1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Biện pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cảng vụ hàng hải hải phòng

88 237 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý Nhà nước về hàng hải là sự tác động của Nhà nước vào các đối tượng quản lý để tổ chức và phối hợp hoạt động của các đối tượng đó, bảo đảm thực hiện đúng đường lối của Đảng, chính

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 15 tháng 3 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp

đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS.Đặng Công Xưởng đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu này

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Viện Đào tạo sau đại học Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Đồng thời, xin chân thành cảm ơn các tổ chức, các nhân đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Trang 3

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦACẢNG VỤ HÀNG HẢI 4

1.1LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 4

1.1.1 Khái niệm quản lý……….… 4

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước 6

1.2LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH HÀNG HẢI 12

1.2.1 Mô hình quản lý hệ thống cảng biển Việt Nam 12

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải 16

1.2.3Dịch vụ cảng biển 17

1.3 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI CẢNG BIỂN 18

1.3.1 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 18

1.3.2 Các văn bản dưới luật 19

1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG HẢI 22

1.5 NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI CẢNG BIỂN 23

1.5.1 Khái niệm năng lực quản lý nhà nước tại cảng biển 23

1.5.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý nhà nước tại cảng biển 24

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦACẢNG VỤ HÀNG HẢI HẢI PHÒNG 25

2.1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC CẢNG BIỂN HẢI PHÒNG 25

2.1.1 Tổng quan về cảng biển Hải Phòng 25

2.1.2 Các loại hình hoạt động tại cảng biển Hải Phòng 29

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tại cảng biển Hải Phòng 31

2.2 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI TẠI CẢNG BIỂN HẢI PHÒNG 35

2.2.1 Các hoạt động hàng hải 35

2.2.2 Công tác quản lý giao thông tàu biển khu vực cảng Hải Phòng 36

Trang 4

iv

2.2.3 Thực trạng về công tác An toàn hàng hải tại cảng Hải Phòng 37

2.2.4 Thực trạng công tác điều tra tai nạn hàng hải và kiểm tra, giám sát các hoạt động hàng hải trong vùng nước cảng biển Hải Phòng 40

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CẢNG VỤ HẢNG HẢI HẢI PHÒNG 41

2.3.1 Giới thiệu Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng 41

2.3.2 Thực trạng quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng 44

2.3.3 Thực trạng về hoạt động phối hợp giữa Cảng vụ Hàng hải và các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng biển Hải Phòng 49

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁCQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦACẢNG VỤ HÀNG HẢI HẢI PHÒNG 56

2.4.1 Đánh giá chung về kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng 56

2.4.2 Đánh giá chung về hạn chế trong công tác quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng 57

CHƯƠNG 3:BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀNƯỚC CỦA CẢNG VỤ HÀNG HẢI HẢI PHÒNG 59

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2016VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN 59

3.1.1 Phương hướng, nhiệm vụ năm 2016 59

3.1.2 Giải pháp tổ chức thực hiện 59

3.1.3 Cơ chế chính sách và quy hoạch phát triển hạ tầng cơ sở tại cảng biển Hải Phòng 61

3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CẢNG VỤ HÀNG HẢI HẢI PHÒNG 63

3.2.1 Công tác quản lý hoạt động hàng hải trong khu vực cảng biển Hải Phòng 63

3.2.2 Kiểm tra, giám sát hoạt động hàng hải và xử lý vi phạm 68

3.2.3 Công tác an ninh hàng hải 69

3.2.4 Công tác phối hợp tìm kiếm cứu nạn và phòng chống lụt bão 69

3.2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý phương tiện của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

v

Trang 6

2.5 Bảng số liệu các vụ tai nạn được điều tra trong vùng nước

cảng biển Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2015 38

2.6 Bảng thống kê số lượng tàu thuyền và hàng hóa thông qua

khu vực cảng biển Hải Phòng năm 2014 và năm 2015 47 2.7 Bảng thống kê số lượng tàu thuyền và hàng hóa thông qua

khu vực cảng biển Hải Phòng năm 2013 - 2015 50

Trang 7

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

2.1 Tổng chiều dài và lƣợng hàng hóa thông qua cảng biển Hải

2.2 Lƣợng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng 28 2.3 Biểu đồ lƣợt hành khách và lƣợt tàu qua cảng biển Hải Phòng 29

2.6 Kế hoạch điều động tàu trên trang Website Cảng vụ Hàng hải

Trang 8

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử và sự phát triển của ngành hàng hảichứng minh rằng kinh tế biển luôn được đánh giá là ngành mũi nhọn, trong đó vai trò chủ lực là cảng biển Nơi nào có cảng biển, nơi đó thành phố sẽ phát triển về công nghiệp nặng, kinh tế và ngoại thương Cảng biển phồn vinh, kinh tế biển càng đẩy mạnh

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm bên bờ Biển Đông - cầu nối quan trọng giữa nước ta với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới Hiện nay hầu hết khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu và hàng hóa chuyển tải được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông Với vị trí thuận lợi về địa kinh tế và địa chính trị, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có một số Nghị quyết, chính sách về lĩnh vực liên quan đến biển Trong giai đoạn tới, xuất phát từ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia đối với biển, đảo, vùng trời của tổ quốc, yêu cầu nước ta cần phải có chiến lược biển toàn diện để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo chủ nghĩa xã hội, hệ thống cảng biển và kết cấu hạ tầng ven biển được xác định là ngành cơ bản, đóng vai trò quan trọng, quyết định trong việc liên kết và đẩy mạnh kinh tế, xã hội không chỉ tại vùng biển mà còn tại các vùng miền khác trong cả nước Ngoài ra, phát triển cảng biển còn tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy các ngành khác như: vận tải biển, công nghiệp đóng tàu, dịch vụ hàng hải, dịch vụ xuất nhập khẩu và cung ứng tàu biển

Với sự kiện Việt Nam ký kết Hiệp định TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương) năm 2015, số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vào Việt Nam bằng đường biển dự báo còn tăng cao Điều này đang đặt ra nhiều vấn đề trong công tác nâng cấp hệ thống cảng Việt Nam, đặc biệt là vấn đề cải cách thủ tục hành chính, được xem là “điểm yếu” trong hoạt động thương mại quốc tế Theo đánh giá của Cục Hàng hải Việt Nam, trong thời gian tới, nhiều chủng loại tàu, đặc biệt các tàu

Trang 9

2

có trọng tải lớnsẽ cập cảng tại hệ thống cảng biển Việt Nam Để đáp ứng yêu cầu

đó, bên cạnh việc mở rộng quy mô của các cảng biển Việt Nam, vấn đề nâng cao an toàn trong hoạt động hàng hải cũng như năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực hàng hải cần được xem trọng

Quản lý Nhà nước về hàng hải là sự tác động của Nhà nước vào các đối tượng quản lý để tổ chức và phối hợp hoạt động của các đối tượng đó, bảo đảm thực hiện đúng đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu phát triển ngành theo định hướng đề ra Với tư cách là “Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hàng hải tại cảng biển và vùng nước cảng biển”, Cảng vụ hàng hải giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý của ngành Vì vậy, việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả đối với công tác quản lý nhà nước về hàng hải tại khu vực cảng biển là một vấn đề hết sức cần thiết

Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên, việc đảm bảo an toàn hàng hải và an ninh các tàu thuyền hoạt động trong khu vực cảng biển là cần thiết, cấp bách và đòi hỏi phải có phương án theo quy định của pháp luật Vì vậy, việc xây dựng đề tài

“Biện pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Cảng vụ hàng hải Hải

Phòng” là cần thiết với mục đích đáp ứng các mục tiêu về kinh tế, chính trị, xã hội

của thành phố, thực hiện nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đối với vùng cảng biển Hải Phòng

2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Thứ nhất, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước và quản lý

nhà nước tại cảng biển

Thứ hai, đánh giá thực trạngquản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải Hải

Phòng trong giai đoạn 2011- 2015

Thứ ba, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Cảng

vụ Hàng hải Hải Phòng

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu năng lực quản lý nhà nước của Cảng vụ hàng hải trong điều phối giao thông và quản lý tàu thuyền ra, vào cảng, di chuyển và phối hợp điều tiết giao thông, dự báo đâm va, phối hợp tìm kiếm cứu

Trang 10

3

nạn, chỉ báo vị trí, tốc độ chạy tàu trong các khu vực hạn chế, việc neo đậu, tình trạng tàu và hàng hoá trên cơ sở các quy định của pháp luật hàng hải hiện hành khi tàu thuyền hoạt động tại khu vực cảng Hải Phòng trong giai đoạn 2011 - 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được hoàn thành dựa trên các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp thống kê: Thống kê số liệu liên quan đến hàng hoá, hành khách, tàu thuyền hoạt động tại khu vực cảng biển Hải Phòng, để nắm rõ tình hình hoạt động của tàu thuyền tại cảng, các chủng loại hàng hoá, số lượng, kích thước, tải trọng các loại phương tiện thường xuyên ra vào cảng, các khu neo đậu, chuyển tải, mật độ giao thông tại luồng hàng hải và khu vực cảng biển

- Phương pháp thu thập, phân tích các dữ liệu liên quan đến tình hình khí tượng thuỷ văn, địa hình địa lý tại vùng biển Hải Phòng để xác định những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên có thể ảnh hưởng tới hoạt động hàng hải của tàu thuyền, hạn chế hay thuận lợi của việc quản lý nhà nước của cơ quan chức năng đối với hoạt động của tàu thuyền

- Phương pháp so sánh và lựa chọn:Trên cơ sở những nghiên cứu về tình hình hoạt động của tàu thuyền, những thuận lợi hay khó khăn của cơ quan chức năng do điều kiện tự nhiên mang lại, những thành tựu khoa học có thể áp dụng vào việc quản lý, khả năng tài chính và hiệu quả của việc đầu tư từ đó đưa ra phương

án khả thi nhất

5 Cấu trúc của Luận văn

Cấu trúc của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1:Lý luận chung về quản lý nhà nước của Cảng vụ hàng hải

Chương 2:Đánh giá công tác quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng

Chương 3: Biện pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng

Trang 11

1.1.1 Khái niệm quản lý

Hiện nay, thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách giải thích khác nhau “Quản lý” theo cách hiểu chung nghĩa là điều hành, chỉ huy Quản lý được hiểu theo hai góc độ: góc độ tổng hợp mang tính chính trị, xã hội và góc độ mang tính hành động thiết thực[11] Cả hai cách nhìn nhận này đều có cơ sở khoa học và thực tế

- Quản lý hiểu theo góc độ tổng hợp mang tính chính trị xã hội rộng lớn là

sự kết hợp giữa kiến thức và lao động[11]

Sự phát triển của lịch sử xã hội loài người gắn liềnba yếu tố nổi lên rõ nét,

đó là tri thức, lao động và quản lý,trong ba yếu tố này, sự kết hợp hài hòa giữa tri thức và lao động tạo thành quản lý Nó thể hiện trước hết ở chế độ chính sách, ở

cơ chế, biện pháp quản lý và nhiều khía cạnh tâm lý xã hội khác Người quản lý phải biết điều hành tổ chức sao cho người bị quản lý luôn có được tinh thần lao động thoải mái, tâm huyết, đóng góp năng lực và trí tuệ đểtạo ra thành phẩm, mang lại lợi ích cho bản thân, cho xã hội

- Quản lý hiểu theo góc độ mang tính hành động thiết thực [11]

Theo quan điểm này, quản lý gồmba loại hình:

+ Thứ nhất: con người điều khiển các đồ vật vô tri vô giác để bắt chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của người điều khiển, gọi là quản lý trong kỹ thuật

+ Thứ hai: con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người, để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của người điều khiển, gọi là quản lý trong sinh học, thiên nhiên, môi trường,

+ Thứ ba: con người điều hành con người gọi là quản lý xã hội

Trang 12

Từ đó, ta có thể hiểu: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý

Quản lý ra đời chính nhằm mục đích mang lại hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc Thực chất của quản lý con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất[5]

Tóm lại, có thể hiểu đầy đủ và toàn diện về “Quản lý” như sau:

“Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ cấu tổ chức để đạt được mục đích đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”[5]

Hoạt động quản lý có thể hiểu gồm các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hoạch định: nghĩa là xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược quyết định những công việc cần làm trong tương lai và lên các kế hoạch hành động

- Lãnh đạo: nghĩa là định hướng, giúp và đôi khi thực hiện công việc cùng các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt được mục tiêu theo kế hoạch đã

Trang 13

6

13

Hình 1.1: Mô phỏng hoạt động quản lý

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Theo giáo trình Nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước được hiểu là: Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình điều hành, tổ chức các hoạt động trong xã hội để đạt những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan

Quản lý nhà nước là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước bằng công cụ, phương tiện, cách thức tác động của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội và các lĩnh vực khác của đời sống theo đường lối, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước [5]

Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy Nhà nước, được hiểu là bao hàm sự tác động tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm

Trang 14

7

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan Nhà nước nói chung cần thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của đơn

vị mình

1.1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước

Trong hệ thống xã hội, nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội,đoàn thể nhân dân, các hiệp hội Các chủ thể hoạt động quản lý khác nhau nên quản lý nhà nước có những điểm khác biệt

Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan quản lý hành chính trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp

Thứ hai, đối tượng quản lý nhà nước là nhân dân và các tổ chức trong phạm vi tác động quyền lực nhà nước

Thứ ba, vì tính đa dạng, phong phú về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã hội, quản lý nhà nước diễn ra trong tất cả các lĩnh vực của đời sống gồm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân

Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực của nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội[11]

Trong quản lý nhà nước, quản lý hành chính là hoạt động đa dạng, trung tâm, chủ lực vì hoạt động hành chính mang tính tổ chức và điều hành để thực hiện tính chất quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội

Quản lý hành chính nhà nước, tuy nhiên, có phạm vi hẹp hơn quản lý nhà

Trang 15

8

nước Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, nghĩa là hoạt động chấp hành và điều hành Thứ hai, chủ thể của quản lý hành chính nhà nước bao gồm các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức hành chính nhà nước trong hệ thống Chính phủ từ cơ sở đến Trung ương

Do đó, quản lý hành chính nhà nước được hiểu là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước.Đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, bổ sung bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để đảm bảo những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước được thực hiện, nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc [5]

1.1.3 Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước

1.1.3.1 Hình thức quản lý nhà nước

Hình thức quản lý nhà nước được hiểu là sự biểu hiện về hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác thực hiện các chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền của tổ chức [5]

Các hình thức quản lý hành chính nhà nước gồm:

- Những hình thức pháp lý được pháp luật quy định cụ thể về nội dung, trình tự và thủ tục Hoạt động này là hình thức quản lý quan trọng, thiết yếu và được phân loại như sau:

+ Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nhà nước của các chủ thể quản

lý hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình

+ Ban hành văn bản áp dụng pháp luật: là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước Nội dung của hình thức này là

áp dụng một hoặc nhiều quy phạm pháp luật vào trường hợp cụ thể,

Trang 16

9

trong những điều kiện cụ thể Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật hành chính cụ thể

+ Các hoạt động mang tính chất pháp lý khác: Là hình thức pháp

lý quan trọng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Hoạt động này được tiến hành khi phát sinh những điều kiện tương ứng được định trước trong quy phạm pháp luật nhưng không cần ban hành văn bản áp dụng pháp luật Đó là những hoạt động như: đăng ký những sự kiện nhất định; áp dụng những biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật;hoạt động công chứng; lập và cấp một số giấy tờ nhất định

- Những hình thức không pháp lý chỉ được pháp luật quy định khuôn khổ chung để tiến hành lựa chọn phương thức, cách thức quản lý[5]

Đây là hình thức hoạt động thuộc phạm vi chức năng, thẩm quyền, pháp luật cho chủ thể có thẩm quyền được lựa chọn việc thực hiện để đảm bảo tính chủ động, hiệu quả của hoạt động[5]

1.1.3.2 Phương pháp quản lý nhà nước

Phương pháp quản lý nhà nước là áp dụng các phương pháp điều hành, tổ chức trong các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước với mục đích các chức năng, nhiệm vụ cũng như thẩm quyền của cơ quan đó và các chức vụ quản lý hành chính nhà nước được thực hiện đảm bảo, hiệu quả[11]

Các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng rất nhiều phương pháp quản lý và được phân làm hai nhóm:

Nhóm thứ nhất: Các phương pháp quản lý chung

- Phương pháp kế hoạch hoá: Ở tầm vĩ mô của Nhà nước, phương phápnày được dùng để đặt chương trình mục tiêu và xây dựng

kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn; dự báo xu thế vàxây dựng chiến

Trang 17

10

lược phát triển kinh tế - xã hội; lập quy hoạch tổng thể và chuyên ngành

Ở tầm vi mô của cơ sở, phương pháp này được dùng đểđánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, các biện pháp cân đối, tính toán các chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra

- Phương pháp thống kê: Được các cơ quan hành chính nhà nước

sử dụng để tiến hành điều tra khảo sát, phân bố, sử dụng các phương pháp tính toán như: số bình quân gia quyền, chỉ số, tương quan quyết định, tương quan hồi quy để đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân của hiện tượng quản lý, làm cơ sở khoa học ban hành quyết định quản lý Sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp và chỉnh lý

để tính toán tốc độ phát triển các chỉ tiêu quan trọng

- Phương pháp toán học:áp dụng các phương pháp toán học như

sơ đồ mạng, ma trận, vận trù học trong điều hành, tổ chức; sử dụng máy điện toán để thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin; toán học hoá các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; tính toán các cân đối liên ngành trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý

- Phương pháp tâm lý - xã hội: là phương pháp tác động vào tâm

tư, tình cảm, nguyện vọng của người lao động, xây dựng môi trường lao động thân thiện, quan tâm, tạo dựng không khí hồ hởi, sôi nổi, thúc đẩy niềm yêu thích công việc, nhiệt huyết, đam mê của người lao động gắn

bó với tập thể, không chỉ giải quyết cho họ những vướng mắc trong công tác, mà còn động viên, giúp đỡ họ những lúc khó khăn trong cuộc sống thường nhật

- Phương pháp sinh lý học: bố trí nơi công tác phù hợp với sinh

lý, nguyện vọng củangười lao động, tạo ra môi trường thoải mái trong làm việc nhằm tăng hiệu quả lao động [5]

Nhóm thứ hai: bốnphươngpháp chủ yếu của khoa học quản lý

- Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức: là phương pháp tác

Trang 18

11

động về tư tưởng, tinh thần của con người để họ giác ngộ lý tưởng, ý thức chính trị và pháp luật, nhận biết đúng - sai, tốt - xấu Trên cơ sở ý thức đúng sẽ dẫn đến hành động tốt, con người sẽ có trách nhiệm, có kỷ luật, lương tâm, không vi phạm pháp luật, hăng hái lao động Việc giáo dục chính trị, tư tưởng không nên mang tính giáo điều, hô hào suông mà nên là những việc làm, hành động cụ thể, có kế hoạch thực hiện rõ ràng cho từng giai đoạn phát triển nhất định, trang bị cho người lao động đủ kiến thức, năng lực, tâm huyết để đảm đương công việc do yêu cầu thực tiễn Giáo dục chính trị, tư tưởng không chỉ đối với đối tượng quản lý mà

cả đối với chủ thể quản lý

- Phương pháp tổ chức (biện pháp tổ chức): là biện pháp rèn luyện con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương thông qua các quy chế, quy trình, nội quy hoạt động của cơ quan, bộ phận và phải cương quyết thực hiện một cách nghiêm túc, dân chủ và công bằng Thực hiện tốt biện pháp này, trách nhiệm và kỷ luật được giữ vững và nâng cao, dẫn đến hiệu quả công việc cao Ngược lại nếu tư tưởng không lành mạnh, ổn định, sẽ dẫn tới hiệu quả công việc thấp, gây mất đoàn kết nội

bộ

- Phương pháp kinh tế (hiệu quả): là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của đối tượng quản lý thông qua đòn bẩy kinh tế, tác động đến lợi ích của con người[5]

Việc tác động đến lợi ích sẽ làm cho các khách thể quản lý phải tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm của mình tốt nhất mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần Tuy nhiên, phải biết kết hợp đúng đắn ba loại lợi ích: lợi ích người lao động, lợi ích tập thể và lợi ích Nhà nước Trong đó, lợi ích người lao động là động lực trực tiếp, lợi ích Nhà nước

là tối cao

- Phương pháp hành chính (cấm đoán, bắt buộc): là phương pháp

Trang 19

12

quản lý bằng cách đưa ra các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc đối với đối tượng quản lý, yêu cầu đối tượng quản lý chấp hành thực hiện nghiêm túc Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp lên đối tượng bằng cách quy định đơn phương nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng quản lý

Phương pháp hành chính thể hiện tính chất quyền lực của hoạt động quản lý Cơ sở của phương pháp này là nguyên tắc tập trung, dân chủ mà cụ thể là sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên và tính chất bắt buộc thi hành những mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên đối với cấp dưới Phương pháp hành chính cần thiết để đảm bảo cho hoạt động quản lý được tiến hành có hiệu quả và đảm bảo kỷ luật nhà nước

Phương pháp hành chính được thực hiện qua các nội dung:

+ Quy định những quy tắc xử sự chung trong quản lý hành chính nhà nước

+ Quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan dưới quyền, giao nhiệm vụ cho các cơ quan đó

+ Thoả mãn đơn phương yêu cầu hợp pháp của công dân

+ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới

+ Áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết[5]

Như vậy, trong bốn phương pháp này, phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức là chủ yếu, phải thực hiện thường xuyên, liên tục và nghiêm túc Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng, mang tính khẩn cấp Phương pháp kinh tế là biện pháp

cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước Phương pháp hành chính là rất cần thiết, nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn và hợp lý

1.2 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH HÀNG HẢI

1.2.1 Mô hình quản lý hệ thống cảng biển Việt Nam

Công tác tổ chức quản lý và đầu tư xây dựng, khai thác cảng biển Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt Bộ Luật

Trang 20

13

Hàng hải Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng và các luật liên quan khác.Theo quy định tại các luật này, công tác quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng biển được giao cho các cơ quan, cụ thể như sau:

1.2.1.1 Về mô hình chức năng cảng biển

Trong những năm qua, hệ thống cảng biển Việt Nam đã phát triển một cách vượt bậc về số lượng và chất lượng Theo chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ, chủ thể quản lý cảng biển Việt Nam được mở rộng gồm cả hình thức quản lý nhà nước và hình thức liên doanh Đầu tư phát triển cảng biểnyêu cầu một nguồn vốn lớn hơn rất nhiều so với đầu tư vào các lĩnh vực khác của ngành hàng hải Mô hình quản lý cảng biển như vậy có thể được chia theo các mô hình chức năng sau:

- Mô hình công ty nhà nước quản lý trực tiếp: hầu hết các cảng tổ chức theo mô hình này Hiện nay doanh nghiệp cảng được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, sở hữu, bảo dưỡng, khai thác, cung cấp các dịch vụ xếp dỡ hàng hóa và trực tiếp quản lý lực lượng lao động tại cảng

- Mô hình công ty thương mại hóa cảng: một số cảng được tổ chức theo

mô hình này Hoạt động của cảng gắn liền với chức năng kinh doanh của Công ty thương mại đó

1.2.1.2 Về mô hình quản lý khai thác cảng biển

Về cơ quan quản lý cảng, đối chiếu với các nước trên thế giới, mô hình của Việt Nam có thể được xếp vào các hình thức sau:

- Mô hình cảng dịch vụ công: Đây là mô hình quản lý cảng biển mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vùng đất, vùng nước cảng biển và Nhà nước xây dựng toàn bộ kết cấu hạ tầng, đầu tư nhà xưởng kho bãi, trang thiết bị, quản lý nguồn nhân lực thực hiện các dịch vụ

Ưu điểm: Mô hình này có thế mạnh là tập trung trong đầu tư, xây dựng và hoạt động điều hành khai thác cảng biển

Trang 21

14

Hạn chế: Mô hình này đòi hỏi đầu tư nguồn vốn lớn nên hạn chế đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị, công nghệ tiên tiến trong quản lý khai thác cảng Nó không tận dụng được khả năng, nguồn vốn đầu tư vào trang thiết bị xây dựng, vận chuyển, sự nhanh nhạy, linh hoạt trong kinh doanh của tư nhân; mô hình quản lý kém nhạy bén, linh hoạt trong giải quyết công việc, hiệu quả trong khai thác, thiếu tính cạnh tranh, thiếu sự đổi mới, đồng thời gây lãng phí trong việc sử dụng nguồn lực, đầu tư không đủ do can thiệp của Chính phủ, phụ thuộc vào nguồn ngân sách Nhà nước Việc khai thác không có định hướng cho người sử dụng, định hướng theo thị trường [12]

- Mô hình cảng công cụ: Đây là mô hình quản lý cảng biển mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vùng đất, vùng nước cảng biển và Nhà nước xây dựng toàn bộ kết cấu

hạ tầng, đầu tư nhà xưởng kho bãi, trang thiết bị Tư nhân thuê kết cấu hạ tầng, bến

và cung cấp dịch vụ bốc dỡ hàng hóa, lưu kho bãi

Ưu điểm: Nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, mua sắm thiết bị chính nên tránh được đầu tư trùng lặp

Hạn chế: Do Nhà nước tổ chức quản lý cảng và tư nhân chia sẻ dịch vụ bốc xếp hàng hóa dẫn đến tình huống xung đột vì thành phần tư nhân không sở hữu thiết bị chủ yếu nên có xu hướng thực hiện chức năng là nơi tập trung nhân công, không phát triển thành công ty có bảng cân đối tài sản lành mạnh Điều này đã tạo

ra sự bất ổn và không mở rộng doanh nghiệp trong tương lai Mặt khác, Nhà nước mua thiết bị, giao cho tư nhân khai thác nên nguy cơ đầu tư không hiệu quả và thiếu sự đổi mới [12]

- Mô hình chủ cảng: Đây là mô hình quản lý cảng biển mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vùng đất, vùng nước cảng biển và Nhà nước xây dựng toàn bộ kết cấu

hạ tầng Tư nhân thuê cầu bến để khai thác, thuê đất để xây dựng kho bãi, đầu tư toàn bộ trang thiết bị để thực hiện bốc xếp, vận chuyển, lưu kho bãi

Ưu điểm: Kết hợp hài hòa lợi ích, phát huy tối đa lợi thế của Nhà nước, tư nhân Tư nhân khai thác ổn định do hợp đồng dài hạn, ổn định, có quyền đầu tư

Trang 22

15

thiết bị cần thiết cho hoạt động của mình; cân đối được đầu tư Nhà nước và đầu tư

tư nhân nên hạn chế được sư phân tán nguồn lực Nhà nước, phân bố rủi ro, đồng thời tạo sự nhạy bén, linh hoạt cho thị trường

Hạn chế: Dễ gặp nguy cơ vượt quá công suất do áp lực của các nhà khai thác

tư nhân; nguy cơ phán đoán nhầm thời gian thích hợp để tăng công suất [12]

- Mô hình cảng tư nhân: Đây là mô hình quản lý cảng biển mà tư nhân sở hữu toàn bộ vùng đất, vùng nước cảng biển và xây dựng toàn bộ kết cấu hạ tầng, đầu tư nhà xưởng kho bãi, trang thiết bị, quản lý nguồn nhân lực thực hiện các dịch

vụ

Ưu điểm: Mô hình này vận dụng tối đa tính linh hoạt trong đầu tư, xây dựng, khai thác cảng, không chịu sự can thiệp của Chính phủ; chủ trương phát triển cảng biển theo định hướng thị trường, xây dựng chính sách biểu giá của cảng Trường hợp tái phát triển, có khả năng thu được giá cao trong việc bán đất xây dựng cảng, tạo cơ hội mở rộng phạm vi kinh doanh nếu khu đất có vị trí chiến lược

Nhược điểm: Nguy cơ phát sinh hành vi độc quyền, chính quyền khó thực thi các chính sách kinh tế dài hạn trong kinh doanh khai thác cảng Nếu phải xây dựng lại khu vực cảng, chính quyền sẽ mất chi phí mua đất [12]

1.2.1.3 Về phân định vai trò của Chính phủ và Cơ quan quản lý cảng trong đầu tư phát triển và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng cảng biển

Cơ sở hạ tầng cảng biển được hiểu là các hạng mục như kho bãi, đường giao thông trong cảng, cầu bến, các trang thiết bị xếp dỡ, luồng lạch, hệ thống điều hành dẫn tàu, phao tiêu, báo hiệu (hệ thống đèn biển), kè chắn… Có thể chia thành hai nhóm:

- Nhóm hệ thống cơ sở vật chất đảm bảo an toàn hàng hải gồm phao tiêu, báo hiệu, luồng lạch, báo hiệu, đèn biển, hệ thống quản lý tàu ra vào cảng…

- Nhóm cấu trúc hạ tầng (gồm kho bãi, cầu bến, đường giao thông trong cảng) và các trang thiết bị xếp dỡ hàng hóa trong cảng

Trong đó, nhóm hệ thống cơ sở vật chất đảm bảo an toàn hàng hải là hạng mục phục vụ chung cho các đối tượng vì trên cùng một đoạn luồng có thể có nhiều

Trang 23

16

cảng khác nhau như luồng lạch, kẻ chắn được xếp vào nhóm kinh doanh phi lợi nhuận nên việc đầu tư phát triển, bảo dưỡng thường do Chính phủ thực hiện, thông qua các Doanh nghiệp nhà nước công ích

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Cảng vụ Hàng hải

Cảng vụ Hàng hải là “cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hàng hải tại cảng biển và vùng nước cảng biển” [4].Theo quy định tại Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Giám đốc Cảng vụ Hàng hải có quyền hạn và nhiệm vụ sau:

- Tham gia ý kiến xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cảng biển trong khu vực quản lý và tổ chức giám sát, kiểm tra thực hiện sau khi cơ quan nhà nước

có thẩm quyền phê duyệt

- Tổ chức thực hiện quy định về công tác quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và khu vực quản lý; triển khai kiểm tra, giám sát luồng cảng biển, hệ thống báo hiệu hàng hải; kiểm tra hoạt động của tổ chức, cá nhân tại cảng biển và khu vực theo dõi quản lý

- Tạm giữ tàu biển theo quy định; thực hiện quyết định bắt giữ tàu biển của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Cấp phép, giám sát tàu biển ra, vào và hoạt động tại cảng biển; không cho phép tàu biển vào cảng khi không có đủ điều kiện cần thiết về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường

- Tổ chức tìm kiếm, cứu nạn trong vùng nước biển; huy động người và phương tiện cần thiết để thực hiện việc tìm kiếm, cứu nạn hoặc xử lý sự cố ô nhiễm môi trường

- Tổ chức thực hiện thanh tra hàng hải, điều tra, xử lý theo thẩm quyền tai nạn hàng hải tại cảng biển và khu vực quản lý

- Tổ chức thực hiện đăng ký tàu biển, đăng ký thuyền viên; thu, quản lý, sử dụng các loại phí, lệ phí cảng biển theo quy định của pháp luật

- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền

Trang 24

1.2.3.1 Đối với hàng hóa ra vào cảng

Cảng biển là nơi quá trình chuyên chở hàng hóa có thể được bắt đầu, tiếp tục hoặc kết thúc Do vậy, hàng hóa có thể được hưởng các dịch vụ sau tại cảng biển:

- Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa vận chuyển đường biển: loại hình hoạt động kinh doanh thay mặt khách hàng kiểm đếm số lượng hàng hóa thực tế khi giao hoặc nhận với tàu, phương tiện vận tải khác, khi xếp dỡ hàng vào container hoặc khi nhập hoặc xuất kho

- Dịch vụ bảo quản hàng hóa: hoạt động lưu kho lưu bãi trong thời điểm hàng hóa ở trong cảng chờ chủ hàng lấy, giao hàng cho người chuyên chở trong thời gian chuyển tiếp để vận chuyển đến cảng đích

- Dịch vụ giao nhận hàng hóa vận chuyển bằng đường biển: loại hình hoạt động kinh doanh thay mặt khách hàng tổ chức thiết kế, bố trí thu xếp các thủ tục giấy tờ, chứng từ liên quan đến giao nhận hàng hóa với người chuyên chở và cơ quan chuyên môn khác

Ngoài ra, cảng biển còn phục vụ các dịch vụ như thực hiện sửa chữa bao bì, đóng gói hàng hóa, kẻ kí mã hiệu cho hàng hóa.Nếu trong quá trình chuyên chở đến người nhận, hàng hóa bị tổn thất trong phạm vi có thể sửa chữa tại cảng

1.2.3.2 Đối với tàu ra vào cảng

Cảng là nơi tàu ra vào, neo đậu trong mỗi hành trình Vì vậy, mọi hoạt động điều hành giao dịch với tàu đều phải thực hiện tại cảng biển, cụ thể là:

- Dịch vụ đại lý tàu biển: là hoạt động thực hiện các dịch vụ đối với tàu và hàng tại Việt Nam thay mặt chủ tàu nước ngoài

Trang 25

18

- Dịch vụ môi giới hàng hải: là hoạt động kinh doanh môi giới cho khách hàng công việc liên quan đến phương tiện vận tải biển và hàng hóa, mua bán tàu, thuê tàu, thuê thuyền viên

- Dịch vụ lai dắt tàu biển và hoa tiêu hàng hải

- Dịch vụ cung ứng tàu biển: là hoạt động kinh doanh cung ứng cho tàu lương thực phẩm và dịch vụ đối với thuyền viên…

- Dịch vụ sửa chữa nhỏ tàu biển: là hoạt động kinh doanh thực hiện cạo hà, sơn, gõ rỉ, sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị động lực, thông tin, đường nước, ống hơi, hàn vá từ mớn nước trở lên và các sửa chữa nhỏ khác

- Dịch vụ cứu hộ hàng hải

- Dịch vụ thông tin và tư vấn hàng hải

1.3 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI CẢNG BIỂN

1.3.1 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 là văn bản pháp quy có giá trị pháp lý cao nhất Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006

Bộ luậtHànghảiViệtNamđiềuchỉnhtoànbộcácđốitượngthamgiahoạtđộnghàng hải bao gồm: tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, hàng hoá vận chuyển bằng đường biển,hành kháchđibằngđườngbiển,cáccơquandịchvụ,phục vụtrongngànhhànghải:đạilýtàubiển và môi giới hàng hải, công ty hoa tiêu, dịch vụ lai dắt, bảo hiểm hàng hải… và các mối quan hệ hàng hảikhác

Tại khoản 1 điều 1 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam nói rõ phạm vi điều

chỉnh của luật “Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy

định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động

Trang 26

Bộ luật Hàng hải Việt Nam là cơ sở pháp lý để thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành hànghải

1.3.2 Các văn bản dưới luật

Để cụ thể hoá văn bản luật được áp dụng hiệu quả và khả thi, Bộ, Ngành ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật có liên quan đến quản lý nhà nước tại cảng biển, chia thành các nhóm quản lý sau:

1.3.2.1 Về quản lý cảng biển và luồng hàng hải

Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải

Nội dung nghị định:

- Nghịđịnhnàyquyđịnh vềđầu tư xâydựng,khai thác, điều hành, tổ chứccảngbiển,luồnghàng hảivàquảnlýhoạtđộnghànghảitạicảngbiểnViệtNam [9]

- Các quy định về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường thuộc Nghị định này cũng áp dụng đối với cảng quân sự, cảng cá và cảng, bến thuỷnội địanằmtrongvùngnướccảngbiển [9]

Trang 27

Quyết định số 57/2005/QĐ-BGTVT ngày 28/10/2005 của Bộ Giao thông vận tải về tổ chức và hoạt động của Cảng vụ hàng hải Quyết định này quy định về tổ chức và hoạt động của Cảng vụ hàng hải, và áp dụng với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Cảng vụ hàng hải, nêu

rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cảng vụ hàng hải [4]

1.3.1.2 Về quản lý vận tải biển và dịch vụ hàng hải

Nghị định số 173/2007/NĐ-CP ngày 28/11/2007 của Chính phủ quy định về

tổ chức và hoạt động của hoa tiêu hàng hải Nghị định này áp dụng đối với tổ chức hoa tiêu hàng hải, người thực hiện nhiệm vụ hoa tiêu hàng hải và cơ quan, tổ chức,

cá nhân liên quan đến tổ chức và hoạt động của hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam

Quyết định số 726/QĐ-CHHVN ngày 13/9/2012 của Cục Hàng hải Việt Nam công bố tuyến dẫn tàu trong vùng hoa tiêu hàng hải bắt buộc của Việt Nam và quy định số lượng tối thiểu hoa tiêu các hạng, phương tiện đưa, đón hoa tiêu đối với từng tuyến dẫn tàu

1.3.1.3 Về an toàn, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường

Nghị định số 95/2010/NĐ-CP ngày 16/9/2010 của Chính phủ quy định về cấp phép và phối hợp hoạt động với lực lượng tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài tại Việt Nam Nghị định này quy định về nguyên tắc, điều kiện, trình tự cấp phép đối với lực lượng tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài tại Việt Nam; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc cấp phép và phối hợp hoạt động với lực lượng tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài vào tham gia tìm kiếm, cứu nạn, trong tình huống khẩn cấp xảy ra thảm họa do thiên tai, sự cố trên lãnh thổ của nước Cộng

Trang 28

Thông tư số 19/2013/TT-BGTVT ngày 06/8/2013 của Bộ Giao thông vận tải quy định về áp dụng quy tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển Thông tư này áp dụng đối với: tàu biển, tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa và thủy phi cơ Việt Nam hoạt động trong vùng nước cảng biển, luồng hàng hải, trên các vùng biển Việt Nam và biển cả; và tàu biển nước ngoài hoạt động trong vùng nước cảng biển, luồng hàng hải, trên các vùng biển Việt Nam Trong trường hợp Tổ chức Hàng hải quốc tế có quy định sửa đổi, bổ sung Quy tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va trên biển thì áp dụng các quy định sửa đổi,

bổ sung của Tổ chức Hàng hải quốc tế

Quyết định số 2727/2015/QĐ-BGTVT ngày 30/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam

Quyết định số 124/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 của Thủ tướng chính phủ

về việc ban hành Quy chế quản lý trang thiết bị tìm kiếm, cứu nạn Quy chế này quy định việc cấp phát, quản lý, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, kiểm tra và thanh

lý, xử lý các loại trang thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hóa bảo đảm hoạt động tìm kiếm, cứu nạn thuộc sở hữu nhà nước Quy chế này áp dụng đối với Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, các Bộ, ngành, địa phương, các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm, cứu nạn và các đơn vị tham gia tìm kiếm, cứu nạn

Trang 29

22

Quyết định số 06/2014/QĐ-TTg ngày 20/01/2014 của Thủ tướng chính phủ ban hành quy chế phối hợp tìm kiếm trên biển và trong vùng nước cảng biển Quy chế này quy định về hoạt động phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển; trách nhiệm chủ trì, phối hợp tìm kiếm, cứu nạn của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển và các tổ chức, cá nhân.Quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trên vùng biển Việt Nam và trong vùng nước cảng biển

1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG HẢI

Căn cứ Điều 9 Chương 1 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005, nội dung quản lý nhà nước về hàng hải bao gồm:

1 Xây dựng, phê duyệt, ban hành và chỉ đạo thực hiện quy hoạch,

kế hoạch, chiến lược, chính sách phát triển ngành hàng hải theo quy định của pháp luật

2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành hàng hải

3 Quản lý việc đầu tư xây dựng, tổ chức khai thác cảng biển và luồng, tuyến hàng hải theo quy định của pháp luật Công bố mở, đóng cảng biển, vùng nước cảng biển và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải; công bố đưa bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước và các công trình hàng hải khác vào sử dụng

4 Quản lý hoạt động vận tải biển; kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp vận tải biển, cảng biển và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải

5 Tổ chức đăng ký, đăng kiểm tàu biển và đăng ký các quyền đối với tàu biển Quản lý việc thiết kế, đóng mới, sửa chữa, phá dỡ, khai

Trang 30

7 Quản lý công tác đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn nhân lực hàng hải

8 Quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực hàng hải; bảo vệ môi trường, phòng, tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động hàng hải

9 Quản lý giá, phí và lệ phí trong lĩnh vực hàng hải

10 Tổ chức cứu hộ hàng hải, cứu nạn trên biển; trục vớt tài sản chìm đắm; điều tra, xử lý tai nạn, sự cố hàng hải, công tác bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển

11 Hợp tác quốc tế về hàng hải

12 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động hàng hải theo quy định của pháp luật [13]

1.5 NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI CẢNG BIỂN

1.5.1 Khái niệm năng lực quản lý nhà nước tại cảng biển

Quản lý nhà nước tại cảng biển có thể được hiểu là việc ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật quản lý cảng biển và hoạt động tại cảng biển; ban hành chiến lược và chính sách phát triển cảng biển; lập và công bố quy hoạch phát triển cảng biển, giám sát thực hiện quy hoạch cảng biển, quản lý việc đầu tư xây dựng phát triển cảng biển

Trang 31

24

Như vậy, năng lực quản lý nhà nước tại cảng biển có thể được hiểu là khả năng quản lý, điều hành triển khai, tổ chức các nội dung quản lý nhà nước tại cảng biển

1.5.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý nhà nước tại cảng biển

Để đánh giá năng lực quản lý nhà nước tại cảng biển, có thể dựa vào các tiêu chí đánh giá sau:

- Thực hiện các thủ tục hành chính cho tàu thuyền xuất nhập cảnh;

- Thực hiện công tác thanh kiểm tra và xử lý vi phạm;

- Thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn;

- Thực hiện công tác an toàn hàng hải tại vùng nước cảng biển;

- Thực hiện công tác an ninh hàng hải

Trang 32

25

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁCÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA

CẢNG VỤ HÀNG HẢI HẢI PHÕNG 2.1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC CẢNG BIỂN HẢI PHÕNG

2.1.1 Tổng quan về cảng biển Hải Phòng

Hải Phòng là cửa ngõ thông ra biển của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, trung tâm tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh; nơi tập trung các khu công nghiệp, khu chế xuất Thành phố Cảng còn là địa phương được thiên nhiên

ưu đãi với nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế cảng biển và các ngành dịch vụ sau cảng; chiếm giữ vị trí then chốt trên tuyến giao thông đường biển và ven biển đi, đến toàn bộ vùng Đồng bằng Bắc Bộ và trung du rộng lớn, lượng tàu thuyền đến cảng tăng ở mức 15%/năm Với các dự báo về phát triển kinh tế năm

2016, dự kiến kế hoạch sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển trên địa bàn Hải Phòng sẽ tăng cao, ước tính đạt khoảng 80- 85 triệu tấn Theo thống kê hàng năm, khoảng 90% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu khu vực phía bắc qua các cảng Hải Phòng, trong đó tỷ trọng hàng thông qua cảng chính chiếm tới 80% Với những chính sách khuyến khích đầu tư, thời gian qua, nhiều cảng mới ra đời như Cảng Ðoạn Xá, Ðình Vũ Số doanh nghiệp khai thác cảng biển khu vực Hải Phòng hiện

đã có khoảng 40 doanh nghiệp, với tổng chiều dài cầu cảng đạt hơn 10.700m Nhiều cảng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ hàng, chủ tàu giao nhận hàng hóa nhanh, giảm lượng hàng tồn đọng Vì vậy, nhiều cảng đã liên tục đạt mức tăng trưởng cao Tổng hợp chiều dài bến, lượng hàng và cỡ tàu phát triển trong những năm gần đây

Bảng 2.1: Tổng chiều dài và lượng hàng thông qua cảng biển Hải Phòng

Trang 33

Hình 2.1: Biểu đồ chiều dài cảng và lượng hàng thông qua cảng

(Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng)

Số liệu lượng hàng hoá thông qua cảng biển Hải Phòng trong 5 năm gần đây được biểu thị cụ thể tại bảng 2.2 và hình 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2: Lượng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng

Năm Lượng hàng thông qua cảng (triệu tấn)

Trang 34

27

Đơn vị tính: triệu tấn Hình 2.2: Biểu đồ lượng hàng thông qua cảng biển Hải Phòng

(Nguồn: Cục Hải quan thành phố Hải Phòng)

Lượng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng có xu hướng tăng theo từng năm, đặc biệt năm 2015đạt 73,3 triệu tấn - cao nhất trong 5 năm trở lại đây, tăng 77,91% so với năm 2011 và tăng 10,89% so với năm 2014

Trong khi đó, lượt hành khách xuất nhập cảnh đến cảng biển Hải Phòng thay đổi Từ năm 2011 đến năm 2012, lượng hành khách giảm 633 lượt người (tương đương 8,28%), tuy nhiên năm 2013, lượng hành khách làm thủ tục xuất nhập cảnh tại cảng biển Hải Phòng tăng lên khoảng 2% (tương đương 155 lượt người) và tăng đều tại năm 2014, 2015 (mỗi năm tăng khoảng 4% - 5%) Trái ngược, lượng tàu ra vào cảng biển Hải Phòng tăng nhẹ trung bình 10% (tương đương khoảng 1.500 lượt tàu) mỗi năm từ năm 2011đến năm 2015 Cụ thể tại hình 2.4 sau đây:

Trang 35

28

Hình 2.3: Biểu đồ lượt hành khách và lượt tàu qua cảng biển Hải Phòng

(Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng)

Hình 2.4: Hệ thống bến cảng tổng hợp và Container

Lƣợng hành khách

đến cảng biển Hải Phòng

Lƣợng tàu đến cảng biển Hải Phòng

Trang 36

29

11 Cảng Tổng hợp:

Vật Cách, Nam Ninh, Duy Linh, Quỳnh Cƣ, Hải Phòng, LHTS, Cửa Cấm,

TH Lê Chân, Đông Hải, Tân Cảng 128, PTSC Đình Vũ

05 Cầu tàu sữa chữa, đóng mới tàu biển:

Lilama, Bạch Đằng, Cơ khí Hạ Long, Nam Triệu, Phà Rừng

Ngoài ra còn 05 Bến phao và khu neo chuyển tải

- Bạch Đằng, Ninh Tiếp, Bến Gót, Lan Hạ, Hạ Long

- 18 cảng, nhà máy đóng tàu đang đƣợc xây dựng dọc bờ sông Cấm, sông Bạch Đằng, sông Giá (1000DWT÷20000DWT)

2.1.2 Các loại hình hoạt động tại cảng biển Hải Phòng

2.1.2.1 Vận tải biển và dịch vụ hàng hải

Năm2015, tổng số tàu đăng ký và cấp phép tại khu vực Hải Phòng lên tới khoảng hơn 900 tàu chiếm hơn 54,5% so với tổng số tàu đăng ký trong toàn quốc

Trang 37

30

(1.650 tàu), tổng số tấn trọng tải chiếm 65% tổng số tấn trọng tải của đội tàu trong

cả nước Ngoài ra, trên địa bàn Hải Phòng, không chỉ số lượng tàu đăng ký đông

mà lượng chủ tàu, doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực hàng hải cũng như khai thác hệ thống bến, cầu cảng cũng cao, khoảng 60 chủ tàu, hơn 100 doanh nghiệp Trong tương lai, cảng Lạch Huyện được khai thác và đi vào hoạt động,Hải Phòng trở thành đầu mối vận tải lớn nhất trong các tỉnh phía Bắc về lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng container, xăng dầu và các loại hàng rời đến và đi trong khu vực Đông Nam

Á và châu Á

2.1.2.2 Hoạt động kinh doanh khai thác cảng biển

Khu vực cảng biển Hải Phòng có 41 doanh nghiệp kinh doanh khai thác cảng với 44 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng trên 10.700 m, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 60.000 DWT giảm tải; 07 bến phao chuyển tải (Bạch Đằng

03 bến, tiếp nhận tàu 7.000 DWT; Bến Gót 02 bến, tiếp nhận tàu 30.000 DWT và 50.000 DWT; Ninh Tiếp 02 bến, tiếp nhận tàu 15.000 DWT); 04 khu neo đậu chuyển tải là Bạch Đằng, Bến Gót, Hạ Long và Lan Hạ Trong những năm qua,do gia tăng số lượng tàu trọng tải lớn và số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tại khu vực cảng biển Hải Phòng, các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp đầu tư, nâng cấphệ thống bến, cầu cảng và luồng hàng hải góp phần nâng cao sốlượng hàng hóa thông qua cảng cũng như số lượng tàu có trọng tải lớn

ra, vào cảng ngày càng tăng Tuy nhiên, việc đầu tư nâng cấp hệ thống bến, cầu cảng và luồng hàng hải chưa tương xứng với lợi thế địa lý và tiềm năng phát triển của thành phố cảng biển.Do đó khả năng tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn bị hạn chế, không vào được cầu cảng,đồng thời, hàng hóa đôi khi vẫn còn tình trạng vận chuyển bằng sà lan Điều này khiến sự tăng trưởng theo đó cũng bị ảnh hưởng

Trong năm năm gần đây, trong vùng nước cảng biển Hải Phòng đã có nhiều dự án được đầu tư , xây dựng hoàn thiện Cụ thể như: Bến cảng Nam Hải - Đình Vũ; Bếncảng Đình Vũ; Cảng 189 mở rộng; vũng quay tàu cảng GreenPort, nhà máy đóng tàu Damen - Sông Cấm Ngoài ra, Dự án Đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (Cảng Lạch Huyện) đang được thực hiện khẩn trương nhằm đáp

Trang 38

31

ứng yêu cầu tiếp nhận tàu container, tàu tổng hợp có trọng tải đến 100.000 DWT

Dự kiến, Dự án Cảng Lạch Huyện sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2017, với công suất 12,8 - 13,1 triệu tấn hàng hóa mỗi năm Trong giai đoạn đầu, Cảng sẽ đón được tàu container chuyên chở 4.000 - 6.000 TEUS và lên đến 8.000 TEUS trong các giai đoạn sau của Dự án, tương đương tàu trọng tải 100.000 tấn hoạt động trên tuyến vận tải biển xa Cảng Lạch Huyện còn có thể đưa hàng hóa xuất, nhập khẩu của khu vực miền Bắc đi thẳng tới thị trường châu Âu và châu Mỹ

2.1.2.3 Đóng và sửa chữa tàu biển

Trong những năm qua, các doanh nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển trên địa bàn Hải Phòng tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp lại sản xuất, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt kế hoạch đề ra, đồng thời tích cực tìm kiếm, ký kết hợp đồng sửa chữa, đóng mới tàu biển cho các đối tác trong và ngoài nước Một số doanh nghiệp đã chủ động chuyển hướng sang lĩnh vực sửa chữa tàu và gia công kết cấu thép cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tại cảng biển Hải Phòng

2.1.3.1 Các đặc điểm địa hình

Hiện tại, hệ thống luồng hàng hải ra, vào cảng tại khu vực cảng biển Hải Phòng chưa nhận được sự quan tâm cải tạo đồng bộ Cụ thể, luồng hàng hải Nam Triệu bị sa bồi nên tàu thuyền ra, vào cảng tập trung luồng kênh Hà Nam, Lạch Huyện Trong khi, đây là đoạn luồng thiết kế một chiều kết hợp mật độ tàu thuyền

ra vào cảng vào giờ nước lên trong ngày đôngdẫn tới công tác sắp xếp, điều tiết tàu thuyền vào, ra cảng gặp rất nhiều trở ngại và luôn tiềm ẩn nguy cơ thiếu an toàn Đặc biệt, khu vực giao nhau giữa kênh Hà Nam - kênh Cái Tráp và Bạch Đằng là khu vực có dòng chảy mạnh, bất ổn, mật độ giao thông đông, đan xen giữa phương tiện thủy nội địa ra, vào kênh Cái Tráp và kênh Hà Nam làm gia tăng nguy cơ thiếu

an toàn cho tàu thuyền khi ra, vào qua khu vực này

Do bị tác động bởi sa bồi, độ sâu của toàn tuyến luồng cảng Hải Phòng

Trang 39

32

không đồng đều, còn hạn chế, một số dải cạn cục bộ xuất hiện trên một số tuyến luồng ảnh hưởng tới việc điều động tàu thuyền ra, vào hàng ngày Trong thời gian qua, tốc độ sa bồi nhanh của luồng Hải Phòng, đặc biệt vào mùa mưa lũ đã gây trở ngại cho kế hoạch khai thác tàu của các chủ tàu, chủ hàng và đại lý hàng hải

Bảng 2.3: Đặc điểm địa hình các luồng Hải Phòng

(Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng)

Tên luồng Chiều dài (km) Chiều rộng (m) Độ sâu (m)

Tổng chiều dài tuyến luồng 42,9

Hình 2.5: Đặc điểm dịa hình luồng Hải Phòng

Các tàu có trọng tải lớn chở đầy hàng không thể cập cảng sâu vào cảng Hải Phòng do cảng Hải Phòng thực tế nằm sâu trong nội địa và luồng lạch hạn chế về

Trang 40

33

độ sâu (sâu chừng 5,5 m), nên hàng hóa hầu hết chuyển tải ở vùng nước Quảng Ninh trước khi tàu vào Cảng Hải Phòng là một tồn tại khách quan có từ lâu Khu vực neo đậu cho các tàu chờ vào các cầu cảng làm hàng còn hạn chế cả về vị trí neo đậu và kích cỡ tàu, do đó đã gây khó khăn cho việc bố trí, sắp xếp cho các tàu làm xong hàng ra neo chờ làm thủ tục chạy hoặc các tàu nhỏ khi đến phao "0" đề nghị được vào vùng neo do hết lương thực, thực phẩm, nhiên liệu

2.1.3.2 Tuyến luồng Hải Phòng

Luồng Hải Phòng có tổng chiều dài khoảng 85 km, bao gồm các đoạn luồng Lạch Huyện, Hà Nam, Bạch Đằng, Sông Cấm, Vật Cách, Phà Rừng và Nam Triệu Hiện tại, độ sâu đoạn luồng Lạch Huyện đạt - 6,8 m, kênh Hà Nam - 6,4 m, Bạch Đằng - 6,4 m, sông Cấm từ - 5,1 m đến - 6,4 m, Vật Cách - 3,3 m, Phà Rừng từ - 3,3 m đến - 3,8 m, Nam Triệu - 1,0 m đến - 2,5 m Hệ thống luồng hàng hải được lắp đặt phao tiêu báo hiệu hàng hải và các trang thiết bị theo tiêu chuẩn Việt Nam

và quốc tế nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu tàu thuyền ra, vào khu vực cảng biển Hải Phòng an toàn 24/24

Đặc điểm hệ thống luồng Hải Phòng có chiều dài khá lớn kết hợp với tốc độ

sa bồi cao nên độ sâu khai thác luồng không đồng đều, những dải cạn cục bộ thường xuất hiện trên luồng, đặc biệt vào mùa mưa lũ, đã gây cản trở cho công tác lập kế hoạch điều động tàu ra, vào cảng và làm tăng chi phí khi các tàu đến phải chuyển tải trước khi vào cảng làm hàng, phần nào cũng làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng chung của khu vực

Luồng hàng hải Hải Phòng đã nhận được sự quan tâm của Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, đầu tư duy tu nạo vét, hạ độ sâu đến chuẩn tắc thiết kế, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tàu thuyền có trọng tải lớn ra, vào cảng biển nên sản lượng hàng hóa tăng cao

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w