1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại cục thuế TP hồ chí minh

80 205 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về cơ bản, thuế TNCN của một quốc gia có những đặc điểm: - Thu nhập tính thuế là TNCN trừ đi một khoản cố định không tính thuế; hoặc trừ đi một số khoản chi tiêu tối thiểu tùy nhân thân

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ TP HỒ CHÍ MINH

Họ và tên: Mai Huy Dương

Lớp: Quản lý kinh tế - 2014

Khóa năm: 2014 – 2016

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hải Quang

Hải Phòng 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Học viên thực hiện Luận văn

Mai Huy Dương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Quý Thầy Cô giáo Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã trang bị cho tôi những kiến thức của chương trình cao học trong suốt thời gian vừa qua, giúp tôi hoàn thiện luận văn này;

Tôi xin chân thành cám ơn tới Thầy Nguyễn Hải Quang người đã hướng

dẫn khoa học của luận văn đã tận tình truyền đạt kiến thức, trực tiếp hướng dẫn

để tôi có thể hoàn thành luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh”

Tôi cám ơn các bạn, các anh, các chị đã và đang làm việc tại Phòng Quản

lý thuế thu nhập cá nhân – Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi thu thập tài liệu, dữ liệu và nghiên cứu đề tài

Xin trân trọng cảm ơn !

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Học viên thực hiện Luận văn

Mai Huy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5

1.1 Hoàn cảnh ra đời thuế TNCN 5

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vài trò của thuế TNCN 8

1.2.1.Khái niệm thuế TNCN 8

1.2.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 9

1.2.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 13

1.3 Quản lý thuế TNCN 17

1.3.1 Khái niệm về quản lý thuế TNCN 17

1.3.2 Nội dung công tác quản lý thuế TNCN 18

1.4 Tóm tắt chương 1 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ TP HỒ CHÍ MINH 34

2.1 Giới thiệu Cục Thuế TP Hồ Chí Minh 34

2.1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 34

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 36

2.1.3 Các nguồn lực và thành tựu chủ yếu 41

2.2 Công tác quản lý chính sách thuế TNCN tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh43 2.2.1 Công tác ban hành chính sách thuế TNCN 43

Trang 5

2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN 43

2.2.3 Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN 47

2.2.3 Thanh tra thuế TNCN 52

2.3 Đánh giá công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh 54 2.3.1 Điểm mạnh trong công tác quản lý thuế TNCN 54

2.3.2 Điểm yếu trong công tác quản lý thuế TNCN 55

2.3.3 Nguyên nhân 59

1.4 Tóm tắt chương 2 59

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ TP HỒ CHÍ MINH 61

3.1 Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 61

3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Hồ Chí Minh 63

3.2.1 Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện chính sách Thuế TNCN 63

3.2.2 Nhóm giải pháp về kiểm soát thực hiện chính sách Thuế TNCN 66

3.3 Kiến nghị 66

3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 66

3.3.2 Kiến nghị với Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính 67

3.3.3 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân các cấp 68

3.4 Tóm tắt chương 3 69

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1.1: Tác động của thuế TNCN lên thị trường lao động 11

Hình 1.2: Đường biểu diễn thuế lũy tiến 12

Hình 1.3: Thuế lũy tiến, lũy thoái và tỷ lệ 12

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh 38

Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Phòng thuế TNCN 46

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Trang Bảng 1.1: Cơ cấu thuế các quốc gia OECD 16

Bảng 2.1: Biểu thuế lũy tiến từng phần Error! Bookmark not defined Bảng 2.2: Cách tính thuế TNCN theo bậc Error! Bookmark not defined Bảng 2.3: Biểu thuế toàn phần Error! Bookmark not defined

Bảng 2.4: Số liệu nộp thuế Phòng Quản lý thuế TNCN 2010 – 2014 50 Bảng 2.5: Thu thuế TNCN tại TP Hồ Chí Minh so với cả nước 2010-

2014 51 Bảng 2.6: Một số nguồn thu thuế lớn của TP Hồ Chí Minh 2010 -

2014 51

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và sự cần thiết của đề tài

Thuế là một công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước, nó vừa nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Về cơ bản, hệ thống chính sách thuế gồm có thuế gián thu và thuế trực thu Thuế gián thu là loại thuế được thu thông qua cá nhân hay tổ chức kinh doanh như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp của cá nhân, tổ chức có thu nhập như thuế Thu nhập cá nhân (TNCN), thuế Thu nhập doanh nghiệp (DN) Đối với những nước phát triển, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngược lại, giảm dần thuế gián thu và các nước đang phát triển cũng hoạch định chính sách thuế theo xu hướng đó

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, trong thời gian qua đời sống của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, xu hướng gia tăng khoảng cách giữa người có TNC và người có thu nhập thấp càng ngày nới rộng Để thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2016 - 2020, Nhà nước đảy mạnh đầu tư cho công tác quản lý vì các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động…sẽ có sự phát triển tương ứng Do vậy, nền kinh tế sẽ có hướng tiếp tục tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh,

mở rộng qui mô, thị trường kinh doanh

Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, người nước ngoài làm việc, sinh sống tại Việt Nam và người Việt Nam sống tại Việt Nam nhưng có thu nhập nhận được từ các tổ chức ở nước ngoài cũng tăng lên Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch

về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Như vậy, ta có thể thấy rằng thuế TNCN ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Trên thực tiễn, mặc dù thuế TNCN đã được đưa vào áp dụng ở Việt Nam

từ năm 1991 với tên gọi “Thuế thu nhập đối với người có TNC”, song từ khi áp

Trang 10

dụng Luật thuế TNCN, việc sửa đổi, bổ sung các thiếu sót hoặc hủy bỏ một số qui định chưa phù hợp vẫn còn đang được hoàn thiện Đối với địa bàn thành phố (TP.) Hồ Chí Minh, là một TP có quy mô và tốc độ phát triển đứng đầu cả nước thì vấn đề quản lý thuế TNCN ngày càng đóng vai trò lớn và cần được hoàn thiện

Trước thực trạng đó, do có được điều kiện công tác tại Cục Thuế TP Hồ

Chí Minh, tác giả quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế

TNCN tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh”với mong muốn góp ý kiến đánh gía

nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới

Để thực hiện mục tiêu này, luận văn có các nhiệm vụ:

Thứ nhất, hệ thống hóa vấn đề lý luận về thuế TNCN, nội dung của quản

lý thuế TNCN; các yếu tố và điều kiện KT-XH ảnh hưởng tới việc quản lý sắc thuế TNCN; kinh nghiệm và bài học quản lý thuế TNCN

Thứ hai, đánh giá công tác quản lý thu thuế TNCN tại Cục Thuế TP Hồ

Chí Minh giai đoạn 2010 – 2014, xác định kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân

Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế

TNCN tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thuế TNCN mà trọng tâm là

- Các vấn đề liên quan về thuế TNCN, nội dung quản lý thuế TNCN; thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Hồ Chí Minh giai đoạn

2010 – 2014

- Nghiên cứu kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm về quản lý TNCN ở

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

- Về không gian nghiên cứu: tập trung chủ yếu nghiên cứu công tác quản

lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Hồ Chí Minh

- Về thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn

từ năm 2010 – 2014 và các giải pháp được giới hạn đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính làm chủ đạo với phần lớn là dữ liệu thứ cấp để phân tích về thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Hồ Chí Minh và qua đó đề xuất các giải pháp cho vấn

đề này Các dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập qua các nguồn sau:

 Các báo cáo của Tổng cục Thuế (TCT) Việt Nam; các báo cáo của Cục Thuế TP Hồ Chi Minh giai đoạn 2010 - 2014

 Các báo cáo hoạt động quản lý thuế TNCN của Cục Thuế TP Hồ Chi Minh giai đoạn 2010 - 2014

 Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí mang tính hàn lâm có liên quan; các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua kỹ thuật thảo luận với chuyên gia nhằm tìm hiểu rõ các nguyên nhân chính dẫn những kết quả đạt được, bên cạnh tồn tại, hạn chế trong quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế TP Hồ Chí Minh; những thuận lợi và khó khăn đến công tác quản lý thuế thuế TNCN tại Cục Thuế TP

 Phương pháp hệ thống hóa các lý thuyết về thuế và thuế TNCN;

Trang 12

 Phần mềm xử lý số liệu là Excel

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Đề tài nghiên cứu mang các ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:

 Hệ thống hóa một cách khoa học về các lý luận có liên quan đến thuế thu nhập cá nhân

 Phân tích thực trạng nguồn thu thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế TP

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 7 bảng biểu, 5 hình vẽ đồ thị và được tổ chức thành 3 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân

Chương 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhântại Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Hoàn cảnh ra đời thuế TNCN

Với lịch sử hình thành cách đây hơn 200 năm, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ra đời từ cuối Thế kỉ 18, khi nước Anh lâm vào sự thâm hụt ngân sách tài chính một cách trầm trọng do phải vay mượn tài chính để trang trải cho cuộc chiến tranh với Pháp Năm 1798, thủ tướng Anh – ông William Pit (1759 – 1806) ban hành một sắc thuế mới đánh vào thu nhập của một số người có TNC(TNC) nhằm trang trải chiến phí Năm 1801, thủ tướng William Pit từ chức, thủ tướng kế nhiệm Henry Addington (1757 – 1844) đã ra sắc lệnh huỷ bỏ sắc thuế này vào năm 1802

Năm 1803, cuộc chiến với Pháp lại bùng nổ và thuế TNCN lại được ban hành Thuế TNCN của Addington đánh thuế theo bậc và theo hai nguyên tắc mà thuế TNCN hiện đại vẫn đang áp dụng: khấu trừ tại nguồn và thuế đánh trên từng loại thu nhập Sau đó, thuế TNCN lại bị hủy bỏ một lần nữa khi chiến tranh với Pháp chấm dứt

Như vậy trong giai đoạn đầu, thuế TNCN là loại thuế không phổ biến và vai trò đóng góp nguồn thu ngân sách mang tính tình thế Chỉ từ cuối thế kỉ XIX (năm 1880 ở Anh) thì loại thuế này mới trở thành một nguồn thu ổn định và được luật hóa trong hệ thống thu hàng năm Sau Anh, thuế TNCN được sử dụng nhiều quốc gia: Nhật (1887), Đức (1899), Mỹ (1903), Pháp (1916), Liên Bang

Xô Viết (1922) (Kath Nightimgale, 2000)

Ở các nước phát triển, nguồn thu ngân sách chủ yếu dựa vào thuế trực thu, vì vậy thuế TNCN chiếm tỉ trọng khá cao trong tổng thu ngân sách về thuế (Hoa Kỳ 56.35%, Canada 50.98%) (Athur Adersen, 2000) Ở các nước đang phát triển, nguồn thu ngân sách chủ yếu lại dựa vào thuế gián thu Nguyên nhân

vì ở các quốc gia này nền kinh tế - xã hội kém phát triển, thu nhập bình quân tính trên đầu người rất thấp, ý thức và trình độ hiểu biết để chấp hành nộp thuế theo Pháp luật chưa cao, tình trạng trốn thuế phổ biến; do vậy số thuế thu được

từ các sắc thuế trực thu không đáng kể, trong khi chi phí hành thu lại rất cao

Trang 14

Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, Chính phủ ở một số nước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn những đối tượng dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình… Tuy nhiên cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã

có nhiều biến đổi Khác với các loại thuế khác, thuế TNCN có diện điều chỉnh với tất cả các cá nhân có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam không phân biệt quốc tịch từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu… Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập cá nhân có được Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế

Hầu hết các quốc gia đều có chính sách thuế TNCN, đều nhằm một số mục tiêu tương tự nhau và đều có thuế suất lũy tiến từng phần Thuế TNCN về

cơ bản, ban đầu thường được chú trọng vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân

có thu nhập từ tiền lương, tiền công (người lao động) Thuế này thường được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt Tuy nhiên, do khác nhau về hoàn cảnh KT-XH nên thu nhập chịu thuế được xác định không giống nhau Về cơ bản, thuế TNCN của một quốc gia có những đặc điểm:

- Thu nhập tính thuế là TNCN trừ đi một khoản cố định không tính thuế; hoặc trừ đi một số khoản chi tiêu tối thiểu tùy nhân thân của người nộp thuế; hoặc được trừ đi những khoản chi tiêu cụ thể nào đó mà người nộp thuế có các hóa đơn hợp pháp

- Thu nhập tính thuế là thu nhập của từng cá nhân riêng biệt; hoặc thu nhập bình quân/cá nhân trong từng hộ gia đình

- Thu nhập tính thuế là tổng thu nhập của cá nhân (từ nhiều nguồn, nhiều hoạt động khác nhau); hoặc tính thuế riêng biệt trên từng loại thu nhập khác

Trang 15

Xét về nguyên lý thì khi đánh thuế TNCN, nhà nước phải tính đến các khoản chi phí để tái tạo sức lao động và các suất miễn thu, phần thu nhập còn lại mới thuộc diện chịu thuế Tuy nhiên, xét về cách thức thu thuế thì trên thế giới

có hai cách thu thuế: hoặc là thu từ đồng thu nhập đầu tiên, hoặc là đặt ra ngưỡng thu nhập chịu thuế Mỗi cách thức thu thuế này đều có những ưu điểm

và hạn chế nhất định, song đa số các nước trên thế giới thường áp dụng cách thu

từ đồng thu nhập đầu tiên

Cách thức thu từ đồng thu nhập đầu tiên mang lại nhiều ưu điểm hơn vì

nó tạo được sự công bằng và đơn giản hơn so với cách thức xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế Nhà nước có cơ hội tốt nhất để kiểm soát thu nhập của người dân; mặt khác những người có thu nhập thấp lại được hưởng lợi từ những chính sách trợ cấp của nhà nước, vì qua kê khai nộp thuế, nhà nước biết được thu nhập của họ để thực hiện trợ cấp, và vì vậy, tránh được ý định trốn kê khai nộp thuế của nhiều đối tượng, vốn dĩ là một vấn đề không dễ kiểm soát của mọi nhà nước khi thu thuế TNCN

Cách thu thuế trên cơ sở xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế thực ra là chỉ đánh thuế đối với những người có TNC đến một mức nhất định, có nghĩa là không phải mọi người dân có thu nhập đều phải nộp thuế Điều đó làm mất đi bản chất của loại thuế với tên gọi là thuế TNCN; không tạo ra sự công bằng trong nộp thuế của người dân ở cả góc độ quyền lẫn nghĩa vụ Và tất nhiên, do chỉ có một số người có thu nhập vượt ngưỡng mới phải nộp thuế nên phát sinh một vấn đề thực tế là chỉ những người đó mới kê khai thu nhập Do đó nhà nước khó có thể kiểm soát được thu nhập của dân chúng và tất nhiên việc thất thoát nguồn thu này là rất lớn Thực tiễn thuế thu nhập đối với người có TNC ở Việt Nam hiện nay đã minh chứng điều đó

Sau gần 24 năm đổi mới và phát triển (từ 1986), tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam đã có những bước tiến dài và đáng tự hào: kinh tế tăng trưởng với tốc

độ cao và ổn định; hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) trong nước và đặc biệt khối DN nước ngoài không ngừng được mở rộng và

Trang 16

ngày càng phát triển; số lượng DN, cá nhân kinh doanh ngày càng ra tăng, đặc biệt là từ khi chúng ta có các luật về DN, về đầu tư Bên cạnh đó, các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Úc và một số nước trong khối Asean như Singapore, Malaysia cho Chính phủ Việt Nam vay những khoản vay ưu đãi nhằm phát triển kinh tế hạ tầng chủ yếu là cầu đường và các cơ sở hạ tầng khác Xét trên góc độ tài chính, các nguồn vốn được đưa vào đầu tư kinh doanh ngày càng nhiều, thu nhập của DN, cá nhân kinh doanh và thu nhập của người dân nói chung ngày càng tăng Đó là một trong những nhân tố quyết định phải có sự điều chỉnh chính sách thu tài chính quốc gia, cải cách hệ thống pháp luật thuế, nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa lợi ích DN, người lao động và nhà nước, thúc đẩy phát triển KT-XH và hội nhập quốc tế Một trong những nội dung trọng tâm là phải điều chỉnh chính sách, pháp luật thuế hiện hành đó là ban hành Luật thuế TNCN thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có TNC hiện nay và được áp dụng vào ngày 1/1/2009 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là điều chỉnh một cách công bằng hơn về thu nhập của dân cư đồng thời khuyến khích người nước ngoài có trình độ khoa học kỹ thuật cao vào Việt Nam làm ăn và sinh sống lâu dài thể hiện ở điểm khác biệt với Pháp lệnh thu thu nhập đối với người có TNC là đồng nhất cách tính thuế TNCN giữa người nước ngoài và người Việt Nam

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vài trò của thuế TNCN

1.2.1.Khái niệm thuế TNCN

Định nghĩa một cách rõ ràng về cơ sở tính thuế, hai nhà kinh tế học Haig

và Simons định nghĩa về thu nhập chịu thuế TNCN: "là giá trị của cải ròng

tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của cá nhân đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm " Định nghĩa này mang tính toàn diện vì nó

bao gồm cả thu nhập bằng tiền và thu nhập dưới hình thức hàng hoá, dịch vụ

Vì vậy trong nghiên cứu này, thuế TNCN được định nghĩa là loại thuế

trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, trong khoảng thời

Trang 17

1.2.2 Đặc điểm cu ̉ a thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN mang đầy đủ những đặc điểm của sắc thuế nói chung và thuế trực thu nói riêng Ngoài những đặc điểm cơ bản của thuế như: mang tính cưỡng chế, không có đối giá trực tiếp, dùng vào chi tiêu công cộng và mang tính vĩnh

viễn thì thuế TNCN còn có những đặc điểm cơ bản dưới đây

1.2.2.1 Thuế TNCN là thuế trực thu

Đối tượng kê khai nộp thuế cũng chính là người chịu thuế, cho nên thuế trực thu luôn gây cảm giác gánh nặng thuế, bên cạnh đó thuế TNCN có tác động rất lớn, ảnh hưởng đến mọi thành viên trong xã hội Do đó thuế TNCN rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng tiêu cực từ phía người nộp thuế dễ dẫn đến tình trạng trốn thuế, gian lận thuế

1.2.2.2 Thuế TNCN là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân

Đối tượng kê khai nộp thuế là các cá nhân có thu nhập, vì vậy đây sẽ là sắc thuế có phạm vi điều tiết rộng nhất, số lượng cá nhân đăng ký, kê khai nộp thuế lớn Mặt khác, cả đối tượng nộp thuế và nguồn thu nhập chịu thuế đều rất

đa dạng, phức tạp và rất phân tán nên việc hình thành các căn cứ tính thuế trong quá trình xây dựng luật thuế rất khó đầy đủ, chính xác Đồng thời quá trình quản lý thu nộp thuế trong thực tiễn cũng đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và bao quát Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống các hành vi gian lận và trốn thuế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công của sắc thuế này Đây là một loại thuế phổ biến và giữ vị trí quan trọng bậc nhất cả về số thu lẫn tác động kinh tế - xã hội Cơ sở tính của thuế này dựa vào thu nhập trong nước và ngoài nước của người cư trú hoặc thu nhập phát sinh nội địa của người

không cư trú Theo định nghĩa Schanz-Haig-Simons (S-H-S), thu nhập của cá

nhân biểu hiện ở mức gia tăng khả năng tiêu dùng ròng trong một thời kỳ Về cấu phần, thu nhập gồm giá trị tiêu dùng và mức gia tăng tài sản

Thu nhập = Giá trị tiêu dùng + Mức gia tăng tài sản

(Mức gia tăng tài sản biểu hiện một sự gia tăng tiêu dùng tiềm năng)

Trang 18

Cụ thể, những thành phần cơ bản của thu nhập gồm: Tiền lương, tiền công, thù lao; Lợi nhuận kinh doanh cá thể; Tiền cho thuê; Tác quyền; Lợi tức

cổ phần, lợi tức trái phiếu;… Những thành phần khác cấu thành thu nhập theo định nghĩa S-H-S: Đóng góp của DN vào lương hưu của nhân viên; Đóng góp của DN cho bảo hiểm của nhân viên; Những khoản thanh toán chuyển giao: trợ

cấp hưu trí, bồi thường thất nghiệp, trợ cấp trẻ em; Lời từ vốn (Capital gains);

Hiện vật nhận được (hàng hóa, dịch vụ, cổ phần);…

1.2.2.3 Thuế TNCN ít gây biến dạng trên thị trường hàng hóa thông thường

Do được trích xuất ngay từ khi phát sinh thu nhập, nhưng ảnh hưởng đến nghỉ ngơi và cung, cầu lao động Giả sử đơn giá lương cho một giờ làm việc là 100.000 đồng Thuế suất bình quân của thuế TNCN là 20% Như vậy, tiền lương sau thuế là 80.000 đồng Đây là chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi Nếu thuế suất bình quân của thuế thu nhập lên đến 40% thì chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi rẻ đi sẽ thúc đẩy người lao động tiêu thụ mặt hàng nghỉ ngơi nhiều thêm Điều này làm giảm cung lao động trên thị trường lao động, và có thể tác động lên mức đơn giá lương cân bằng trên thị trường này

Trong Hình 1.1, ban đầu phân phối giờ trong một ngày ở điểm A (8 giờ làm, 16 giờ nghỉ) Khi chính phủ điều chỉnh thuế suất tăng lên, phân phối giờ trong một ngày chuyển lên B (6 giờ làm, 18 giờ nghỉ) Trên thị trường lao động, mức cung số giờ làm việc giảm từ H1 về H2 và thúc đẩy đơn giá lương từ W1 lên

W2 Cân bằng thị trường lao động chuyển từ điểm E1 lên thành điểm E2

Trang 19

Hình 1.1: Tác động của thuế TNCN lên thị trường lao động

1.2.2.4 Thuế TNCN sử dụng thuế suất lũy tiến (từng phần)

Hầu hết các quốc gia đều sử dụng thuế suất lũy tiến trong thuế TNCN do vận dụng quy luật độ hữu dụng biên (của thu nhập) giảm dần Thậm chí, Mỹ còn sử dụng cả thuế suất lũy tiến trong thuế thu nhập công ty Thuế suất lũy tiến

là thuế suất ngày càng cao hơn đối với những phần thu nhập gia tăng Đồ thị thuế lũy tiến có hình dạng như Hình 1.2

Số giờ làm việc

Số giờ nghỉ

24

Phò

ng thu

ế TNC

N

Phò

ng thu

ế TNC

Trang 20

Hình 1.2: Đường biểu diễn thuế lũy tiến

Hình 1.3 cho chúng ta hình ảnh về các loại thuế: lũy tiến (progression), lũy thoái (regression) và tỉ lệ (proportion)

Hình 1.3: Thuế lũy tiến, lũy thoái và tỷ lệ

1.2.2.5 Thuế TNCN điều tiết thu nhập của con người thực

Thuế TNCN điều tiết thu nhập của con người thực (human being) chứ không phải thực thể pháp lý (legal entity) nên độ “chệch” không đáng kể và rất khó chuyển (shifting) Các sắc thuế hàng hóa, dịch vụ điều tiết thu nhập của cả

Thu nhập

Số thuế nộp

Thuế lũy tiến

Thuế lũy thoái Thuế tỷ lệ

g t h a n

h tr

a t h u

ế s

g th an

h tr

a th

Trang 21

người tiêu dùng lẫn người sản xuất tùy vào hệ số co giãn cầu theo giá Thuế TNCN ảnh hưởng lên người có vốn (capitalist), người lao động (labourers) và người có quyền sử dụng đất (landlords) tùy theo cung-cầu vốn, cung-cầu lao động và cung-cầu quyền sử dụng đất

Do minh bạch, ít bị chệch trong điều tiết thu nhập và tính đến gia cảnh nên thuế TNCN có tính công bằng và “nhân văn” hơn so với các sắc thuế khác Đây là ưu điểm khiến thuế TNCN trở thành cột trụ của hệ thống thuế ở các quốc gia

1.2.3 Vai trò của thuế thu nhâ ̣p cá nhân

Về cơ bản, nhiều quốc gia định hướng thuế TNCN là một trong những nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất của ngân sách nhà nước (NSNN) Tuy nhiên, việc tăng thu nguồn thuế TNCN còn phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, nguồn thu này mới có tính ổn định và tăng trưởng Ở các nước có nền kinh tế phát triển, dân cư có TNC, hệ thống quản lý của nhà nước khá chặt chẽ nên thuế TNCN là nguồn thu chủ lực của NSNN; ngược lại, đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, do thu nhập dân cư thấp, đồng thời

hệ thống quản lý còn yếu kém nên thuế TNCN chưa phải là nguồn thu lớn

Cụ thể, hiện nay trên thế giới có hơn 180 nước đã áp dụng thuế TNCN Theo xu hướng phát triển của thế giới thì thuế trực thu nói chung và thuế TNCN nói riêng chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng thu Ngân sách về thuế của các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức… có tỷ trọng thuế thu nhập chiếm khoảng 30-40% tổng thu ngân sách quốc gia (Hoa Kỳ 56.35%, Canada 50.98%) Một số nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippines, thuế TNCN chiếm khoảng 12-16% tổng thu NSNN; các nước đang phát triển khoảng 13 - 14% Trong khi đó ở Việt Nam, số thu từ thuế thu nhập đối với người có TNC chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng thu ngân sách Nếu tính cả số thu từ người lao động, hộ kinh doanh và cá nhân chuyển quyền sử dụng đất thì tổng số thu thuế thu nhập từ các đối tượng này cũng chỉ chiếm khoảng 4,1% đến 4,5% tổng thu NSNN

Trang 22

Ngoài ra, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, thì thuế TNCN mới thực

sự cho thấy được vai trò của nó trong tổng thu NSNN đặc biệt khi các hiệp định thương mại được ký kết, những rào cản thuế quan được tháo bỏ thì Ngân sách của rất nhiều nước sẽ mất một khoản thu rất lớn từ thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt, trong khi thuế TNCN sẽ vẫn ổn định và tăng lên cùng số lượng

và chất lượng lao động ngày một tăng trên thị trường lao động

Thuế TNCN bảo đảm nguồn thu đáng kể và ổn định cho NSNN Đây là loại thuế có độ co dãn cao về thu nhập, nên Chính phủ không phải thay đổi luật thuế thường xuyên Sự ổn định trong mức huy động hợp lý về thuế sẽ tạo được môi trường phù hợp với mục tiêu thúc đẩy đầu tư phát triển lâu dài, bền vững của mỗi quốc gia

Thuế TNCN là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân: Việc đánh thuế vào thu nhập của cá nhân sẽ tác động trực tiếp tới hành vi tiêu dùng và tích lũy của mỗi cá nhân Khi tăng thuế suất sẽ làm giảm thu nhập của cá nhân, cá nhân sẽ giảm tiêu dùng Nhu cầu tiêu dùng giảm sẽ làm thay đổi giá cả hàng hoá theo chiều hướng giảm xuống, và nhu cầu tiết kiệm sẽ tăng lên

Thuế TNCN góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối: trong cơ chế thị trường, các quy luật khách quan được phát huy tác dụng một cách tối đa, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với tình trạng phân cực đối lập nhau: một bên là thiểu số người giàu có TNC và một đại bộ phận dân cư chỉ đạt mức tăng thu nhập nhỏ nhoi

Thuế TNCN giúp khắc phục tính luỹ thoái trong thuế gián thu (Proportional Tax): Nhược điểm của thuế gián thu là tính lũy thoái (là loại thuế thu cùng một thuế suất đối với những khối lượng khác nhau của cùng một loại hàng hóa), thuế suất gián thu không phân biệt người nghèo hay người giàu vì khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, tất cả đều phải chịu một thuế suất như nhau trên cùng một lượng hàng hoá, dịch vụ Mức chênh lệch về thu nhập càng lớn thì tính luỹ thoái của thuế gián thu càng cao Thuế TNCN với thuế suất luỹ tiến

Trang 23

từng phần sẽ phần nào lấy được sự cân bằng vì người có TNC sẽ bị đóng thuế nhiều hơn

Thuế TNCN được xây dựng theo biểu thuế lũy tiến, bảo đảm được chính sách động viên công bằng giữa các tầng lớp dân cư có TNC, thấp khác nhau, góp phần thu hẹp khoảng cách quá chênh lệch về thu nhập, đời sống xã hội

Thuế TNCN còn là công cụ thực hiện việc kiểm soát toàn bộ thu nhập của dân cư: thông qua việc kiểm tra thu nhập, cơ quan thuế sẽ phát hiện các khoản thu nhập không hợp pháp Qua đó, Nhà nước có thêm điều kiện nắm được tình hình thu nhập trong các tầng lớp dân cư, để có căn cứ xem xét và phát huy tác dụng tích cực, hỗ trợ cho việc triển khai các chính sách tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô, tham nhũng trong công chức nhà nước

Thuế TNCN góp phần làm hạn chế về khoản thâm hụt thuế thu nhập DN: Giữa thuế thu nhập DN và thuế TNCN tồn tại có mối quan hệ ràng buộc, khi thuế thu nhập DN bị giảm xuống (do tăng các khoản trả về nhân công) thì thu nhập của người lao động sẽ tăng lên, và lúc đó người lao động sẽ chịu thuế TNCN nhiều hơn Điều đó khắc phục được sự câu kết giữa DN và người lao động

Thuế TNCN góp phần hạn chế khoản thâm hụt về thuế Giá trị gia tăng (GTGT): một số nước phát triển như Singapore, Chính phủ cho phép cá nhân khi sử dụng hàng hoá, dịch vụ (lấy hoá đơn GTGT) sẽ nhận lại số tiền tương ứng 5% trên số thuế tiêu dùng trên hóa đơn

Có thể tóm tắt vai trò của thuế TNCN qua những nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, mang lại số thu lớn Bằng chứng thực tế ở các đất nước phát

triển hay đang phát triển cho thấy đây là loại thuế mang lại số thu lớn, thậm chí lớn nhất, của hệ thống thuế Bảng 1 dưới đây cho thấy thuế TNCN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống thuế ở quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)

Trang 24

Bảng 1.1: Cơ cấu thuế các quốc gia OECD

Đơn vị tính: %

Nội dung 1965 1975 1985 1995 2005 2010

Thuế tiêu dùng (General

Thứ hai, thực thi công bằng xã hội Không một loại thuế nào khấu trừ gia

cảnh của người nộp thuế như thuế TNCN Thuế TNCN dựa trên thu nhập và gia cảnh của mỗi cá nhân cụ thể, nên nó không chung chung như các loại thuế tiêu dùng hay thuế thu nhập DN đánh vào thu nhập của thực thể pháp lý phi con người Hai cá nhân có cùng một mức thu nhập chịu thuế, nhưng thu nhập tính thuế có thể khác nhau do có hoàn cảnh gia đình khác nhau

Thứ ba, hình thành tinh thần công dân Trong thuế TNCN, mỗi cá nhân

tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về những khai báo thu nhập của mình Cơ quan thuế chỉ đối chiếu, phân tích thông tin mà NNT khai báo Cơ quan thuế chỉ thanh tra hoặc điều tra khi có dấu hiệu gian lận Như vậy, thuế này đòi hỏi tính

tự giác rất cao của người nộp thuế nhằm tránh những phiền toái trong tương lai

Trang 25

Ngoài ra, thuế TNCN cũng hình thành nên tinh thần công dân nếu họ nhận thức được vai trò của mình khi đóng góp một phần thu nhập để tạo ra công trình phúc lợi công cộng Đồng thời, mỗi công dân cũng có quyền đòi hỏi Chính phủ giải trình việc sử dụng thuế do họ đóng góp

1.3 Quản lý thuế TNCN

1.3.1 Khái niệm về quản lý thuế TNCN

Thuật ngữ quản lý và quản trị về bản chất là giống nhau nhưng chúng thường được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau Thuật ngữ quản lý thường được dùng nhiều hơn trong chính sách vĩ mô hoặc trong các công việc, còn thuật ngữ quản trị thường dùng nhiều hơn trong phạm vi tổ chức và liên quan nhiều đến con người Vì vậy khi nói đến quản lý người ta thường chỉ đề cập đến chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra

Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích về chính sách thuế TNCN của cơ quan thuế đối với NNT nhằm tạo nguồn thu cho NSNN và đạt được các yêu cầu trong công tác quản lý vĩ mô của nhà nước Công tác quản lý thuế TNCN nhằm thỏa mãn những mục tiêu cơ bản như sau:

- Huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho NNT kinh doanh có lãi Đồng thời, đạt được mục tiêu của định hướng xây dựng chính sách thuế TNCN lớn mạnh

Bên cạnh đó, thuế TNCN làm giảm một phần thu nhập của các cá nhân, nên nó có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sức sáng tạo trong làm việc hoặc tạo nên các phản ứng từ người nộp thuế bằng nhiều hình thức như hành vi trốn thuế, cố tình khai sai thu nhập

- Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ luật pháp về thuế để điều chỉnh một phần các hoạt động KT-XH, ý thức chấp hành luật pháp người dân sẽ có ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước Qua công tác thực hiện chức năng quản lý nhà nước như tổ chức thực hiện, giám sát (thanh tra, kiểm tra) các luật thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng, cùng với việc áp dụng các hình phạt mang tính răn đe nên ý

Trang 26

thức chấp hành những qui định về nghĩa vụ thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”

Ở các nước phát triển, thu nhập của người dân tỉ lệ thuận cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghĩa vụ của người dân đối với NSNN là rất quan trọng nên việc khai báo và đóng góp thuế TNCN đã trở nên phổ biến và xem như là nghĩa vụ không thể thiếu được Do đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào trực giác của NNT Từ đó, phải tạo cho người dân nhận thức nghĩa vụ của mình đối với NSNN là được hưởng những lợi ích thiết thực do đồng thuế đóng góp đó mang lại Chính phủ cũng đề ra những chính sách nhằm khuyến khích như được khấu trừ cho các hóa đơn tiêu dùng hoặc tổ chức xổ số trên các số của chứng từ nộp thuế hay những hóa đơn tiêu dùng Tại các nước đang phát triển, do đời sống và trình độ dân trí còn thấp nên thuế TNCN là vấn đề người dân chưa được biết đến nhiều Người dân vẫn phải chịu khoản thuế nhưng không biết mình đã nộp thuế, thậm chí còn thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng do khi tiêu dùng họ phải trả khoản thuế thuế gián thu như thuế GTGT, thuế TTĐB… nằm trong khoản tiền phải trả cho người kinh doanh

- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế Tuy nhiên, bản thân nó không thể tự đạt được mà mà là kết quả hữu hiệu của việc tổ chức

và khả năng quản lý nhà nước về thuế TNCN

1.3.2 Nội dung công tác quản lý thuế TNCN

Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp

về thu Nội dung của công tác quản lý thuế TNCN bao gồm: Ban hành chính sách thuế TNCN; tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN; thanh tra thuế TNCN và tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN

Trình tự quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng được qui định tại Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính

Trang 27

một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/07/2013 của Chính phủ Theo nội dung, Thông tư qui định trình tự các bước

để người nộp thuế TNCN thực hiện nghĩa vụ của mình:

1 Khai thuế, tính thuế;

2 Nộp thuế;

3 Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;

4 Thủ tục miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt;

5 Thủ tục hoàn thuế, bù trừ thuế;

6 Giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện liên quan đến thực hiện pháp luật thuế

1.3.2.1 Ban hành chính sách thuế TNCN

Đây là công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội Chính sách thuế TNCN đề ra những quy định mang tính pháp luật làm cơ sở để quản lý nguồn thu thuế TNCN Bên cạnh đó, xây dựng các qui trình, qui chế trong việc giám sát thực hiện và áp dụng các chế tài tương ứng với các hành vi vi phạm pháp luật về thuế

a) Yêu cầu của chính sách thuế TNCN

Để đạt được mục tiêu quản lý nhà nước phát huy được hiệu quả thì chính sách thuế TNCN được hình thành trên các nguyên tắc cơ bản như sau:

Trước hết, các văn bản pháp luật về thuế cần đảm bảo tính rõ ràng, minh

bạch và chặt chẽ Vì loại thuế TNCN tuy nhìn ở góc độ sắc thuế thì rất đơn giản nhưng nó chứa đựng phạm vi và đối tượng áp dụng khá phức tạp, nhạy cảm nên việc thực hiện cần phải khéo léo và cẩn trọng, tránh hiểu lầm

Thứ hai, quy định trong chính sách thuế TNCN phải bảo đảm tính phù

hợp với điều kiện KT-XH tại thời điểm áp dụng và tính cân đối giữa NNT với NNT và với xã hội, đồng thời giữ vững nguồn thu NSNN

Thứ ba, quy định trong chính sách thuế TNCN cũng cần có tính động

viên phấn đấu làm việc của người lao động (như các khoản được trừ khi xác định thu nhập tính thuế) Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế

Trang 28

(NET) của NNT xứng đáng với công sức bỏ ra và sự đóng góp của họ vào việc tạo ra sản phẩm xã hội

Ngoài ra, để đảm bảo chính sách thuế TNCN phát huy hiệu quả tối ưu, nhà hoạch định cần xây dựng cơ sở hạ tầng, công cụ hỗ trợ thật tốt phục vụ cho quá trình triển khai thực hiện, bao gồm: Phát triển mạnh hệ thống ngân hàng để kiểm soát thanh toán, hạn chế dùng tiền mặt trong các giao dịch bằng các hình thức bắt buộc hoặc tự nguyện; cải tiến và ban hành chế độ kế toán - thống kê, thông tin, báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế TNCN, đặc biệt đối với hộ kinh doanh cá thể; Phát triển hệ thống dịch vụ công nhằm mục đích hỗ trợ kê khai thuế để giảm bớt thiệt hại cho người nộp thuế; Phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong công tác quản lý lao động và nguồn thu nhập trong dân cư; Công tác tuyên truyền sâu rộng về chính sách thuế TNCN, cơ chế tiếp thu ý kiến, thông tin phản hồi từ NNT phải được xem trọng tâm hàng đầu; Xây dựng chính sách thuế TNCN theo các tiêu chuẩn phù hợp thông lệ quốc tế Tuy nhiên, để có một chính sách và bộ máy quản lý thuế TNCN tương ứng, đáp ứng đầy đủ các điều kiện và nguyên tắc trên là vấn đề mà các nhà hoạch định luôn trăn trở và lo lắng Tại nước ta, việc xây dựng Luật thuế TNCN cho phù hợp với điều kiện KT-XH là rất khó khăn và rất cân nhắc đến tình hình thực tế để quyết định xem cần động viên đến mức nào là phù hợp

b) Những nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN

Những nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN bao gồm: Người nộp thuế; đối tượng tính thuế; các phương pháp tính thuế; đơn vị tính thuế; thời gian tính thuế và Miễn, giảm thuế TNCN

* Về đối tượng nộp thuế, để xác định đối tượng nộp thuế, về nguyên tắc

thường dựa vào hai tiêu thức là “diện cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”

- Theo tiêu thức “diện cư trú", NNT được xác định là cư trú ở một nước thì phải kê khai, nộp thuế tại nước đó theo biểu thuế lũy tiến từng phần đối với

Trang 29

nhân được xác định là không cư trú thì chỉ phải khai và nộp thuế cho phần thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác phát sinh trên lãnh thổ nước đó

- Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập”: NNT thuộc diện cư trú hay không cư trú phải nộp thuế TNCN ở một nước nơi đang có công việc, không phân biệt thu nhập được chi trả tại nước đó hoặc ở nước ngoài

Hiện nay, theo thông lệ quốc tế, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “diện cư trú” Khái niệm cư trú quy định: cá nhân định cư hoặc đến không thường xuyên nhưng tổng số ngày có mặt tại nước đó từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc 12 tháng liên tục kể từ ngày nhập cảnh Dựa vào tiêu chí 183 ngày/năm, tuy các nước đưa ra chính sách về cư trú có các cách tính để xác định phương pháp tính thuế có khác nhau nhưng vẫn lấy cột mốc 183 ngày/năm để xác định diện cư trú

Việc căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được nhiều nước

áp dụng ngoài việc xác định thu nhập chịu thuế của NNT thuộc diện cư trú thì

để xác định khoản thu nhập phát sinh do công việc tại nước đó mang lại thuộc diện phải khai và nộp thuế đối với những cá nhân không cư trú Mục đích xác định nguồn thu nhập nhằm giải quyết sự cân bằng về thuế đối với NNT thuộc diện không cư trú

* Về đối tượng tính thuế, đối tượng tính thuế được xác định là thu nhập

chịu thuế trừ đi các khoản được trừ theo qui định của pháp luật Căn cứ vào đó, người ta có thể hoạch định chính sách bằng cách đưa ra các bảng thống kê dựa trên cơ sở điều tra thực tế để trả lời các câu hỏi cho loại thuế TNCN áp dụng có đem lại công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu bao nhiêu cho ngân sách, nó có tác động gì và tầm ảnh hưởng của nó vào nền kinh tế hoặc quản lý nhà nước về kinh tế Đối tượng tính thuế TNCN là thu nhập tính thuế

Từ những quan niệm khác nhau, có thể được hiểu TNCN trong lĩnh vực tài chính là khoản giá trị mà một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm)

Trang 30

Điều cần thiết đối với nhà hoạch định chính sách thuế TNCN ở mỗi nước

là phải xác định đối tượng tính thuế từ thu nhập sau khi trừ những khoản được trừ sao cho NNT thỏa mãn các điều kiện đời sống vật chất, tinh thần và để luật thuế có tính khả thi cao Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu KT-XH trong việc hành thu

Thu nhập được phân loại để xác định đối tượng tính thuế theo tiêu thức:

- Theo thời gian, người ta chia thu nhập tính thuế áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần và thu nhập tính thuế áp dụng biểu thuế toàn phần

- Theo nguồn tạo ra thu nhập, người ta chia thành thu nhập phát sinh từ tiền trả cho bộ phận làm công ăn lương, thu nhập từ đầu tư, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, thừa kế

- Chủ thể hưởng thu nhập: thu nhập DN, TNCN, thu nhập chính phủ … Tùy thuộc vào hoàn cảnh KT-XH ở mỗi nước, nhà hoạch định chính sách

về thuế TNCN sẽ đưa các khoản thu nhập vào diện chịu thuế hoặc không qui định là khoản chịu thuế đồng nghĩa là không chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế nên không phải khai và nộp thuế mặc dù nó phát sinh khoản thu nhập trong quá trình giao dịch trên thị trường

* Về các phương pháp tính thuế TNCN, thông thường, thuế TNCN được

chia làm hai loại: thuế TNCN phát sinh theo khoản thu nhập và thuế TNCN phát sinh từ việc tổng hợp thu nhập

Thuế TNCN tính theo khoản thu nhập hay thuế TNCN tính theo nhiều khoản thu nhập tổng hợp lại tương ứng với khoản thu nhập áp dụng theo biểu thuế toàn phần và thu nhập theo biểu thuế lũy tiến từng phần

Căn cứ để xác định thuế TNCN phải nộp là thu nhập tính thuế và thuế suất Thuế suất thuế TNCN được xác định theo thuế suất lũy tiến từng phần, lũy tiến toàn phần hay lũy thoái tùy theo hoàn cảnh xã hội của mỗi quốc gia mà việc

áp dụng đạt được mục đích của chính phủ Do đó, để phù hợp với mỗi đặc trưng của thuế suất, thuế TNCN lại được tính như sau:

Trang 31

- Phương pháp tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần: thuế suất tăng dần theo sự tăng dần của thu nhập Áp dụng phương pháp này, thu nhập được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần, với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thu nhập là mức thuế suất tương ứng Số thuế mà NNT phải nộp bằng tổng

số thuế tính theo từng bậc cộng lại Phương pháp này đảm bảo tính công bằng

và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập Chính vì vậy, thuế TNCN ở rất nhiều nước áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần

- Phương pháp tính thuế theo biểu thuế lũy tiến toàn phần: theo phương pháp này, thuế suất được áp dụng cho từng loại thu nhập và không có tính lũy tiến nhiều bậc Thuế suất theo biểu thuế lũy tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng, tức là số thuế phải nộp được tính bằng khoản thu nhập trừ đi khoản tiền (nếu thu nhập dưới mức này thì không phải chịu thuế) hoặc không được trừ nhân với thuế suất Phương pháp này có nhược điểm là tính ra tổng số thuế phải nộp của NNT trên tổng thu nhập có được với mức thuế suất cố định

- Phương pháp tính thuế với thuế suất lũy thoái: Phương pháp này ngược lại với thuế suất lũy tiến, tức là mức thuế suất giảm dần tương ứng với mức thu nhập lại tăng dần Vì vậy, áp dụng biểu thuế suất lũy thoái không được sử dụng phổ biến

Trong nội dung chính sách thuế TNCN, đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thì hầu hết các nước áp dụng hệ thống đa thuế suất, tức là cơ chế thuế suất lũy tiến từng phần là phổ biến nhưng có quốc gia không áp dụng thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công như Bruney, quốc gia khác như Iceland chỉ

áp dụng một mức thuế suất duy nhất đối với mọi khoản thu nhập

* Về đơn vị tính thuế TNCN

Ở Việt Nam, khi xác định đơn vị tính thuế thường là cá nhân và hộ gia đình Vì thuế TNCN mang tính công bằng và có tính hộ gia đình nên theo thông

lệ thì nhà hoạch định tính đến gia cảnh của NNT Thông thường thì người chưa

có gia đình (vợ, chồng) sẽ nộp thuế cao hơn người đã có gia đình hoặc có gia

Trang 32

đình ít người so với gia đình có nhiều người được giảm trừ theo qui định của pháp luật

Các nước như: Anh, Nhật, Thụy Điển, Áo, Đan Mạch, Úc… từng cá nhân phải đi khai thuế bao gồm cả người khai thu nhập không phải nộp thuế Nhưng

ở các nước Mỹ, Pháp, Hà Lan lại sử dụng thu nhập của các hộ gia đình để tính thuế TNCN Phương pháp tính thuế này thể hiện đạo đức xã hội nhưng ảnh hưởng lớn trong việc động viên thuế cho nhà nước vì trong một gia đình, mỗi cá nhân thường có việc làm và nguồn thu nhập khác nhau, do đó việc thống kê theo dõi từng nguồn thu nhập rồi đối chiếu với nơi phát sinh là rất phức tạp

d) Thời gian tính thuế

Việc xác định thời gian tính thuế là vấn đề quyết định đến việc dự toán thu chi NSNN, áp dụng các hình thức chế tài đối với NNT không tuân thủ các thời hạn nộp thuế, tránh gây lạm dụng tiền thuế hoặc mất thuế

Thông thường, NNT xác định mức thuế phải nộp cho từng tháng phát sinh và cuối năm tổng hợp các khoản thu nhập và nộp bổ sung nếu còn thiếu

Ưu điểm của việc sử dụng khoảng thời gian tháng, năm là đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên của chính phủ nhằm mục đích chi trả các chi phí xã hội theo

kế hoạch KT-XH được đặt ra

e) Miễn, giảm thuế TNCN

Tất cả các quốc gia áp dụng chính sách thuế TNCN đều có quy định về vấn đề miễn, giảm thuế

1.3.2.2 Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN

Sau khi đã được Quốc hội phê chuẩn, chính sách thuế TNCN được Chính phủ tổ chức thực hiện Tổ chức thực hiện được giao cho Bộ Tài chính – là cơ quan quản lý nhà nước về tài chính và TCT là cơ quan quản lý về chuyên môn

về thuế Nội dung tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN bao gồm: Phổ biến chính sách thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng, lập kế hoach tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, hội thảo … và tiến hành công tác hành thu thuế

Trang 33

Chính sách pháp luật có được đông đảo người nộp thuế ủng hộ hay không phụ thuộc rất lớn trình độ văn hóa và ý thức chấp hành nghiêm túc của công chức thuế cũng như NNT Để một đạo luật về thuế được ban hành đi vào cuộc sống một cách suôn sẻ, ngành thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trên các phương tiện thông tin, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi,

áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN… được phổ biến trước hết trong nội bộ ngành thuế, sau đó tới mọi người dân

- Đối với công chức thuế: Việc tập huấn nghiệp vụ về một chính sách thuế nào đó cho các công chức ngành thuế, nhất là công chức làm chuyên môn thường được tiến hành ngay sau khi chính sách thuế có hiệu lực pháp luật Thông qua các đợt tập huấn, công chức thuế có thể nắm chắc được mục đích, ý nghĩa đến nội dung cụ thể của chính sách thuế hiện hành

- Đối với người dân: công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách, nghĩa

vụ thuế cần phải được tiến hành liên tục, thường xuyên Phải cho người dân thấy rõ được việc nộp thuế ngoài là nghĩa vụ mà còn có được quyền lợi trên một đồng thuế của họ

b) Tiến hành Tổ chức hành thu thuế

Để thực hiện tốt công tác hành thu thuế TNCN, cần phải xây dựng một đội ngũ công chức thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu và xây dựng tốt

hệ thống quản lý bằng công nghệ thông tin Làm được điều này, NSNN vừa tiết kiệm được chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn đảm bảo số thuế nộp vào NSNN kịp thời, đầy đủ Nội dung công tác quản lý thuế TNCN bao gồm:

- Quản lý NNT: Cơ quan thuế phải tiến hành cấp mã số thuế cho NNT và đơn vị chi trả thu nhập kịp thời Mỗi NNT được cấp một mã số thuế duy nhất Các thông tin về NNT được cập nhật vào hệ thống quản lý hiện đại chung của

cả ngành

Trang 34

- Đơn vị được ủy nhiệm thu thuế TNCN hay đơn vị chi trả thu nhập tính thuế và khấu trừ thuế TNCN, NNT sẽ bị khấu trừ một phần thu nhập (là thuế TNCN) trước khi chi trả phần thu nhập sau thuế

- NNT là cá nhân thuộc diện kê khai thuế trực tiếp (không bị khấu trừ bởi đơn vị chi trả) đến cơ quan thuế để khai vào các bảng theo mẫu biểu qui định và

tự xác định số thuế phải nộp còn thiếu vào NSNN theo thời hạn qui định

1.3.2.3 Thanh tra thuế TNCN

Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế Thanh tra thuế được thực hiện bởi bộ phận chuyên ngành Đối tượng thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho Nhà nước Mục tiêu thanh tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế TNCN là nhằm phát hiện để chấn chỉnh

và xử lý các trường hợp sai phạm và tùy theo mức độ sai phạm ma NNT sẽ chịu cac1c hình thức xử phạt khác nhau và nhằm giảm bớt những tổn thất cho NSNN

và phát huy tính nghiêm minh của pháp luật do NNT hoặc vô ý hoặc cố ý kê khai sai Đồng thời cũng qua quá trình thanh tra, ngoải việc tăng thu cho NSNN,

cơ quan thuế các cấp phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và các luật khác, từ đó có ý kiến kiến nghị cơ quan cấp trên xem xét, điều chỉnh hoặc đề nghị hướng giải quyết khác phù hợp

1.3.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN

Tùy thuộc vào ý chí cũng như điều kiện KT-XH ở mỗi nước, Nhà nước tổ chức bộ máy quản lý thuế theo các mô hình sau:

a) Mô hình tổ chức theo sắc thuế

Cơ quan thuế lập bộ phận quản lý một sắc thuế cụ thể Có thể nói, đây là

“mô hình quản lý khép kín” đối với mỗi sắc thuế Như Phòng Quản lý thuế TNCN

b) Mô hình tổ chức theo chức năng

Mỗi phòng ban trong một cơ quan thuế (Cục Thuế) thực hiện một công việc nghiệp vụ có liên quan đến tất cả các sắc thuế như phòng Kê khai kế toán

Trang 35

c) Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế

Theo đó, đối tượng nộp thuế được chia thành các nhóm, dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế… Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm quản lý và cung cấp những thông tin cơ bản về từng nhóm đối tượng nộp thuế khi có yêu cầu

Mỗi quốc gia sẽ lựa chọn mô hình quản lý phù hợp điều kiện KT-XH để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thuế nhưng vẫn đảm bảo nguồn thu kịp thời cho NSNN Có những quốc gia có thể lựa chọn kiểu mô hình hỗn hợp

1.3.2.5 Lịch sử hình thành thuế TNCN ở Việt Nam

Tiền thân của thuế TNCN ngày nay là thuế thu nhập đối với người có TNC Thuế thu nhập đối với người có TNC được ban hành bằng Pháp lệnh số 50-LCT/HĐNN8 ngày 7 tháng 1 năm 1991 và có hiệu lực kể từ 1 tháng 4 năm

1991 Người nộp thuế gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam và thu nhập ngoài Việt Nam Đối tượng chịu thuế được chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Thu nhập thường xuyên có hình thức: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng có tính chất tiền lương, tiền công từ trên 500.000 đồng/tháng/người đối với người Việt Nam hoặc từ trên 2.400.000 đồng/tháng/người đối với người nước ngoài Thu nhập không thường xuyên có hình thức: tiền hoặc hiện vật của người định cư ở nước ngoài gửi về, thu nhập về chuyển giao công nghệ, thu nhập không thường xuyên khác về thiết kế kỹ thuật xây dựng, về thiết kế công nghiệp và về dịch vụ khác từ trên 1.500.000 đồng /lần; riêng thu nhập trúng thưởng xổ số từ trên 10.000.000 đồng/lần

Kể từ khi áp dụng chính sách thuế thu nhập đối với người có TNC đến năm 2008, số thu được từ thuế thu nhập đối với người có TNC tăng nhanh tính theo mặt bằng giá hiện hành và chiếm tỷ trọng lớn dần trong tổng thu thuế, phí

và thu khác thuộc ngân sách nhà nước không kể thu từ dầu thô (gọi tắt là thu từ thuế và phí) Năm 1991, thuế thu nhập đối với người có TNC đóng góp vào ngân sách nhà nước chỉ là 62 tỷ đồng chiếm 0,63% tổng thu ngân sách từ thuế

Trang 36

và phí thì đến năm 2008 con số này lên đến 12.940 tỷ đồng và chiếm 3,10% trong tổng thu ngân sách từ thuế và phí

Tuy tỷ trọng chưa cao trong tổng thu thuế, thuế thu nhập đối với người có TNC trực tiếp tham gia tái phân phối thu nhập, qua đó góp phần quan trọng trong thực thi công bằng xã hội và nâng cao trách nhiệm tài chính của công dân đối với chính bản thân và cộng đồng

Qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung vào các năm 1996, 2001 và 2004, thuế thu nhập đối với người có TNC được chính thức đổi tên thành thuế TNCN và được ban hành bằng Luật số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 Đến kỳ họp thứ 4 ngày 22 tháng 11 năm

2012 Luật thuế TNCN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII thông qua bằng Luật thuế TNCN sửa đổi số: 26/2012/QH13 Kể

từ đó đến nay, thuế TNCN trở thành một trong sáu loại thuế đem về số thu NSNN cao nhất ở Việt Nam

có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013;

- Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN;

- Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Trang 37

b) Các nội dung cơ bản của sách thuế TNCN hiện hành

“* Người nộp thuế: NNT là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế TNCN, Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN (sau đây gọi tắt là Nghị định số 65/2013/NĐ-CP), có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế TNCN và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP

* Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế: Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập; Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế

là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập

* Thu nhập chịu thuế được mở rộng thành 10 khoản so với thời kỳ áp dung Pháp lệnh thu thu nhập đối với người có TNC: Thu nhập từ kinh doanh; Thu nhập từ tiền lương, tiền công; Thu nhập từ đầu tư vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; Thu nhập từ trúng thưởng; Thu nhập từ bản quyền; Thu nhập từ chuyển quyền thương mại; Thu nhập từ nhận thừa kế; Thu nhập từ nhận quà tặng Tương ứng việc mở rộng các khoản chịu thuế, Nhà nước cũng tính đến các khoản miễn thuế mang tính đạo lý như: chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau; chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam; Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Thu nhập từ nhận thừa

kế, quà tặng là bất động sản; Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp để hợp lý hoá sản xuất nông nghiệp nhưng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất của

hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Nhà nước giao để sản

Trang 38

xuất; Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ; Thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là khoản tiền cá nhân nhận được từ nước ngoài do thân nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người Việt Nam đi lao động, công tác, học tập tại nước ngoài gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước; Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động; Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện; Thu nhập từ học bổng; Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật về bồi thường Nhà nước; Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học không nhằm mục đích thu lợi nhuận; Thu nhập nhận được từ các nguồn viện trợ của nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

* Thay việc áp dụng mức khởi điểm chịu thuế bằng quy định về giảm trừ gia cảnh và mở rộng áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh

* Công thức tính thuế thu nhập cá nhân 2016: Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất

Trong đó:

- Thu nhập tính thuế = (Tổng lương – 9 triêu – (3,6 triệu x số người phụ

Trang 39

- Mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh như sau và ta dựa vào đó để tính thuế TNCN (Điều 12 Thông tư 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính)

* Cá nhân cư trú có thu nhập từ thu nhập làm công ăn lương và kinh doanh tại Việt Nam được áp dụng theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế TNCN (xem Bảng 2.1)

Bảng 2.1: Biểu thuế lũy tiến từng phần

Nguồn: Luật thuế TNCN

Dựa trên biểu thuế lũy tiến từng phần ta có công thức rút gọn về tính thuế TNCN từng bậc 1 đến 7 theo 2 cách (xem Bảng 2.2)

Bảng 2.2: Cách tính thuế TNCN theo bậc

Bậc Thu nhập tính

thuế /tháng

Thuế suất

Trang 40

* Xác định cụ thể về thu nhập tính thuế để đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu, đặc biệt là khi xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú Ngoài khoản giảm trừ gia cảnh, thu nhập này còn được trừ thêm các khoản đóng góp BHXH, bảo hiểm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo để áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần

* Quy định riêng về thu nhập tính thuế, biểu thuế giữa các cá nhân cư trú

và cá nhân không cư trú Đồng nhất nghĩa vụ thuế giữa người Việt Nam và

người nước ngoài (bảng 2.3)

Bảng 2.3: Biểu thuế toàn phần

Số

(%)

2 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5

Ngày đăng: 14/10/2017, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Thị Cành (2004), “Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học kinh tế”, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học kinh tế”
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. Hồ chí Minh
Năm: 2004
15. Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân từ http://voer.edu.vn/m/noi- dung-cong-tac-quan-ly-thue-thu-nhap-ca-nhan/, truy cập ngày 02/03/201616. www.gdt.gov.vn/ Link
1. Bộ Tài chính (2008), Thông tư 84/2008/TT-BTC nga ̀y 30/09/2008 hướng dẫn thi hành mô ̣t số điều của Luâ ̣t thuế thu nhâ ̣p cá nhân và hướng dẫn Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 qui đi ̣nh chi tiết mô ̣t số điều của Luâ ̣t Thuế thu nhâ ̣p cá nhân Khác
2. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 quy định Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh Khác
3. Tổng cục Thuế (2010), Quyết định số 502/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 qui định Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Phòng thuộc Cục Thuế Khác
5. Bộ Tài chính (2014), Công văn số 336/TCT-TNCN nga ̀y 14/01/2014 về viê ̣c hướng dẫn quyết toán thuế thu nhâ ̣p cá nhân năm 2013 hướng dẫn vềtính thu nhập chịu thuế khi qui đổi từ thu nhập sau thuế sang thu nhập trước thuế Khác
6. Chính phủ (2011), Quyết định 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 về việc phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 Khác
7. Chính phủ (2013), Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN Khác
8. Chính phủ (2008), Nghị định 100/2008/NĐ-CP nga ̀y 08/09/2008 qui đi ̣nh chi tiết mô ̣t số điều của Luâ ̣t Thuế thu nhâ ̣p cá nhân Khác
9. Cục Thuế TP. Hồ Chi Minh, báo cáo công tác quản lý thuế TNCN các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Khác
11. Quốc hội (2007), Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12ngày 21 tháng 11 năm 2007 Khác
12. Quốc hội (2012), Luật thuế TNCN sửa đổi số 26/2012/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013;Tiếng Anh Khác
14. Athur Adersen (2000), Asia and the Pacific- A Tax Tour; Trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm