Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước b
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, những ý kiến đóng góp, truyền đạt vốn kiến thức quý báu của các thầy, cô giáo trong Viện đào tạo sau đại học, trường Đại học Hàng Hải Việt Nam
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Dương Văn Bạo là giáo viên hướng dẫn trực tiếp tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài và viết
luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền, Phòng Tài nguyên và Môi Trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp tại quận Ngô Quyền, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH 6
1.1 Cơ sở lý luận về đất đai 6
1.1.1 Khái niệm đất đai 6
1.1.2.Chức năng của đất đai 7
1.1.3 Vai trò của đất đai 8
1.2 Cơ sở lý luận về đăng ký quyền sử dụng đất 10
1.2.1 Khái niệm về quyền sử dụng đất 10
1.2.2 Khái niệm về đăng ký quyền sử dụng đất 10
1.2.3 Quy định về đăng ký quyền sử dụng đất 11
1.3 Cơ sở lý luận QLNN về đất đai và QLNN về đăng ký quyền sử dụng đất của hộ gia đình 12
1.3.1 Cơ sở lý luận QLNN về đất đai 12
1.3.2.Cơ sở lý luận QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia đình 15 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SDĐ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGÔ QUYỀN 25
Trang 42.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác Quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ
trên địa bàn Quận Ngô Quyền 25 2.1.1 Điều kiện tự nhiên của Quận Ngô Quyền 25 2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội quận Ngô Quyền 26 2.2 Thực trạng QLNN về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền 27 2.2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ 27 2.2.2.Quy trình đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền 31 2.2.3 Thưc trạng QLNN về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền 32
2.3 Đánh giá quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô
Quyền 45
2.3.1 Điểm mạnh và nguyên nhân trong QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia
đình trên địa bànQuận Ngô Quyền 45
2.3.2 Điểm yếu và nguyên nhân trong QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia
đình trên địa bànQuận Ngô Quyền 48 CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN QUY TRÌNHQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG
KÝ QUYỀN SDĐ ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGÔ QUYỀN 55 3.1 Quan điểm và mục tiêu nhà nước về đăng ký quyền SDĐ của quận Ngô Quyền 55 3.1.1 Quan điểm quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ củaquận Ngô Quyền 55
3.1.2 Mục tiêu của quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận
Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng 56
3.2 Hoàn thiện quy trình QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia đình trên địa
bàn Quận Ngô Quyền 57
3.2.1 Xây dựng quy trình mới QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia đình trên
địa bàn Quận Ngô Quyền 57
3.2.2 Đề xuất khi áp dụng quy trình mới QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia
đình trên địa bàn Quận Ngô Quyền 60 3.3 Kiến nghị 69
Trang 53.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 69
3.3.2 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và Chính quyền quận Ngô Quyền 71
KẾT LUẬN 74
PHỤ LỤC 1 76
PHỤ LỤC 2 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 730
2.2 Đăng ký quyền SDĐ theo quy trình ISO 9001-2008 của
2.3 Thống kê số liệu cấp giấy chứng nhận trên địa bàn quận
2.4 Kết quả khảo sát đánh giá công tác đăng ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của quận Ngô Quyền 40
2.5 Xử lý vi phạm QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia
đình trên địa bàn quận Ngô Quyền giai đoạn 2011-20115 41
2.6 Đánh giá thái độ phục vụ công dân vàý thức trách nhiệm
của các cán bộ, công chức viên chức quận Ngô Quyền 45 3.1 Xây dựng quy trình mới về đăng ký quyền SDĐ của
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi đất nước ta trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đất đai mới chỉ được coi trọng về mặt hiện vật, các nguồn lực tài chính từ đất đai chưa được quan tâm nhiều, việc khai thác sử dụng chưa thực sự có hiệu quả, kết quả thu được cho Nhà nước, xã hội từ đất đai chưa lớn Kể từ khi đổi mới, với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đất đai
đó thực sự trở thành nguồn lực tài chính quan trọng của đất nước Kể từ đó việc quản lý đất đai nói chung và quản lý đăng ký quyền SDĐ nói riêng luôn là vấn đề nóng bỏng, bức bách ở mọi tầng lớp dân cư, mọi địa bàn trên phạm vi cả nước
Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường Hiệu quả quản
lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất
đã được hình thành và phát triển nhanh Kết quả đó khẳng định các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách pháp luật về đất đai được xác định trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hội nghị Trung ương 6 Khóa XI đã ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra những yêu cầu to lớn đối với công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó quản lý nhà nước về đất đai là một nội dung quan trọng nghiên cứu các
Trang 10quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề đất đai và đã ban hành nhiều văn bản quy định pháp luật về đất đai Cũng chưa có đạo luật nào bổ sung, sửa đổi lại tốn nhiều giấy mực và thời gian tranh cãi như Luật Đất đai Từ khi ban hành cho đến nay, Luật Đất đai đã trải qua rất nhiều lần sửa đổi, bổ sung như: năm 1993, 2001, 2003 và gần đây nhất ban hành Luật đất đai 2013 Trong khi các nước khác từ khi ban hành Luật Đất đai cho đến nay chưa một lần chỉnh đổi, bổ sung như: Thụy Điển (1970), Trung Quốc (1994)… Nhìn chung, công tác quản lý đất đai đặc biệt là trong công tác quản lý biến động đất đai trong thời gian qua còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ Vẫn còn nhiều trường hợp người dân thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho tặng, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, không thông qua các cơ quan chức năng, không được sự cho phép của Nhà nước, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn diễn ra rất chậm, chưa đúng tiến độ quy định Xong vấn đề nổi cộm đáng quan tâm ở đây việc thực hiện tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng còn rất chậm và hiệu quả sử dụng đất chưa cao tại sao lại có hiện tượng đó? Một phần rất quan trọng đó là vấn đề công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa được thực hiện tốt và giám sát chặt chẽ , dẫn đến việc thu hồi đất giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn và việc sử dụng đất tràn lan sai mục đích làm lãng phí, kém hiệu quả Do
đó yêu cầu quản lý chặt chẽ và sử dụng đất đai hợp lý để phát huy tác dụng tích cực và làm giảm những tác động tiêu cực đến đất đai trở nên hết sức cần thiết
Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích động viên các đối tượng
sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả cao theo đúng quy định của pháp luật Tuy vậy đất đai là sản phẩm của tự nhiên và nó tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế xã hội do đó các quan hệ đất đai luôn chứa đựng trong nó những vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có sự giải quyết kịp thời đảm bảo được các lợi ích của xã hội và người sử dụng đất
Ngô Quyền là một trong bảy quận nội thành của thành phố Hải Phòng, có diện tích là 10,96 km2, nằm ở phía Đông Bắc thành phố, dọc con sông Cấm, ôm
Trang 11lấy hầu như toàn bộ khu vực cảng chính, phía Bắc tiếp giáp sông Cấm, phía Đông giáp quận Hải An, phía Nam giáp sông Lạch Tray, phía Tây giáp quận Hồng Bàng và quận Lê Chân Nhiều dự án lớn được triển khai tại quận như dự án xây dựng khu đô thị mới Ngã năm-Sân bay Cát Bi, dự án xây dựng Công viên An Biên,
dự án cải tạo thoát nước 1B, nâng cấp cảng biển khu vực Đoạn Xá, đường 100 m, đường Lạch Tray-Hồ Đông đã củng cố cơ sở hạ tầng của quận Do đó nhiệm vụ đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn quận là
vô cùng cấp thiết
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đăng ký quyền sử dụng đất của hộ gia đình trên địa bàn quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ, chuyên
ngành Quản lý kinh tế cho mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc phân tích thực trạng công tác QLNN về đăng ký quyền SDĐ và quy trình thực hiện các thủ tục hành chính tại Quận Ngô Quyền, những khó khăn bất cập về công tác quản lý đất đai là cơ sở để UBND quận Ngô Quyền đề từ đó hoàn thiện quy trình đăng ký quyền SDĐ của UBND quận, giải pháp về QLNN trên cơ
sở các quy định pháp luật để đưa công tác QLNN dần hoàn thiện tạo ra một hệ thống QLNN về đăng ký quyền SDĐ công khai và minh bạch
Đã có rất nhiều giáo trình nghiên cứu về công tác QLNN và một số công trình nghiên cứu luận văn tiến sĩ, thạc sĩ về đề tài nâng cao hiệu quả QLNN về đất đai như:
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn tiếp cận nghiên cứu Công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng dưới góc độ quản lý nhà nước về
Trang 12đăng ký quyền SDĐ của chính quyền cấp quận Ngô Quyền
- Về không gian: giới hạn nghiên cứu công tác quản lý đối với toàn bộ diện tích đất đai trong phạm vi các đơn vị hành chính thuộc quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
- Về thời gian: số liệu thu thập, xử lý và phân tích trong giai đoạn
2011-2015, các giải pháp đề xuất định hướng đến năm 2020
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện quy trình quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng Đề thực hiện được mục đích đó, luận văn cần phải giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đăng ký quyền SDĐ
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2015, từ đó, chỉ ra những điểm mạnh, những điểm yếu và làm rõ nguyên nhân của những điểm yếu trong công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
- Hoàn thiện quy trình đăng ký quyền SDĐ; đề xuất một số giải pháp và kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng đến nãm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: để tìm hiểu về cơ sở khoa học và tính pháp lý của quản lý Nhà nước về đất đai
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: sử dụng để thu thập thông tin, số liệu về thực trạng của quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
- Phương pháp so sánh: so sánh thực trạng của quản lý Nhà nước về đất đai trên địa giữa các năm, các giai đoạn để làm cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn
Trang 13thiện công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến chuyên gia nhằm đưa ra đánh giá khách quan về thực trạng và ý tưởng các giải pháp quản lý đất đai trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG
KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN
SDĐ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGÔ QUYỀN
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ
QUYỀN SDĐ ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGÔ
QUYỀN
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH
1.1 Cơ sở lý luận về đất đai
1.1.1 Khái niệm đất đai
Đất đai đóng vai tròvô cùng quan trọng trong nền sản xuất Đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới Đất đai là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hóa khoa học đều
được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai Trong Luật Đất đaicủa Việt Nam có hiệu lực năm 2013 đã khẳng định rằng “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất
đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người Nói cách khác, không
có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết Có hai thuật ngữ sau hay được hiểu là một nhưng thực chất lại có sự khác biệt nhất định là thuật ngữ khoa học “Đất” và
“Đất đai” Theo các nhà khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của
nó Còn “Đất đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ Một khái niệm khá đầy đủ
và phổ biến hiện nay về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát
Trang 15nước, đường sá, nhà cửa )” (Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio,
Brazil, 1993)
Tóm lại, có thể hiểu đơn giản là đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người
1.1.2.Chức năng của đất đai
Có rất nhiều khái niệm về đất đai Khái niệm về đất đai gắn liền với nhận thức con người về thế giới tự nhiên và sự nhận thức này không ngừng thay đổi theo thời gian Con người đã thừa nhận đất đai đối với loài người có rất nhiều chức năng Tuy nhiên, chức năng của đất đai bao gồm cơ bản như sau:
- Chức năng sản xuất: là cơ sở cho nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống của
con người, qua quá trình sản xuất, đất đai cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp thông qua chăn nuôi và trồng trọt
- Chức năng cân bằng sinh thái: đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là
tấm thảm xanh đã hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất thông qua việc phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyền của địa cầu
- Chức năng môi trường sống: đất đai là cơ sở của mọi hình thái sinh vật
sống trên lục địa thông qua việc cung cấp các môi trường sông cho sinh vật và gen
di truyền để bào tồn nòi giống cho thực vật, động vật và các cơ thể sống cả trên và dưới mặt đất
- Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước: đất đai là kho tàng lưu trữ
nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò điều tiết nước rất to lớn
- Chức năng dự trữ: đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi
Trang 16nhu cầu sử dụng của con người
- Chức năng không gian sự sống: đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là
môi trường đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại
- Chức năng bảo tồn, bào tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ các
chứng tích lịch sử, văn hóa của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết và cả quá trình sử dụng đất trong quá khứ
- Chức năng vật mang sự sống: đất đai cung cấp không gian cho sự chuyển
vận của con người, cho đầu tư sản xuất và cho sự dịch chuyển của động vật giữa các vùng khác nhau của hệ sinh thái tự nhiên
- Chức năng phân dị lãnh thổ: sự thích hợp của đất đai về các chức năng chủ
yếu nói trên thể hiện rất khác biệt ở các vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia nói riêng
và trên toàn trái đất nói chung Mỗi phần lãnh thổ mang những đặc tính tự nhiên, kinh tế, xã hội rất đặc thù
1.1.3 Vai trò của đất đai
Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai là nguồn của cải, là một nguồn tài sản cố định hoặc đầu tư cố định là thước đo sự giầu có của một quốc gia Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng.Đất đai có những vai trò quan trọng cụ thể và khác nhau ở từng lĩnh vực:
Trong ngành nông nghiệp, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng, nó vừa là
đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Con người khai phá đất hoang để chăn nuôi trồng trọt, là nguồn sống để cây trồng sinh trưởng và phát triển, cung cấp lương thực thực phẩm để nuôi sống con người Cho nên nếu không có đất, các hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ không thể tiến hành được
Trong công nghiệp, đất đai cung cấp nguyên vật liệu để làm gạch, ngói, xi
măng, đồ gốm sứ phục vụ cho ngành xây dựng và ngành khai thác khoáng sản Đất
Trang 17còn làm nền móng, là địa điểm để tiến hành các hoạt động sản xuất, là chỗ đứng cho công nhân trong sản xuất công nghiệp
Trong cuộc sống, đất đai còn là địa bàn phân bố khu dân cư, là nơi để con
người xây dựng nhà ở, hệ thống hạ tầng đường sá giao thông, các công trình thuỷ lợi Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các toà nhà cao tầng, các công trình văn hoá kiến trúc tạo nên bộ mặt tổng thể của một quốc gia Ngoài
ra, đất đai còn là nơi để xây dựng các công trình công cộng, tụ điểm vui chơi giải trí, thể dục thể thao, xây dựng các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh để phục
vụ các nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con người
Mặt khác, đất đai là một trong những yếu tố cấu thành nên lãnh thổ quốc gia
Vì vậy việc xâm phạm đất đai là xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, để bảo
vệ chủ quyền đó Nhà nước phải luôn luôn thực hiện các biện pháp quản lý, phải sử dụng quyền lực của mình để ngăn chặn sự xâm phạm từ bên ngoài Rõ ràng đất đai
có vai trò hết sức quan trọng, là tư liệu sản xuất chính, là điều kiện chung của lao động, là bộ phận của lãnh thổ quốc gia Trải qua các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, đất đai của nước ta ngày nay là thành quả của bao thế hệ cha ông ta đã
hy sinh xương máu, dày công vun đắp mới có được Từ đó đất đai trở thành giá trị thiêng liêng và vô cùng quý giá, đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn, sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên đất đai
Vai trò to lớn của đất đai chỉ có thể phát huy một cách đầy đủ khi mà có sự tác động tích cực của con người một cách thường xuyên Nếu như con người sử dụng, khai thác kiệt quệ độ phì nhiêu của đất mà không bồi dưỡng cải tạo đất thì vai trò to lớn của đất đai sẽ không thể được phát huy Sự hạn chế về mặt diện tích đất cùng với sự hạn chế trong việc khai thác tiềm năng đất do tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi con người phải biết tính toán, đánh giá đầy đủ về đất đai để có thể khai thác hiệu quả nhất Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển, kinh tế xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến
Trang 18huỷ hoại môi trường đất, một số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu
1.2 Cơ sở lý luận về đăng ký quyền sử dụng đất
1.2.1 Khái niệm về quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất không được quy định trong luật đất đai nhưng căn cứ trên cơ sở khái niệm quyền sử dụng tài sản được quy định tại Điều 172 (Luật đất
đai 2013) là:“Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức
từ tài sản” Từ đó có thể hiểu Quyền sử dụng đất quyền là quyền khai thác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản là đất”
1.2.2 Khái niệm về đăng ký quyền sử dụng đất
Thuật ngữ đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thực chất là việc ghi vào hồ sơ địa chính về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với một thửa đất xác định và cấp GCN đối với thửa đất, tài sản gắn liền với thửa đất đó nhằm chính thức xác lập quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất (Luật đất đai 2013 tại Chương 7, Mục I, Điều 95)
Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cũng có những đặc điểm chung như các loại hình đăng ký khác; song đăng ký quyền sử
dụng đất có một số đặc điểm khác biệt:
Một là: đăng ký quyền sử dụng đất là thủ tục hành chính do Nhà nước quy
định và tổ chức thực hiện và có tính bắt buộc đối với mọi người sử dụng đất; Đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất không có tính bắt buộc mà do nhu cầu của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất
Hai là: đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đối với loại tài sản đặc biệt:
- Đất đai là tài sản đặc biệt có giá trị; giá trị đặc biệt vừa thể hiện ở giá trị sử dụng không thể thiếu và có ý nghĩa sống còn với mọi tổ chức, cá nhân, nhưng chí
có giới hạn về diện tích trong khi nhu cầu sử dụng của xã hội ngày càng tăng; giá trị đặc biệt của đất đai còn được thể hiện ở giá đất và luôn có xu hướng tăng lên
- Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân; người đăng ký chỉ được hưởng quyền
Trang 19sử dụng đất; trong khi đó quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật lại không đồng nhất giữa các thửa đất có mục đích sử dụng khác nhau, do loại đối tượng (tổ chức, cá nhân) khác nhau sử dụng;
- Đất đai thường có các tài sản gắn liền (gồm: nhà, công trình xây dựng, cây rừng, cây lâu năm) mà các tài sản này chỉ có giá trị nếu gắn liền với một thửa đất tại vị trí nhất định; trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất;
Ba là: Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
phải thực hiện đồng thời cả hai việc: vừa ghi vào hồ sơ địa chính của cơ quan nhà nước để phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật; vừa cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư vào việc sử dụng đất và có điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo pháp luật
1.2.3 Quy định về đăng ký quyền sử dụng đất
Việc đăng ký quyền sử dụng đất được quy định tại điều 46 của Luật đất đai năm 2013, cụ thể như sau:
Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
1 Người đang sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
2 Người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này;
3 Người nhận chuyển quyền sử dụng đất;
4 Người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đổi tên, chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất hoặc có thay đổi đường ranh giới thửa đất;
5 Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh
Trang 20chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành
1.3 Cơ sở lý luận QLNN về đất đai và QLNN về đăng ký quyền sử dụng đất của hộ gia đình
1.3.1 Cơ sở lý luận QLNN về đất đai
1.3.1.1 Khái niệm QLNN về đất đai
Theo một số giáo trình chuyên ngành Luật của các trường Đại học, Cao đẳng, khái niệm quản lý nhà nước tuy có sự khác biệt đôi chút nhưng chủ yếu bao gồm những ý chính sau: Quản lý nhà nước mang tính quyền lực, sử dụng các quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người
Nước nào trên thế giới cũng có quan tâm hàng đầu là đất đai Nếu có điều kiện, bất kể quốc gia nào cũng sẵn sàng mở rộng quỹ đất hạn hẹp và cố định của mình Đất đai là một mảng trọng yếu của quốc gia nên thực tế là quốc gia nào cũng cần đến sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước đối với đất đaivì các lý do sau đây:
Một là, hàng hoá và dịch vụ công cộng chủ yếu bao gồm các kết cấu hạ tầng
như: điện, cấp thoát nước, giao thông công cộng, bưu chính viễn thông, y tế giáo dục, bảo vệ môi trường… thường do Nhà nước đóng vai trò người cung cấp thông qua ngành kinh tế công cộng Những sản phẩm này đều gắn liền với đất đai, hàng hoá, dịch vụ, và sẽ được cung cấp với chi phí thấp hơn nếu như đất đai được sử dụng có hiệu quả
Hai là, đất đai là không gian cơ bản trong sản xuất và sinh hoạt của con
người và có tính chất khan hiếm Vì vậy, trong SDĐ không thể tránh khỏi những mâu thuẫn như: mâu thuẫn giữa sự phát triển nhanh chóng của KT - XH với sự khan hiếm của đất đai; mâu thuẫn giữa lợi ích tư nhân với lợi ích cộng đồng; mâu thuẫn giữa hiệu quả và bình đẳng… Việc điều hoà các mâu thuẫn này cần phải có
sự can thiệp của Nhà nước
Ba là, sự hạn chế của thị trường đất đai là một nguyên nhân quan trọng, Nhà
nước cần phải can dự và điều tiết sự vận hành kinh tế đất đai Bởi lẽ: thị trường đất đai không phải là một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tính cố định của đất đai, sự
Trang 21độc chiếm của quyền tài sản đất đai và xu thế tập trung đất đai vào một số ít người… làm cho thị trường đất đai tiềm ẩn yếu tố độc quyền; thị trường đất đai về bản chất là thị trường chia cắt, có tính không hoàn chỉnh Tính không lưu động của đất đai và tính đơn nhất về giá trị của mỗi thửa đất, làm cho các bên mua bán khó
có được thông tin về giá thực của từng thửa đất trong thị trường đất đai Điều này gây trở ngại cho việc điều tiết kịp thời trong sử dụng và phân bổ đất đai Đất đai, thu nhập từ đất đai và SDĐ đều là những vấn đề trọng đại có quan hệ đến lợi ích của mỗi cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Thị trường đất đai thường biến động phức tạp, nên phải có sự quản lý của Nhà nước và là một công việc không mấy dễ dàng
Bốn là, đất đai luôn gắn liền với phạm vi lãnh thổ của chính quyền địa
phương, tuy nhiên những chính sách về QLĐĐ nói chung, phân cấp về QLĐĐ nói riêng hiện còn bất cập, cần được hoàn chỉnh, bổ sung cho phù hợp và thích nghi với tình hình thực tiễn của từng địa phương Trên thực tế đây là lĩnh vực quản lý chủ yếu của chính quyền địa phương, những biến động về đất đai trong nền kinh tế thị trường diễn ra hàng ngày, hàng giờ và chỉ có chính quyền địa phương mới có thể nắm bắt và giải quyết được kịp thời, do vậy việc phân cấp cho chính quyền địa phương theo một thể thống nhất trong quản lý là một xu thế của QLNN về đất đai
Vậy tóm lại, “Quản lý Nhà nước về đất đai là việc quản lý mang tính quyền lực, sử dụng các quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người về vấn đề đất đai.”
1.3.1.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai
a Đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả
Đất đai là một tài nguyên quý giá, tài sản, tư liệu sản xuất đặc biệt , không tái tạo được Do vậy, đất đai cần được sử dụng một cách khoa học, tiết kiệm, nhằm mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần cho mọi người, đảm bảo đất đai được sử dụng lâu dài theo đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ được phê duyệt Ngoài ra, sự can thiệp của chính quyền cấp quận còn nhằm phát huy những tích cực và hạn chế tiêu cực Trong thực tế, xảy ra nhiều trường
Trang 22hợp mâu thuẫn về lợi ích thường được gọi là hiệu ứng ngoại lai, mà tự bản thân thị trường không giải quyết được Ví dụ, như việc một nhà máy công nghiệp gây ô nhiễm nằm trong khu dân cư, sẽ gây tác động xấu cho cộng đồng dân cư ở đó Ngược lại, những dự án xây dựng các khu công viên cây xanh mang lại lợi ích xã hội, nhưng lại không hấp dẫn với các nhà đầu tư nên cần phải được chính quyền hỗ trợ hoặc có chính sách ưu đãi
Hiệu quả QLNN về đất đai của chính quyền cấp quận còn nhằm giảm thiểu chi phí của các yếu tố đầu vào và gia tăng kết quả đạt được Điều này đòi hỏi phải chú ý đến chất lượng công việc hàng ngày, đảm bảo các mục tiêu QLNN về đất đai được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo và phân định rõ ràng về trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân Người đứng đầu chính quyền cấp quận phải là người chịu trách nhiệm trực tiếp kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao
b Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và sử dụng đất
Các chính sách quản lý của Nhà nước nhằm bảo đảm sự phân bổ hợp lý giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra tương ứng cho các bộ phận dân cư khác nhau Về nguyên tắc, Nhà nước không để cho nhóm dân cư này gây tác hại cho nhóm dân cư khác mà không chịu sự trừng phạt Chính sách đất đai cũng có chính sách ưu đãi đối với người nghèo, nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự công bằng Ngoài ra, chính sách đất đai của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư được tiếp cận với việc SDĐ dễ dàng
Sự công bằng được thể hiện ở việc chính quyền cấp quận đảm bảo các quyền của người SDĐ được Nhà nước cho phép, mọi người đều có cơ hội và bình đẳng trước pháp luật về đất đai Chính quyền cấp quận thay mặt cho Nhà nước QLĐĐ
và giao đất lâu dài và ổn định cho HGĐ & CN, khuyến khích họ khai thác và SDĐ theo hướng có hiệu quả cũng như xử lý nếu sai phạm Khi cần thu hồi đất cho các mục đích KT - XH, chính quyền cấp quận thay mặt Nhà nước thực hiện những chính sách đền bù thoả đáng Quyền lợi của người bị thu hồi đất được bảo đảm bù
Trang 23đắp những thiệt hại bị mất đi vì lợi ích chung, giúp cho người SDĐ yên tâm đầu tư phát triển đất đai
c Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước quận
Nhà nước có chính sách phát huy nguồn vốn đất đai, bảo đảm các nguồn thu tài chính từ đất đai cho ngân sách Nhà nước điều tiết hợp lý các khoản thu, chi ngân sách, phần giá trị tăng thêm của đất do quy hoạch, các khoản thu do đầu tư thu được từ đất đai Chính quyền cấp quận có trách nhiệm thực hiện các khoản thu
từ đất đai cho ngân sách Nhà nước bao gồm:
- Tiền sử dụng đất: giao đất có thu tiền SDĐ; chuyển mục đích SDĐ từ đất
được Nhà nước giao không thu tiền SDĐ sang đất được Nhà nước giao có thu tiền SDĐ; chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ
- Thuế: là nguồn thu theo nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật, là nguồn
thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà quận được quyền thu và giữ lại theo quy định: việc đánh thuế SDĐ, do đất mang lại lợi ích cho các chủ đất và các nhà đầu
tư Chính sách thuế vừa phải đảm bảo khuyến khích sự phát triển đất đai, vừa đảm bảo nguồn thu cho Nhà nước
- Các khoản thu nhập khác từ đất đai: chính quyền cấp quận có thể tạo ra
các khoản thu nhập từ cho thuê, góp vốn bằng đất hoặc trực tiếp tham gia đầu tư và kinh doanh đất đai nhằm tạo ra lợi nhuận từ đất đai; các khoản thu từ việc Nhà nước tạo ra các giá trị gia tăng về đất đai do đầu tư hạ tầng; các khoản thu từ việc
xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và SDĐ
1.3.2.Cơ sở lý luận QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia đình
1.3.2.1 Khái niệm QLNN về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia đình
Từ trước đến nay chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm về thuật ngữ trên Theo sự tìm hiểu của tác giả, dựa trên thuật ngữ “Quản lý nhà nước” và
“Đăng ký quyền SDĐ” “Quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ của hộ gia
đình” tác giả định nghĩa như sau: “Quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ của
Trang 24hộ gia đình là việc quản lý mang tính quyền lực, sử dụng các quyền lực nhà nước
để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người về vấn đề đăng ký quyền SDĐ.”
Cần có sự phân biệt rõ ràng giữa đăng ký quyền SDĐ với giấy chứng nhận quyền SDĐ Đây là hai loại giấy khá giống nhau về quy trình và mục đích là chứng nhận quyền sở hữu với tài sản là đất đai Nhưng điểm khác biệt là đăng ký quyền SDĐ thì người chủ tài sản chưa làm nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, còn đối với giấy chứng nhận quyền SDĐ thì người chủ sở hữu đã thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, tức là đã đóng thuế phí đầy đủ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thường
được ngôn ngữ bình dân gọi là sổ đỏ hoặc giấy đỏ, là chứng thư có giá trị pháp lý
xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất về quyền hạn và nghĩa
vụ trong việc sử dụng đất đai Một thuật ngữ liên quan mật thiết là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (tức sổ hồng) Khác với hầu hết các quốc gia trên thế giới, Hiến pháp Việt Nam quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và Nhà nước
là chủ thể đại diện duy nhất và tuyệt đối của quyền sở hữu đất đai (Theo Luật đất đai 2013)
1.3.2.2 Sơ đồ QLNN về đăng ký quyền sử dụng đất
Quản lý nhà nước về đăng ký quyền sử dụng đất nằm trong bộ máy quản lý nhà nước về đất đai Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền đối với đất đai thông qua hệ thống các cơ quan QLNN về đất đai Nhà nước, với mục đích thực hiện được sự thống nhất QLNN về đất đai từ trung ương đến địa phương nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng theo đúng pháp luật và quy hoạch, kế hoạch SDĐ, khai thác và SDĐ ổn định, lâu dài và có hiệu quả cao nhất về KT- XH trên phạm vi toàn lãnh thổ Phòng tài nguyên môi trường đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống QLNN về đăng ký quyền SDĐ.Đăng ký quyền sử dụng đất (QSDĐ) là việc thực hiện một trong những quyền cơ bản của người SDĐ và được
chia thành hai loại:
(i) Đăng ký đất đai (ĐKĐĐ) lần đầu thực hiện với những người đang SDĐ,
Trang 25nhưng chưa kê khai đăng ký QSDĐ và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và QSDĐ ở;
(ii) Đăng ký biến động đất đai thực hiện đối với người SDĐ đã được cấp giấy CNQSDĐ hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền SDĐ ở tại đô thị khi có một trong những thay đổi về mục đích sử dụng, loại đất sử dụng, diện tích đất sử dụng
Tuy nhiên, trọng tâm hiện nay chuyển sang việc đăng ký các giao dịch về quyền đối với đất Nếu như việc chuyển trọng tâm này không thành công, sẽ có những khó khăn cho cả người quản lý và người SDĐ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập mối quan hệ giữa người SDĐ và Nhà nước, tạo điều kiện cho họ thực hiện các giao dịch về đất đai trên thị trường BĐS cũng như việc thực hiện các quyền gắn liền với QSDĐ như: chuyển đổi, chuyển nhượng, trao tặng, thừa kế, thế chấp
Tóm lại, đăng ký đất có hai hình thức đó là đăng ký lần đầu và đăng ký biến động Đăng ký đất phải được thực hiện thường xuyên liên tục để có thể phản ánh kịp thời cập nhật những biến động đất đai Đăng ký đất thường được tiến hành ở cấp xã,
là đầu mối tiếp xúc với người dân ngay tại địa phương mình quản lý Hồ sơ địa chính
và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cung cấp thông tin đầy đủ nhất, là cơ sở để bảo vệ các quyền của người sử dụng đất khi xảy ra tranh chấp cũng như xác định nghĩa vụ tài chính mà họ phải tuân thủ theo pháp luật Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định theo sự phân cấp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức và đối tượng được chính phủ quyết định giao đất Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
QLNN về đăng ký quyền sử dụng đất nằm trong nội dung QLNN về đất đai, được thể hiện cụ thể ở sơ đồ sau:
Trang 26Nguồn: UBND Quận Ngô Quyền
Hình 1.1 Quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ
1.3.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đăng ký quyền sử dụng đất
a Nhóm yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô
- Pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước về quản lý đất đai
Đảng ta xác định nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, cụ thể làm cho công tác quản lý được hiệu quả và thuận lợi, các cơ quan quản lý theo đúng pháp luật quy định mà thực hiện, không gặp những vướng mắc trở ngại nào nếu như văn bản pháp luật đó mang tính khoa học và cụ thể Pháp luật xác định rõ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cũng như thẩm quyền của cơ quan Nhà nước Pháp luật của nhà nước ta hiện nay phải là cơ sở để hoàn thiện bộ máy nhà nước phù hợp với cơ chế mới mà trước hết phải cải cách một bước nền hành chính quốc gia Nhưng thực tế Luật Đất đai hiện nay cho thấy vẫn còn có một số hạn chế làm giảm hiệu lực của cơ quan nhà nước Đó là do Luật Đất đai được xây dựng trong điều kiện kinh tế đang từng bước hoàn thiện, chưa lường trước được sự chuyển biến tình hình, vì vậy Luật còn quy định chung chung, mặt khác việc hướng dẫn thực hiện luật còn chậm, thiếu đồng
bộ và cụ thể làm cho các cấp lúng túng trong việc thi hành bởi vậy hiệu quả quản
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai của chính
và chuyển mục đích sử dụng đất
Quản lý đăng ký quyền SDĐ, lập và QL hồ
sơ địa chính, cấp giấy quyền SDĐ
Quản lý tài chính về đất đai
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành luật pháp và giải quyết khiếu nại tố cáo trong quản lý đất đai
Trang 27lý nhà nước về đất đai vẫn còn thấp Từ đó, ta có thể thấy nhân tố pháp luật có tác động mạnh đến công tác quản lý đất đai, nó có thể làm nâng cao hiệu quả hoặc làm giảm hiệu lực quản lý Chính vì thế, kiện toàn hệ thống pháp luật là vấn đề cấp bách hiện nay
- Yếu tố văn hóa, xã hội
Yếu tố văn hóa, xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức điều hành quản lý xã hội và tăng cường chức năng quản lý của nhà nước về mọi lĩnh vực nói chung cũng như về lĩnh vực đất đai nói riêng Một chính sách quản lý đất đai đúng đắn phải đề cập đến các yếu tố xã hội, từ đó nó không những làm ổn định xã hội
mà còn tăng cường vai trò quản lý của nhà nước và cơ quan quản lý Các yếu tố xã hội như việc làm, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc bảo vệ cho nhân dân, ưu đãi người có công với cách mạng, văn hoá, y tế, dân tộc… cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng Yếu tố này làm cho công tác quản lý đất đai được nhẹ nhàng hơn và hiệu lực quản lý từng bước được nâng cao Bởi vì các tệ nạn xã hội đã bị giảm bớt, công bằng xã hội được thiết lập và đảm bảo cho cơ quan quản lý thực hiện trách nhiệm quản lý dễ dàng hơn Việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng như tặng nhà tình nghĩa, không phải nộp tiền thuê đất… là công việc quản lý thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta Tập trung đầu tư cho giáo dục, văn hoá để nâng cao nhận thức về pháp luật cho mọi người là việc làm quan trọng, để cho nhân dân thấy rõ được chủ trương, đường lối chính sách của Đảng trong công tác quản lý Một yếu
tố quan trọng khác cũng có ảnh hưởng đến quản lý đất đai đó là phong tục tập quán của người dân cũng như tâm lý của họ trong đời sống xã hội Tập quán sinh sống làng xã, cộng đồng, nhiều thế hệ cùng chung sống trong một gia đình, đất đai do ông bà tổ tiên để lại không có giấy tờ hợp pháp cũng chẳng làm cho họ bận tâm vì
họ nghĩ chẳng ai có thể đuổi họ đi chỉ vì không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay sở hữu nhà ở Mặt khác đất sử dụng lại không có chủ cụ thể do chuyển đổi
từ nhiều đời không có giấy tờ chứng minh vì vậy gây khó khăn cho công tác quản
lý Nhà nước về đất đai nhất là ở khu vực nông thôn hiện nay
Trang 28- Thực trạng phát triển kinh tế
Công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng phải có cơ sơ vật chất kỹ thuật, máy móc hiện đại để đáp ứng cho yêu cầu quản lý hiện nay Đào tạo nhân lực là cốt lõi để thực hiện quản lý Thực hiện công việc này phải có một nguồn kinh phí lớn Sự phát triển của nền kinh tế với nhịp độ cao và ổn định tạo ra được giá trị sản phẩm to lớn từ đó có thể tập trung nguồn lực để đầu tư cho việc đào tạo nhân lực Măt khác một nền kinh tế phát triển sẽ kích thích sự phát triển của khoa học công nghệ, kích thích sự phát triễn sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội … giúp cho công tác quản lý được thuận lợi hơn, giảm bớt được những khó khăn phức tạp trong quản lý Công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng phải có cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc hiện đại để đáp ứng cho yêu cầu quản lý hiện nay
Từ khi thực hiện cơ chế mở cửa, đổi mới đối với nền kinh tế, cơ cấu kinh tế cũng đã chuyển đổi theo hướng dịch vụ - công nghiệp - thương mại - nông nghiệp
Đó là điều đáng mừng vì kết quả của sự chuyển dịch đã đóng góp không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế Một phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã được lấy đi
để sử dụng cho sản xuất công nghiệp như xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp, sản xuất gạch ngói đồ gốm, vật liệu xây dựng… làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm đi và nó tác động tới nguồn cung cấp lương thực cho người dân Giá cả các mặt hàng nông sản tăng lên vì nguồn cung bị ảnh hưởng do đó, song song với việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì cũng cần phải chú ý đến an toàn lương thực cho người dân
Quá trình đổi mới kinh tế làm cho vấn đề sử dụng đất đai có nhiều biến động
vì vậy không thể áp dụng mô hình quản lý cũ được Việc đầu tư cơ sở hạ tầng mở mang đô thị đã làm cho giá đất tăng lên một cách đáng kể Tại các vùng ven đô trước kia là khu nông thôn nhưng hiện nay quá trình đô thị hoá đã đẩy giá đất tăng cao vùn vụt và đó cũng là nguyên nhân của nhũng cơn sốt đất trên địa bàn thành phố thời gian qua Từ sự phân tích trên có thể thấy yếu tố kinh tế có tác động mạnh đến quản lý sử dụng đất, đến giá trị của đất nhất là trong sự phát triển kinh tế với
Trang 29nhịp độ cao như hiện nay
- Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện khí hậu:
Đất được hình thành và phát triển trong từng điều kiện khí hậu cụ thể, do đó
sử dụng đất theo vùng, theo mùa
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn trực tiếp tới sản xuất và sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự sai khác
về nhiệt độ thời gian hoặc không gian, cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian ánh sáng dài hay ngắn, đặc điểm của gió và cường độ của gió Cường độ nước, lượng nước mưa, ẩm độ đều có ý nghĩa quan trọng đến tăng trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi và cả nuôi trồng thuỷ sản
+ Điều kiện địa hình thổ nhưỡng:
Điều kiện địa hình: sử dụng đất theo điều kiện địa hình, theo độ cao
Điều kiện thổ nhưỡng: đất có những tính chất hoá học, lý học, sinh học nhất định, đối tượng sử dụng đất có những nhu cầu sử dụng đất riêng biệt, do đó sử dụng đất dựa theo kết quả đánh giá, phân hạng đất thích hợp
Sự khác nhau về địa hình, địa mạo, độ chia cắt, độ cao, hướng dốc dẫn tới sự khác nhau về khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới nông nghiệp như chọn cây trồng vật nuôi, lựa chọn phương thức sản xuất, bố trí công trình hạ tầng Về thổ nhưỡng các loại đất có đặc điểm khác nhau về nguồn gốc đều tác động đến sinh trưởng, phát triển và xây dựng các công trình Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt khí hậu một nước và điều kiện khác nhau sẽ quyết định đến khả năng công dụng và hiệu quả sử dụng đất Như vậy thực tiễn sử dụng đất đai cần tuân thủ theo quy luật tự nhiên tận dụng các lợi thế nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao cả mặt môi trường xã hội đồng thời khắc phục hạn chế để giảm thiểu rủi ro và thiệt hại
+ Điều kiện về không gian:
Sử dụng đất căn cứ vào đặc điểm địa hình, quy mô diện tích, hình dạng thửa đất Các ngành sản xuất vật chất và phi vật chất (nông nghiệp - công nghiệp - khai khoáng - xây dựng) và nhiều hoạt động kinh tế, xã hội đều cần đến đất đai như
Trang 30điều kiện không gian để hoạt động Không gian bao gồm cả mặt bằng, vị trí Không gian của đất là yếu tố vĩnh cửu của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người
Vì vậy không gian là một trong những yếu tố cơ bản hạn chế việc sử dụng đất
Sự bất biến về tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng diện tích (không gian) chi phối giới hạn thay đổi cơ cấu sử dụng đất nên điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại Đối với đất xây dựng đô thị, đất chuyên dùng trong công nghiệp, hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi… mặt bằng không gian ngày càng có ý nghĩa quan trọng và có giá trị kinh tế rất cao
Tài nguyên ðất có hạn, lại giới hạn về không gian nên phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng ðất tiết kiệm, có hiệu quả, có kế hoạch bảo vệ môi trýờng
+ Điều kiện thủy văn:
Mỗi vùng đều có hệ thống và chế độ thuỷ văn, thuỷ địa chất cụ thể, quyết định nguồn nước cung cấp cho các yêu cầu sử dụng đất, do đó sử dụng đất theo các đặc điểm của nguồn nước và chịu sự chuyển đổi của nguồn nước Vị trí địa lý của vùng sẽ tạo ra những lợi thế so sánh, tạo ra tiền đề sử dụng đất
b Nhóm yếu tố thuộc về quận
- Bộ máy quản lý nhà nước về đất đai
Việc tổ chức bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn quận Dù có chính sách đúng đắn, hợp lý nhưng việc tổ chức bộ máy quản lý không phù hợp với trình độ chuyên môn, bộ máy tổ chức chồng chéo thì công tác quản lý không thể đạt hiệu quả cao được Do đó công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn quận đòi hỏi chính quyền cấp quận phải luôn luôn kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý
- Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đất đai
Nhân lực là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động, trên mọi lĩnh vực Nếu đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đất đai không đủ khả năng về trình độ, thể lực, đạo đức thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao Do đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý có vai trò quyết định đến thành công trong việc thực hiện công tác quản lý, đó là yếu tố hết sức quan trọng Nếu người
Trang 31quản lý mà không nắm vững các quy định, chính sách, quy trình nghiệp vụ thì công tác quản lý không thể đạt kết quả cao
- Điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại sẽ làm giảm thời gian và chi phí trong công tác quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý Trình độ khoa học kỹ thụât, sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt là trang thiết bị tin học, trang thiết bị chuyên ngành ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ tin học vào quản lý sẽ giúp cho cơ quan quản lý chặt chẽ tình hình hoạt động và chấp hành pháp luật về đất đai của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, hạn chế được những tình trạng vi phạm pháp luật
c Nhóm yếu tố thuộc về người dân, tổ chức, doanh nghiệp
Để đưa công tác quản lý đất đai vào khuôn khổ pháp luật của nhà nước là công việc khó khăn và lâu dài, trong đó việc chấp hành pháp luật của người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng là một trong những yếu tố quan trọng để góp phần thực hiện hiệu quả công tác quản lý đất đai của nhà nước Cần thấy rằng con người chấp hành pháp luật một cách tự giác, nghiêm chỉnh một khi họ có thái độ đúng đắn, sự hiểu biết đầy đủ đối với pháp luật Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, minh bạch,
ít lỗ hổng, không chồng chéo, mâu thuẫn sẽ tự mình có sức mạnh để đi vào cuộc sống, được xã hội chấp nhận, thừa nhận và tuân thủ, chất lượng phục vụ nhân dân tốt hơn sẽ đem lại sự hài lòng cho người dân
Việc tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân vào dự án luật có tác dụng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật rất lớn và có hiệu quả Thông qua lấy ý kiến vào quá trình xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật có tác dụng tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, ý thức về trách nhiệm pháp lý và khả năng tiến hành các hành vi pháp lý đúng đắn, chính xác Đồng thời, qua hoạt động này, sẽ giúp cho nhân dân nâng cao ý thức pháp luật Như vậy, mọi người sẽ hiểu được về giá trị xã
Trang 32hội và pháp luật Có thể nói, thái độ chấp hành hay không chấp hành của người dân đối với pháp luật là kết quả của sự am hiểu pháp luật
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ
QUYỀN SDĐ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGÔ QUYỀN
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác Quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của Quận Ngô Quyền
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quận Ngô Quyền là đơn vị hành chính cấp quận thuộc thành phố Hải Phòng, với diện tích 10,96 ha, dân số khoảng 143.000 người, chiếm gần 10% dân số toàn thành phố Hải Phòng.Quận Ngô Quyền nằm ở phía Đông Bắc thành phố, dọc con sông Cấm, ôm lấy hầu như toàn bộ khu vực cảng chính, Phía Bắc tiếp giáp sông Cấm, phía Đông giáp quận Hải An, phía Nam giáp sông Lạch Tray, phía Tây giáp quận Hồng Bàng và quận Lê Chân Là đầu mối giao thông đường thủy, đường sắt và đường bộ; là khu vực cảng thủy nội địa, dịch vụ và du lịch Với vị trí địa lý như vậy, Quận Ngô Quyền có đủ điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, hoà nhập với nền kinh tế thị trường, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch
vụ
Tình hình kinh tế xã hội của quận trong nhưng năm vừa qua có sự chuyển biến rõ rệt: kinh tế có sự tăng trưởng và phát triển khá, các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra Các thành phần kinh tế phát triển đa dạng phù hợp với nền sản xuất hàng hóa Sản lượng công nghiệp, dịch vụ, tăng liên tục ở mức cao Kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được tăng cường, công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội được quan tâm Các lĩnh vực văn hóa, xã hội chuyển biến tốt, các chỉ tiêu: Giáo dục, y tế, dân số, gia đình và trẻ em, văn hóa thể thao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân tăng lên
rõ rệt Công tác quản lý sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên nước và vệ sinh môi trường ngày càng tốt hơn
2.1.1.2 Địa hình
Ngô Quyền thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ có địa hình bằng phẳng, không
Trang 34có núi non với độ cao trung bình từ 0,5 - 1,0 m so với mực nước biển
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
- Khí hậu: Nằm trong vành đai nhiệt đới gió sát biển Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Mùa gió bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Gió mùa nồm (mùa hè) mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng
10 Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 - 1.800 mm chiếm đến 70% lượng mưa hàng năm Bão thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9
- Thời tiết: Thời tiết có 2 mùa rõ rệt, mùa đông và mùa hè Khí hậu tương đối
ôn hoà Do nằm sát biển, về mùa đông, Ấm hơn 10oC và về mùa hè mát hơn 10o
C so với Hà Nội Nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 20 - 23oC, cao nhất có khi tới 40o
C, thấp nhất ít khi dưới 5oC Độ ẩm trung bình trong năm là 80% đến 85%, cao nhất
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội quận Ngô Quyền
2.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Kinh tế cảng biển và các hoạt động dịch vụ cảng biển như sửa chữa tàu thuyền, dịch vụ kho bãi vận tải, dịch vụ xuất nhập khẩu có vai trò nổi bật trong kinh tế công nghiệp của quận Ngô Quyền Sản xuất công nghiệp đi đầu và là hình mẫu trong lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất và quản lý sản xuất - kinh doanh Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hàng năm tăng từ 15% đến 27%, giá trị sản xuất thương mại dịch vụ hàng năm tăng từ 25% đến 30%và chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của quận Với 70ha đất nông nghiệp trên địa bàn thuộc 2 phường Đằng Giang và Đông Khê, giá trị sản lượng nông nghiệp đang giảm dần từ 0,6% năm 1996 xuống 0,3% năm 2002 Các chỉ tiêu về giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn quận có số tuyệt đối hàng năm cao nhất thành phố Chỉ tiêu thu ngân sách phản ánh đầy đủ tập trung các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với số thu cao
Những kết quả ấy khẳng định quận Ngô Quyền là trung tâm kinh tế công nghiệp và dịch vụ của thành phố Hải Phòng, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của thành phố
Trang 352.1.2.2 Văn hóa, xã hội
- Công tác giáo dục đào tạo được duy trì với kết quả toàn diện ở các cấp học, ngành học, số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên giỏi, học sinh giỏi ở các cấp học ngày càng tăng Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho các trường, trong đó chú trọng xây dựng trường chuẩn, đến nay đã có 08 trường trong đó có 02 trường đạt chuẩn mức độ 2 Các hình thức đào tạo dạy nghề cho người lao động với trên 6.000 lượt người được dạy nghề mỗi năm
- Hoạt động văn hoá thông tin và thể thao được duy trì và đạt được nhiều thành tích Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được nhân dân hưởng ứng tích cực Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hoá”, “Tổ dân phố văn hoá” tăng cả về số lượng và chất lượng, tạo môi trường văn hoá, nếp sống văn minh
- Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số, gia đình
và trẻ em Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ở mức dưới 0,62%, đảm bảo 100% trẻ
em trong độ tuổi được tiêm phòng đầy đủ Kinh tế phát triển góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người dân Tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quận hiện giảm xuống còn 0,97% và không có hộ nghèo diện chính sách
2.1.2.3 Hành chính công
Những năm qua, Quận Ngô Quyền là một trong những điểm sáng của toàn quốc trong việc thực hiện chương trình cải cách hành chính với việc áp dụng thành công mô hình “một cửa liên thông hiện đại” với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành và giải quyết thủ tục hành chính, được Trung ương, các tỉnh, thành phố bạn đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức và công dân khoa học hơn, rút ngắn được thời gian giải quyết hơn; tạo được sự công khai, minh bạch hơn, chất lượng phục vụ nhân dân được tốt hơn, đem lại sự hài lòng cho người dân
2.2 Thực trạng QLNN về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền
2.2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước về đăng ký quyền SDĐ
2.2.1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy
Trang 36Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình trên địa
bàn Quận Ngô Quyền theo sơ đồ tổ chức bộ máy như sau:
Nguồn: UBND quận Ngô Quyền
Hình 2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn
Quận Ngô Quyền
- UBND quận: Chính quyền quận Ngô Quyền thực hiện nhiệm vụ QLNN về
đất đai trên phạm vi hành chính Trong đó, UBND quận là cơ quan QLNN do chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, thành phố, HĐND thành phố Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu của UBND quận được quy định cụ thể tại Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp Chính quyền quận Ngô Quyền chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền thành phố Hải Phòng, có trách nhiệm chấp hành sự phân công, phân nhiệm của thành phố và các quy định của pháp luật về QLNN về đất đai UBND quận có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận
Tổ quốc quận và các đoàn thể nhân dân cùng cấp nhằm chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân quận trong việc đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật đất đai chưa
UBND quận
Phòng Tài nguyên và Môi
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Trung tâm phát triển quỹ đất
Trang 37thường xuyên; phối hợp và kiểm tra chính quyền các phường trong tổ chức QLNN
về đất đai trên địa bàn
- Phòng thanh tra: Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi
phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất đai Giải quyết tranh chấp đất đai, đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai
- Phòng Tài nguyên và Môi trường: Phòng Tài nguyên và Môi trường quận
có các chức năng, nhiệm vụ như sau:
+ Căn cứ phương hướng phát KT - XH của HĐND và chính quyền quận, chủ trì việc xây dựng và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhà ở, các công trình công cộng;
+ Hướng dẫn, kiểm tra UBND phường, các tổ chức và công dân thực hiện luật pháp, chế độ chính sách và các quy định, quy hoạch, kế hoạch SDĐ và nhà ở;
+ Đo đạc bản đồ, xây dựng đô thị, giao thông, sản xuất vật liệu xây dựng, về trật tự an toàn vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng và giao thông, tổng hợp
và kiến nghị cấp trên bổ sung các chính sách, thể chế, quy định cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của quận;
+ Tham mưu giúp việc cho chính quyền quận việc đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy CNQ SDĐ, quản lý và phát triển thị trường QSDĐ trong thị trường BĐS, quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai;
+ Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ địa chính cấp phường, lập kế hoạch thống kê, kiểm kê định kỳ và đột xuất theo quy định của ngành và quận;
+ Thu nhập quản lý, lưu trữ, các loại tài liệu về địa chính, nhà đất, bản đồ theo phân cấp; quản lý các mốc đo đạc bản đồ, mốc địa chính, mốc chỉ giới quy hoạch thuộc cấp quận;
+ Tham gia hội đồng GPMB của quận, tham gia với các cơ quan có liên quan trong việc hoạch định, giải quyết tranh chấp địa giới hành chính các cấp, giải quyết các tranh chấp về đất đai, nhà đất
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất: Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ
Trang 38sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Trung tâm phát triển quỹ đất: Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi thu hồi đất
2.2.1.2 Biên chế bộ máy quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ
Công chức QLNN về đất đai tại quận Ngô Quyền hiện nay còn thiếu và yếu Theo số liệu thu thập tại phòng Nội vụ quận thì số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về đất đai của quận nói chung và cán bộ công chức cán bộ, quản lý nhà nước về đăng ký quyền SDĐ nói riêng được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện QLNN về đăng ký quyền SDĐ của Quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2015
và Đại học Trung cấp Sơ cấp
Nguồn: Phòng Nội vụ quận Ngô Quyền
Qua số liệu bảng trên có thể nhận thấy rằng:
- Trong giai đoạn 2011-2015, số lượng cán bộ, công chức QLNN về đăng ký quyền SDĐ của quận Ngô Quyền không có sự biến động lớn Chất lượng đội ngũ cán bộ đã được coi trong hơn khi lượng cán bộ bổ sung mới hàng năm đều có trình
độ đại học và trên đại học
- Tuy nhiên, nhiều trường hợp cán bộ địa chính phường và quận chưa có được đào tạo đúng chuyên môn, tuyển dụng còn thiếu chặt chẽ Việc tuyển dụng
Trang 39công chức chủ yếu do mối quan hệ, hoặc điều tuyển từ nơi khác Tính đến thời điểm hiện nay, quận chưa áp dụng hình thức tuyển dụng công chức bằng cách thi tuyển theo các chỉ tiêu được thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Đây là một trong những hạn chế lớn trong công tác cán bộ hiện nay của quận
Trong QLNN về đăng ký quyền SDĐ cũng như quản lý nói chung, yếu tố con người là quan trọng nhất Chính quyền quận là cấp thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp giao dịch với người dân, nhiều cơ hội để tham nhũng, hối lộ Các chủ trương chính sách, luật pháp có được thực hiện hay không, hình ảnh chính quyền có thân thiện và trong sạch vững mạnh hay không cũng thường từ cấp này mà ra Do vậy, công tác cán bộ của quận cần phải được coi là hàng đầu Nhưng, trong nhiều năm yếu tố con người trong quản lý tại quận vẫn là yếu tố bị xem nhẹ
2.2.2.Quy trình đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền
Việc đăng ký quyền SDĐ tại UBND Quận Ngô Quyền được thực hiện theo quy trình sau:
Bảng 2.2 Đăng ký quyền SDĐ theo quy trình ISO 9001-2008 của UBND
quận Ngô Quyền
Trang 40Nguồn: Phòng TNMT - UBND quận Ngô Quyền
2.2.3 Thưc trạng QLNN về đăng ký quyền SDĐ trên địa bàn Quận Ngô Quyền
2.2.3.1 Về bộ máy tổ chức:
Đối với UBND Quận:UBND quận là cơ quan trung chuyển, nhận phân
quyền từ cấp trên và giao quyền cho cấp dưới Chính quyền quận Ngô Quyền chịu
sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền thành phố Hải Phòng, có trách nhiệm chấp hành sự phân công, phân nhiệm của thành phố và các quy định của pháp luật về QLNN về đất đai UBND quận có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc quận và các đoàn thể nhân dân cùng cấp nhằm chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng
Xác nhận nguồn gốc đất (liên thông), xác nhận trích
đo ranh giới sử dụng đất
Thẩm tra hồ sơ, duyệt hồ sơ chuyển thuế hoặc trả hồ sơ không đủ điều kiện
Xác định nghĩa vụ tài chính, người dân thực hiện các thủ tục nghĩa vụ tài chính
Lập tờ trình, In GCNQSDĐ
Kiểm soát hồ sơ
Ký duyệt tờ trình
Duyệt, Ký
Trả kết quả