duy logic: đi từ lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bảng, hình vẽ và biểu đồ, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng
- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN
TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1Tín dụng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
“Tín dụng được xem là một hoạt động giao dịch về tài sản, tài sản này có thể
là tiền hoặc hàng hoá, giữa bên cho vay (có thể là ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiêp (DN) và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao phần tài sản của mình cho bên đi vay, bên đi vay được sử dụng tài sản đó trong một thời hạn nhất định như theo thỏa thuận đồng thời bên đi vay có trách nhiệm sẽ thực hiện hoàn trả vô điều kiện phần vốn
gốc và lãi cho bên cho vay khi đến thời gian thanh toán” [3] Từ nội dung trên cho
thấy, hoạt động tín dụng là việc mà tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có của mình hoặc nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho một đối tượng khác đang
cần
Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động mà tổ chức tín dụng đồng ý để khách hàng được quyền sử dụng một khoản tiền và hoàn trả cho mình với khoản tiền đó cộng thêm một phần lợi nhuận mà hai bên đã thỏa thuận Hoạt động này được thực hiện bằng các nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ chiết khấu hay cho thuê tài chính, bảo
lãnh ngân hàng hoặc các dịch vụ khác
Từ phân tích trên, tác giả kết luận rằng: Cho vay cũng là một hình thức cấp tín dụng trong đó tổ chức tín dụng sẽ giao cho khách hàng được sử dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định Tuy nhiên khách hàng phải thực hiện hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận
1.1.2 Bản chất tín dụng
Khái niệm tín dụng xuất phát từ thuật ngữ La tinh “credittum”, thuật ngữ này
có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm Quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển lâu đời với sự phát triển lâu dài của xã hội Tuy nhiên, dù ở trong bất kỳ môi
Trang 5trường xã hội nào, đối tượng trao đổi trong mối quan hệ này có thể là hàng hóa hoặc tiền tệ thì bản chất của tín dụng được thể hiện qua các nội dung sau:
- Quan hệ tín dụng này thực chất là quan hệ vay mượn của hai bên
- Niềm tin và sự hoàn trả là nền tảng để thực hiện quan hệ tín dụng
Tuy nhiên, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức
cho thuê tài chính” [3]
“Nếu căn cứ theo thời gian cho khách hàng vay thì hoạt động này được chia thành hoạt động cho vay ngắn hạn; hoạt động cho vay trung hạn và hoạt động cho
vay dài hạn” [3]
“Căn cứ vào niềm tin đối với khách hàng thì hoạt động này chia thành cho
vay không bảo đảm và cho vay có bảo đảm” [3]
“Nếu căn cứ vào phương pháp hoàn trả thì hoạt động tín dụng được chia thành hoạt động cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp: chiết khấu thương mại; mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp; nghiệp vụ
bao thanh toán (nghiệp vụ factoring); bảo lãnh….”[3]
1.2.Rủi ro tín dụng
1.2.1.Các khái niệm về rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt được quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng mà còn trong toàn nền kinh tế Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng, gồm:
Trang 6Theo hai nhà kinh tế “A Saunder và H Lange [Financial Institutions Management – A Modern Perpective]” [2] thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là
“khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian” [2] Theo quan niệm của ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận” [2] [Basel Committee on Banking Supervision (September 2000), Principal for the Management of Credit Risk] [2] Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu đơn giản
là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay
Theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [2] [quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005] Như vậy, từ nhiều định nghĩa khác nhau, đa dạng, có thể tóm lược nội dung về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết
1.2.2.Phân loại rủi ro tín dụng:
Cơ cấu thành phần của rủi ro tín dụng bao gồm (i) Rủi ro giao dịch (Transaction risk) và (ii) Rủi ro danh mục (Portfolio risk) [Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, nhà xuất bản Thống kê]
1.2.2.1 Rủi ro giao dịch
Rủi ro giao dịch có 3 thành phần là: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
Trang 7+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định, phân tích tín dụng của ngân hàng để lựa chọn khách hàng cấp tín dụng Trong quá trình này, ngân hàng rất dễ mắc phải sự lựa chọn sai lầm do hiện tượng “thông tin bất cân xứng” xuất hiện
+ Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm cho giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng được diễn ra một cách suôn sẻ và an toàn cho ngân hàng Các quy định hoặc tiêu chuẩn về tài sản bảo đảm, vốn tự có đối ứng, các thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng là nhằm hạn chế rủi ro trong giai đoạn này
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến các thao tác trong quá trình thực hiện khoản tín dụng Ở đây những sai sót của nhân viên cấp tín dụng trong quá trình giải ngân, giám sát theo dõi khoản tín dụng có thể là xuất phát điểm cho các rủi ro từ đạo đức của khách hàng nảy sinh Chẳng hạn việc lơ là không thực hiện các giám sát sau khi giải ngân, có thể khiến người vay nảy sinh ý đồ sử dụng sai mục đích, làm thất thoát tiền vay, việc bỏ qua các thủ tục pháp lý cần thiết trước khi giải ngân cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc chiếm dụng vốn từ phía khách hàng
1.2.2.2 Rủi ro danh mục
Rủi ro danh mục được phân ra hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể
đi vay hoặc ngành kinh tế Chẳng hạn như biến cố rủi ro từ thiên tai, mất mùa đặc trưng trong ngành nông nghiệp, hoặc yếu tố tồn kho ứ đọng trong ngành công nghiệp, xây dựng…Vì gắn liền với chủ thể /đối tượng được cấp tín dụng nên rủi ro nội tại là yếu tố không thể triệt tiêu được
+ Rủi ro tập trung xuất phát từ việc dồn vốn cho một số ít khách hàng, một số ngành kinh tế hẹp, một số loại hình cho vay hoặc một khu vực địa lý, đi ngược lại với nguyên tắc đa dạng hóa để phân tán rủi ro Cũng vì sự xuất hiện của rủi ro nội tại và đặc tính không thể triệt tiêu của rủi ro nội tại nên việc đa dạng hóa để hạn
Trang 8chế và kiểm soát rủi ro tập trung là vấn đề cần thiết đối với các ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Để nghiên cứu rủi ro tín dụng, cần phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến rủi ro các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng
1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan
Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
+ Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế Quá trình
tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh trạnh của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp nguy
cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
+ Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành Tình trạng này cũng có thể kéo theo việc tập trung đầu tư tín dụng quá mức của các ngân hàng thương mại cho một số ngành kinh tế “thời thượng” nào đó, như kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán…và hệ quả không tránh khỏi là rủi ro tín dụng tập trung trên danh mục của các ngân hàng thương mại
+ Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Ở các quốc gia đang phát triển, trong đó
có Việt Nam, sự cạnh tranh diễn ra một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với
Trang 9sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hóa lao động, thể hiện sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước
+ Khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng tình hình kinh tế vĩ mô trong nước dẫn đến các trường hợp bất ổn về các chỉ số tài chính như lạm phát cao, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái không ổn định… có thể là các tác nhân dẫn đến rủi ro trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các khách hàng) cho ngân hàng
Rủi ro do môi trường pháp lý không thuận lợi
+ Sự chồng chéo, kém hiệu quả của hệ thống văn bản pháp luật nhà nước, hành lang pháp luật yếu, thường xuyên thay đổi và không đồng bộ, việc thực thi pháp luật một cách chậm chạp có thể là một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến rủi ro cho các ngân hàng thương mại Đây là điều không tránh khỏi tại các quốc gia kém hoặc đang phát triển
+ Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của cơ quan giám sát ngân hàng Đây là nhân tố có tác động hai chiều đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại Ở chiều tích cực, nếu cơ quan giám sát ngân hàng hoạt động có hiệu quả, sẽ tạo ra một hiệu ứng tốt, có tác dụng cảnh báo rủi ro từ xa cho các ngân hàng thương mại Nhưng ngược lại, sự trì trệ yếu kém của cơ quan giám sát ngân hàng có thể tạo tâm lý ỷ lại, thiếu chủ động của các ngân hàng thương mại trong việc phòng chống rủi ro, dẫn đến nhiều khi xử lý rủi ro chậm trễ, hậu quả khắc phục rất thấp
+ Hệ thống quản lý và cung cấp thông tin, hỗ trợ cho hoạt động của các ngân hàng thương mại còn bất cập Chủ trương chính sách quản lý của Ngân hàng nhà nước, các cơ quan có liên quan đến hoạt động của hệ thống ngân hàng mang tính ngắn hạn, hình thức, có định hướng ép buộc hơn là khoa học trong quản lý Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếu các ngân hàng thương
Trang 101.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì,… là các nguyên nhân gây rủi ro tín dụng:
Thứ nhất, khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ ngân hàng
- Khách hàng yếu kém trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính: Trường hợp người vay có trình độ yếu kém về quản lý, không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kỹ lưỡng những rủi ro có thể xẩy ra để nhằm phản ứng một cách chủ động cũng như khắc phục khó khăn trong kinh doanh vì thế sẽ dẫn tới vốn vay không được sử dụng hiệu quả Ngoài ra, việc yếu kém trong quản
lý tài chính có thể dẫn tới trường hợp dù dự án hay quá trình sản xuất kinh doanh
có hiệu quả song nguồn trả nợ ngân hàng sẽ không được đảm bảo Như vậy doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng
- Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Khi người vay gặp những rủi ro từ thị trường (ví dụ nhu cầu về loại sản phẩm của doanh nghiệp bất ngờ giảm sút do một số thông tin bất lợi), từ bạn hàng (ví dụ khách hàng bị bạn hàng chiếm dụng vốn và không hoàn trả đúng thời hạn quy định) hoặc từ những rủi
ro không dự kiến được tác động đến nguồn thu của doanh nghiệp và khả năng trả
nợ ngân hàng
Thứ hai, khách hàng chủ định lừa đảo ngân hàng
- Trường hợp này người vay kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn hoặc không muốn trả nợ ngân hàng Họ chây ì với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt
- Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra Rủi ro đạo đức phát sinh do các hành động có tác động đến hiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan sát được và vì thế những người thực hiện các hành động này có thể chọn theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn hại cho người khác Rủi ro đạo đức trong lĩnh vực tài chính xảy ra sau khi cấp tín dụng, những người được cấp tín dụng luôn có xu hướng muốn thực hiện
Trang 11các đầu tư rủi ro hơn những người cho vay mong đợi, vì chủ đầu tư sẽ có được những khoản lợi nhuận rất lớn nếu dự án thành công, trong khi những người cấp tín dụng chỉ nhận được một khoản lợi ích cố định Ngược lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn do không được hoàn trả đầy đủ
1.2.3.3 Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng
Ngoài những nguyên nhân vừa nêu, rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng cũng
có khả năng rất lớn
Thứ nhất, quan điểm của lãnh đạo điều hành
Rủi ro xẩy ra do ban lãnh đạo ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao Do rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn, nên có một số ngân hàng chấp nhận cho vay những dự án mạo hiểm để thu về lợi nhuận cao Nếu ngân hàng thương mại có quan điểm đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên nhất thì cơ chế quản lý sẽ khuyến khích
và tạo điều kiện để bộ phận có liên quan tìm kiếm, quyết định những khoản cho vay, đầu tư có thu nhập kỳ vọng cao nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn; đồng thời các quy định khác có liên quan về kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá khi quyết định cho vay cũng sẽ đề ra thấp hơn so với tiêu chí về khả năng sinh lời rất được coi trọng Trường hợp ngược lại nếu quan điểm kinh doanh lấy an toàn làm chính thì các quy định về cơ chế quản lý tài sản trong việc thẩm định, xem xét trước khi ra quyết định đầu tư hay cho vay sẽ chặt chẽ hơn, rõ ràng hớn, cụ thể hơn, các tiêu chuẩn để phục vụ cho việc ra quyết định, việc kiểm tra, giám sát cũng được đặt ở mức cao hơn, các ngân hàng thương mại phải biết lựa sức mình để xác định lợi nhuận hợp lý
Thứ hai, sự yếu kém về công nghệ của ngân hàng
Ngày nay trình độ công nghệ là yếu tố quan trọng trong tổ chức kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là đối với quản lý rủi ro tín dụng Khi công nghệ ngày càng cao, thì dự liệu ngân hàng thu thập được sẽ nhiều Đây sẽ là nền tảng giúp cho ngân hàng sàng lọc những khách hàng, ngành nghề đang có mức độ rủi ro cao nhằm hạn chế rủi ro ở từng khách hàng Ngày nay, tất cả các quốc gia đều nhận thấy vai trò to lớn mà công nghệ đem lại do vậy gần như công nghệ ngân hàng gần
Trang 12như được ứng khá phổ biến thể hiện ở mức độ tập trung thông tin, ở khả năng phân tích, xử lý thông tin, từ đó rút các kết luận, nhận định phục vụ cho quản trị ngân hàng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, tình hình phân bổ tài sản, mức độ tập trung rủi ro công nghệ của ngân hàng còn thể hiện khả năng chi phối, kiểm soát đối với hoạt động của các bộ phận tác nghiệp Ở mỗi trình độ công nghệ khác nhau đều phải đòi hỏi một cơ chế quản lý khác nhau
Thứ ba, trình độ của cán bộ ngân hàng
Chất lượng cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc sàng lọc được các khách hàng tốt, dự án tốt Cán bộ tín dụng là người tiếp xúc trực tiếp với nhiều khách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí nhiều quốc gia khác nhau, là người đưa ra các đánh giá tốt hay xấu, rủi ro hay an toàn trong các giao dịch sắp, đang và đã xẩy ra Muốn đưa ra các quyết định đúng đắn về khách hàng thì họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi trường mà khách hàng sống Cán bộ tín dụng phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách hàng vay Như vậy, cán bộ tín dụng phải được đào tạo và tự đào tạo kỹ lưỡng và toàn diện Khi cán bộ tín dụng cho vay đối với khách hàng mà họ chưa đủ trình độ để hiểu kỹ lưỡng rủi ro tín dụng luôn rình rập họ Nguyên nhân rủi ro từ sự yếu kém của đội ngũ nhân viên ngân hàng có thể từ việc: Không phân tích đầy đủ khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng Trong doanh nghiệp vai trò của người lãnh đạo rất quan trọng, sự thành bại trong hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào định hướng và ra quyết định của người lãnh đạo doanh nghiệp đó Nếu cho vay mà không đánh giá đúng khả năng của người quản
lý sẽ dễ dẫn đến tổn thất
Phân tích báo cáo tài chính không chính xác, không biết đánh giá món vay có hiệu quả thật hay sẽ có nhiều rủi ro Với doanh nghiệp nào đó đang trong tình trạng suy thoái mà nhân viên ngân hàng yếu kém trong việc đánh giá phân tích cho vay thì món vay đó sẽ khó thu hồi được
Kiến thức về mặt kinh tế xã hội luật pháp của nhân viên ngân hàng hạn chế, không nắm vững được quy chế thể lệ tín dụng cũng dẫn đến rủi ro Khi người đi
Trang 13vay không lường hết rủi ro mà nhân viên ngân hàng cũng không hiểu biết để tư vấn cho khách hàng thì khi doanh nghiệp bị thua lỗ sẽ không thể trả nợ ngân hàng Việc định kỳ hạn trả nợ không chính xác, sau khi cho vay ngân hàng thiếu sự giám sát theo dõi để người vay sử dụng vốn sai mục đích, không có biện pháp xử
lý kịp thời cũng dẫn đến rủi ro tín dụng
Thứ tư, đạo đức của cán bộ tín dụng
Với các khoản vay càng nhiều rủi ro và không đảm bảo những điều kiện tín dụng, người đi vay thường bỏ ra những khoản “hoa hồng” rất lớn để có thể vay được tiền Vì thực tế này nên đã có một số cán bộ tín dụng cố ý lờ đi các quy định, hay bỏ bớt một số bước của quy trình để móc nối với khách hàng nhằm nhận được khoản tiền “hoa hồng” và chính điều này đã đẩy giao dịch tín dụng đó có rủi ro tăng cao Bởi vậy, chất lượng cán bộ tín dụng bao gồm cả trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp
Thứ năm, yếu kém trong việc phối hợp tác nghiệp
Rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm: Trong giai đoạn trước khi cho vay, trong giai đoạn giải ngân và trong giai đoạn quản lý khoản vay của khách hàng
Ở giai đoạn trước khi cho vay việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, không tốt sẽ dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro tín dụng trong tương lai
Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải ngân không tuân thủ theo điều kiện; yếu kém trong kiểm soát, theo dõi (không kiểm soát mục đích
sử dụng vốn vay của khách hàng, việc kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng bị buông lỏng, việc kiểm soát, theo dõi danh mục khoản vay không được thực thi một cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro tín dụng trong tương lai
Trang 141.2 Quản trị rủi ro tín dụng
1.2.1 Các khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có
hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình NH tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn
Một cách tiếp cận khác, quản trị rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động NH lâm vào tình trạng khó khăn đổ vỡ
Có nhiều khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng, nhưng nên hiểu quản trị rủi ro tín dụng và hiệu quả kinh doanh NH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu chọn giải pháp an toàn, mức rủi ro tín dụng thấp thì lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận tức là hiệu quả kinh doanh kém thì cũng không có ý nghĩa trong quản trị kinh doanh Kinh doanh NH thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng Không bao giờ loại bỏ được hoàn toàn rủi ro tín dụng
mà phải chấp nhận nó ở một mức độ thích hợp
Lợi nhuận và rủi ro tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong một biên độ nhất định nào đó thì lợi nhuận và rủi ro tỷ lệ thuận với nhau, rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn và ngược lại, nhưng nếu vượt quá biên độ này thì rủi ro
sẽ tỷ lệ nghịch với lợi nhuận vì khi đó, lợi nhuận sẽ không đủ bù đắp phần rủi ro quá lớn Điều này tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ rủi ro rất cao cho hoạt động kinh doanh của NH
Vì vậy, hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong NH thương mại chính là lựa chọn một mức độ rủi ro tín dụng thích hợp mà ở đó lợi nhuận đạt được là tối đa
Trang 15Có thể nói RRTD luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ
NH nào, kể cả các NH hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các NH có năng lực quản trị rủi ro tín dụng là khả năng quản trị nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ xây dựng một mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp với môi trường hoạt động để hạn chế được những rủi ro mang tính chủ quan, xuất phát từ yếu tố con người và những rủi ro khác có thể kiểm soát được
Có nhiều phương thức quản trị rủi ro tín dụng nhưng phương thức quản trị rủi
ro tín dụng hiệu quả ngày nay đó là vận dụng các nguyên tắc BASEL II về quản trị rủi ro tín dụng, tuân thủ quy trình quản trị rủi ro theo ISO 31000:2009 gồm nhận dạng đo lường, quản lý, kiểm soát và báo cáo rà soát/giảm nhẹ rủi ro tín dụng, phù hợp thông lệ quốc tế được nhiều NH và các tổ chức quốc tế khuyến khích sử dụng
Các nguyên tắc BASEL II về quản trị rủi ro tín dụng :
Uỷ ban BASEL về Giám sát NH là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động NH được thành lập vào năm 1975 bởi các Thống đốc NH Trung ương của nhóm G10 Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ NH và NH trung ương của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Điển, Vương quốc Anh và Mỹ Giúp việc cho Uỷ ban BASEL
là Ban Thư ký thường trực có trụ sở làm việc tại Washington (Mỹ) Uỷ ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở NH Thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại thành phố BASEL (Thuỵ Sĩ)
Uỷ ban BASEL đã xây dựng và xuất bản hai ấn phẩm:
- Những nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của NH một cách có hiệu quả (hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực về biện pháp thận trọng); và
- Tài liệu hướng dẫn (được cập nhật định kỳ) với các khuyến nghị hiện nay của uỷ ban BASEL, các hướng dẫn và tiêu chuẩn, hầu hết được kèm với các hướng dẫn tham khảo trong tài liệu nguyên tắc cơ bản
Cả hai tài liệu này được coi là nền tảng quan trọng cho ngân hàng trung ương các nước trong việc ban hành các chính sách và quy chế nhằm đảm bảo an toàn và
Trang 16ổn định cho các TCTD, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển và hội nhập
Uỷ ban BASEL đã đưa ra các nguyên tắc về quản trị rủi ro tín dụng (tại ấn phẩm số 75 tháng 09/2000) như sau:
► Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp dựa vào các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và rà soát định kỳ ( ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách về rủi ro tín dụng của NH Chiến lược này phản ánh sức chịu đựng của NH đối với rủi ro và mức độ sinh lời mà NH
dự kiến đạt được khi phải gánh chịu các loại rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 2: Ban điều hành phải có trách nhiệm triển khai thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng do Hội đồng quản trị phê duyệt, và xây dựng chính sách và quy trình để nhận dạng, đo lường, kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng Những chính sách và quy trình này cần chỉ rõ rủi ro tín dụng trong toàn bộ hoạt động của NH ở từng khoản tín dụng cũng như ở cấp độ quản lý danh mục
Nguyên tắc 3: NH cần phải xác định và quản lý rủi ro tín dụng phát sinh trong tất các sản phẩm và các hoạt động NH phải đảm bảo rằng rủi ro của các sản phẩm
và hoạt động mới phải được kiểm soát và thực hiện theo quy trình quản lý rủi ro thích hợp trước khi sản phẩm và hoạt động đó được ban hành hoặc triển khai và phải được phê duyệt trước bởi hội đồng quản trị hoặc một uỷ ban thích hợp
Các nguyên tắc này quy định NH cần phải thiết lập một môi trường rủi ro tín dụng phù hợp hay nói cách khác là phải xác định được mức độ chấp nhận rủi ro hay khẩu vị rủi ro của NH (Risk appetite )
► Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý dựa vào các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 4: NH phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng
được xác định rõ ràng và hiệu quả Những tiêu chí này cần bao gồm những chỉ số
rõ ràng về thị trường mục tiêu của NH và sự hiểu biết thấu đáo của người vay vốn hay đối tác, nguồn trả nợ của KH cũng như mục đích và cơ cấu tín dụng
Trang 17Nguyên tắc 5: NH phải xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể cho mỗi KH
hoặc đối tác vay vốn, hoặc nhóm KH có liên quan được tổng hợp lại theo các loại rủi ro khác nhau theo các phương pháp có nghĩa và có thể so sánh được cả trong sổ
NH và sổ kinh doanh cả trong và ngoài bảng tổng kết tài sản
Nguyên tắc 6: NH cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệt mới, sửa
đổi, cấp lại hoặc tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại
Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng phải được thực hiện trên nguyên tắc thận
trọng và khách quan Cụ thể là các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quan phải được giám sát và quan tâm đặc biệt và cần có những biện pháp thích hợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay
► Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù hợp dựa vào các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 8: NH cần phải có một hệ thống để thực hiện quản trị và giám sát
thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro Cần duy trì bộ phận quản lý tín dụng nhằm làm giảm rủi ro Bộ phận này cần linh hoạt tùy theo điều kiện môi trường cũng như theo từng ngân hàng Khi cán bộ quản lý tín dụng thực hiện các chức năng nhạy cảm như lưu trữ các hồ sơ quan trọng, chuyển tiền đi hay nhập các giới hạn vào cơ sở dữ liệu trên máy tính, họ cần báo cáo cho các nhà quản
lý độc lập với chức năng tiếp thị và phê duyệt tín dụng
Nguyên tắc 9: NH cần phải có hệ thống giám sát điều kiện của từng khoản tín
dụng, bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 10: Mỗi ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội
bộ để giảm rủi ro xuống mức thấp nhất Hệ thống định hạng cần phải nhất quán với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động của NH
Nguyên tắc 11: NH phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để
trợ giúp cán bộ quản lý có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong các hoạt động trong và ngoài Bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý cần cung cấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các rủi ro tín dụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực
Trang 18Nguyên tắc 12: NH phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể và chất lượng danh mục tín dụng
Nguyên tắc 13: NH cần phải đánh giá đầy đủ những biến động về điều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lai khi xem xét từng khoản tín dụng cũng như danh mục cho vay của mình và cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều kiện xấu nhất (Stress testing)
►Đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng dựa vào các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 14: NH phải xây dựng hệ thống rà soát, đánh giá độc lập và liên
tục quy trình quản lý rủi ro tín dụng của NH, kết quả rà soát phải được báo cáo trực tiếp Hội đồng Quản trị và Ban điều hành
Nguyên tắc 15: NH phải đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụng được quản lý
đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn và chuẩn mực nội
bộ NH cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội bộ và các thông lệ khác để đảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quy trình và hạn mức được báo cáo một các kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý
Nguyên tắc 16: NH phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín
dụng có nguy cơ giảm sút, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trường hợp
nợ xấu tương tự
Uỷ ban BASEL tin rằng các nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng này là một khuôn khổ hữu ích cho việc quản lý và giám sát rủi ro NH một cách thận trọng, đồng thời làm cơ sở cho các NH ban hành các chính sách , thủ tục và thông lệ thực hành về quản trị rủi ro trong hoạt động NH
1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Dựa vào các nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL và các thông lệ quốc tế, quy trình quản trị rủi ro tín dụng thường gồm các nội dung sau:
Trang 19Nguồn: nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL
Hình 1.1 Mô hình quản trị rủi ro
Như vậy có thể thấy quy trình quản trị rủi ro gồm các nội dung: 1) Nhận diện/ xác định rủi ro, 2) Đo lường rủi ro; 3) Quản lý kiểm soát rủi ro và 4) Giảm thiểu rủi ro
1.2.2.1.Nhận diện rủi ro:
Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận dạng hay nhận biết được rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NH Nhận diện rủi ro bao gồm các công việc như thường xuyên theo dõi, xem xét, nghiên cứu sự biến động của môi trường hoạt động cũng như toàn bộ mọi hoạt động của NH nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với NH, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp
Có nhiều phương pháp nhận biết rủi ro như: phương pháp dựa vào mục tiêu (bất kỳ những gì cản trở việc thực hiện mục tiêu được coi là rủi ro); phương pháp đưa ra tình huống (đặt giả thiết nếu một việc xảy ra thì sẽ như thế nào? ); phương
Báo cáo/ Giảm
Trang 20pháp dựa vào kinh nghiệm, tiền lệ; phương pháp hỗn hợp (kết hợp các phương pháp trên)
Một số dấu hiệu cảnh báo khoản tín dụng có vấn đề:
- Nhu cầu vay vốn tăng cao so với doanh thu, vòng quay vốn chậm
- DN sử dụng vốn sai mục đích
- Thay đổi cơ cấu quản trị, ban lãnh đạo DN
- Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng tăng
- Các khoản phải thu lớn, xuất hiện những khoản thu khó đòi
- Báo cáo tài chính không rõ ràng minh bạch, có nhiều báo cáo tài chính khác nhau
- Có những thông tin xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN
- Thường xuyên gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ
- Ban lãnh đạo DN luôn lảng tránh hoặc trì hoãn trong việc thực hiện các yêu cầu của NH
1.2.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng:
Trong công tác quản trị rủi ro, cần thiết phải có một hệ thống đo lường RRTD nhằm phân loại các mức độ ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH,
từ đó có biện pháp cụ thể để quản trị tốt những rủi ro ở các mức độ khác nhau Có nhiều mô hình để đo lường rủi ro tín dụng gồm cả định tính và định lượng, đánh giá KH và đánh giá tổng thể rủi ro của hoạt động tín dụng một NH Sau đây là một
số mô hình phổ biến:
Theo nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết, tác giả lấy số liệu nghiên cứu từ 438 hồ sơ vay của khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tại VCB Cần Thơ Sau đó tiến hành khảo sát hồ sơ tín dụng để thu thập số liệu và thông tin cần thiết Trong nghiên cứu mô hình xác suất probit được sử dụng để đánh giá mức
độ rủi ro tín dụng của khoản vay Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến khả năng tài chính của khách hàng vay, sử dụng vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng,
đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, kiểm tra, giám sát khoản vay là có ảnh hưởng
Trang 21đến mức độ rủi ro tín dụng Điều đó chứng tỏ cả ngân hàng và khách hàng đều có ảnh hưởng đến việc thanh toán các khoản cấp tín dụng có đúng hạn hay không a) Mô hình 1: Mô hình định tính: mô hình chất lượng 6C
- Tư cách người vay (Character): Thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, danh tiếng, thương hiệu, lịch sử quan hệ tín dụng, mục đích vay rõ ràng
- Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định luật pháp của quốc gia, đòi hỏi người đi vay phải có năng lực lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
- Thu nhập của người vay (Cash): Thể hiện nguồn thu nhập thường xuyên
và hợp pháp của khách hàng như lương, lợi nhuận, doanh thu từ hoạt động kinh doanh
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả
nợ vay cho ngân hàng thuộc sở hữu hợp pháp khách hàng hoặc người bảo lãnh như động sản, bất động sản, giấy tờ có giá… Đặc biệt, chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: tuổi thọ, tính khả mại, khía cạnh công nghệ, mức độ chuyên dụng của tài sản và tuổi của chủ sở hữu bất động sản
- Các điều kiện (Condition): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ như xu hướng ngành, điều kiện kinh tế, chu kỳ kinh doanh
- Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không?
Ưu điểm: Mô hình tương đối đơn giản
Nhược điểm: Mô hình phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của CBTD (Nguyễn Đăng Dờn [7])
b) Mô hình 2: Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s
Trang 22Rủi ro tín dụng thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và các khoản cho vay Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ xếp hạng tốt nhất
Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s:
Moody’s Standard &
Poor’s
Tình trạng
AAA Aaa Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất
BB Ba Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu
cơ
CC Ca Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
C C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
Nguồn: Moody’s và Standard & Poor’s
c) Mô hình 3: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc,
sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Tổng số điểm tín dụng tiêu dùng theo 8 tiêu chí trên là 43 điểm (Max), thấp nhất là 9 điểm (Min) Giả sử ngân hàng xác định mức 28 điểm là ở mức rủi ro khá cao, cần từ chối cho vay, còn lại trên 28 điểm, được chia ra 6 bậc theo khung chính sách tín dụng với hạn mức cho vay tối đa (Nguyễn Đăng Dờn) như sau:
Bảng 1.2: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng Tổng số điểm của KH Hạn mức tín dụng
Từ 28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng 29-30 điểm 500 USD (10 triệu VND) 31-33 điểm 1.000 USD (20 triệu VND) 34-36 điểm 2.500 USD (50 triệu VND) 37-38 điểm 3.500 USD (70 triệu VND)
Trang 2339-40 điểm 5.000 USD (100 triệu VND) 41-43 điểm 10.000 USD (200 triệu VND)
Nguồn: Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự
1.2.2.3.Quản lý/ kiểm soát rủi ro tín dụng :
Các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng cụ thể có thể khác nhau giữa các NH tuỳ theo khả năng nhận thức cũng như bản chất và mức độ phức tạp của hoạt động tín dụng Các biện pháp quản lý rủi ro toàn diện sẽ tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro cẩn trọng, đó là các nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL và các thông lệ tốt nhất Một số biện pháp quản lý rủi ro tín dụng như:
- Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược chính sách, quy trình quản lý rủi
- Kiểm soát theo quy trình cấp tín dụng: Trước, trong và sau khi cho vay
- Tuân thủ chính sách, quy trình tín dụng một cách thận trọng
- Nâng cao chất lượng công tác phân tích và thẩm định tín dụng
- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng, hệ thống chấm điểm tín dụng
- Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu về KH, khoản vay
1.2.2.4 Giảm nhẹ rủi ro :
Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro Căn cứ vào mức độ rủi
ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính, và khả năng chấp nhận rủi ro mà
có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại:
- Nâng cao tỷ trọng và chất lượng tài sản bảo đảm
- Phân loại nợ và xử lý nợ xấu
- Trích dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng
Trang 24- Chia sẻ rủi ro (đồng tài trợ, bán nợ )
- Sử dụng một số công cụ tài chính để bán hay phân tán rủi ro như:
+ Các công cụ tài chính phái sinh như kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi :
Như đã đề cập phần trên, khi DN vay bằng ngoại tệ và trả bằng VND thì sẽ gặp rủi ro tỷ giá, cụ thể là DN sẽ bị thiệt hại nếu tỷ giá tăng và NH sẽ thiệt hại nếu
tỷ giá giảm Để phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, có thể sử dụng các kỹ thuật bảo hiểm rủi ro tỷ giá như hợp đồng kỳ hạn (forwawd), quyền chọn (Option), hoán đổi ngoại
tệ (swap), hợp đồng tương lai (Future)… Đây là những công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả cho cả DN và NH khi tỷ giá biến động, đảm bảo khả năng trả nợ của DN
và do đó sẽ giảm được rủi ro tín dụng cho NH
+ Hoán đổi lãi suất: NH sử dụng các nghiệp vụ như hoán đổi lãi suất một
đồng tiền (đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ), giữa hai đồng tiền, hoán đổi lãi suất tiền
tệ chéo, hoán đổi lãi suất bắt đầu trong tương lai, hoán đổi lãi suất cộng dồn nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro do biến động lãi suất trên thị trường, vừa đa dạng dịch vụ cho KH, vừa kiếm thêm lợi nhuận
+ Bảo hiểm tín dụng :
Người mua bảo hiểm có thể là ngân hàng hoặc có thể là khách hàng Khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì Công ty bảo hiểm (bên bán bảo hiểm) sẽ chịu trách nhiệm trả nợ Đây là biện pháp quản lý rủi ro khá hiệu quả và thường đuợc áp dụng đối với khách hàng cá nhân
Ngoài các công cụ tài chính trên đã bước đầu được sử dụng khá hiệu quả ở Việt Nam, còn một số công cụ khác để phòng ngừa rủi ro tín dụng như: nghiệp vụ chứng khoán hoá bảng tổng kết tài sản của ngân hàng, sử dụng các công cụ tín dụng phái sinh như hợp đồng trao đổi TD, hợp đồng quyền TD (Credit options)… Đây là các hợp đồng tài chính bảo vệ NH trong trường hợp các khoản nợ không thể thanh toán được, có thể được sử dụng hiệu quả trong việc giảm rủi ro phát sinh nợ xấu cũng như giảm rủi ro lãi suất của NH Tuy nhiên, các công cụ này khá phức tạp và mới mẻ nên chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam
Trang 251.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú
Dựa trên những cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng, tác giả tiến hành xây dựng quy trình quản trị tín dụng bằng việc phỏng vấn các chuyên gia về tài chính trong ngành
Qua thảo luận, các chuyên gia đã thống nhất mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú, HCM là sự phối hợp nhịp nhàng của cả bốn quá trình: Nhận diện/ xác định rủi ro, đo lường rủi ro, quản lý/ kiểm soát rủi ro, và giảm thiểu rủi ro Điều này thể hiện qua hình sau :
Nguồn: tác giả và phỏng vấn chuyên gia
Hình 1.2: Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội
Quận Tân Phú
Mô hình này là nền tảng lý thuyết để tác giả tiến hành phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú trong chương 2
Báo cáo/ Giảm
Trang 261.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới
Khủng hoảng tài chính khu vực châu Á thời kỳ 1997-1998 bắt nguồn từ Thái Lan, và cuộc khủng hoảng tài chính- tín dụng toàn cầu khởi đầu từ Mỹ lan rộng sang khu vực châu Âu và sau đó là các nước trên thế giới vào năm 2008, cho thấy ngày càng nhiều ngân hàng trên thế giới với trình độ, thâm niên, kinh nghiệm hàng trăm năm nhưng cuối cùng cũng buộc phải công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ lớn kỷ lục, trong đó có rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới đứng trước nguy cơ phá sản hoặc thậm chí là tuyên bố phá sản như Fannie Mae và Freddie Mac hay Lehman Brothers Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng ở các nước trên thế giới sẽ là hữu ích để sẵn sàng đối phó với các rủi ro tín dụng cho các ngân hàng Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Mỹ cho thấy, để việc kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả cần:
Thứ nhất, nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi vay và
phục vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ Kết quả là những người cho vay sẽ hiểu nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán các sản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch vụ tín dụng
Thứ hai, nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản
vay Việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu Thêm vào đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khối lượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn Hơn nữa, cần đánh giá đúng tình trạng của từng bên vay hơn là quá chú trọng vào các phương pháp và công thức tự động điển hình như chấm điểm tín dụng Chấm điểm tín dụng là hình thức căn cứ vào công thức có sẵn để đo lường và tiên đoán về mức độ rủi ro của các khách hàng tiềm năng, được thiết kế để cải tạo quy trình thẩm định khoản vay Mặc dù chấm điểm tín dụng theo cách truyền thống thường được sử dụng cho vay tiêu dùng, khi dựa vào đó để duyệt khoản tín dụng thẻ hoặc tín dụng để mua ô tô,
Trang 27họ là khách hàng tiềm năng trong một chuỗi khách hàng 8/9 đơn vị cho vay được nghiên cứu, tuy nhiên, lại không sử dụng chấm điểm tín dụng cho khách hàng nhỏ, chủ yếu vì họ cho rằng không có nhiều tương quan giữa quá khứ tín dụng của bên vay, như được đo lường trong hệ số tín nhiệm, với hoạt động của khách hàng này trong tương lai Mặc dù có một số đơn vị cho vay sử dụng chấm điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, họ tin rằng cho vay doanh nghiệp nhỏ có quá nhiều những đặc tính riêng rất khó được phân tích thông qua một hệ thống tự động Hơn thế nữa, chấm điểm tín dụng có thể loại trừ mất các khách hàng tiềm năng tốt, những khách hàng không có đủ số lượng năm có lãi, số năm có lãi tối thiểu là một tiêu chí để xác định dự án khả thi trong tương lai
Thứ ba, tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì các đơn vị môi giới không
có động cơ để đem lại các khoản vay có chất lượng cao hơn do họ được trả không căn cứ vào chất lượng khoản vay
Thứ tư, “thực chứng hơn thực cung”, nghĩa là cần yêu cầu bên vay phải
chứng tỏ được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh, yêu cầu bên vay cung cấp thế chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm bảo có cần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay đối với khoản vay
Thứ năm, tập trung quyết định cho vay để bảo đảm tính thống nhất và kiểm
soát Mặc dù các bên cho vay nhỏ hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xem xét khoản vay, cả 2 đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩm định khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt cuối cùng Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng từ nhiều cán bộ rải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ hoặc một nhóm để đảm bảo tính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả trong thẩm định khoản vay
Thứ sáu, yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách nhiệm với khoản vay họ cho
vay Quyết định tín dụng chỉ tốt khi thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ,
đa số các đơn vị cho vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay Mặc dù không có đơn vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong
Trang 28đa số trường hợp các cán bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản vay khó đòi
Thứ bảy, áp dụng hệ số tín nhiệm cho các khoản vay mới và thẩm định lại hệ
số này theo định kỳ trong suốt thời hạn của khoản vay Ngân hàng cần xây dựng một hệ thống chấm hệ số tín nhiệm hoặc có kế hoạch để tạo ra một chương trình chấm điểm Trong một chương trình điển hình, một khoản vay mới sẽ được áp dụng một giá trị bằng số thể hiện mức rủi ro vào thời điểm thẩm định khoản vay Trong suốt thời gian vay vốn, con số này có thể được duyệt lại căn cứ vào lịch sử trả nợ của bên vay và các yếu tố khác Khi giao dịch có vấn đề, đây là cách để nhận
ra và theo dõi các khoản nợ xấu Hệ thống này khác với chấm điểm tín dụng, được
sử dụng trước đó để ra quyết định vay vốn
Thứ tám, xác định nợ xấu sớm và tăng cường các nỗ lực thu hồi nợ rất mạnh
mẽ; luôn theo dõi để xác định sớm những dấu hiệu của khoản vay xấu trong tương lai Cách tốt nhất để xác định sớm các dấu hiệu là luôn giữ mối liên hệ với khách hàng, không đợi cho đến khi khoản vay trở nên quá hạn Sự tích cực xác định và tìm kiếm khả năng thu hồi các khoản nợ chỉ trong vài ngày kể từ khi khoản vay bị trễ có thể làm giảm thời gian cần có tiêu tốn vào các động tác thu hồi nợ và cho phép các bên cho vay điều chỉnh thời hạn trả nợ hoặc giải quyết các vấn đề khác của bên vay sớm
Thứ chín, tuy nhiên, thực tế ngân hàng Mỹ cho thấy, việc đề xuất đúng lối ra
cho các khoản nợ xấu là quan trọng hơn việc thu hồi nợ Việc tất toán nợ xấu là giải pháp cuối cùng đưa ra khi giao dịch có ván đề Bởi vì, thu hồi nợ sẽ có thể hiệu quả hơn thông qua việc tiếp tục trả nợ của một doanh nghiệp vẫn đang hoạt động hơn là phải tất toán tài sản
Đến năm 2012 đã có tới 117 ngân hàng Mỹ thuộc diện “có vấn đề” (theo công
bố của Federal Deposit Insurance Corporation – Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ FDIC) và hơn 10 ngân hàng Mỹ bị phá sản Nguyên nhân là do các ngân hàng mất khả năng thanh khoản do danh sách các khoản nợ khó thu hồi tăng cao, dùng tiền gửi huy động được cho vay bất động sản đồng nghĩa với việc lấy ngắn
Trang 29nuôi dài, thêm vào đó không thẩm định nguồn trả nợ và cả cho vay dưới chuẩn Đến khi giá bất động sản tụt dốc không phanh, các khoản nợ không thu hồi được dẫn đến ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản tiết kiệm đến hạn, tình hình kinh tế khủng hoảng, các doanh nghiệp Mỹ rơi vào tình cảnh khó khăn phá sản, các khoản đầu tư của ngân hàng cũng từ đó thua lỗ,…
Từ cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ, cho thấy nguyên nhân xuất phát phần lớn
từ việc quản lý kiểm soát khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán còn yếu kém, chất lượng tín dụng không được coi trọng, có nhiều khoản cho vay dưới chuẩn, không thẩm định kỹ trước khi cho vay, sử dụng nguồn huy động ngắn hạn
để đầu tư vào những khoản dài hạn như bất động sản nên không tránh khỏi rủi ro mất khả năng thanh toán và không thu hồi được nợ Đó cũng là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam khi rơi vào tình trạng tương tự…
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật bản
Hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế Nhật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khi nền kinh tế có vấn đề thì hoạt động ngân hàng cũng ngay lập tức chịu ảnh hưởng Ngược lại, hoạt động ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ đối với các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống ngân hàng cũng có thể làm tình hình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của nền kinh tế nếu hoạt động ngân hàng gặp khó khăn Nếu như phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp không khỏe mạnh, thì không chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả, mà nền kinh tế cũng sẽ bị ảnh hưởng Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Nhật Bản cho thấy việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách
mở rộng quá tham vọng càng được kích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường là kết quả gây ra thua lỗ của ngân hàng Mặt khác, do không có kinh nghiệm với những khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng Nhật không biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng Đối với các trường hợp ngân hàng có kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗ với mức lỗ vượt khả năng của các ngân hàng thương mại thì nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can thiệp đồng thời thay thế cấp quản trị điều hành cấp cao Hiện nay các ngân hàng
Trang 30Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được Tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial Service Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như
xử lý những khoản nợ xấu mà trước đây đã từng gây ra các khoản lỗ lớn kéo dài trong nhiều năm đối với hầu hết các ngân hàng
1.5 Tóm tắt chương 1
Chương 1 của luận văn đã khái quát các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng cũng như đề cập đến các mô hình và biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp cho công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú, HCM Để giảm rủi
ro tín dụng, trước hết các ngân hàng và cá công ty tài chính cần hiểu rõ rủi ro tín dụng luôn tồn tại, nhà quản trị cần lựa chọn một mức độ rủi ro tín dụng thích hợp
để tối đa hóa lợi nhuận cũng như tối đa hóa giá trị cho cổ đông Có nhiều mô hình
về quản trị rủi ro tín dụng,tác giả sử dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng dựa trên Nguyên tắc BASEL và phù hợp thông lệ quốc tế để tăng tính an toàn, hiệu quả Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú là sự
phối hợp nhịp nhàng của cả bốn quá trình: Nhận diện/ xác định rủi ro, đo lường rủi
ro, quản lý/ kiểm soát rủi ro, và giảm thiểu rủi ro làm các biện pháp phòng ngừa
rủi ro hiệu quả Đây sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn giúp tác giả phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng ở chương
2 và chương 3 của luận văn
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI QUẬN
TÂN PHÚ, TP.HCM 2.1 Tổng quan chung về Ngân hàng chính sách xã hội
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển
Vào ngày 10/6/1993 tại cuộc hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn Hội nghị đã đưa ra chủ trương tín dụng ưu đãi đối với người nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng thông qua hình thức cấp tín dụng cho các đối tượng này
Từ đó, để thực hiện hiệu quả quyết định này, Chính phủ đã thành lập quỹ cho vay ưu đãi để xóa đói giảm nghèo rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Quỹ thành lập từ tiền của ba tổ chức tín dụng là do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng góp với tổng số tiền ban đầu là 400 tỷ Quỹ sử dụng tiền để cho người nghèo vay, và người vay không cần phải có tài sản đảm bảo tiền vay
Từ những đút kết sau hai năm thực hiện, ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, và ngân hàng này được đặt trong đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam Ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà chủ yếu để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất Dựa trên mạng lưới có sẳn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã xây dựng được kênh tín dụng riêng để
hỗ trợ tín dụng cho các hộ nghèo ở Việt Nam nhằm giúp họ co vốn sản xuất, có công ăn việc làm từ đó thoát khỏi cảnh nghèo
Qua quá trình hoạt động, từ những bất cập phát sinh như bộ phận quản trị đến
bộ phận điều hành của Ngân hàng Phục vụ người nghèo đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên rất ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, thiếu cập nhật những chính sách, tâm lý ỷ lại vào Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
Trang 32thôn từ đó không có những hoạch định phương hướng phát triển cũng như xử lý các rủi ro phát sinh Thêm nữa, Ngân hàng Phục vụ người nghèo lấy nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn được giao cho nhiều cơ quan Nhà nước, hội đoàn thể và Ngân hàng thương mại Nhà nước cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực của Nhà nước bị phân tán, chồng chéo, trùng lắp, thậm chí cản trở lẫn nhau Bên cạnh nguồn vốn cho vay hộ nghèo được Ngân hàng Phục vụ người nghèo và NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện thì thực tế còn có các cơ quan khác tham gia như nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm do Kho bạc Nhà nước quản lý và cho vay; nguồn vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn do Ngân hàng Công thương thực hiện; nguồn vốn cho vay ưu đãi các tổ chức kinh tế
và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi, các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 của Chính phủ… Từ đó có thể thấy rằng, việc hình thành các nguồn vốn cho vay chính sách nằm rải rác ở nhiều tổ chức tài chính với cơ chế quản lý khác nhau đã gây nhiều trở ngại cho quá trình kiểm soát của Nhà nước, không tách bạch được tín dụng chính sách với tín dụng thương mại
Từ đó, các nghị quyết của Đại hội Đảng IX, nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X về việc sớm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của NHCSXH, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi tín dụng thương mại; đồng thời thực hiện cam kết với Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) về việc thành lập Ngân hàng Chính sách; ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Thủ tướng Chính phủ
đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập nhằm mục đích thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Trang 33Hoạt động của NHCSXH rất đặc biệt là không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước
NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
NHCSXH được tổ chức theo 3 cấp: Hội sở chính ở Trung ương, Chi nhánh ở cấp tỉnh, Phòng giao dịch ở cấp huyện Mỗi cấp đều có bộ máy quản trị và bộ máy điều hành tác nghiệp:
Bộ máy quản trị, gồm: Hội đồng quản trị và bộ máy giúp việc ở Trung ương; Ban đại diện Hội đồng quản trị ở cấp tỉnh, cấp huyện
Bộ máy điều hành tác nghiệp bao gồm: Hội sở chính ở Trung ương; Sở giao dịch, Trung tâm Đào tạo, Trung tâm Công nghệ thông tin; 63 Chi nhánh cấp tỉnh và 618 Phòng giao dịch cấp huyện
2.1.4 Phương thức cho vay của NHCSXH
Điều 5, Nghị định 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Việc cho vay của NHCSXH được thực hiện theo phương thức uỷ thác cho các tổ chức tín dụng,
tổ chức chính trị - xã hội (gọi tắt là tổ chức Hội) theo hợp đồng uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay đến người vay” Hiện nay, hầu hết các chương trình Tín dụng tại NHCSXH đều thực hiện phương thức cho vay trực tiếp có ủy thác một số nội dung
công việc cho các tổ chức Hội sau đây gọi tắt là phương thức cho vay ủy thác
Ngoài ra, NHCSXH thực hiện phương thức cho vay trực tiếp đến người vay
a Phương thức cho vay ủy thác:
Cho vay ủy thác được hiểu là NHCSXH giao cho các tổ chức Chính trị-xã hội, sau đây gọi tắt là (tổ chức Hội) thực hiện một số nội dung công việc trong quy
Trang 34trình cho vay được thống nhất trong văn bản liên tịch, văn bản thỏa thuận NHCSXH có trách nhiệm trả phí cho các tổ chức Hội theo mức phí đã thoả thuận phù hợp với mức phí quản lý do Bộ Tài chính quy định theo từng thời kỳ
Điều kiện để thực hiện cho vay ủy thác:
- Đối với các tổ chức Hội:
+ Có mạng lưới hoạt động đến thôn, bản; có uy tín với nhân dân, được NHCSXH tín nhiệm
+ Có khả năng tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước và quy trình nghiệp vụ cho vay của NHCSXH
+ Có cán bộ am hiểu nghiệp vụ cho vay của NHCSXH, được tập huấn nghiệp vụ để thực hiện các nội dung công việc được ủy thác
- Đối với Tổ Tiết kiệm và vay vốn:
+ Được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 05/3/2013 của Hội đồng quản trị NHCSXH
+ Ban quản lý Tổ được NHCSXH nơi cho vay ký “Hợp đồng uỷ nhiệm”
- Đối với hộ vay: Là thành viên Tổ TK&VV và chấp hành nghiêm chỉnh nội
dung quy ước hoạt động của Tổ TK&VV
b Phương thức cho vay trực tiếp
Cho vay trực tiếp là việc NHCSXH trực tiếp thực hiện tất cả các nghiệp vụ
với người vay vốn
2.1.5 Phân loại các chương trình cho vay tại NHCSXH
a Các chương trình chỉ thực hiện cho vay ủy thác
- Cho vay hộ nghèo; hộ cận nghèo; hộ mới thoát nghèo
- Các chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo theo các Quyết định như: Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012, Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013, Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013…
- Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
Trang 35- Cho vay hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 theo Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày 29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Các chương trình cho vay về nhà ở đối với hộ gia đình như: Cho vay nhà ở cho hộ dân vùng ngập lũ khu vực ĐBSCL, cho vay hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà
ở phòng, tránh bão, lụt tại14 tỉnh khu vực Miền Trung theo Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ
- Cho vay người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp theo Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ
- Cho vay đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương theo Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/4/2014 của Thủ
tướng Chính phủ
b Các chương trình chỉ thực hiện cho vay trực tiếp
- Chương trình cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là dự án vay vốn từ nguồn vốn của CHLB Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) để thiết lập Quỹ tín dụng quay vòng nhằm cho vay tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc vùng dự án Vì thế, Chi nhánh nào được Tổng Giám đốc phê duyệt thì được triển khai cho vay Mức cho vay được xác định căn cứ vào giá trị tài sản bảo đảm tiền vay, khả năng hoàn trả nợ của người vay và khả năng nguồn vốn của Dự án nhưng mức cho vay tối đa không quá 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) đối với một khách hàng
- Chương trình cho vay để ký quỹ đi lao động tại Hàn Quốc: Thực hiện thí điểm ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc Mức cho vay để ký quỹ cho người đi lao động tại Hàn Quốc tối đa 100.000.000 đồng/lao động
Trang 36c Các chương trình vừa cho vay trực tiếp vừa cho vay ủy thác
Để đảm bảo an toàn vốn cho Nhà nước và để tạo điều kiện thuận tiện nhất cho người vay, một số chương trình cho vay được NHCSXH áp dụng đồng thời 02 phương thức cho vay, bao gồm:
- Cho vay Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với học sinh sinh viên vay thông qua hộ gia đình
+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với học sinh sinh viên mồ côi cả cha và mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động
- Cho vay Hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn
+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với mức cho vay đến 30 triệu đồng/Hộ
+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với mức cho vay trên 30 triệu đến 100 triệu đồng/Hộ
- Cho vay Thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn
+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với Thương nhân là cá nhân + Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với Thương nhân là tổ chức kinh tế
- Cho vay dự án phát triển ngành Lâm nghiệp (tại 06 tỉnh khu vực miền
trung)
+ Phương thức cho vay uỷ thác: Áp dụng đối với những hộ gia đình tham gia
Tổ
+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với hộ không tham gia vào Tổ
- Cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm (gọi tắt là cho vay giải quyết việc làm):
+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với người lao động vay vốn từ nguồn vốn do UBND tỉnh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cụ chiến binh và Đoàn thanh niên quản lý
Trang 37+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với Các cơ sở sản xuất kinh doanh, Hộ gia đinh hoặc người lao động vay vốn từ nguồn vốn do Tổng liên đoàn lao động, Liên minh hợp tác xã, Hội người mù quản lý
2.1.6 Thủ tục và quy trình cho vay
a Đối với Phương thức cho vay ủy thác:
- Hồ sơ cho vay vốn bao gồm:
+ Hồ sơ do người vay lập:
Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (Mẫu 01/TD) Riêng chương trình cho vay giải quyết việc làm, sử dụng (mẫu số 01b)
+ Hồ sơ do Tổ TK&VV lập:
* Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH (mẫu 03/TD)
* Biên bản họp Tổ để bình xét cho vay (mẫu số 10C/TD)
* Biên bản họp Tổ (mẫu 10A/TD đối với tổ TK&VV thành lập lần đầu)
+ Hồ sơ do NHCSXH nơi cho vay lập:
Thông báo kết quả phê duyệt cho vay (mẫu 04/TD)
+ Hồ sơ do NHCSXH nơi cho vay và người vay cùng lập: Sổ vay vốn
Bộ hồ sơ vay vốn nêu trên được áp dụng chung cho tất cả các chương trình thực hiện phương thức cho vay ủy thác
b Quy trình cho vay: gồm 08 bước được mô tả như sau:
Bước 1: Khi có nhu cầu vay vốn, người vay viết Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (mẫu số 01/TD), gửi cho Tổ TK&VV Riêng chương trình cho vay giải quyết việc làm sử dụng (mẫu 01b) Trên giấy đề nghị vay vốn, người vay phải ghi đúng, đầy đủ, rõ ràng các nội dung theo yêu cầu và có chữ ký của người vay
Bước 2: Sau khi Tổ nhận giấy đề nghị vay vốn của người vay, Tổ TK&VV tổ chức họp để bình xét những hộ đủ điều kiện vay vốn, có sự tham gia chỉ đạo tổ chức Hội và sự giám sát của Trưởng thôn; lập danh sách các hộ gia đình đề nghị vay vốn mẫu 03/TD trình UBND cấp xã xác nhận
Trang 38Đây là bước hết sức quan trọng, vì vậy tổ chức Hội phải chỉ đạo sát sao các
Tổ khi bình xét để đảm bảo“Công khai, công bằng, dân chủ, khách quan và đúng đối tượng” Để làm tốt nội dung này, trước khi họp bình xét, trưởng thôn và các tổ
chức Hội phải quán triệt các Tổ các nội dung sau:
- Các hộ được vay vốn phải đúng đối tượng theo quy định ở mỗi chương trình cho vay
- Không được chia đều về số tiền cho hộ vay cũng như thời hạn cho vay
- Mục đích cho vay của mỗi hộ vay phải cụ thể, đúng với nhu cầu cần thiết về mức vốn, thời hạn vay phù hợp và phải được các thành viên trong Tổ nhất trí
- Việc bình xét tránh tình trạng nể nang, dẫn đến cho vay sai đối tượng, vốn vay không phát huy được hiệu quả làm mất uy tín của tổ chức Hội, NHCSXH và ảnh hưởng kết quả sử dụng vốn vay
- Các thành viên trong Tổ phải có trách nhiệm phân tích điều kiện cụ thể với từng Hộ vay để các đối tượng được vay cũng như chưa được vay nhận thức đúng
về đồng vốn tín dụng chính sách ưu đãi
Bước 3: Tổ tiết kiệm và vay vốn gửi bộ hồ sơ đề nghị vay vốn cho cán bộ Tín dụng theo dõi địa bàn, gồm: Mẫu 01/TD, 03/TD, 10C/TD và mẫu 10A/TD (nếu Tổ thành lập lần đầu) đã được UBND xác nhận
Lưu ý: Trước khi gửi hồ sơ vay vốn của Tổ cho cán bộ Tín dụng theo dõi địa
bàn xã, Tổ trưởng phải kiểm soát cẩn thận (đủ các giấy tờ liên quan, không được tẩy, xóa, đủ chữ ký hộ vay, phần xác nhận của Ủy ban nhân dân xã phải cụ thể, có đủ dấu, chữ ký và gửi bản chính, không được gửi bản photocopy)
Bước 4: Cán bộ Tín dụng tiếp nhận bộ hồ sơ của Tổ và có nhiệm vụ:
- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của bộ hồ sơ Trường hợp hồ sơ chưa đúng quy định phải hướng dẫn lại Tổ để hoàn thiện đầy đủ
- Trình Giám đốc phê duyệt cho vay những hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ;
- Lập thông báo kết quả phê duyệt cho vay mẫu số 04/TD gửi UBND cấp xã
và cùng hộ vay lập Sổ vay vốn (đối với hộ vay lần đầu)
Lưu ý:
Trang 39- Thời hạn phê duyệt cho vay không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày NHCSXH nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn theo quy định
- Để tiết giảm chi phí, nên định ngày giải ngân trùng vào ngày giao dịch cố định tại xã (trừ trường hợp phải giải ngân theo mùa vụ như cho vay học sinh sinh viên hoặc theo chỉ tiêu kế hoạch bổ sung, đột xuất)
Bước 5: Nhận được thông báo kết quả phê duyệt cho vay mẫu số 04/TD của NHCSXH, UBND cấp xã thông báo trực tiếp cho tổ chức Hội cấp xã
Việc NHCSXH gửi Thông báo đến UBND để họ nắm bắt được nguồn vốn đầu tư cho xã và có kế hoạch chỉ đạo các Ban, ngành liên quan giúp hộ vay sử dụng vốn vay đạt hiệu quả Đồng thời để bố trí lực lượng bảo vệ phối hợp cùng NHCSXH đảm bảo an toàn cho buổi giải ngân
Bước 6: Nhận được thông báo kết quả phê duyệt cho vay của NHCSXH (mẫu
số 04/TD) từ UBND cấp xã, Tổ chức Hội cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV và triển khai các công việc có liên quan, cụ thể:
- Bố trí cán bộ tổ chức Hội và đôn đốc các Tổ trưởng tham gia chứng kiến giải ngân
- Trường hợp trong xã có nhiều Tổ được giải ngân, tổ chức Hội chủ động phân chia về thời gian cho các Tổ để tổ viên đến lĩnh tiền đúng giờ, tránh lãng phí thời gian
- Nắm bắt các Tổ giải ngân đợt này để theo dõi, giám sát, chỉ đạo các Tổ kiểm tra, giám sát người vay sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả
Bước 7: Tổ TK&VV thông báo cho người vay biết số tiền được vay và thời gian, địa điểm NHCSXH giải ngân
Khi thông báo cho người vay, Tổ trưởng phải cụ thể về thời gian, địa điểm và yêu cầu người vay mang theo Chứng minh nhân dân để nhận tiền Nếu người vay không trực tiếp đến nhận tiền vay, thì được uỷ quyền cho thành viên trong hộ đến nhận thay nhưng phải có giấy uỷ quyền có xác nhận cuả UBND cấp xã
Bước 8: Ngân hàng tiến hành giải ngân trực tiếp cho người vay tại điểm giao dịch xã
Trang 40Để buổi giải ngân đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ Tín dụng theo dõi địa bàn trực tiếp tham gia buổi giải ngân phải chủ động sắp xếp các công việc như: hồ sơ vay vốn, dự kiến thu nợ, thu lãi (nếu có) để chuẩn bị lượng tiền cần thiết giải ngân, các giấy tờ liên quan, phương tiện làm việc ; Giám đốc phân công trách nhiệm từng cán bộ Tổ giao dịch phải rõ ràng và phù hợp với chuyên môn, năng lực và sở trường mỗi cán bộ Trong quá trình giao dịch, cán bộ phải tự giác, nghiêm túc và tuân thủ theo đúng quy trình đã quy định
b Đối với Phương thức cho vay trực tiếp
- Bộ hồ sơ cho vay:
+ Hồ sơ do khách hàng lập và cung cấp
* Trường hợp người vay vốn là cá nhân hoặc Hộ gia đình thì Bộ hồ sơ cho
vay chỉ có Hồ sơ vay vốn
* Trường hợp khách hàng vay vốn là các tổ chức kinh tế; Cơ sở sản xuất, kinh doanh thì bộ hồ sơ gồm: Hồ sơ pháp lý, Hồ sơ kinh tế và Hồ sơ vay vốn
Hồ sơ pháp lý: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy phép đầu tư Văn
bản ủy quyền hoặc bảo lãnh vay vốn của cơ quan cấp trên có thẩm quyền (nếu có) đối với đơn vị hạch toán phụ thuộc
Hồ sơ kinh tế: Báo cáo tài chính và kết quả thực hiện sản xuất kinh doanh 2
năm liền kề và kỳ gần nhất
Hồ sơ vay vốn: Giấy đề nghị vay vốn; Dự án, phương án SXKD dịch vụ và các
giấy tờ liên quan (nếu có)
+ Hồ sơ do NHCSXH lập: Phiếu thẩm định, tái thẩm định (nếu có)
+ Hồ sơ do người vay cùng NHCSXH lập: Hợp đồng bảo đảm tiền vay, hợp đồng tín dụng hoặc Sổ vay vốn
Tùy theo đối tượng vay vốn ở từng chương trình cụ thể, NHCSXH có các mẫu biểu hướng dẫn phù hợp
- Quy trình cho vay: gồm 03 bước sau đây:
Bước 1 Người vay vốn lập dự án hoặc phương án vay vốn trình UBND cấp
xã nơi thực hiện dự án xác nhận, sau đó gửi NHCSXH