Quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác được mở
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Khắc Thành
HẢI PHÒNG - 2016
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Văn Ngọc
Trang 4Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các sở, ban, thành của thành phố,
Sở Công Thương Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Trần Văn Ngọc
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài 3
6 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5
1.1.1 Xu hướng phát triển hội nhập quốc tế thế giới 5
1.1.2 Khái niệm và bản chất của hội nhập quốc tế 8
1.1.3 Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay 13
1.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 15
1.2.1 Chủ trương, mục tiêu chỉ đạo Hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước 15 1.2.2 Tiến trình và kết quả hội nhập quốc tế hiện tại của Việt Nam 21
Chương 2:THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦATHÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 - 2015 26
2.1 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 26
2.1.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về hội nhập quốc tế 26
2.1.2 Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy phục vụ hội nhập quốc tế thành phố 28 2.1.3 Bố trí và sử dụng ngân sách cho công tác hội nhập quốc tế 29
2.1.4 Thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế 29
Trang 6iv
2.1.5 Xây dựng thể chế và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế 31
2.1.6 Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ hội nhập quốc tế 39
2.1.7 Hội nhập quốc tế về kinh tế 41
2.1.8 Hội nhập quốc tế về đối ngoại 51
2.1.9 Hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, y tế, lao động, thể thao, khoa học và công nghệ 55
2.1.10 Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh 60
2.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 61
2.2.1 Những kết quả đã đạt được 61
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế 63
2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 64
2.2.4 Bài học kinh nghiệm 66
Chương 3:MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 69
3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU HỘI NHẬP QUỐC TẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐẾN NĂM 2020 69
3.1.1 Quan điểm 69
3.1.2 Mục tiêu: 71
3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 73
3.2.1 Biện pháp về quán triệt nhận thức, đẩy mạnh thông tin, tuyên tuyền về hội nhập quốc tế 73
3.2.2 Biện pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện môi trường vĩ mô của thành phố, chú trọng và thực hiện triệt để cải cách hành thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước, tạo mội trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi thông thoáng: 74
3.2.3 Biện pháp xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ hội nhập quốc tế 75 3.2.4 Biện pháp Hội nhập quốc tế về kinh tế 76
Trang 7v
3.2.5 Biện pháp Hội nhập quốc tế về chính trị, ngoại giao và công tác người
Việt Nam ở nước ngoài 90
3.2.6 Hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, lao động, thể thao và các lĩnh vực khác 90
3.2.7 Biện pháp Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 8
HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế
UBND Ủy ban nhân dân
AFTA Khu vực tự do Thương mại ASEAN
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
EU Liên minh châu Âu
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
FTA Hiệp định thương mại tự do
TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
XNK Xuất nhập khẩu
XTTM Xúc tiến thương mại
EFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu
NAFTA Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ
AFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
Trang 944
2.2
Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về hoạt động ngoại thương của Ngành Công Thương Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015
45
2.3
Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển công nghiệp của Ngành Công Thương Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015
46
Trang 101
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong những năm qua, công cuộc hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác được mở rộng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc đổi mới; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Nhằm khái quát, đánh giá tình hình hội nhập quốc tế của nước ta trong thời gian qua, tình hình thế giới hiện nay, các cơ hội cũng như thách thức và đề ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, các định hướng chủ yếu của công tác hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới; qua đó thống nhất nhận thực và hành động từ Trung ương đến địa phương, chủ động công tác triển khai hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực phù hợp với tình hình mới, trên cơ sở đó ngày 10/4/2013 Bộ Chính trị (Khóa XI) đã ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế
Quán triệt đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua thành phố Hải Phòng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, tổ chức thực hiện kịp thời các
cơ chế, chính sách của Trung ương phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế của địa phương và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Các cấp ủy đảng, chính quyền, địa phương đã quan tâm chỉ đạo trên cả ba mặt đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; từng bước triển khai hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực như an ninh, quân sự, biên phòng, văn hóa, xã hội gắn liền với đặc thù chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xã hội và kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng, cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càng phong phú, thị trường từng
Trang 112
bước được mở rộng Tuy nhiên, những kết quả đạt được của Hải Phòng trong thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế Điều đó thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người còn chưa cao, sức mua thấp nên hạn chế sự phát triển thị trường Việc sản xuất hàng hoá còn mang tính chất tự cung, tự cấp, phân tán, chất lượng thấp, giá thành cao, kém sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Các doanh nghiệp của Hải Phòng quy mô nhỏ, vốn ít, cơ sở vật chất nghèo nàn nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình mở rộng sản xuất và phát triển thị trường Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng, thiếu tính chủ động Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về những kiến thức cơ bản của hội nhập quốc tế cũng như việc triển khai công tác hội nhập quốc tế còn thiếu các định hướng, giải pháp cụ thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của Hải Phòng trong thời gian qua
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 - 2020” làm
đề tài Luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài
* Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn trong công tác hội nhập quốc tế tại thành phố Hải Phòng, luận văn sẽ làm rõ các hình thức, phương thức và nội dung của công tác hội nhập quốc tế trong nền kinh tế thị trường đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả của công tác hội nhập quốc tế trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Đánh giá tổng quan về hội nhập quốc tế;
- Đánh giá thực trạng tình hình hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai
Trang 123
đoạn 2010 - 2015;
- Đưa ra một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 - 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác hội nhập quốc tế của Việt Nam
và thành phố Hải Phòng trong thời gian qua
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian, nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu từ 2010 trở lại đây để thực hiện phân tích đánh giá Về nội dung vấn đề, nghiên cứu tập trung chủ yếu vào đánh giá công tác hội nhập quốc tế của thành phố và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác này
+ Về mặt lý luận và những vấn đề chung trong công tác quản hội nhập quốc tế luận văn đề cập trên phạm vi cả nước, nhưng về mặt thực tiễn luận văn tập trung vào tình hình cụ thể của thành phố Hải Phòng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, thống
kê, so sánh và kết hợp lý luận với thực tiễn để nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
- Về lý luận, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức đang thực hiện chức năng quản lý các hoạt động về hội nhập quốc tế để tiến hành (thực hiện) đổi mới công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của hoạt động hội nhập quốc tế trong nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động hội nhập kinh
tế quốc tế
- Về thực tiễn, luận văn sẽ có những đóng góp cụ thể vào thực tiễn công tác
Trang 134
hội nhập quốc tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng thông qua những đề xuất giải pháp, kiến nghị cụ thể về hình thức tổ chức, cách thức quản lý và các chính sách hỗ trợ của nhà nước trong hoạt động hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan về hội nhập quốc tế
- Chương 2: Thực trạng hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn
2010 – 2015
- Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2020
Trang 145
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1.1 Xu hướng phát triển hội nhập quốc tế thế giới
Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, sự phát triển kinh tế của các nước thế giới đã chịu sự tác động sâu sắc, toàn diện của một loạt những xu thế mới Đó
là xu thế phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, quốc tế, toàn cầu hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại giúp cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Các công ty xuyên quốc gia ngày càng
mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới; thúc đẩy quá trình quốc tế hoá sản xuất, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới phát triển nhanh chóng
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế lớn của quá trình phát triển kinh tế thị trường, phản ánh trình độ phát triển cao của trình độ sản xuất, phân công lao động quốc tế và việc quốc tế hoá sản xuất trở nên phổ biến Đặc điểm quan trọng của toàn cầu hoá là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thể, trong
đó nền kinh tế của các quốc gia chỉ là các bộ phận có quan hệ tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú Không thể phủ nhận rằng, bất kỳ một quốc gia nào khi tham gia vào kinh tế quốc tế đều có thể thu được lợi ích nếu quốc gia đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn về mặt chi phí so với quốc gia khác sản xuất những sản phẩm tương tự Do vậy, chỉ có những quốc gia biết tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức mới có thể đứng vững và phát triển Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế
đã trở thành một xu thế tất yếu khách quan và thể hiện qua một số xu hướng chính như sau:
Trang 156
1.1.1.1 Xu hướng tự do hóa thương mại khu vực
Việc tự do hoá thương mại khu vực đang diễn ra thông qua hình thức ký kết các Hiệp định thương mại khu vực Các Hiệp định thương mại khu vực đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới và trở thành nhân tố quan trọng trong quan hệ kinh
tế quốc tế, thực hiện qua một số hình thức chủ yếu sau:
- Các Hiệp định kinh tế thương mại song phương: đây là hình thức hội nhập kinh tế quốc tế mang tính nền tảng, phổ biến nhất và quan trọng nhất đối với tất cả các nước Trong đa số các trường hợp, các hiệp định thương mại song phương được ký kết và thực hiện trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và tuân thủ nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, không làm trở ngại đến quan hệ của mỗi bên đối với nước thứ ba
- Các khối kinh tế khu vực và liên khu vực: Cho đến nay đã có hàng chục khối kinh tế khu vực khác nhau về số lượng thành viên và mức độ cam kết hợp tác nội
bộ Có khối hoạt động theo quy chế khu vực mậu dịch tự do như AFTA của ASEAN, NAFTA của Bắc Mỹ … Những thành viên thuộc khu vực này sẽ thực hiện việc cắt giảm thuế quan cho nhau hoặc thực hiện quy chế liên minh thuế quan Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên Những hàng rào phi thuế quan cũng được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn Tuy nhiên, khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan chung áp dụng cho những nước ngoài khối, thay vào đó từng thành viên vẫn có thể duy trì chính sách thuế quan khác nhau đối với các nước không phải thành viên Ngoài việc thực hiện tự do hoá mậu dịch thông qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan như ở khu vực mậu dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xây dựng biểu thuế quan chung, áp dụng cho các nước ngoài liên minh (ví dụ như Cộng đồng chung Châu Âu (EC) trước đây nay là thị trường chung Châu Âu (EU); thị trường chung MERCOSUR ở Nam Mỹ, thị trường chung Châu Phi…
Đặc biệt, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) ra đời năm 1989 và Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) ra đời năm 1996 là một hình thức
Trang 167
hội nhập mang tính chất khối kinh tế liên khu vực mở Đặc trưng của các diễn đàn này là tiến trình đối thoại với những nguyên tắc linh hoạt và tự nguyện để thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự do hoá trên bình diện toàn cầu Mặc dù vẫn còn dừng lại ở hình thức diễn đàn, song APEC đang có xu hướng hình thành cơ cấu tổ chức mang tính tổng thể thường xuyên hơn để chuyển hoá dần thành một khối kinh tế mở có sự tham gia của các nước thuộc cả châu Á và châu Âu (liên khu vực)
- Các tổ chức kinh tế toàn cầu: được chia làm hai loại:
Thứ nhất, những tổ chức kinh tế liên Chính phủ như WTO, IMF, WB, G8 , OECD hoặc UNDP … Những tổ chức này đang đóng vai trò thiết kế và chi phối các “luật chơi chung” mang tính toàn cầu, trước hết với các dòng chảy thương mại, tiền tệ và đầu tư chính thức Đồng thời, các tổ chức này sẽ dần cải tổ và chuyển hoá thành các tổ chức có chức năng, phạm vi điều tiết rộng hơn
Thứ hai, các tổ chức kinh doanh toàn cầu mà trước hết và phổ biến hơn cả hiện nay là các công ty xuyên quốc gia Các công ty này đang có xu hướng phát triển nhanh chóng về quy mô thông qua sáp nhập và bao quát hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực, các quốc gia dù đang phát triển hay phát triển
Ngoài những hình thức hội nhập quốc tế chủ yếu, trên thế giới đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn những hình thức đặc thù như thành phố cảng tự do, các đặc khu kinh tế quốc gia và cả những “tam giác”, “tứ giác” vùng … Các hình thức hội nhập quốc tế này ngày càng phát triển phong phú và một quốc gia có thể lựa chọn tham gia các hình thức thích hợp với điều kiện và định hướng phát triển của mình Hơn nữa, mỗi nước cần sử dụng đồng thời nhiều hình thức để khai thác tối đa các lợi thế, hạn chế thấp nhất các tác động trái chiều của hội nhập quốc tế
1.1.1.2 Xu hướng phát triển thương mại gắn liền với việc bảo vệ môi trường
Xu hướng gắn hoạt động thương mại với việc giữ gìn và tôn tạo môi trường sinh thái ngày càng phổ biến trên thế giới Ngoài lý do về chất lượng của sản
Trang 17số nước phát triển Sự áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường trong hoạt động thương mại đã gây cho các nước đang phát triển những khó khăn nhất định trong quá trình tiếp cận thị trường của các nước phát triển
1.1.1.3 Xu hướng tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương mại hiện đại
Các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ mang tính áp đặt như lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc thuế suất nhập khẩu cao Thay vào đó, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan như các hàng rào kỹ thuật về an toàn thực phẩm, môi trường, lạm dụng luật chống bán phá giá, tự vệ, chống trợ cấp, thủ tục hải quan, ghi nhãn mác ngày càng được sử dụng rộng rãi Chính vì vậy, từ hội nghị Doha đến hội nghị Cancun, WTO chủ trương mở rộng đàm phán toàn diện trên cả bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư liên quan đến thương mại, sở hữu trí tuệ và một số vấn đề mới phát sinh nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại Tại hội nghị Cancun tháng 9 vừa qua ở Mexico, các nước đang phát triển liên kết thành nhóm G22 đòi thương mại công bằng, bình đẳng, các nước phát triển mở cửa thị trường và bỏ trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp xuất khẩu
1.1.2 Khái niệm và bản chất của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu khách quan, do bản chất
xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với con người Sự hình thành và
Trang 189
phát triển của kinh tế thị trường là tác nhân đầu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc
tế Hội nhập quốc tế diễn ra với nhiều hình thức, cấp độ và nhiều lĩnh vực và theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập quốc tế tất yếu trở thành một xu thế lớn của thời đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của các quốc gia và vùng lãnh thổ Ngày nay, hội nhập quốc tế là con đường của hầu hết các quốc gia
để phát triển đất nước
1.1.2.1 Khái niệm hội nhập quốc tế
Khái niệm hội nhập quốc tế hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm của tác giả về hội nhập quốc tế như sau:
Hội nhập quốc tế là quá trình các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành nên và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mới của quan hệ quốc tế Những chủ thể quốc tế mới này có thể dưới dạng: (i) hoặc là một tổ chức liên chính phủ (các thành viên vẫn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách, chẳng hạn như tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…), (ii) hoặc là một tổ chức siêu quốc gia (các thành viên trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia, hình thái này có thể giống như mô hình nhà nước liên bang, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…), (iii) hoặc là một tổ chức lai ghép giữa hai hình thái trên (các thành viên trao một phần chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia và vẫn giữ một phần chủ quyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay)
Trang 1910
Chủ thể của hội nhập quốc tế đầu tiên là các quốc gia, vùng lãnh thổ, chủ thể chính của quan hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết đã ký Bên cạnh chủ thể chính là các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế
1.1.2.2 Nội hàm của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của kinh tế - xã hội (lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực an ninh-quốc phòng, lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội, ), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên tất cả các lĩnh vực với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau
a) Hội nhập quốc tế về kinh tế:
Hội nhập quốc tế về kinh tế hay còn gọi là hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng quốc gia, vùng lãnh thổ với kinh tế khu vực
và toàn cầu thông qua các nỗ lực tự do hóa thương mại và mở cửa nền kinh tế theo các hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực, đến liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình
cơ bản từ thấp đến cao như sau:
(a1) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước tham gia là thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-
Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
(a2) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối Ví dụ như: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (viết tắt là EFTA), Khu vực mậu
Trang 2011
dịch tự do bắc Mỹ (viết tắt là NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (viết tắt
là AFTA) Trong các năm gần đây, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, thương mại điện tử, mua sắm chính phủ… Ví dụ như: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân, Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình dương (TPP)
(a3) Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên tham gia liên minh, thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối, đồng thời phải thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan
(a4) Thị trường chung (hay còn gọi là thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại trong khối đó và có chính sách thuế quan chung đối với các quốc gia ngoài khối, các thành viên tham gia còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác như vốn và lao động… để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Khối Liên minh châu Âu (EU)
(a5) Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là một mô hình hội nhậpquốc tế về kinh tế ở giai đoạn cao và sâu sắc nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung Ví dụ: đồng tiền chung Châu
Âu
Một quốc gia, vùng lãnh thổ có thể đồng thời tham gia vào các tiến trình hội nhập với phạm vi, hình thức và tính chất Song, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ mức độ thấp đến mức độ cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện nhất định Hội nhập quốc tế về kinh tế là nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của hội nhập trong các lĩnh vực khác như: chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ,…
Trang 2112
b) Hội nhập quốc tế về chính trị:
Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa từ hai quốc gia trở lên) nhằm mục đích theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các quy định chung, thống nhất Hội nhập quốc tế về chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt của các quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó các nước chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản như: tư tưởng, ý thức hệ chính trị, mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và quyền lực chính trị Một quốc gia, vùng lãnh thổ có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp ước với một hoặc một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác trên cơ sở thiết lập các mối liên kết quyền lực chung của họ hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (ví dụ như Cộng đồng ASEAN, Liên minh Châu Âu) hay một tổ chức có quy
mô toàn cầu (ví dụ như Liên Hiệp quốc)
c) Hội nhập quốc tế về an ninh-quốc phòng:
Hội nhập quốc tế về an ninh-quốc phòng là sự tham gia của quốc gia, vùng lãnh thổ vào quá trình gắn kết các quốc gia, vùng lãnh thổ với các nước khác trong mục tiêu chung là duytrì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi các nước hội nhập quốc tế về an ninh – quốc phòng phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hoặc đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết các nội dung: mục tiêu chung, đối tượng hoặc kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng
d) Hội nhập quốc tế về văn hóa-xã hội:
Hội nhập quốc tế về văn hóa-xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa của nước này với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần của nước mình với khu vực và thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của khu vực và thế giới
để bổ sung, hoàn thiện nền văn hóa dân tộc của nước mình; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực; hợp tác với các nước thành viên tham gia hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng lớn trên phạm vi khu vực và thế giới (Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN,
Trang 2213
UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về phát triển văn hóa-giáo dục-xã hội với các nước
1.1.3 Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia-dân tộc Các quốc gia liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới mới
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc
tế nói chung
Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc và hàng loạt các tổ chức chuyên môn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiết chế thuộc hệ thống Bretton Woods (đặc biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới), ra đời với số lượng thành viên gia nhập ngày một nhiều hơn, bao quát hầu hết các nước trên thế giới Đây là một tổ chức hợp tác toàn diện, bao quát hầu hết mọi lĩnh vực và có quy mô toàn cầu Trong một số lĩnh vực, Liên hiệp quốc đã
có sự phát triển vượt lên trên sự hợp tác thông thường và đã đạt đến trình độ ban đầu của hội nhập (lĩnh vực chính trị-an ninh, lĩnh vực nhân quyền, lĩnh vực tài chính – tiền tệ,…)
Trong lĩnh vực thương mại, tiến trình hội nhập toàn cầu được thúc đẩy với việc ra đời của một định chế đa phương đặc biệt quan trọng, Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), sau đó được nối tiếp bằng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Hiện nay, 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia với tư cách thành viên chính thức của Tổ chức WTO Trong hơn thời gia qua, Tổ chức thương mại thế giới đã phát triển mạnh mẽ hệ thống các quy tắc về thương mại quốc tế, bao gồm hầu hết các lĩnh vực của quan hệ kinh tế giữa các thành viên ở
Trang 2314
hầu hết các lĩnh vực: hàng hóa, dich vụ, dệt may, gia dầy, hàng rào kỹ thuật thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, hải quan, giám định hàng hóa, quy tắc xuất xứ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại,… Các quy định chung của WTO đã trở thành nền tảng của tất cả các thỏa thuận kinh tế khu vực hay song phương trên thế giới hiện nay
Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập phát triển rất nhanh trong những thập niên 1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây Hàng loạt tổ chức và thể chế khu vực đã ra đời ở khắp các châu lục Các tổ chức và thể chế khu vực hiện nay đã có mặt ở hầu hết các khu vực Các tổ chức và thể chế khu vực về chính trị-an ninh kinh tế là nhiều nhất
Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu vực, quá trình hội nhập giữa các nước còn được điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liên minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định đối tác toàn diện, hiệp định đối tác chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại (BFTA, BCU…) Từ cuối thập niên 1990 trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch
tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang trong quá trình đàm phán các BFTA Thậm chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phán tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan, Nhật, Úc…) Điều này được
lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu thế của BFTA so với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện cũng thuận lợi hơn)
Như vậy có thể thấy hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn của thời đại ngày nay Chung ta đang sống trong một thế giới hội nhập sâu, rộng hay nói một cách khác là thời đại hội nhập toàn cầu Xu thế này đã, đang và sẽ có ảnh hưởng toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi các cấu trúc của hệ thống thế giới cũng như bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữa chúng
Trang 2415
1.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Chủ trương, mục tiêu chỉ đạo Hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của Việt Nam bắt đầu từ khá sớm nhưng chủ yếu được đẩy mạnh từ sau khi Đảng ta phát động sự nghiệp đổi mới HNKTQT là nội dung trọng tâm và quan trọng nhất của Hội nhập quốc tế và
là một bộ phận xuyên suốt của công cuộc đổi mới ở nước ta Các quan điểm và chủ trương của Đảng ta về HNKTQT mang tính nhất quán, có hệ thống và luôn được cập nhật và mang tính kế thừa qua các kỳ Đại hội của Đảng
Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức sâu sắc sự cần thiết và tất yếu của HNKTQT Từ đó tới nay, đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng đã được đề ra một cách nhất quán, không ngừng được phát triển và được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ và tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể ở từng giai đoạn, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đề ra đường lối Đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế Sự nghiệp Đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác Đảng đã nhận thức rõ rằng bối cảnh đó là điều kiện để chúng ta phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở Từ cuối nhiệm kỳ đại hội VI, Đảng đã có những hoạt động đẩy mạnh quá trình khôi phục và bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, đánh dấu bằng việc ký kết bản Tuyên bố chung, thoả thuận khôi phục quan hệ bình thường giữa hai Đảng và hai Nhà nước vào tháng 11 năm 1991
Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ,
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn
Trang 2516
mới của nước ta Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập của các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã Một cơ chế hợp tác mới ra đời, vận hành theo những quy luật mà hôm nay chúng ta đã rất quen thuộc: cơ chế thị trường Đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới Triển khai Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) về chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại đã cụ thể hoá hơn nữa chính sách đối ngoại của Việt Nam “phát huy những điểm đồng, hạn chế những điểm bất đồng”
và nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó nhấn mạnh “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB) , mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là ở Châu Á - Thái Bình Dương”
Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác định sự cần thiết phải xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu Từ
đó, Đảng đưa nhiệm vụ đối ngoại lên một tầm cao mới: “Nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”
và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” Đây là lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước Nó đánh dấu một bước chuyển biến
cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết số 01/NQ-TƯ của Bộ Chính trị ngày 18 tháng 11 năm 1996 về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và Nghị quyết 04/NQ-NHTƯ của Ban chấp hành Trung ương (Khoá VIII) ngày 29 tháng 12 năm 1997 về tiếp tục đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000
là những văn kiện quan trọng chỉ đạo việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của
Trang 2617
Việt Nam Nghị quyết 01/NQ-TƯ đã chỉ rõ 4 phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại thời kỳ này là tăng cường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và phát triển các ngành dịch
vụ định hướng xuất khẩu thu ngoại tệ Trong đó, tăng cường xuất khẩu là trọng điểm chiến lược của kinh tế đối ngoại Hội nhập kinh tế quốc tế cũng nhằm phục
vụ tích cực cho phương hướng này
Nghị quyết 04/NQ-NHTƯ của Ban chấp hành Trung ương ra đời trong bối cảnh Đảng ta đang nhìn lại những gì đã vượt qua để đánh giá khách quan những thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cả trong nước và từ bên ngoài Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực và ở một số nước trên thế giới
là một bài học lớn để chúng ta đúc rút những kinh nghiệm cho quá trình hội nhập
và nhận thức rõ rằng chúng ta hội nhập thành công bằng chính sức mình, với nội lực được phát huy tối đa, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng cao Từ thực tế đó, Đảng ta đã đề ra nguyên tắc định hướng cho hội nhập kinh tế quốc tế: “Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài”, “tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”
Vấn đề phát huy nội lực và chủ động hội nhập được đề ra từ Nghị quyết này mang một ý nghĩa hết sức quan trọng: hội nhập không chỉ là tranh thủ thuận lợi từ bên ngoài, hội nhập phải là sự thay đổi, đổi mới từ ngay bên trong nền kinh tế Những nhiệm vụ cụ thể đã được đề ra để tích cực, chủ động hội nhập là “Chủ động chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA”
Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bản chất của toàn cầu hoá và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham gia quá trình này: "Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày
Trang 27có ý nghĩa hết sức quan trọng Đảng ta cũng nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội phát triển cho đất nước Đảng chỉ rõ nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới là một trong bốn nguy
cơ và chúng ta có thể tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại
để tránh khỏi nguy cơ này
Đại hội IX đã kiểm điểm lại quá trình thực hiện đường lối đối ngoại do Đại hội VIII đề ra, một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế” và đề ra nguyên tắc cơ bản và bao trùm: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” Đại hội IX đã đổi mới phương châm đối ngoại được
đề ra từ Đại hội VII, phát triển phương châm “Việt Nam muốn là bạn với các nước ” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006 tiếp tục cụ thể hóa, đưa ra các chủ trương
“chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, “lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu cao nhất”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương”, “chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương”
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1 năm 2007, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW
Trang 2819
ngày 5 tháng 2 năm 2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO
Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2011 - 2020, trong đó nhấn mạnh việc “không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”, và “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế ; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước” Nghị quyết Đại hội XI đã nâng chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” lên thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”
Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày 10 tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế Trên cơ sở đó, chúng ta đang chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện: hội nhập giờ đây không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác Tuy nhiên, “hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước” (trích Nghị quyết 22-NQ/TW)
Như vậy, với Nghị quyết 22-NQ/TW, tiến trình hội nhập quốc tế quốc tế của nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế; chính trị, quốc phòng và an ninh; và văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, y tế, giáo dục và đào tạo
Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 31/NQ-CP; Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/NQ-
CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trang 29tế quốc tế trong thời gian tới
* Mục tiêu của Đảng về hội nhập quốc tế : được thể hiện rõ trong Nghị Quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị, cụ thể như sau:
Hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
* Quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập quốc tế: được đề ra trong Nghị Quyết số 22 - NQ/TW như sau:
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; quán triệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan
hệ lớn được tổng kết trong Cương lĩnh; đồng thời chú trọng một số quan điểm sau:
- Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới
sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Mọi cơ chế, chính sách phải phát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của các tầng lớp nhân dân,
Trang 30- Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước
- Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia
- Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
1.2.2 Tiến trình và kết quả hội nhập quốc tế hiện tại của Việt Nam
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam được đánh dấu bằng một số điểm mốc quan trọng như sau:
Trang 31- Tháng 1/1995: Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO
- Tháng 7/1995: Việt Nam ký hiệp định khung về hợp tác kinh tế Liên minh Châu Âu (EU);
- Tháng 7/1995: Việt Nam gia nhập ASEAN
- Tháng 1/1996 :Thực hiện chương trình CEPT nhằm tiến tới khu vực tự do ASEAN (AFTA)
- Tháng 3/1996: tham gia sáng lập Diễn đàn Á -ÂU (ASEM) với 25 thành viên;
- Tháng 11/1998: Việt Nam gia nhập diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC):;
- Tháng 7/2000: Ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (có hiệu lực thi hành từ 10/12/2001);
- Tính đến này Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu; Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Chi Lê; Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Lào; Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Ấn Độ; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Australia/New Zealand; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc; Hiệp định đối tác toàn diện ASEAN – Nhật Bản; Khu vực tự do ASEAN – Trung Quốc; Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)
- Tháng 12/2015: tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Trang 3223
Trong suốt thời gian qua, Việt Nam đã tiến hành các công việc cần thiết bao gồm việc minh bạch hóa chính sách bằng các bị vong lục và giải đáp hơn 1.500 câu hỏi của các thành viên WTO; tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO; ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trên thực tế, việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết Hiệp định TPP, cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế, cụ thể :
- Hưởng những ưu đãi thương mại, tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử, nâng cao thế và lực trong thương mại quốc tế Việt Nam sẽ được hưởng các ưu đãi trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên giành cho nhau thông qua Chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), Chế độ đãi ngộ quốc gia (NT) Là một nước đang phát triển ở trình độ phát triển thấp, Việt Nam còn có thể được hưởng những ưu đãi riêng về miễn trừ, ân hạn trong việc thực hiện các nghĩa
vụ thành viên cũng như trong việc tiếp cận thị trường để bán các sản phẩm của mình Việt Nam có thể sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, TPP để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong trường hợp có tranh chấp thương mại với các nước thành viên, đặc biệt khi nước thành viên đó là cường quốc về kinh tế
- Có cơ hội mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu Tham gia WTO, TPP, Việt nam sẽ tham gia vào một hệ thống thương mại rộng mở, tự do và bình đẳng, được hưởng các cam kết ưu đãi, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên dành cho nhau thông qua kết quả của vòng đàm phán tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường Việc gia nhập vào WTO, TPP như vậy sẽ tạo được môi trường thông thoáng cho phát triển kinh tế, mở rộng thị trường về mọi mặt, đặc biệt là cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với những mặt hàng có ưu thế như gạo, cà phê, hàng dệt may, giày dép
- Tăng cường thu hút đầu tư và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao từ các nước thông qua việc tham gia và chấp nhận các luật lệ, quy tắc của WTO, TPP, AEC sẽ giúp cho Việt Nam tạo lập và củng cố lòng tin để các nhà đầu tư nước ngoài an tâm đầu tư vào Việt Nam Đồng thời, Việt Nam cũng tăng thêm cơ hội
Trang 3324
tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, các hình thức tín dụng, tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF
- Gia nhập WTO, Tham gia TPP và Cộng đồng kinh tế ASEAN Việt Nam sẽ
có cơ hội tham gia các cuộc đàm phán đa phương, giải quyết các nhu cầu về thị trường vì các quyền lợi chính đáng của mình Như vậy, Việt Nam có điều kiện, cơ hội góp tiếng nói vì lợi ích các nước đang phát triển, nắm bắt tốt hơn các xu thế quốc tế cũng như sự điều chỉnh chính sách kinh tế thương mại của các nước khác,
từ đó xác định được hướng điều chỉnh phù hợp với tiến trình chung và khai thác triệt để những cơ hội lợi nhất cho mình
- Tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam mở rộng quan
hệ làm ăn, chấp nhận cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý và sản xuất, tiếp thu khoa học công nghệ mới, nâng cao hiệu quả hoạt động
Bên cạnh những cơ hội to lớn, việc gia nhập WTO, TPP, AEC cũng đặt ra cho Việt Nam những thách thức chủ yếu như sau:
- Sức mạnh cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ và đội ngũ các nhà doanh nghiệp của Việt Nam còn yếu kém Tham gia hợp tác kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện để hàng hóa và dịch vụ Việt Nam có thêm cơ hội để xâm nhập thị trường quốc
tế mới chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, trong khi đó hàng hóa và dịch vụ nước ngoài với sức cạnh tranh cao sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường Việt Nam
- Hệ thống luật pháp, chính sách quản lý kinh tế - thương mại chưa hoàn chỉnh Việt Nam phải tiến hành điều chỉnh chính sách kinh tế, thương mại nhằm đáp ứng được các nguyên tắc của WTO, TPP, AEC đồng thời hỗ trợ đắc lực cho sản xuất, dịch vụ trong nước phát triển mạnh mẽ để tạo thành một công cụ đắc lực cho đàm phán mở cửa thị trường Một điều dễ nhận thấy là hệ thống chính sách kinh tế, thương mại của Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, đặc biệt chính sách Thuế và Phi thuế Bên cạnh đó, về mặt quản lý nhà nước, tổ chức và quản lý
Trang 3526
Chương 2 THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
2.1 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA HẢI
PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
2.1.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về hội nhập quốc tế
Thực hiện các chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, thành phố Hải Phòng luôn xác định công tác quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết, chương trình hành động về hội nhập quốc tế trong các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Thành phố tích cực chỉ đạo các cơ quan, đơn
vị tổ chức quán triệt, phổ biến, tuyên truyền các văn bản chỉ đạo của Trung ương
và thành phố về hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng cho các cán bộ, công chức, viên chức, cộng đồng doanh nghiệp và người dân như: Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị khóa IX về hội nhập kinh
tế quốc tế; Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 12/8/2002 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 22/NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị 41-CT/TW ngày 15/4/2010 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác ngoại giao kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày
Trang 3627
27/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới; Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 của Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 10//7/2014 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO),…
Hàng năm Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành
ủy thường xuyên định hướng, thông tin kịp thời cho cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố thông qua Hội nghị giao ban báo chí hàng tháng và Hội nghị cung cấp thông tin cho báo chí những chủ trương, quan điểm, lập trường của Đảng, chính sách Nhà nước về các vấn đề trong nước và quốc tế cũng như thông tin về chủ trương, định hướng của thành phố trong quá trình hội nhập quốc tế
Thực hiện triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế, thành phố Hải Phòng đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo
về hội nhập quốc tế, điển hình như: Nhằm cụ thể hoá Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh
và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành Chương trình hành động số 3788/CTr-UBND thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập WTO Bên cạnh đó, hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đã kịp thời ban hành và triển khai kế hoạch thực hiện công tác hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, trong đó quy định cụ thể các danh mục công việc cần triển khai thực hiện, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp thực hiện, sản phẩm đầu ra và thời gian hoàn thành, cụ thể: Kế hoạch số 1429/KH-UBND ngày 28/3/2011 ban hành Chương trình công tác năm 2011 về hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 3728
thành phố; Kế hoạch số 1679/CTr-BHTKTQT ngày 03/4/2012 ban hành chương trình hoạt động của Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thành phố năm 2012; Kế hoạch số 2515/Ctr-BHTKTQT ngày 18/4/2013 ban hành Chương trình công tác hội nhập quốc tế thành phố năm 2013; Kế hoạch số 1893/Ctr-BHTKTQT ngày 25/3/2014 ban hành Chương trình công tác hội nhập quốc tế thành phố năm 2014; Kế hoạch
số 2722/Ctr-BHTKTQT ngày 27/4/2015 ban hành Chương trình công tác năm
2015
Để triển khai các chương trình công tác về hội nhập một cách có hiệu quả, UBND thành phố giao Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thường xuyên theo dõi, giám sát quá trình triển khai thực hiện, định kỳ sáu tháng tiến hành sơ kết, một năm tiến hành tổng kết, đánh giá và đề xuất để điều chỉnh và đưa ra các giải pháp phù hợp
để chương trình công tác sát với thực tế và mang tính khả thi cao
2.1.2 Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy phục vụ hội nhập quốc tế thành phố
Đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa và yêu cầu đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc
tế, ngày 26/11/2004, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 3088/QĐ-UB về việc thành lập Sở Ngoại vụ Hải Phòng trên cơ sở Ban Ngoại vụ trước đây Từ khi được thành lập, hoạt động ngoại giao đã thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như mục tiêu phát triển đối ngoại của thành phố Hải Phòng Các hoạt động đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhà nước và đối ngoại nhân dân trên địa bàn thành phố được triển khai khá đồng
bộ gắn kết chặt chẽ với nhiều hoạt động phong phú, sôi động trên các lĩnh vực về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Thực hiện chủ trương: “Mở rộng quan hệ đối ngoại, trước hết là kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” thành phố đặc biệt coi trọng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các bộ phận chuyên môn được thành lập để đẩy mạnh hoạt động này như: Phòng Kinh tế đối ngoại thuộc Sở Kế
Trang 3829
hoạch và Đầu tư được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO), hợp tác kinh tế với các địa phương
và vùng lãnh thổ; Trung tâm xúc tiến đấu tư thuộc Ban Quản lý Khu Kinh tế Hải Phòng được thành lập nhằm đẩy mạnh hoạt động cung cấp thông tin về môi trường đầu tư, tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đầu tư trong các khu công nghiệp, khu kinh tế; phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước về xúc tiến đầu tư trong các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn thành phố
Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo, điều phối về hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng của thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định kiện toàn Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thành phố; kiện toàn
Tổ chuyên viên giúp việc Ban Hợp tác và Quy chế hoạt động của Ban Hợp tác kinh
tế quốc tế thành phố
2.1.3 Bố trí và sử dụng ngân sách cho công tác hội nhập quốc tế
Từ năm 2010 đến nay, kinh phí cho Chương trình Hội nhập quốc tế và công tác của đoàn ra, đoàn vào phục vụ nhiệm vụ xúc tiến đầu tư đã được đảm bảo với tổng số kinh phí là 90.586 triệu đồng (kinh phí cho công tác hội nhập quốc tế là 31.786 triệu đồng, kinh phí cho các đoàn ra là 50.000 triệu đồng, kinh phí cho các đoàn vào là 8.800 triệu đồng) Các đơn vị được thụ hưởng nguồn vốn hội nhập quốc tế sử dụng đúng mục đích, hiệu quả về kinh phí đã cấp
2.1.4 Thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế Công tác thông tin, tuyên truyền và nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế được triển khai rộng rãi, liên tục đến các cơ quan, các tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp và người dân, đã tạo nên sự đồng thuận cao về sự cần thiết và ý nghĩa, cũng như cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế; từ đó ngày càng nhận thức được rằng hội nhập quốc tế là một phương tiện, nội lực mới là nhân tố có ý nghĩa quyết định Công tác tuyên truyền và phổ biến thông tin về hội nhập kinh tế
Trang 39tế
Về phía các cơ quan chức năng, công tác thông tin, tuyên truyền về hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta được thực hiện thông qua các trang web của sở ngành, đơn vị chức năng trên địa bàn thành phố
Về việc phổ biến cập nhật kiến thức về hội nhập, tổ chức các hội thảo chuyên
đề về hội nhập, các sở, ngành đã phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về WTO, Tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, lớp tập huấn phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật mới của ngành, nhất là các văn bản quy định có liên quan đến các cam kết WTO như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Quản lý thuế, các Nghị định liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai, về chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, Hiệp định
về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, quản lý an toàn bức xạ, chuyển giao công nghệ, Cơ chế phát triển sạch (CDM) và hàng rào kỹ thuật trong thương mại v.v ;
Trang 4031
Về việc tổ chức các sự kiện truyền thông liên quan đến gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Thường trực Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thành phố cùng sở ngành thành phố phối hợp với các ngành của Trung ương, các dự án quốc tế tổ chức nhiều buổi hội thảo chuyên đề về hội nhập quốc tế, về gia nhập WTO và thu hút đông đảo cán bộ tham dự Các hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà khoa học, cán bộ quản lý nhà nước và được các phương tiện truyền thông đại chúng tập trung phản ánh, tiêu biểu là Hội thảo phổ biến về Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) 2015 và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; Hội thảo Du lịch Việt Nam Hội nhập trong ASEAN; Hội thảo Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp thành phố;…
2.1.5 Xây dựng thể chế và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế
Công tác cải cách hành chính: Thời gian qua, thành phố đã tổ chức thực hiện toàn diện và có trọng tâm đối với các nhiệm vụ cải cách hành chính Mặc dù phải tập trung thực hiện các nhiệm vụ để giải quyết, tháo gỡ khó khăn do tình hình suy giảm kinh tế, song nhìn chung các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố đã bám sát và
cụ thể hóa các yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện cải cách hành chính được xác định tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 01-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy, Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Về cơ bản, kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của thành phố đạt được hiệu quả toàn diện trên các lĩnh vực; chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật được nâng cao hơn, phù hợp với thực tiễn, phát huy hiệu lực, hiệu quả Công tác cải cách hành chính góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật hành chính; góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội thành phố Nền hành chính của thành phố đang tiếp tục có bước chuyển biến quan trọng theo hướng chuyển sang nền hành chính phục vụ Mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, nhân dân có tiến bộ rõ, người dân ngày càng quan tâm nhiều hơn, tham gia giám sát những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Thông qua kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính đã góp phần tạo môi trường thông thoáng