Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng ...54 3.. Tìm hiểu ngành đóng tàu
Trang 1iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan……… i
Lời cảm ơn… ………
ii Mục lục… ……… iii
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu……… ……… vi
Danh mục các bảng……….……… … viii
Danh mục các hình…… ……… … ix
Mở đầu 1
Chương 1 Cơ sở lý luận về hoạt động xuất nhập khẩu 4
1 1 Khái niệm và vai trò của xuất nhập khẩu (XNK) 4
1.1.1 Khái niệm về XNK 4
1.1.2 Vai trò của XNK đối với nền kinh tế quốc gia 5
1.2 Hình thức xuất nhập khẩu các doanh nghiệp đóng tàu đang áp dụng 9
1.2.1 Các hình thức nhập khẩu 9
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu 15
1.3 Các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện trong công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội 16
1.3.1 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng NSNN của hoạt động XNK mang lại cho doanh nghiệp 16
1.3.2 Quy trình thực hiện nghiệp vụ XNK vật tư, thiết bị của doanh nghiệp 17 1.3.3 Quy trình quản lý hoạt động XNK của doanh nghiệp 21
1.3.4 Nhân sự thực hiện hoạt động XNK 21
Trang 2iv
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại
các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phỏng 22
2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng 22
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 22
2.1.2 Bộ máy tổ chức doanh nghiệp 25
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm và kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2014 29
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động XNK vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng 33
2.2.1 Quy trình nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp 33
2.2.2 Quy trình quản lý hoạt động XNK tại doanh nghiệp 40
2.2.3 Nhân sự thực hiện, quản lý hoạt động XNK vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp 42
2.3 Đánh giá Công tác quản lý hoạt động XNK vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng 43
2.3.1 Ưu điểm 43
2.3.2 Hạn chế trong công tác quản lý hoạt động XNK 43
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý hoat động XNK 50
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng .54
3 1 Định hướng phát triển của các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng giai đoạn 2015 – 2020 54
3.1.1 Định hướng phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2015 – 2020 54
Trang 3v
3.1.2 Định hướng mở rộng thị trường cung cấp vật tư, thiết bị 55
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động XNK vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng 56
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý hoạt động XNK 56
3.2.2 Hoàn thiện công tác tuyển dụng và đào tạo nhân sự 62
3.2.3 Thực hiện tốt công tác tham mưu cho Thủ trưởng Bộ Quốc phòng về nguồn luật, thông tư, quyết định áp dụng cho dự án 66
3.2.4 Một số giải pháp khác liên quan đến tỷ giá hối đoái 67
Kết luận và kiến nghị 69
Tài liệu tham khảo 71
Trang 4Tuy nhiên, về quản lý vĩ mô, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại cho nền kinh kế Việt Nam không ít thách thức Về quản lý vi mô ở cấp doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự cải tổ, đổi mới trong quản lý vì xuất nhập khẩu là hoạt động buôn bán có sự tham gia của yếu tố nước ngoài Doanh nghiệp nếu không tự đổi mới và hoàn thiện chắc chắn sẽ bị loại khỏi sân chơi trong nước cũng như quốc tế
Các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng cũng không nằm ngoài quy luật đó Tìm hiểu ngành đóng tàu Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng nói riêng cho thấy khoảng 95% vật tư, thiết bị đóng tàu là hàng hóa nhập khẩu nên đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng chú trọng và nâng cao chất lượng của hoạt động xuất nhập khẩu Đề
tài “Hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại
các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng” được tôi lựa
chọn nghiên cứu nhằm giúp các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng từng bước hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, từ đó tối đa hóa hiệu quả hoạt động và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp
Trang 52
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, hoạt động xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp đóng tàu quân đội nói riêng Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng Tuy nhiên, do hiện nay chưa doanh nghiệp nào tham gia hoạt động xuất khẩu vật tư, thiết bị với mục đích kinh doanh nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào hoạt động nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
4 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp lý thuyết, thực nghiệm nhằm chọn ra hướng nghiên cứu để đạt kết quả cao nhất, phương pháp nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, phương pháp chuyên gia, phương pháp dự báo
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động xuất nhập khẩu
và công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị tại doanh nghiệp đóng tàu quân đội
Trang 63
Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng, tìm ra những mặt hạn chế, nguyên nhân của những mặt hạn chế trong công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị của các doanh nghiệp, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, thiết
bị tại các doanh nghiệp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất nhập khẩu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tư,
thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động XNK
vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
Trang 74
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1 1 Khái niệm và vai trò của xuất nhập khẩu (XNK)
“Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật” [13, tr.10]
Theo quy định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh XNK thì hoạt động kinh doanh XNK phải nhằm phục vụ nền kinh tế trong nước phát triển trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh sẵn có về lao động, đất đai và các tài nguyên khác của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và quy trình công nghệ sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng các yêu cầu cơ bản và cấp bách về sản xuất, đời sống, đồng thời góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều hoà cung cầu để ổn định thị truờng trong nước XNK là hoạt động buôn bán trên phạm vi quốc tế và bao gồm cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân XNK là hoạt động dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia XNK không thể kiểm soát dễ dàng
XNK là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển sản xuất kinh doanh Song mua bán ở đây có những nét riêng phức tạp hơn trong nước như giao dịch với người nước ngoài, thị trường giao dịch rộng lớn khó kiểm soát, mua bán
Trang 85
qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán bằng ngoại tệ mạnh và chịu tác động của sự biến động tỷ giá, hàng hoá vận chuyển qua biên giới cửa khẩu của các quốc gia khác nhau và phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng như của mỗi quốc gia
Hoạt động XNK được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu từ khâu nghiên cứu thị trường, lựa chọn hàng hoá XNK, thương nhân giao dịch, các bước tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng tổ chức thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến địa điểm chuyển giao quyền sở hữu, rủi ro cho người mua, hoàn thành các thanh toán Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải được nghiên cứu đầy đủ
Mặc dù XNK đem lại nhiều thuận lợi song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế sau: + Cạnh tranh không lành mạnh Nếu không có sự kiểm soát của Nhà nước một cách chặt chẽ, kịp thời XNK sẽ gây các thiệt hại khi buôn bán với nước ngoài Các hoạt động xấu về kinh tế xã hội như buôn lậu, trốn thuế, ép cấp, ép giá dễ phát triển
+ Cạnh tranh sẽ dẫn đến thôn tính lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế bằng các biện pháp không lành mạnh như phá hoại, cản trở công việc của nhau…việc quản
lý không chỉ đơn thuần tính toán về hiệu quả kinh tế mà còn phải chú trọng tới văn hoá và đạo đức xã hội
1.1.2 Vai trò của XNK đối với nền kinh tế quốc gia
1.1.2.1 Vai trò của nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của TMQT, nhập khẩu tác động trực tiếp, quyết định đến sản xuất và đời sống Nhập khẩu để đảm bảo cơ sở vật chất và công nghệ hiện đại cho sản xuất, đảm bảo hàng hóa tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những mặt hàng mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu Nhập khẩu sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, cơ
sở vật chất, tài nguyên và khoa học kỹ thuật
Trang 96
Chính vì vậy, nhập khẩu có vai trò như sau:
Thứ nhất, nhập khẩu sẽ bổ sung cho tiêu dùng hàng hoá mà nền sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ hoặc trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất những không đảm bảo chất lượng, làm cân đối kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển
ổn định và bền vững, khai thác tối đa khả năng và tiềm năng của nền kinh tế
Thứ hai, nhập khẩu làm cho hàng hóa tiêu dùng trong nước đa dạng, phong phú chủng loại hàng hoá, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người dân
Thứ ba, nhập khẩu sẽ giảm thiểu hoặc xóa bỏ tình trạng độc quyền trong nền kinh tế, xoá bỏ nền kinh tế lạc hậu tự cung, tự cấp và nhập khẩu là cầu nối cho sự hợp tác quốc tế, làm cho nền tảng cho nền kinh tế tiên tiến, tiền đề để phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia
Thứ tư, nhập khẩu sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước không ngừng vươn lên, không ngừng tìm tòi nghiên cứu để sản xuất ra hàng hoá có chất lượng cao, đảm bảo, tăng cường sức cạnh tranh với hàng ngoại
Thứ năm, nhập khẩu là hoạt động tất yếu trong chu kỳ sản phẩm quốc tế và sẽ tạo ra quá trình chuyển giao công nghệ, điều này tạo ra sự phát triển vượt bậc của nền sản xuất hàng hoá, tạo ra sự cân bằng giữa các quốc gia về trình độ sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian
Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng hoá xuất khẩu thông qua trao đổi hàng hoá đối lưu, giúp Việt Nam nhanh chóng hoà nhập vào nền kinh tế khu vực
và thế giới tham gia nhiều tổ chức kinh tế đặc biệt vững bước để tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO
Do vai trò to lớn đó của nhập khẩu nên mỗi quốc gia luôn luôn cố gắng để tận dụng tối đa, đem lại sự phát triển vượt bậc trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên,
để vận dụng tối đa vai trò đó là cả một vấn đề đặt ra với đường lối phát triển của mỗi quốc gia, với những quan điểm lãnh đạo của Đảng Để nhập khẩu vừa đảm bảo phù hợp với lợi ích của xã hội vừa tạo ra lợi nhuận các doanh nghiệp, yêu cầu
Trang 107
đặt ra như sau:
* Tiết kiệm và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng vốn nhập khẩu:
Trong điều kiện đơn giá nhập khẩu được tính theo giá quốc tế và đồng tiền thanh toán là đồng tiền mạnh như đô la Mỹ, đồng tiền chung châu Âu…việc nhập khẩu phải dựa trên vấn đề lợi ích và hiệu quả là vấn đề rất cơ bản của quốc gia Do
đó, mỗi doanh nghiệp phải xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật của đất nước và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, nghiên cứu thị trường để nhập khẩu hàng hoá thích hợp với giá cả có lợi phục vụ cho sản xuất và nâng cao đời sống cho người lao động
* Nhập khẩu thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại:
Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao công nghệ kể cả thiết
bị theo con đường đầu tư hay viện trợ đều phải tiếp thu công nghệ hiện đại có chọn lọc, tránh nhập những công nghệ lạc hậu mà các nước phát triển đang tìm cách thải
ra và biến các nước đang phát triển, nước nghèo thành bãi rác của thế giới
* Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước, đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu: Ngành công nghiệp sản xuất trong nước còn non kém trong khi lượng hàng sản xuất trên thế giới phong phú, giá hàng nhập khẩu thường rẻ hơn, phẩm chất tốt hơn với hàng hóa tự sản xuất trong nước nhưng nếu chỉ chú trọng nhập khẩu thì sẽ
“bóp chết” sản xuất trong nước Vì vậy, cần tính toán và tranh thủ các lợi thế của nước ta trong từng thời kì để bảo hộ và mở rộng sản xuất trong nước vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa vừa tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu mở rộng thị trường ngoài nước
1.1.2.2 Đối với xuất khẩu
Xuất khẩu là một trong những yếu tố tạo đà thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều khẳng định để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ Nhưng hầu hết các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam) đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ Do vậy, câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn, công nghệ và xuất khẩu
Trang 118
giải quyết vấn đề đó
Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu chậm phát triển Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy nguồn vốn
sử dụng nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện nay không phải từ xuất khẩu
mà từ FDI, vay nợ các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ và chỉ một lượng nhỏ là từ hoạt động XK Rủi ro và trách nhiệm với nước ngoài là điều kiện bất lợi từ các khoản vay nên nguồn vốn từ hoạt động XK rất quan trọng Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, quyết định đến quy mô, tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu Ở một số nước, một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn và do đó họ coi nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để việc trả nợ thành hiện thực
Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới
đã và đang thay đổi mạnh mẽ, xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ Xuất khẩu tạo tiền
đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá trong ngành công nghiệp, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia cả về chiều rộng và chiều sâu
Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua việc sản xuất hàng xuất khẩu, các dịch vụ phục vụ xuất khẩu
Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
Trang 129
hệ kinh tế đối ngoại Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao
có tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… ngược lại, sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển
Có thể nói xuất khẩu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói chung sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của nền kinh tế bằng hai cách:
+ Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn so với số hàng hoá được sản xuất ra
+ Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác động của xuất khẩu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau
1.2 Hình thức xuất nhập khẩu các doanh nghiệp đóng tàu đang áp dụng 1.2.1 Các hình thức nhập khẩu
1.2.1.1 Nhập khẩu trực tiếp
Ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam đều có chức năng nhập khẩu trực tiếp hàng hóa để đảm bảo vật tư, thiết bị đóng tàu nên nhập khẩu trực tiếp là hình thức phổ biến nhất Đối với hình thức này, doanh nghiệp đóng tàu trực tiếp tìm kiếm nguồn hàng từ nước ngoài hoặc thông qua các kênh trung gian (không mất phí và không phải chi trả hoa hồng), đàm phán và trực tiếp ký kết hợp đồng nhập khẩu với đối tác nước ngoài Trong hình thức này, người xuất khẩu nước ngoài sẽ giao hàng trực tiếp cho doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam theo các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2000 hoặc Incoterms 2010) đã quy định trong hợp đồng ngoại thương Đồng thời, doanh nghiệp đóng tàu phải tự chịu mọi rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng của bên xuất khẩu, phải tự bỏ vốn để kinh doanh hàng nhập khẩu và chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường, giao nhận, lưu kho bãi, nộp các lại thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có),
Trang 1310
thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, và bên nhập khẩu chịu trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ ngoại thương
Với hình thức nhập khẩu trực tiếp, trong quá trình khai báo hải quan doanh nghiệp đóng tàu sẽ căn cứ vào mục đích sử dụng của hàng hóa, đối tượng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp để lựa chọn loại hình nhập khẩu phù hợp Do hạn chế
về năng lực tài chính, năng lực quản lý và để tránh rủi ro trong quá trình đóng tàu cho doanh nhân nước ngoài nên các doanh nghiệp đóng tàu Việt Nam thường không ký kết hợp đồng đóng tàu cho doanh nhân nước ngoài theo hình thức chìa khóa trao tay (turnkey), chỉ có một số nhà máy đóng tàu lớn của Việt Nam như các nhà máy của Vinashin cũ, bao gồm nhà máy đóng tàu Hạ Long, Nam Triệu, Phà Rừng và một số nhà máy đóng tàu của quân đội như nhà máy đóng tàu Hồng Hà,
189, Sông Thu mới đủ năng lực để đóng tàu cho doanh nhân nước ngoài theo hình thức chìa khóa trao tay Điều này có nghĩa rằng đối với ngành đóng tàu, loại hình nhập khẩu “nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu” không quá phổ biến Ngoài ra, các nhà máy đóng tàu thường khai báo hải quan loại hình “nhập khẩu tiêu dùng” để nhập khẩu hàng hóa sử dụng để đóng các loại tàu cho các doanh nghiệp trong nước hoặc cơ quan nhà nước như Bộ Quốc phòng (BQP), Tổng cục dự trữ Quốc gia, Tổng cục Hải quan…
1.2.1.2 Nhập khẩu ủy thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức thuê và nhận làm dịch vụ nhập khẩu được thực hiện trên cơ sở hợp đồng uỷ thác nhập khẩu giữa các doanh nghiệp, phù hợp với những quy định của pháp lệnh hợp đồng kinh
tế Do đó, nhập khẩu ủy thác là hình thức nhập khẩu gián tiếp thông qua trung gian
thương mại Hoạt động ủy thác nhập khẩu phải được thực hiện theo Chương 3 của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa Quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Trong hoạt động ủy thác, Bên
ủy thác nhập khẩu sẽ phải trả một khoản tiền (thường tính theo tỷ lệ % tổng giá trị
Trang 1411
hàng hóa) cho bên nhận ủy thác nhập khẩu dưới hình thức phí ủy thác, quyền lợi
và nghĩa vụ của bên ủy thác, bên nhận ủy thác nhập khẩu do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác, nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa Hình thức này giúp cho doanh nghiệp nhận ủy thác không mất nhiều chi phí tài chính, độ rủi ro thấp nhưng lợi nhuận từ hoạt động này không cao
Điều kiện để thực hiện ủy thác nhập khẩu là bên ủy thác có giấy phép kinh doanh trong nước và/hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, có hạn ngạch hoặc có chỉ tiêu nhập khẩu, nếu uỷ thác nhập khẩu những hàng hoá thuộc hạn ngạch hoặc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước đã duyệt đối với các mặt hàng có liên quan đến cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân Trường hợp cần thiết Bộ Công thương
có văn bản cho doanh nghiệp được nhập khẩu uỷ thác theo hạn ngạch hoặc có chỉ tiêu kế hoạch đã giao cho bên nhận uỷ thác, được cơ quan chuyên ngành đồng ý bằng văn bản đối với những mặt hàng nhập khẩu chuyên ngành và có khả năng thanh toán hàng hoá nhập khẩu uỷ thác Bên nhận ủy thác phải có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, có ngành hàng phù hợp với hàng hoá nhập khẩu uỷ thác
Về phạm vi hoạt động nhập khẩu uỷ thác: Uỷ thác và nhận uỷ thác nhập khẩu những mặt hàng không thuộc diện Nhà nước cấm nhập khẩu, bên uỷ thác chỉ được
uỷ thác nhập khẩu những mặt hàng nằm trong phạm vi kinh doanh đã được quy định trong giấy phép kinh doanh trong nước, hoặc trong giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên: Bên nhận uỷ thác phải cung cấp cho bên uỷ thác các thông tin về thị trường, giá cả, khách hàng có liên quan đến đơn hàng uỷ thác nhập khẩu Bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác thương lượng và ký kết hợp đồng uỷ thác Quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của hai bên do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng uỷ thác Bên uỷ thác thanh toán cho bên nhận uỷ thác tiền hàng và các khoản phí phát sinh khi thực hiện uỷ thác
Ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam đều đăng ký chức năng nhập khẩu và có đủ khả năng về trình độ chuyên môn để tự nhập khẩu vật tư, thiết bị đóng tàu thông dụng Hơn nữa, từ năm 2010 trở lại đây, các Bộ, Ngành
Trang 1512
tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy trình mua sắm hàng hóa phục vụ các dự án đóng tàu có sử dụng ngân sách Nhà nước, đặc biệt là các dự án đóng tàu của Bộ Quốc phòng Theo đó, các dự án đóng tàu có 30 % tổng mức đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước phải thực hiện nghiêm Luật Đấu thầu 43/2013/QH13 của Quốc hội ngày 26 tháng 11 năm 2013 (có hiệu lực áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2013) và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu và/hoặc các quy định riêng của các
Bộ, ngành về mua sắm hàng hóa Trong khi đó, Luật đấu thầu và quy định của các
Bộ không quy định về nhập khẩu ủy thác nên các doanh nghiệp đóng tàu gần như không thể ký kết hợp đồng nhập khẩu ủy thác ngoại trừ các chủng loại vật tư, thiết
bị không đăng ký trong giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các mặt hàng Nhà nước không cho phép nhập khẩu như vũ khí Để thực hiện nhập khẩu vũ khí phục vụ đóng tàu bảo vệ an ninh, quốc phòng, các doanh nghiệp đóng tàu như nhà máy đóng tàu Hạ Long, Sông Thu, Ba son, (Công ty Hồng Hà được phép nhập khẩu trực tiếp) thường ủy thác cho Công ty XNK Vaxuco - Bộ Quốc phòng nhập khẩu Do đó, những năm gần đây hình thức nhập khẩu này không còn được sử dụng rộng rãi
1.2.1.3 Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu hàng đổi hàng là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu, đây
là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu Hàng hóa xuất nhập khẩu là hàng hóa được quy định trong hợp đồng ngoại thương theo nhu cầu sử dụng của các bên Hoạt động này được thanh toán không phải bằng tiền mà chính là hàng hóa Bên nhập khẩu cũng chính là bên xuất khẩu Hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng ngoại thương và mở tài khoản Clearing (tài khoản bù trừ, cả hai bên của hợp đồng hoặc chỉ cần một bên mở tài khoản Clearing) tại ngân hàng của mình và được bên còn lại chấp nhận Sau khi giao hàng, bên xuất khẩu sẽ không được thanh toán trực tiếp và ngay tiền hàng, bên nhập khẩu cũng không phải trả ngay tiền hàng Giá trị hàng giao sẽ được ghi Có vào tài khoản Clearing của bên xuất khẩu và ghi Nợ vào tài khoản Clearing của bên nhập khẩu Sau khi các bên thực hiện xong nghĩa vụ
Trang 1613
giao hàng, tài khoản Clearing của hai bên sẽ được bù trừ và số liệu giữa hai tài khoản phải trùng khớp nhau Tài khoản bên nào có số dư Có thì bên đó sẽ được thanh toán phần dư và tài khoản bên nào có số dư nợ thì bên đó phải thanh toán Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán bù trừ là đồng tiền clearing tức là đồng tiền không được chuyển đổi ra bất kỳ đồng tiền nào khác Đồng tiền thanh toán sau bù trừ là đồng tiền của một trong hai bên hoặc đồng tiền của một nước thứ 3
Ngày nay, hình thức nhập khẩu này không còn được sử dụng nhiều như trước Hình thức này chủ yếu được các công ty thương mại kinh doanh xuất nhập khẩu (gom hàng) áp dụng Đối với ngành đóng tàu, hiện nay chỉ còn Công ty đóng tàu Hồng Hà/Bộ Quốc phòng thực hiện loại hình nhập khẩu này khi Công ty nhập khẩu vũ khí để đóng tàu chiến cho Bộ Tư lệnh Hải quân Mặt hàng đối lưu là cà phê và hồ tiêu Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ chuyên môn của các bộ nhân viên và do các ngành nghề đăng ký kinh doanh nên Công ty đóng tàu Hồng Hà cũng không thể tự mình gom mua các mặt hàng đối lưu để xuất khẩu mà phải ký kết hợp đồng kinh tế với một công ty XNK của Bộ Quốc phòng để thực hiện nghiệp vụ này
1.2.1.4 Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp trong đó có ít nhất một bên là doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến kinh doanh nhập khẩu, hướng hoạt động này có lợi cho tất cả các bên, cùng chia lợi nhuận và cùng chịu
lỗ
Đặc điểm hình thức nhập khẩu liên doanh:
Mỗi doanh nghiệp tham gia liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm mà mỗi bên phải gánh chịu tỷ lệ với số vốn góp Việc phân chia chi phí, nộp thuế hay chia lợi nhuận cũng theo tỷ lệ góp vốn
đã thỏa thuận Trong liên doanh, doanh nghiệp đứng ra nhận hàng sẽ được tính kim ngạch nhập khẩu nhưng khi hàng về tiêu thụ thì doanh nghiệp chỉ được tính doanh
Trang 1714
số trên số hàng theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phải ký hai hợp đồng: hợp đồng với đối tác nước ngoài và hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác
Đối với ngành đóng tàu, hầu hết các doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam (ngoại trừ các doanh nghiệp đóng tàu nhỏ), đặc biệt là các doanh nghiệp đóng tàu quân đội đều có chức năng, khả năng chuyên môn và năng lực tài chính để thực hiện nhập khẩu trực tiếp và độc lập vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất ngoại trừ các mặt hàng mà nhà máy của bên xuất khẩu sản xuất theo đơn đặt hàng và có quy định về số lượng đặt hàng tối thiểu như sản phẩm thép tấm đóng tàu Thị trường nhập khẩu thép tấm đóng tàu của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, các nhà máy cán thép tấm Trung Quốc chỉ chạy dây truyền sản xuất khi có đơn đặt hàng của mỗi khách hàng hoặc tất các các khách hàng có cùng nhu cầu đảm bảo về số lượng sản xuất tối thiểu Để đặt mua thép tấm cho các dự án nhỏ, các doanh nghiệp đóng tàu Việt Nam trên cùng địa bàn hoặc ở các tỉnh lân cận thường liên doanh nhập khẩu như Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà và Công ty đóng tàu Hạ Long
1.2.1.5 Nhập khẩu gia công
Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu (là bên nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu (bên đặt gia công) để tiến hành gia công theo những quy định trong hợp đồng gia công
ký kết giữa hai bên Tuy nhiên, theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu trực tiếp phục vụ hợp đồng gia công không do bên đặt gia công cung cấp cũng được coi là hàng hóa nhập khẩu gia công và được thanh khoản thuế theo quy định Đây là hình thức nhập khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp đóng tàu xuất khẩu của Việt Nam như Công ty đóng tàu Hạ Long, Công ty đóng tàu Sông Cấm, Công ty đóng tàu 189, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty đóng tàu Sông Thu, Công ty đóng tàu Ba Son, Công ty đóng tàu Phà Rừng… Nguyên vật liệu nhập khẩu gia công chủ yếu là các vật tư chính, máy móc thiết bị Khi nhập khẩu, doanh
Trang 1815
nghiệp nhận gia công được thanh khoản toàn bộ số tiền thuế nhập khẩu sau khi làm thủ tục thực xuất hàng hóa gia công xuất khẩu Doanh nghiệp sẽ không phải nộp ngay tiền thuế giá trị gia tăng mà số tiền này sẽ được miễn khi doanh nghiệp làm thủ tục thực xuất trong thời gian quy định
Ngoài những hình thức nhập khẩu nêu trên mà các doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam đang sử dụng, hiện nay khi nền kinh tế của Việt Nam phát triển với sự ra đời của các doanh nghiệp thương mại, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa thì hình thức tạm nhập tái xuất trở lên khá phổ biến ở Việt Nam Hàng hóa khi tạm nhập vào Việt Nam để tái xuất là đối tượng được xét hoàn thuế nhập khẩu (theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính) trừ phi hàng hóa
đó được thay đổi mục đích sử dụng sau khi tạm nhập Thời hạn tái xuất hàng hóa tạm nhập là 60 ngày (quy định tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán háng hóa Quốc tế
và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài)
kể từ ngày hoàn thiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu
Hiện nay, toàn ngành đóng tàu của Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào có thể kinh doanh xuất khẩu vật tư, thiết bị đóng tàu Lý do chủ yếu là nền sản xuất công nghiệp nặng của Việt Nam chưa phát triển, chưa thể sản xuất vật tư, thiết bị phục vụ cho ngành Hơn nữa, mặc dù có chức năng xuất khẩu nhưng năng lực khai thác thị trường nhập khẩu và thị trường xuất khẩu trong hoạt động thương mại của các doanh nghiệp còn quá hạn chế Vì vậy, hình thức xuất khẩu duy nhất của các doanh nghiệp này là tạm xuất, tái nhập với mục đích duy nhất là phục vụ hoạt động sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp đối với hàng hóa xuất trả để bảo hành Theo khoản 2 Điều 29 Luật Thương mại Việt Nam số 36/2005/QH11:
Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hóa đó vào Việt Nam [13, tr.10]
Trang 1916
Hàng hóa tạm xuất, tái nhập của các doanh nghiệp đóng tàu chủ yếu là hàng nhập khẩu bị lỗi, hàng hóa gửi đi bảo hành tại nơi sản xuất Hàng hóa tạm xuất thuộc đối tượng chịu thuế, sau khi tái nhập người khai hải quan thực hiện thủ tục hoàn thuế, không thu thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu cho tờ khai tạm xuất
1.3 Các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện trong công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vật tƣ, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội
Đối với các doanh nghiệp đóng tàu tư nhân, hoạt động XNK vật tư, thiết bị phục vụ đóng mới là một yếu tố chính mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp đóng tàu quân đội, lợi nhuận mang lại cho doanh nghiệp từ hoạt động này rất nhỏ do phương pháp quyết toán giá thành sản phẩm với chủ đầu tư Hoạt động XNK vật tư, thiết bị chủ yếu tác động đến hiệu quả sử dụng NSNN Vì vậy, mức độ hoàn thiện trong công tác quản lý hoạt động XNK vật
tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội được đánh giá dựa trên những tiêu chí sau:
1.3.1 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng NSNN của hoạt động XNK
Như đã trình bày ở trên, đối với các doanh nghiệp đóng tàu quân đội, hiệu quả kinh tế của hoạt động XNK vật tư, thiết bị không nằm ở đơn giá nhập khẩu vật tư, thiết bị vì đơn giá quyết toán của vật tư, thiết bị là đơn giá thực nhập vật tư, thiết bị
đó tính theo giá CIP/CIF và không bao gồm thuế NK và thuế GTGT (hàng hóa phục vụ ANQP không chịu thuế GTGT và được miễn thuế NK theo Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính) mà nằm ở việc giảm thiểu các chi phí tài chính liên quan đến việc lưu kho bãi, hạn chế và tận dụng vật tư, thiết bị tồn kho, thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện thông quan hàng hóa nhập khẩu trước khi hợp đồng nhập khẩu được cấp phép thực hiện
Vì vậy, thực hiện tốt quy trình XNK là yếu tố đảm bảo hiệu quả kinh tế mà hoạt động XNK mang lại cho doanh nghiệp Quá trình lựa chọn nhà thầu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng NSNN ở cấp độ doanh nghiệp Đơn giá dự thầu (so sánh với Thiết kế kỹ thuật – Tổng mức đầu tư (TKKT – TMĐT)), chất lượng hàng hóa nhập khẩu và sự biến động của tỷ giá ngoại tế (chi phí tài chính được tính vào
Trang 2017
giá thành của sản phẩm) là yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng NSNN của doanh nghiệp
1.3.2 Quy trình thực hiện nghiệp vụ XNK vật tư, thiết bị của doanh nghiệp
Quy trình này mô tả chi tiết các bước trong hoạt động XNK của doanh nghiệp Việc thực hiện đúng quy trình XNK mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng NSNN trong hoạt động XNK của doanh nghiệp Do đặc thù là doanh nghiệp đóng tàu quân đội nên quy trình quy trình XNK vật tư, thiết bị của các doanh nghiệp này phức tạp hơn các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp quốc doanh khác và bao gồm các bước sau:
1.3.2.1 Nghiên cứu và mở rộng thị trường nhập khẩu vật tư, thiết bị
Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là sự thu thập và phân tích các dữ liệu về thị trường nhập khẩu nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các quyết định nhập khẩu của doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường nhập khẩu bao gồm thu thập thông tin về ngành hàng, về nhà sản xuất, nhà cung cấp, giá cả và sự biến động về giá cả của hàng hóa,
uy tín của nhà cung cấp, nhà sản xuất trên thị trường, tình hình chính trị của khu vực để từ đó phân tích, so sánh, đánh giá thị trường Mục đích của việc nghiên cứu thị trường nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩu đúng chủng loại mà doanh nghiệp cần nhập khẩu với mức giá cả hợp lý và đảm bảo chất lượng, tiến độ sản xuất của doanh nghiệp với mức độ rủi ro thấp nhất
Nền công nghiệp nặng của Việt Nam, đặc biệt là nền công nghiệp sản xuất vật
tư, thiết bị phục vụ ngành công nghiệp đóng tàu chưa phát triển Hầu hết vật tư, thiết bị của ngành đóng tàu phải nhập khẩu, thị trường trong nước chỉ cung cấp được một số vật tư phụ như bu lông, ốc vít Do đó, ngành đóng tàu của nước ta nói chung, ngành công nghiệp đóng tàu quân đội nói riêng luôn thụ động và gần như phụ thuộc tuyệt đối vào thị trường nhập khẩu vật tư, thiết bị của ngành Thị trường nhập khẩu vật tư, thiết bị đóng vai trò quan trọng đối với ngành đóng tàu của Việt Nam, đảm bảo yếu tố đầu vào của sản xuất nên công tác nghiên cứu và
mở rộng thị trường càng trở nên quan trọng Hơn nữa, tìm kiếm và mở rộng thị trường để đảm bảo tính cạnh tranh về giá, về chất lượng và các điều kiện thương
Trang 2118
mại giữa các nhà cung cấp cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có nhiều lựa chọn hơn về nguồn hàng và từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước
1.3.2.2 Lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu
Lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu là khâu đầu tiên trong quá trình lựa chọn nhà thầu và là cơ sở để thực hiện các bước tiếp theo trong quy trình XNK vật tư, thiết
bị của doanh nghiệp Đối với các dự án trọng điểm và gấp rút, doanh nghiệp được Thủ trưởng BQP phân cấp, ủy quyền lập và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu
và báo cáo chủ đầu tư, Bộ Quốc phòng để làm cơ sở theo dõi thực hiện Đối với các dự án không yêu cầu gấp về tiến độ, Thủ trưởng BQP sẽ phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu trên cơ sở đề xuất của chủ đầu tư Kế hoạch lựa chọn nhà thầu lập không phù hợp với điều kiện khai thác hàng hóa thực tế trên thị trường sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp và kế hoạch lựa chọn nhà thầu không khoa học sẽ gây lãng phí cho doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả sử dụng NSNN Việc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải tuân theo Luật Đấu thầu hiện hành và Nghị định quy định việc thực hiện Luật Đấu thầu, các thông tư hướng dẫn có liên quan
1.3.2.3 Lập kế hoạch nhập khẩu vật tƣ, thiết bị
Mục đích của việc lập kế hoạch nhập khẩu vật tư, thiết bị là thiết lập trình tự mua sắm vật tư thiết bị cho dự án nhằm đảm bảo khả năng cung ứng theo đúng tiến
độ sản xuất của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí tài chính và sử dụng có hiệu quả nguồn NSNN Kế hoạch nhập khẩu vật tư, thiết bị không chính xác sẽ làm chậm tiến độ sản xuất, hoàn thiện, bàn giao sản phẩm cho chủ đầu tư và
sẽ làm tăng các chi phí phát sinh không được quyết toán vào giá thành sản phẩm
mà doanh nghiệp phải tự chi trả như tiền lãi ngân hàng phát sinh sau thời gian bàn giao sản phẩm theo quy định trong hợp đồng đóng tàu cho các khoản vay thanh toán… Do đó, kế hoạch nhập khẩu vật tư, thiết bị đóng tàu trong các nhà máy đóng tàu quân đội luôn đòi hỏi độ chính xác cao
Kế hoạch nhập khẩu của doanh nghiệp phải được lập dựa trên quy trình đóng tàu (trình tự đóng tàu), tiến độ đóng tàu và dựa trên TKKT – TMĐT của từng sản
Trang 22dự kiến hoàn thiện thủ tục miễn thuế NK
Có thể thấy rằng kế hoạch nhập khẩu vật tư, thiết bị của doanh nghiệp cho từng dự án đóng tàu có vai trò quan trọng đối với sự thành công của dự án Ngoài chức năng định hướng thực hiện nhập khẩu vật tư, thiết bị đảm bảo sản xuất, kế hoạch nhập khẩu của doanh nghiệp đóng tàu quân đội là một yếu tố đảm bảo hiệu quả sử dụng NSNN
1.3.2.4 Lựa chọn nhà thầu cung cấp vật tƣ, thiết bị, đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu
Lựa chọn nhà thầu cung cấp vật tư, thiết bị đóng tàu quân đội được thực hiện theo Luật Đấu thầu 43/2013/QH13 của Quốc hội ngày 26 tháng 11 năm 2013 (có hiệu lực áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2013), Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu và/hoặc các quy định riêng của các Bộ, ngành về mua sắm hàng hóa và Quyết định số 84/QĐ-BQP ngày 15/8/2007 của Bộ Quốc phòng ban hành quy chế xuất, nhập khẩu, mua sắm hàng hóa quốc phòng Việc thực hiện Luật Đấu thầu tương đối phức tạp và phải tuân thủ đúng quy định thời gian tối thiểu cho từng bước trong đấu thầu nên hiểu, nắm rõ và thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về lựa chọn nhà thầu và mua sắm hàng hóa quốc phòng giúp doanh nghiệp cung cấp vật tư, thiết bị theo tiến độ đóng tàu
“Đám phán thương mại là quá trình mà đối thoại giữa người bán và người mua nhằm đạt được những thỏa thuận, nhất trí về những nội dung của hợp đồng ngoại thương để sau quá trình đàm phán người mua và người bán có thể đi đến ký kết hợp đồng ngoại thương” [4, tr.108] Việc đàm phán hợp đồng phải tuân thủ
“Không tiến hành thương thảo đối với các nội dung mà nhà thầu đã chào thầu theo
Trang 23về mua bán quốc tế Vì vậy, để tránh mọi rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương, các doanh nghiệp cần quy định chặt chẽ nội dung của hồ sơ mời thầu và thực hiện tốt công tác đàm phán, thương thảo hợp đồng
1.3.2.5 Trình chủ đầu tƣ, Bộ Quốc phòng phê duyệt, cấp phép thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Quyết định phê duyệt hợp đồng nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, giấy xác nhận hàng quốc phòng do chủ đầu tư và Bộ Quốc phòng cấp là cơ sở để hợp đồng ngoại thương trở nên có hiệu lực Thông thường, thời gian giao hàng được các bên quy định tính từ thời điểm tạm ứng cho bên bán hoặc mở thư tín dụng Tuy nhiên, các Thông tư của Bộ Quốc phòng quy định việc tạm ứng, mở thư tín dụng chỉ được thực hiện sau khi hợp đồng nhập khẩu của doanh nghiệp được Bộ Quốc phòng thẩm định, phê duyệt và cấp phép thực hiện nhằm tránh rủi ro cho các doanh nghiệp đóng tàu Do đó, sai sót trong các khâu lựa chọn nhà thầu, đàm phán và ký kết hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng, tiến độ sản xuất của doanh nghiệp
1.3.2.6 Thực hiện hợp đồng nhập khẩu và thủ tục miễn thuế nhập khẩu
Hợp đồng nhập khẩu có hiệu lực sau khi được phê duyệt và cấp phép thực hiện Thực hiện hợp đồng đối với doanh nghiệp nhập khẩu bao gồm tạm ứng, thanh toán, theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, hoàn thiện thủ tục hải quan và giao nhận hàng hóa Để đảm bảo tiến độ cung ứng vật tư, thiết bị cho sản xuất, doanh nghiệp đóng tàu cần thực hiện đúng, đủ trách nhiệm của mình theo hợp đồng Việc miễn
Trang 2421
thuế nhập khẩu hoàng hóa phục vụ quốc phòng thực hiện sau khi hàng hóa đã thông quan theo quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính
1.3.3 Quy trình quản lý hoạt động XNK của doanh nghiệp
Quản lý là đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi
các nguồn tài nguyên Như vậy, mục đích quản lý hoạt động XNK tại doanh nghiệp
là việc định hướng, hướng dẫn thực hiện, kiểm soát việc thực hiện quy trình XNK của các bộ phận để đảm bảo hoạt động XNK vật tư, thiết bị tại doanh nghiệp được thông suốt, cung ứng kịp thời vật tư, thiết bị cho sản xuất, giảm thiểu các chi phí tài chính, nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng NSNN Cách thức quản lý và trình độ chuyên môn của người quản lý là yếu tố quan trọng trong quản lý hoạt động XNK của doanh nghiệp
1.3.4 Nhân sự thực hiện hoạt động XNK
Trình độ chuyên môn và năng lực công tác của mỗi thành viên trong Công ty
là yếu tố cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh Xét về tiềm lực của doanh nghiệp thì con người là vốn quý nhất Một đội ngũ vững vàng về chuyên môn, kinh nghiệm trong giao thương quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động của thị trường và say mê nhiệt tình trong công việc luôn là đội ngũ lý tưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Để có lực lượng nhân sự có trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu của công việc thì công tác tuyển dụng nhân sự là yếu tố quan trọng Tuyển dụng nhằm sàng lọc và lựa chọn những ứng viên sáng giá và phù hợp nhất với vị trí tuyển dụng Tuy nhiên, đào tạo là bước giúp các ứng viên đã được tuyển dụng thích ứng với môi trường làm việc, đáp ứng được yêu cầu của công việc Tạo môi trường làm việc thuận lợi, chế độ lương thưởng và cơ hội thăng tiến trong công việc là nhân tố giúp doanh nghiệp giữ được người tài phục vụ lâu dài cho doanh nghiệp và khích
lệ tinh thần cống hiến cho công việc tại doanh nghiệp
Trang 2522
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VẬT TƯ, THIẾT BỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU QUÂN ĐỘI TRÊN THỊ TRƯỜNG HẢI PHÒNG
2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
có định hướng phát triển doanh nghiệp khác nhau Dưới đây là phần tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của bốn doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
2.1.1.1 Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà (Công ty đóng tàu Hồng Hà)
Công ty đóng tàu Hồng Hà là doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng/Bộ Quốc phòng có trụ sở tại Thôn Phí Xá, Xã Lê Thiện, Huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng, được thành lập theo Quyết định số
0200290105 ngày 07/10/2010 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng cấp Tiền thân của Công ty là Ban Ca nô được thành lập ngày 30/10/1965 với nhiệm vụ sửa chữa các sản phẩm vận tải phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Sau ngày đất nước thống nhất, Công ty được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sửa chữa và đóng mới các phương tiện thủy để phục vụ vận chuyển quân nhu và đảm bảo tính sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng Hải quân và Cảnh sát biển Việt Nam Đến năm 2010, Công ty chính thức được chuyển đổi mô hình sang Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà (gọi tắt là Công ty đóng tàu Hồng Hà) với số vốn điều lệ là 334.547.000.000 đồng
và khoảng 1.200 CBCNV Hiện nay, Công ty đóng tàu Hồng Hà đang từng bước đẩy mạnh đóng tàu có hàm lượng công nghệ cao, kỹ thuật phức tạp, từ các tàu cho
Trang 26189 Quân khu 3 hoạt động và hạch toán độc lập Nhiệm vụ và chức năng ban đầu của Xí nghiệp 189 Quân khu 3 là đóng mới và sửa chữa các phương tiện thủy, bộ, làm dịch vụ vật tư kim khí phục vụ ngành đóng tàu
Tháng 8 năm 1993, Xí nghiệp 189 được chuyển đổi và thành lập thành doanh nghiệp Nhà nước theo Quyết định số 481/QĐ-QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Giấy phép kinh doanh số 108195 ngày 18/9/1993 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp với chức năng và nhiệm vụ không thay đổi nhưng nhiệm vụ đóng mới và sửa chữa các loại tàu thủy, trọng tâm là các loại tàu phục vụ nhiệm vụ quốc phòng Tháng 4 năm 1996, để phù hợp với tình hình phát triển, Xí nghiệp 189 được đổi tên thành Công ty 189/Bộ Quốc phòng theo Quyết định số 566/QĐ-BQP ngày 22/4/1996 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Giấy đăng
ký kinh doanh 108195 ngày 15/6/1996 do Sở Kế hoạch & Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp Tháng 9 năm 2010, Công ty 189 chuyển đổi mô hình thành Công ty TNHH MTV 189 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0200134794 do Sở
Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp với vốn điều lệ 411.454.000.000 đồng và khoảng 700 CBCNV
Trang 2724
Từ năm 2008 đến nay, ngoài nhiệm vụ chính là đóng mới tàu quân sự, Công
ty TNHH MTV 189 đã dần chuyển dịch sang đóng tàu xuất khẩu cho thương nhân nước ngoài Thương hiệu của Công ty về đóng tàu đã được biết đến trên toàn quốc
và một số quốc gia phát triển trên thế giới
2.1.1.3 Công ty TNHH MTV đóng và sửa chữa tàu Hải Long
Công ty TNHH MTV đóng và sửa chữa tàu Hải Long (Công ty đóng tàu Hải Long) – Bộ Quốc Phòng (hay còn gọi là Nhà máy X46 Hải Quân) có trụ sở: số
108 Phan Đình Phùng, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng Công ty Hải Long được thành lập năm 1955 là một doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc Phòng, chuyên sửa chữa đóng mới tàu thủy của quân chủng Hải quân, được tiếp quản từ một xưởng
của Pháp để lại sau năm 1954
Trong giai đoạn 1954 – 1975, hơn 20 năm với nhiệm vụ trọng trách của Đảng và Nhà nước, Quân đội và trực tiếp là Quân chủng Hải quân giao phó, vừa sản xuất vừa chiến đấu chống lại sự tranh leo thang bắn phá miền Bắc của đế quốc
Mỹ, hòng chặn đứng cửa ngõ thông thương quốc tế cũng như nội địa của Nhà nước
ta Sau thống nhất đất nước năm 1975, Nhà máy X46 – Hải quân bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ Tổ quốc
Hiện nay, Nhà máy X46 Hải quân là một trong những đơn vị đóng mới thành công tàu chiến hiện đại, có tính cơ động cao, linh hoạt và trang bị vũ khí- khí tài hiện đại, hỏa lực mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của các đơn vị Hải quân Những sản phẩm của nhà máy là tàu phóng lôi, tàu pháo tải trọng nhỏ và tàu tên lửa- tính năng hiện đại Bên cạnh đó, Nhà máy X46 Hải quân thực hiện thành công nhiều dự án đóng mới tàu hàng, du thuyền…; sửa chữa hàng trăm lượt tàu kinh tế của các đơn vị trong nước và nước ngoài Hiện Nhà máy X46 có hơn 70 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, gần 200 công nhân có tay nghề cao (từ bậc 5 đến bậc 7) Nhà máy áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vào điều hành sản xuất
Trang 2825
2.1.1.4 Công ty đóng tàu Sơn Hải
Công ty đóng tàu Sơn Hải có trụ sở tại làng Phạm Dùng, xã An Hồng, huyện
An Dương, Thành phố Hải Phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Được
Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hải Phòng cấp phép hoạt động số 0200366989, Công
ty đóng tàu Sơn Hải là doanh nghiệp trẻ nhất trong số các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
Với số vốn điều lệ 203 tỷ đồng và có khoảng 250 CBCNV, hiện nay Công ty tập trung đóng mới và sửa chưa các sản phẩm quốc phòng Tính đến thời điểm này, các sản phẩm chủ yếu của Công ty là các gam tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng Biên phòng Việt Nam như tàu BP98, ST132D, một số sản phẩm cho Cục Kiểm ngư – Bộ Nông nghiệp
Ngoài những sản phẩm quốc phòng, Công ty cũng đang nỗ lực tìm kiếm thị trường đóng tàu xuất khẩu Hiện nay, Công ty đang dự kiến hợp tác với các đối tác
Hà Lan để đóng tàu có hàm lượng công nghệ cao như tàu cá, tàu lai dắt Tuy nhiên,
do có chủ trường sát nhập thành Tổng Công ty nên kế hoạch này của Công ty đóng tàu Sơn Hải sẽ do Tổng Công ty quyết định
2.1.2 Bộ máy tổ chức doanh nghiệp
Do cùng cơ quản chủ quản là Bộ Quốc phòng nên bộ máy tổ chức của các doanh nghiệp đóng tàu quân đội tương đối giống nhau Sự tồn tại và hoạt động song song hai mảng kinh tế và chính trị là đặc điểm đáng chú ý của các doanh nghiệp này Toàn bộ số lao động trực tiếp, gián tiếp của các doanh nghiệp khoảng 2.400 lao động công tác tại các phòng, ban, xí nghiệp, phân xưởng của doanh nghiệp Dưới đây là sơ đồ mô tả bộ máy tổ chức chung của các doanh nghiệp đóng tàu quân đội
Trang 2926
Hình 2.1 Bộ máy quản lý doanh nghiệp
Nguồn: Biên chế, tổ chức doanh nghiệp
Giám đốc và Chính ủy nhà máy
Công tác chính trị và hoạt động sản xuất kinh doanh là hai nhiệm vụ chính của các doanh nghiệp quân đội Hoạt động sản xuất kinh doanh do Giám đốc doanh nghiệp điều hành, Chính ủy nhà máy điều hành toàn bộ các hoạt động chính trị, bao gồm: bố trí cán bộ, quản lý sỹ quan, công tác Đảng, công tác quần chúng, công tác hành chính hậu cần Tuy nhiên, giữa Giám đốc và Chính ủy có sự tác động qua lại trong công tác quản lý, điều chuyển và bổ nhiệm cán bộ, công tác hành chính hậu cần Việc sử dụng cán bộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh do Giám đốc doanh nghiệp quyết định nhưng việc điều chuyển, bổ nhiệm cán bộ do Chính ủy quản lý Vì vậy, Công tác cán bộ trong tất cả các doanh nghiệp quân đội
Phân xưởng Vũ khí, Khí tài
Phòng
Kỹ Thuật
Phòng Thiết
kế
Phòng KCS
Phòng
Kế hoạch
Phòng Chính trị
Phòng Sản xuất
Phòng Hành chính
PGĐ kinh doanh
Trang 3027
luôn đòi hỏi sự thống nhất cao giữa Giám đốc doanh nghiệp và Chính ủy nhà máy (doanh nghiệp) Trong trường hợp có sự bất đồng quan điểm giữa Giám đốc và Chính ủy nhà máy về việc sử dụng, điều chuyển, bổ nhiệm cán bộ thì vấn đề này sẽ được Thường vụ Đảng ủy, Đảng ủy xem xét để đưa ra quyết định cuối cùng thông qua bỏ phiếu kín Trên thực tế, dù có bất đồng hay không thì công tác cán bộ đều được Đảng ủy thông qua bằng bỏ phiếu kín
Phó Giám đốc
Thông thường mỗi doanh nghiệp có 03 Phó Giám đốc Mỗi Phó Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý một mảng khác nhau và tất cả các Phó Giám đốc đều là Đảng ủy viên, ít nhất một trong ba Phó Giám đốc là thành viên của Thường vụ Đảng ủy Phó Giám đốc kỹ thuật chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ phần công nghệ của tất cả các sản phẩm đã và đang sản xuất tại doanh nghiệp, đồng thời quản lý phần trang thiết bị phục vụ sản xuất của doanh nghiệp Phó Giám đốc sản xuất chịu trách nhiệm về tiến độ đóng mới và sửa chữa các sản phẩm tại doanh nghiệp Trong quá trình quản lý, nếu phát sinh vướng mắc trong các khâu của sản xuất thì Phó Giám đốc kỹ thuật và Phó Giám đốc sản xuất sẽ trao đổi trực tiếp để đưa ra quyết định tốt nhất Phó Giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như tìm kiếm sản phẩm mới, khách hàng mới, bao quát công tác lập dự toán, báo giá cho khách hàng và công tác đấu thầu dự án của doanh nghiệp
Các phòng, ban
Phòng Kỹ thuật, Phòng Thiết kế, Phòng KCS đều chịu trách nhiệm kỹ thuật
và chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc kỹ thuật Trong đó, Phòng Kỹ thuật chịu trách nhiệm về các sản phẩm sửa chữa, bảo hành từ khâu khảo sát kỹ thuật trên sản phẩm, lập danh mục các hệ thống cần sửa chữa, đưa ra phương án sửa chữa, hướng dẫn, giám sát quá trình sửa chữa và đồng thời chịu trách nhiệm bảo dưỡng, bảo hành các hệ thống trên sản phẩm đóng mới đã bàn giao cho khách hàng
và đang trong thời gian bảo hành Phòng thiết kế chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật
Trang 3128
trên các sản phẩm đóng mới từ khâu bóc tách vật tư, thiết bị của mỗi sản phẩm từ bản vẽ nguyên lý do chủ tàu cung cấp, tham gia lập dự toán giá thành, thiết kế công nghệ, ban hành nội dung và quy trình sản xuất, hướng dẫn và giám sát quá trình sản xuất Phòng KCS chịu trách nhiệm quản lý chất lượng của tất cả các sản phẩm đóng mới và sửa chữa tại doanh nghiệp, bao gồm cả chất lượng vật tư, thiết bị đầu vào Đồng thời, Phòng KCS chịu trách nhiệm thử nghiệm thu thiết bị, nghiệm thu sản phẩm với chủ tàu và cơ quan đăng kiểm
Phòng Sản xuất và Ban An toàn lao động chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc sản xuất Phòng Sản xuất điều độ tiến độ sản xuất và chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc về kế hoạch và tiến độ hoàn thiện sản phẩm Ngoài ra, Phòng Sản xuất định mức nhân công (thời gian sản xuất) để giao khoán cho các phân xưởng theo chức năng Ban An toàn chịu trách nhiệm kiểm tra an toàn khu vực làm việc, trang thiết bị của người lao động trước, trong và sau quá trình sản xuất
Phòng Kế hoạch, Phòng Tài chính và Phòng Vật tư thuộc sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc kinh doanh Phòng Kế hoạch chịu trách nhiệm tìm kiếm sản phẩm mới, tiếp cận chủ tàu, chuẩn bị báo giá, hồ sơ dự thầu để tham gia bỏ thầu các dự án đóng mới, lập dự toán, quyết toán giá thành sản phẩm và một phần của quy trình XNK Ngoài ra, Phòng Kế hoạch còn thực hiện công tác đối ngoại, mở rộng thị trường đóng tàu cho nước ngoài Phòng Tài chính đảm nhiệm các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ kế toán, tìm kiếm nguồn vốn, quyết toán giá thành sản phẩm Phòng Vật tư thực hiện công tác cung ứng vật tư, bao gồm nhập khẩu, mua sắm hàng hóa trong nước, quản lý vật tư nhập kho và quyết toán giá thành sản phẩm
Phòng Tổ chức lao động, Phòng Chính trị, Phòng Hành chính hậu cần do Chính ủy trực tiếp quản lý Phòng Tổ chức lao động phụ trách công tác tuyển dụng nhân sự, công tác tiền lương, chuyển chế độ biên chế và quân nhân chuyên nghiệp cho người lao động Phòng Chính trị chịu trách nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị và quản lý sỹ quan của doanh nghiệp Phòng Hành chính đảm bảo công
Trang 32đó Phân xưởng vũ khí khí tài được thành lập và xây dựng năm 2008 để phục vụ sửa chữa và lắp đặt vũ khí, hệ thống khí tài điện tử cho các tàu có trang bị vũ khí, đặc biệt là tàu chiến Các doanh nghiệp còn lại đều có các phân xưởng vỏ tàu, phân xưởng động lực, phân xưởng cơ điện và phân xưởng mộc sơn
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm và kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2014
2.1.3.1 Ngành nghề kinh doanh
Khi mới thành lập và trong thời kỳ kháng chiến, ngành nghề chính của các doanh nghiệp là sửa chữa các phương tiện thủy và đóng mới ca nô phục vụ chiến đấu Sau ngày đất nước giải phóng, bên cạnh đóng mới tàu quân sự và để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung, kinh tế trong nước nói riêng, một số doanh nghiệp đã dần mở rộng lĩnh vực hoạt động kinh doanh sang đóng tàu cho tư nhân trong nước và tàu xuất khẩu ra nước ngoài, tiêu biểu như Công ty TNHH MTV 189, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty đóng tàu Hải Long Hiện nay Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty TNHH MTV 189 là điểm sáng của ngành đóng tàu quân đội và đóng tàu xuất khẩu Ngoài đóng mới và sửa chữa tàu thủy, doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng đang dần chuyển dịch
và phát triển song song dịch vụ vận tải đường sông, dịch vụ cảng (Công ty TNHH MTV 189) Tất cả các doanh nghiệp đóng tàu quân đội đều có chức năng xuất khẩu vật tư, thiết bị đóng tàu theo đăng ký trong giấy phép kinh doanh nhưng đến thời điểm này chưa doanh nghiệp nào xúc tiến hoạt động xuất khẩu với lý do khách và chủ quan
Trang 3330
2.1.3.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm chủ đạo của các doanh nghiệp là các gam tàu quốc phòng, và tàu phục vụ bảo vệ anh ninh nên các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp, Tổng Cục dự trữ Quốc gia …là khách hàng lớn nhất của các doanh nghiệp Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp được các Cơ quan Chủ quản đầu tư mạnh mẽ, có chiều sâu vào cơ sở hạ tầng và trang thiết bị phục vụ ngành đóng tàu, đặc biệt là công nghệ đóng tàu của các nước phát triển trên thế giới nên các doanh nghiệp đang từng bước mở rộng quy mô sản phẩm sang các loại tàu có hàm lượng công nghệ và khả năng chiến đấu cao
Công ty đóng tàu Hồng Hà là doanh nghiệp khai thác thành công và hiệu quả nhất các dự án đầu tư chiều sâu vào sản xuất Từ năm 2007, trên nền cơ sở hạ tầng
và uy tín của mình, Công ty đóng tàu Hồng Hà đã được Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ đóng mới tàu chiến TT400TP với thiết kế được khai triển từ gam tàu TT400 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển có trang bị vũ khí, khí tài hiện đại nhập khẩu từ Cộng hòa Liên bang Nga Bên cạnh đó, doanh nghiệp tiếp tục đóng mới gam tàu là sản phẩm truyền thống như tàu TT400 (tàu tuần tra cao tốc) và TT200 cho Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, tàu vận tải 600 tấn cho Tổng Cục Hậu cần/Bộ Quốc phòng, tàu chở dầu, tàu tuần tra cao tốc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và một số sản phẩm nhỏ lẻ cho Tổng Cục Hải quan, Tổng cục Dự trữ Quốc gia
Công ty TNHH MTV 189 là một trong những điểm sáng của ngành đóng tàu quân đội Hiện nay, Công ty TNHH MTV 189 đang thực hiện đóng mới một số sản phẩm trọng điểm cho Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển như tàu DN 2000 và một số sản phẩm cho Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Trong những năm gần đây, do chuyển dịch sang cung cấp dịch vụ và đóng tàu xuất khẩu nên thị phần của doanh nghiệp trên thị trường đóng tàu quân đội giảm đáng kể
Công ty đóng tàu Sơn Hải và Công ty đóng tàu Hải Long (X46 Hải quân) là hai doanh nghiệp nhỏ trong ngành đóng tàu Sản phẩm của doanh nghiệp chỉ là
Trang 3431
những sản phẩm sửa chữa tàu quân sự và đóng mới một số tàu quân sự tải trọng nhỏ Hiện nay, doanh nghiệp đang đóng một số gam tàu nhỏ như tàu tuần tra cao tốc BP98 và tàu chở dầu kết hợp với tuần tra ST132D cho Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và tàu cá cho Bộ Tư lệnh Hải quân
Từ năm 2007 đến nay, các doanh nghiệp đã mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sang châu Âu và châu Mỹ và đóng mới một số sản phẩm kinh tế cho doanh nghiệp trong nước Công ty đóng tàu Hồng Hà trong vòng 7 năm đã hoàn thiện và xuất khẩu 16 tàu vận tải đang năng và tàu chở container sang thị trường Hà Lan, đóng mới 02 tàu chở nhựa đường 2800 tấn cho Công ty cổ phần hóa dầu Việt Nam Với định hướng mở rộng sang thị trường châu Âu và châu Mỹ, Công ty TNHH MTV 189 đã không ngừng tìm kiếm khách hàng và đóng mới thành công du thuyền cho khách hàng Mỹ, Pháp, tàu kéo và tàu dịch vụ cảng cho khách hàng Hà Lan Hiện tại, Công ty đóng tàu Hải Long đang từng bước hội nhập vào thị trường đóng tàu quốc tế bằng việc nhận đóng mới tàu chở hàng 3000 tấn cho khách hàng
Hà Lan Tính đến nay, chỉ có Công ty đóng tàu Sơn Hải chưa tham gia đóng mới tàu xuất khẩu
2.1.3.3 Doanh thu và thị phần của các doanh nghiệp trong ngành đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng giai đoạn 2010-2014
Từ năm 2010, kinh tế toàn cầu và kinh tế Việt Nam đang dần phục hồi sau đợt khủng hoảng kéo dài Chính phủ gia tăng chi tiêu cho Quốc phòng, an ninh để bảo vệ biển Đông, hải đảo Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường, tăng cường đóng tàu xuất khẩu và cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng nên doanh thu của các doanh nghiệp trong những năm gần đây có xu hướng tăng mặc dù ngành đóng tàu Việt Nam vẫn đang trong tình trạng kiệt quệ do dư âm của khủng hoảng kinh tế thế giới để lại
Dưới đây là bảng tổng hợp doanh thu của các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng giai đoạn 2010-2014
Trang 35Công ty đóng tàu Hồng Hà 1.124.835 1.191.008 941.370 1.159.103 1.450.956 49.30% Công ty TNHH MTV 189 605.234 650.128 650.359 685.267 712.350 26.00% Công ty đóng tàu Hải Long 201.342 293.160 369.469 470.225 597.539 16.40% Công ty đóng tàu Sơn Hải 165.000 186.327 170.258 223.002 270.587 8.30%
Nguồn: Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp các năm 2010 - 2014 Doanh thu của các doanh nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng về cơ sở vật chật, tài chính và nhân lực sẵn có của mình Tuy nhiên, thứ tự về doanh thu của bốn doanh nghiệp lại tương xứng với tiềm lực của doanh nghiệp Bảng tổng hợp kết quả doanh thu của doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 ta có thể thấy thị phần của Công ty đóng tàu Hồng Hà và Công ty TNHHMTV 189 rất lớn trong thị trường đóng tàu quân đội Hải Phòng Tuy nhiên, thị phần của hai công ty này đang
có xu hướng giảm dần và thị phần của Công ty đóng tàu Sơn Hải, Công ty đóng tàu Hải Long đang có xu hướng tăng dần Dưới đây là bảng và đồ thị thể hiện thị phần của các doanh nghiệp trong khối đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
Trang 3633
Bảng 2.2 Thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường đóng tàu
quân đội tại Hải Phòng giai đoạn 2010 - 2014
Nguồn: Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp các năm 2010 – 2014
Hình 2.2 Thị phần của các doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 Nguồn: Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp các năm 2010 – 2014
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động XNK vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp đóng tàu quân đội trên thị trường Hải Phòng
2.2.1 Quy trình nhập khẩu vật tư, thiết bị tại các doanh nghiệp
Hoạt động XNK của các doanh nghiệp gồm 06 bước và được thể hiện bằng mô hình dưới đây:
Trang 3734
Hình 2.3 Quy trình thực hiện nghiệp vụ NK
Nguồn: Quy trình nghiệp vụ Phòng Vật tư
2.2.1.1 Nghiên cứu thị trường nhập khẩu và tìm kiếm nhà cung cấp
Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp nhằm mở rộng thị trường, tìm kiếm nhà sản xuất, nhà cung cấp để đảm bảo tính sẵn sàng thực hiện dự án và do Phòng Vật tư của các doanh nghiệp thực hiện Đối với ngành đóng tàu, đặc biệt là đóng tàu quân đội thì hoạt động này đóng vai trò hết sức quan trọng vì vật tư, thiết bị sử dụng cho đóng tàu quân đội tương đối
đa dạng và nhiều chủng loại, mất nhiều thời gian khai thác Trong quá trình nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp đóng tàu quân đội thường tìm hiểu thông tin liên
Nghiên cứu và mở rộng thị trường NK
Lập và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu/nhà cung cấp