Trước xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp trong ngành xây dựng, để có thể cạnh tranh với các đối thủ khác và ngày càng phát triển, chiếm được chỗ đứng trong lòng kh
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ngày tháng năm 2015
Tác giả
Đoàn Thu Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Viện đào tạo sau đại học, trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, em nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo trong trường Em xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn Giáo sư - Tiến sĩ Vương Toàn Thuyên, cảm ơn các thầy cô giáo trong viện đào tạo sau đại học và các anh chị trong Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng đã giúp đỡ
em hoàn thành luận văn này
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Ngày tháng năm 2015
Tác giả
Đoàn Thu Phương
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 3
1.1 Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường 3
1.1.1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp 3
1.1.2 Hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường 5
1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.2.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh 6
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 9
1.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 10
1.3.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng: 10
1.3.2 Nhóm chỉ tiêu định tính 14
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 16
1.4.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 16
1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp 19
CHƯƠNG 2.ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THỦY LỢI HẢI PHÕNG 22
2.1 Đặc điểm hoạt dộng của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng 22
2.1.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của công ty 22
2.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty 24
2.1.3 Lực lượng lao động 24
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty 25
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 2010-2014 28
2.1.6 Một số thuận lợi và khó khăn của Công ty 28
2.2 Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng 31
2.2.1 Thị phần 31
2.2.2 Đánh giá số lượng và chất lượng lao động của Công ty 34
Trang 42.2.3 Đánh giá tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của Công ty từ năm 2010-2014
39
2.2.4 Đánh giá thu nhập bình quân và năng suất lao động bình quân /người của Công ty từ năm 2010-2014 41
2.2.5 Đánh giá về số lượng và giá trị các hợp đồng đã kí kết 44
2.2.6 Đánh giá cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Công ty 46
2.2.7 Khách hàng 49
2.2.8 Nhà cung cấp 50
2.2.9 Đối thủ cạnh tranh 51
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng qua những thành công và hạn chế 52
2.3.1 Những thành công mà Công ty đạt được 52
2.3.2 Những hạn chế 55
CHƯƠNG 3.BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THỦY LỢI HẢI PHÕNG 58
3.1 Những phương hướng và mục tiêu phát triển của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng 58
3.1.1 Phương hướng phát triển của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng
58
3.1.2 Mục tiêu phát triển của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng 60
3.2 Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng 61
3.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu 61
3.2.2 Đẩy mạnh việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành xây lắp công trình
62
3.2.3 Tăng cường nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao chất lượng công tác thi công 65
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác quản lý, điều hành 66
3.2.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên Công ty 67
3.2.6 Tích cực đầu tư nâng cao năng lực máy móc thiết bị 69
3.2.7 Nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng 69
3.2.8 Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 1 76
PHỤ LỤC 2 79
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng và cơ cấu lao động của Công ty từ 2010-2014 24 Bảng 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty từ 2010-2014 28
Bảng 2.4 Chi tiết trình độ và số lượng lao động của Công ty
Bảng 2.5 Năng lực cán bộ chuyên môn theo thâm niên (tính đến
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của Công ty từ năm 2010-2014 39 Bảng 2.8 Thu nhập bình quân và năng suất lao động của Công ty từ năm 2010-2014 41 Bảng 2.9 Số lượng và giá trị các hợp đồng của Công ty từ năm
Bảng 2.10 Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty từ năm 2010-2014 46
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.2 Trình độ và số lượng lao động của Công ty từ 2010-2014 35 Biểu đồ 2.3 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của Công ty từ 2010-2014 39
Biểu đồ 2.5 Năng suất lao động bình quân của Công ty từ 2010-2014 44
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khủng hoảng kinh tế thế giới cùng với nợ công ở Châu Âu đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp trong ngành xây dựng nói riêng cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi những biến cố này Khi nhà nước cắt giảm đầu tư công, hàng loạt công trình phải dừng lại do thiếu vốn, rất nhiều các doanh nghiệp trong ngành xây dựng lao đao và dẫn tới phá sản Những năm gần đây, khi kinh tế có sự khởi sắc, sự hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành xây dựng cũng dần đi vào quỹ đạo, các doanh nghiệp đã từng bước tìm ra chỗ đứng và đường đi riêng cho mình Để có thể đứng vững, ổn định và phát triển, các doanh nghiệp cần phải tạo ra lợi thế riêng cho mình, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ khác cùng ngành Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh là một đề tài nóng bỏng gần đây, được các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng quan tâm và đầu tư
Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng là một đơn vị thi công xây lắp, trải qua những thăng trầm của nền kinh tế công ty đang ngày càng ổn định
và phát triển, khẳng định vai trò và vị thế của mình trong lĩnh vực xây dựng Trước xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp trong ngành xây dựng, để có thể cạnh tranh với các đối thủ khác và ngày càng phát triển, chiếm được chỗ đứng trong lòng khách hàng, công ty cần phải có những chiến lược cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình hơn nữa Vì tầm quan trọng và cấp thiết của đề tài, qua một thời gian làm việc và nghiên cứu tại công
ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng em xin được lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng” là đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Khái quát một số vấn đề, một số lĩnh vực về năng lực cạnh tranh của công
ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng và cơ chế tác động của từ nhân tố
Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty, rút ra những điểm
Trang 9Phân tích các yếu tố ngoại quan tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty
Đề ra đường lối và biện pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế và phát huy những điểm mạnh của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng
*Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng
Phạm vi thời gian: Thời gian phân tích đánh giá từ năm 2010 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu:
Phương pháp pháp phân tích: sử dụng những tài liệu, số liệu thu thập được để từ đó phân tích rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, những thành công
và hạn chế của công ty
Phương pháp tổng hợp : Từ những kết quả nghiên cứu của quá trình phân tích, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cho cái chung, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp cho những mặt còn hạn chế của đối tượng được nghiên cứu
Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này để so sánh sự phát triển
và ổn định qua các năm để có cái nhìn tổng thể hơn
5 Nội dung nghiên cứu:
Luận văn gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng
Trang 10CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường 1.1.1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp
*Khái niệm: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có
trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [5, tr.75]
Cũng theo luật doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp
có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận [5, tr.75]
*Phân loại doanh nghiệp:
Căn cứ vào luật doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp bao gồm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.: Là doanh nghiệp
mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty [5, tr.75]
Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp [5, tr.75]
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ
sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn [5, tr75]
Trang 11Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một các nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân [5, tr.75]
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài năm 1996 chưa đăng kí hay chuyển đổi theo quy định [5, tr.75]
Căn cứ vào chế độ trách nhiệm
Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: là loại hình doanh nghiệp mà ở
đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa
vụ tài chính của nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh [5, tr.75]
Thực chất, chế độ trách nhiệm vô hạn của loại doanh nghiệp này là chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và của thành viên hợp danh công ty hợp danh Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh
sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp mà không giới hạn ở phần tài sản chủ doanh nghiệp, các thành viên hợp danh đã bỏ vào đầu
tư kinh doanh tại doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp dnah Điều này có nghĩa là nếu tài sản của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không đủ để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp khi các doanh nghiệp này phải áp dụng thủ tục thanh lý trong thủ tục phá sản, chủ sở hữu doanh nghiệp và các thành viên hợp dnah phải sử dụng cả tài sản riêng khoogn đầu tư vào doanh nghiệp để thanh toán cho các khoản nợ của doanh nghiệp [5, tr.75]
Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo nghị định 101/2006/NĐ-CP Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ
sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải
Trang 12trả nợ thay cho doanh nghiệp Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại doanh nghiệp trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư, thành viên, chủ sở hữu công ty
1.1.2 Hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị trường cùng các mối quan hệ cơ bản vận động dưới sự điều tiết của các quy luật thị trường [1]
Cơ chế thị trường là quá trình tương tác lẫn nhau gữa các chủ thể kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất [1, tr.75]
Cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó các quan hệ kinh tế tác động lên mọi hoạt động của nhà sản xuất và người tiêu dùng trong quá trình trao đổi [1, tr.75]
Trong nền kinh tế thị trường, toàn bộ quá trình vận hành từ sản xuất đến lưu thông phân phối đều được tiến hành trên thị trường Đây là một quá trình mà người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế xã hội, trong đó mối quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, các doanh nghiệp đều thể hiện qua mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường
Một doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn khác với một đơn vị kinh tế hoạt động trong cơ chế tập trung bao cấp, nó không phải là một đơn vị kinh tế chấp hành theo mệnh lệnh của cấp trên mà là một chủ thể kinh doanh đối mặt với thị trường Doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về đường lối hoạt động, chiến lược kinh doanh và cách thức hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật và quy định của nhà nước, tự chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm Bất cứ một doanh nghiệp nào, khi tham gia hoạt động trong cơ chế thị trường đều phải tuân theo quy luật của cơ chế thị trường đó
Trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay – cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp được tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh trong khuôn khổ luật pháp của nhà nước
Trang 13Mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp khi tham gia cơ chế thị trường là lợi nhuận Có thể nói, đây là động lực cơ bản nhất của tất cả các doanh nghiệp Ở nền kinh tế tập trung bao cấp, nhà nước chi phối mọi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, còn trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn vận động, không ngừng vươn lên giành lợi ích cao nhất cho mình, nếu không sẽ bị đánh gục trên thương trường Trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc lấy thu bù chi đảm bảo thu luôn lớn hơn chi
để có được lợi nhuận, và nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp luôn tìm cách tối đa hóa lợi nhuận của mình trong khuôn khổ luật pháp và quy luật của cơ chế thị trường Sư tuân theo quy luật của cơ chế thị trường là điều không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp, nếu không sẽ bị đào thải
1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh
*Khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn
quan hệ giữa các cá thể có chung môi trường sống mà các cá thể cùng quan tâm đến một điều kiện nào đó [2, tr.75]
Theo kinh tế học định nghĩa: cạnh tranh là sự giành giật giât thị trường để tiêu thụ hàng hóa giữa các doanh nghiệp [6, tr.75]
Theo nhà kinh tế học Michal Porter của Mỹ: Cạnh tranh kinh tế là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngày theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, …) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch
vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc
có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán
Trang 14hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua với giá thấp Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành [6, tr.75]
Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [6, tr.75]
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng phát triển từ đó tạo ra sự phát triển chung của ngành và của toàn xã hội
Như vậy, có thể nói cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là nội dung cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Có thể hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trường và khách hàng bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh tế để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và lợi ích tối đa cho nhà sản xuất
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: Cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (Khuyến mại, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế [2, tr.75]
Vì vậy, ngày nay hầu hết các quốc gia, các nền kinh tế đều thừa nhận và coi cạnh tranh không chỉ là môi trường mà nó còn là động lực của sự phát triển kinh tế
- xã hội
*Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần và sự
Trang 15phát triển kinh tế Sự cạnh tranh buộc những nhà kinh doanh, những doanh nghiệp phải nhạy bén hơn trong việc nắm bắt xu hướng thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, thường xuyên cập nhập những công nghệ sản xuất tiên tiến, hoàn thiện cách thức tổ chức và quản lý nhằm mục đích nâng cao vị thế của mình trên thương trường [2]
Bên cạnh việc thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, cạnh tranh còn mang lại nhiều lợi ích to lớn cho người tiêu dùng và nền kinh tế
Đối với người tiêu dùng mà nói, khi giữa các doanh nghiệp, nhà sản xuất có
sự cạnh tranh, họ sẽ tìm mọi cách để làm ra các sản phẩm tốt hơn về chất lượng và hình thức, chi phí sản xuất thấp hơn, giá thành rẻ hơn, tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cáo hơn … để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn Người tiêu dùng không những không phải chịu sức ép về giá cả mà còn được hưởng những lợi ích thành quả do cạnh tranh mang lại Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao thì làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ [2, tr.75]
Đối với nền kinh tế, canh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã hội Doanh nghiệp là một tế bào của nề kinh tế Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó phát triển mà có khả năng cạnh tranh cao Tuy nhiên, cạnh tranh ở đây phải là cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền tế không ổn định Để đảm bảo có một nền kinh tế ổn định, công bằng và phát triển, chính phủ cần ban hành quy định chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển
Trang 16của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế Cạnh tranh làm nền kinh
tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế… gây nên sự bất
ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng
Như vậy cạnh tranh tạo ra sử đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy, cạnh tranh là một tất yếu mà bất kỳ doanh nghiệp, cá nhân nào khi tham gia thị trường cũng đều phải chấp nhận nó như một quy luật sinh tồn vì nó đóng góp vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội [2, tr.75]
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranh được coi là một nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc gia cũng như các doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, được bằng lợi nhuận, thị phần mà doanh nghiệp có được Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh [2, tr.75]
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra [2, tr.75]
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực cũng như lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoải mãn tốt nhất các nhu
Trang 17cầu của khách hàng để thu được lợi nhuận ngày càng cao [2, tr.75]
1.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1 Nhóm chỉ tiêu định lƣợng:
*Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường:
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được Thị phần phản ánh vị thế của doanh nghiệp trong ngành Thị phần càng lớn
sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp chi phối và hạ thấp chi phí sản xuất do lợi thế về quy mô Thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ là tỷ lệ phần trăm thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được trong thời kỳ đó Thị phần bao gồm thị phần tuyệt đối và thị phần tương đối [1, tr.75]
Thị phần tuyệt đối: là tỷ trọng phần doanh thu của doanh nghiệp so với toàn
bộ sản phẩm cùng loại được tiêu thụ trên thị trường [1, tr.75]
Công thức tính thị phần tuyệt đối
Trong đó:
+ D là doanh thu của doanh nghiệp
+ TD là tổng doanh thu trên thị trường
Riêng đối với ngành xây dựng có thể tính thị phần tuyệt đối theo công thức sau: Thị phần tuyệt đối = * 100%
Trong đó:
+S là giá trị sản lượng xây lắp do doanh nghiệp hoàn thành
+TS là tổng giá trị sản lượng xây lắp hoành thành trên thị trường
Thị phần tương đối: được xác định trên cơ sở phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp so với phần thị trường của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành Nó cho biết vị thế của công ty trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào
Công thức tính thị phần tương đối [1, tr.75]
Thị phần tương đối =
Trong đó
Trang 18D là doanh thu của doanh nghiệp
DT là doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Chỉ tiêu này đơn giản dễ tính, tuy nhiên kết quả tính toán chỉ mang tính tương đối chứ chưa thật sự chính xác do khó lựa chọn được đối thủ cạnh tranh mạnh nhất, đặc biệt khi doanh nghiệp không phải chỉ kinh doanh một lĩnh vực duy nhất mà kinh doanh trên nhiều lĩnh vực
*Chỉ tiêu doanh thu
Theo bài giảng môn quản trị tài chính của trường Đại học Hàng Hải:
Doanh thu là chỉ tiêu phản ánh vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Một doanh nghiệp có số thu hàng kỳ lớn và ngày càng tăng chứng tỏ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được nhiều khách hàng chấp nhận, quan hệ của doanh nghiệp sẽ tồn tại trên phạm vi rộng lớn Khi điều kiện cạnh tranh trên thị trường trở lên khắc nghiệt thì chỉ những doanh nghiệp có doanh thu lớn, có nhiều khách hàng mới có điều kiện tồn tại và phát triển được Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, ta có thể thấy rằng mọi yếu tố khác cho quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như nhân lực, tài nguyên, công nghệ đều có thể có được tương đối dễ dàng duy chỉ có thị trường cho sản phẩm thì luôn là điều khó khăn nhất Doanh nghiệp nhất định sẽ phá sản nếu sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường.[7, tr.75]
Có thể thấy, chỉ tiêu doanh thu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Bên cạnh việc là nguồn bù đắp các khoản chi phí, doanh thu còn phản ánh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp Khi so sánh năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành, thì chỉ tiêu doanh thu là một chỉ tiêu không thể thiếu
*Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tối đa hóa lợi nhuận chính là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Chỉ tiêu này thể hiện qua một số yếu tố sau: Giá trị tổng sản lượng sản xuất, lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận so với tổng sản lượng sản xuất Nếu các chỉ tiêu này càng
Trang 19cao phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao và do đó đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp [7, tr.75]
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ
ra để có thu nhập đó Theo phạm vi tính ta có:
Công thức tính lợi nhuận trước thuế
- LNKD = D – C
Trong đó
LNKD: Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh
D: Doanh thu của doanh nghiệp
C: Chi phí sản xuất kinh doanh
- LNtc = Dtc – Ctc
Trong đó
LNtc: Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động tài chính
Dtc: Doanh thu hoạt động tài chính
Ctc: Chi phí hoạt động tài chính
- LNbt = Dbt – Cbt
Trong đó
LNbt: Lợi nhuận bất thường
Dbt: Doanh thu bất thường
Ctc: Chi phí bất thường
- ∑LN = LNKD + LNtc + LNbt
Trong đó
∑LN: tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ phản ánh kết quả doanh của doanh nghiệp mà còn là chỉ tiêu chất lượng, phản ánh quy mô, trình độ tranh bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 20Từ đó có thể thấy, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn, là một tiêu chí để đo lường, đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
*Năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp của nhiều yếu tố như: con người, công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, quản lý, tổ chức thực hiện… Do đó, năng suất lao động là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động được đo bằng sản lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng trên một đơn vị số lượng lao động làm ra sản phẩm đó [2, tr.75]
Năng suất lao động cuả công nhân xây dựng phản ánh chất lượng của lực lượng lao động, đồng thời phản ánh kết quả của quá trình tổ chức quản lý, sản xuất, thi công của doanh nghiệp xây dựng [2, tr.75]
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của năng suất lao động nhưng chủ yếu là 3 nguyên nhân [2, tr.75]
-Cơ cấu lực lượng lao động của doanh nghiệp xây dựng
-Mức độ sử dụng lao động về mặt thời gian
-Mức năng suất lao động giờ công
Công thức tính năng suất lao động:
Năng suất lao động =
W: Năng suất lao động bình quân
SL: Tổng sản lượng của công ty
LĐ: Tổng lao động của công ty
Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao thì năng lực cạnh tranh của
Trang 21chỉ tiêu này cũng chỉ mang tính chất tương đối, vì lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng không phải sản phẩm nào cũng có thước đó và tiêu chí đánh giá chuẩn cho sản phẩm đó, nó phụ thuộc vào quan điểm cá nhân của nhà sản xuất và người tiêu dùng [2, tr.75]
*Thu nhập bình quân
Thu nhập là tất cả những khoản thu tính bằng tiền mà người lao động nhận được dưới hình thức trả công lao động gồm những khoản sau: Tiền lương cơ bản, các khoản có tính chất tiền lương, phụ cấp thường xuyên (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp thâm niên ), bảo hiểm xã hội trả thay lương, các khoản thu nhập khác như phúc lợi, ngày lễ, ngày tết, trợ cấp, khen thưởng…[4, tr.75]
Thu nhập bình quân của 1 doanh nghiệp thể hiện mức sống và điều kiện làm việc của người lao động, từ thu nhập bình quân của người lao động sẽ phản ánh phần nào sự phát triển và tăng trưởng của doanh nghiệp [4, tr.75]
Công thức tính thu nhập bình quân
t = [4, tr.75]
Trong đó :
t : Thu nhập bình quân của người lao động
T : Tổng thu nhập của cán bộ nhân viên công ty
LĐ : Số lượng lao động trong công ty
Thu nhập bình quân của người lao động trong doanh nghiệp cao và tăng trưởng đều theo năm thể hiện sự tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp từ đó có thể đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2 Nhóm chỉ tiêu định tính
*Chất lượng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh
Chất lượng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh là một chỉ tiêu rất quan trọng Thực tế thì các nỗ lực của doanh nghiệp cũng nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa dịch vụ để đáp ứng được thị hiếu của khách hàng để hướng tới mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Bên cạnh việc gia tăng thị trường thì
Trang 22các doanh nghiệp luôn mong muốn nâng cao chất lượng hàng hóa dịch vụ của mình Chất lượng hàng hóa dịch vụ chính là bộ mặt của doanh nghiệp Nếu chất lượng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp càng cao thì càng chiếm được sự yêu thích của khách hàng, từ đó đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
so với các đối thủ cùng ngành [2, tr.75]
*Uy tín – thương hiệu
Đây là chỉ tiêu có tính chất rất trừu tượng, nó bao gồm nhiều yếu tố: chất lượng sản phẩm dịch vụ, thâm niên hoạt động của doanh nghiệp, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính và các cơ quan có thẩm quyền, độ ảnh hưởng của doanh nghiệp với chính quyền địa phương… Đó là tài sản vô hình mà doanh nghiệp luôn có ý thức giữ gìn, nếu đánh mất, doanh nghiệp sẽ phải gây dựng lại và gần như mất khả năng cạnh tranh trên thị trường Thật như vậy, ngày nay, nhiều khi người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm dịch vụ vì thương hiệu và tên tuổi của doanh nghiệp đó Nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu, để từ đó quan tâm xây dựng và phát triển thương hiệu sẽ đẩy mạnh hiệu quả của công tác
mở rộng thị trường Sở dĩ như vậy vì doanh nghiệp có một thương hiệu mạnh thì sẽ nhiều người biết đến doanh nghiệp và các sản phẩm của doanh nghiệp đó và dễ dàng nảy sinh hành mua hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp đó Chính vì vậy, mà các doanh nghiệp hiện nay luôn chú trọng việc xây dựng hình ảnh của mình trên thị trường và trong tương lai, chắc hẳn cạnh tranh về thương hiệu là cạnh tranh mạnh nhất, gay gắt nhất [1, tr 75]
*Kinh nghiệm của doanh nghiệp
Một công ty có bề dày kinh nghiệp trên thương trường thì cũng được đánh giá cao về năng lực cạnh tranh Tâm lý của người tiêu dùng, trước khi lựa chọn sản phẩm dịch vụ luôn có xu hướng tìm hiểu về doanh nghiệp, thâm niên hoạt động là yếu tố được nhiều người tiêu dùng quan tâm và đánh giá cao Hơn nữa, kinh nghiệm lâu năm sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, có thể nắm bắt và
xử lý những tình huống phức tạp với chi phí và thời gian thấp nhất Đây chính là điểm mạnh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành [1]
Trang 23*Số lượng các hợp đồng được thực hiện
Số lượng các hợp đồng được thực hiện thể hiện các nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tạo dựng hình ảnh trong mắt khách hàng, khi đó doanh nghiệp chiếm được tình cảm và sự tin tưởng của khách hàng Đây là bước khởi đầu rất quan trọng cho doanh nghiệp Để có thể tạo ra công ăn việc làm hay tạo ra lợi nhuận, các doanh nghiệp phải kí được hợp đồng với khách hàng Số lượng các hợp đồng được thực hiện càng nhiều chứng tỏ uy tín và năng lực của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao trong mắt khách hàng Doanh nghiệp từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh trong mắt các đối thủ khác [1]
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
*Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là người cung cấp các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vốn, nhân lực… Việc tìm cho mình một nhà cung cấp truyền thống, uy tín luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Bởi vì nếu không có các yếu tố đầu vào thì doanh nghiệp không thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Khi một nhà cung cấp không giao hàng đúng hẹn, đúng chủng loại, đúng số lượng, và chất lượng thì doanh nghiệp cũng sẽ sai hẹn với khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hoặc nếu nhà cung cấp tăng giá sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, doanh nghiệp muốn có lãi thì buộc phải tăng giá bán, khách hàng sẽ vì thế mà có thể không lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, điều
đó ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [2]
*Khách hàng
Nếu như nhà cung cấp là nhân tố đầu vào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp thì khách hàng là nhân tố đầu ra quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng Nếu các doanh nghiệp nào
Trang 24đáp ứng được tốt nhu cầu của khách hàng, nhận được nhiều hơn sự ủng hộ và tin tưởng của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh thì điều đó đã chứng tỏ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó cao hơn đối thủ cùng ngành Tuy nhiên, trên thực
tế, người mua luôn mong muốn trả giá thấp vì vậy sẽ ép giá, gây áp lực đối với doanh nghiệp, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và doanh nghiệp không thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu của khách hàng Vì thế, để đảm bảo lợi nhuận và vị trí của mình, doanh nghiệp phải phân khúc thị trường, phân loại các nhóm khách hàng
để đưa ra các hình thức phục vụ tốt hơn cho từng nhóm [2]
*Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành chính là các đối tượng tham gia cạnh tranh Các đối thủ này, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh, giành giật lợi thế trong ngành để giữ vững vị trí và phát triển thị phần, đảm bảo thu được lợi nhuận cao nhất Mỗi doanh nghiệp khi tham gia hoạt động vào một ngành, một lĩnh vực, bên cạnh việc tìm hiểu thị trường, sản phẩm, khách hàng thì phân tích thăm dò đối thủ cạnh tranh là một việc làm không thể thiếu Năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp có cao hay thấp là khi so sánh nó với đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành Do vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu những thông tin về đối thủ như mục tiêu trong tương lai, các nhận định, các tiềm năng, chiến lược hiện tại, những điểm mạnh, điểm yếu, khả năng thích nghi với môi trường…Trên cơ sở hoàn thiện những mặt còn yếu kém, phát huy những thế mạnh của doanh nghiệp để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh hơn đối thủ [2]
*Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Khi một ngành có sức cạnh tranh cao, chứng tỏ ngành đó đang thu hút được các doanh nghiệp đầu tư, hoạt động Khi một ngành có sự gia tăng thêm đối thủ cạnh tranh mới thì tỷ suất lợi nhuận giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường, bên cạnh những khó khăn bất lợi thì họ
có lợi thế trong việc ứng dụng các thành tựu sẵn có, rút kinh nghiệm từ những doanh nghiệp đi trước Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng gặp đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhưng khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế của doanh nghiệp trong ngành
Trang 25sẽ có sự sáo trộn Vì vậy doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một hàng rào vững chắc, ngăn cản sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh Những hàng rào này được tạo nên từ lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, có nguồn tài chính ổn định vững mạnh…[2]
*Các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Môi trường chính trị: Đây là yếu tố có tác động lớn tới mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực kinh doanh Nếu quốc gia nào có môi trường chính trị ổn định, ít biến động, một thể chế minh bạch rõ ràng thi thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài
và tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp trong nước yên tâm kinh doanh Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì họ có thể xác định làm ăn lâu dài, mở rộng đầu tư hơn nữa tại quốc gia đó, còn các doanh nghiệp trong nước có điều kiện để phát huy, nâng cao sức cạnh tranh của mình trong lĩnh vực mà mình hoạt động [2]
Môi trường pháp lý: Yếu tố này được mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp Nếu một môi trường pháp luật cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tiêu cực gây khó khăn cho doanh nghiệp là rào cản vô cùng lớn cho doanh nghiệp trong
và ngoài nước trước khi quyết định đầu tư, và làm hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường [2]
Môi trường kinh tế: Đây là yếu tố rất quan trọng bao trùm và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Bao gồm các nhân tố: tỷ lệ tăng trưởng quốc gia, các chính sách tài khóa, các chính sách tiền tệ,
tỷ lệ lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế, tỷ lệ thất nghiệp, kim ngạch xuất khẩu…Mỗi nhân tố đó đều có hể là cơ hội hay nguy cơ của doanh nghiệp Do đó, việc phân tích, xác định các yếu tố này giúp các nhà quản lý, nhà lãnh đạo doanh nghiệp tiến hành dự báo và đưa ra những kết luận về xu thế biến đổi của môi trường kinh tế vĩ mô, từ đó có những điều chỉnh thích hợp và kịp thời cho các chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình [2]
Môi trường xã hội: Đây là nhân tố chính trong việc hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm: Tỷ lệ gia tăng dân số,
Trang 26cơ cấu dân cư về độ tuổi, giới tính, những chuẩn mực đạo đức, các phong tục tập quán, các giá trị văn hóa của quốc gia, địa phương mà doanh nghiệp đó đặt tại [2]
Môi trường khí hậu tự nhiên: Các yếu tố này bao gồm: khí hậu, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên của quốc gia và địa phương…[2]
*Bối cảnh quốc tế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp muốn vươn lên thì buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Bên cạnh việc nắm bắt tình hình trong nước, các doanh nghiệp cần nắm bắt tình hình chung của khu vực cũng như thế giới Bên cạnh những cơ hội, doanh nghiệp còn đối mặt với những nguy cơ khi không đủ sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế [2]
1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
*Các chính sách và chiến lược của doanh nghiệp
Chính sách và chiến lược của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, mang tính chất quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó vạch
ra mục đích, phương hướng, cách thức tổ chức thực hiện cho doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định, giúp doanh nghiệp hạn chế tối đa rủi ro và thu được kết quả mong muốn Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao khi doanh nghiệp
đó có những chính sách và chiến lược đúng đắn, phù hợp với thời cuộc và sự thay đổi của xã hội, của nền kinh tế Chính sách và chiến lược có nhiều loại như: chính sách nhân sự, chính sách lương thưởng, chính sách sản phẩm, chính sách chăm sóc khách hàng, chính sách thị trường…[3]
*Nguồn nhân lực bên trong doanh nghiệp
Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp Quy luật cạnh tranh là quy lật vô cùng khắc nghiệt, nó sẽ đào thải những cái yếu kém và không đủ năng lực Do vậy, nếu một doanh nghiệp có đội ngũ lao động chất lượng cao chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Bên cạnh việc rèn luyện về nghiệp vụ, đạo đức, tay nghề thì việc tìm hiểu các chính sách, đường lối, chủ trương và mục tiêu
Trang 27của doanh nghiệp cũng cần phải phổ biến rộng rãi cho người lao động Ngoài ra, việc tìm hiểu pháp luật, các chính sách của nhà nước cũng trang bị cho người lao động những hiểu biết cần thiết để tránh những hành vi sai lầm, xâm hại tới lợi ích của tập thể, quốc gia, làm giảm uy tính của doanh nghiệp [9]
*Trình độ tổ chức và quản trị doanh nghiệp
Thứ nhất: Về cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng, các
bộ phận phối hợp với nhau một cách ăn ý thì mọi hoạt động sẽ diễn ra trôi chảy và năng suất Ngược lại, một bộ máy chồng chéo, quyền lực không được phân chia rõ ràng thì hiệu quả hoạt động sẽ kém Trong đó thì cơ cấu ban lãnh đạo có phẩm chất
và tài năng có vai tròng quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của doanh nghiệp Một nhà lãnh đạo tài giỏi, sáng suốt với những quyết định thông minh là then chốt cho sự phát triển của doanh nghiệp [8]
Thứ hai là công tác đào tạo nhân viên: Để có nguồn nhân lực chất lượng, bên cạnh việc tuyển chọn đầu vào thì khâu đào tạo bồi dưỡng không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp Công tác đào tạo nhân viên tốt sẽ định hướng đúng đắn cho người lao động của doanh nghiệp về mục tiêu, chính sách, chủ trương của doanh nghiệp từ đó gắn bó hơn với doanh nghiệp và chung tay thực hiện mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [9]
Thứ ba là việc áp dụng các phương pháp quản trị sao cho hợp lý với cơ cấu và tính chất doanh nghiệp Nếu các phương pháp quản trị được áp dụng linh hoạt, phù hợp thì sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao, giảm được nhiều chi phí, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếu chỉ sử dụng một lối mòn quản trị sẽ dấn đến sự trì trệ, bảo thủ, không phù hợp với những thay đổi của cơ chế thị trường và đặc biệt sẽ bị đối thủ “bắt thóp” tìm kẽ hở để chiếm mất thị phần [8]
*Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của doanh nghiệp bao gồm quy mô vốn, khả năng thanh toán nợ, khả năng thu hồi hợ, khả năng thực hiện các biện pháp huy động vốn, khả năng tự tài trợ, nhu cầu vốn lưu động, dòng tiền của doanh nghiệp… Năng lực tài
Trang 28chính đo lường sức khỏe của một doanh nghiệp Bất cứ một doanh nghiệp nào nếu
có năng lực tài chính ổn định, vững mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh cao Thật sự như vậy, để có một năng lực tài chính vững mạnh thì doanh nghiệp đó phải có hoạt động sản xuất kinh doanh tốt Các nguồn lực được sử dụng triệt để với chi phí thấp nhất và đem lại hiệu quả cao nhất [8]
Trang 29*Giai đoạn từ 1968 đến năm 1998:
Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng, tiền thân là xí nghiệp xây dựng thủy lợi Hải Phòng, được thành lập vào năm 1968, giai đoạn này xí nghiệp hoạt động theo cơ chế bao cấp, tiền vốn và công việc thực hiện theo chỉ tiêu được thành phố và ngành giao Xí nghiệp xây dựng thủy lợi Hải Phòng chuyên thực hiện thi công các công trình đê, kè, cầu, cống và các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân trên địa bàn tỉnh Hải Phòng và các tỉnh lân cận Lực lượng lao động chủ yếu là lao động thủ công
*Giai đoạn từ năm 1998 đến 2005:
Công ty hoạt động theo mô hình công ty Nhà nước, trong giai đoạn này công
ty đã có những chuyển biến rõ rệt trong việc tìm kiếm khai thác việc làm và mở rộng thị trường Ngoài các công trình do thành phố, ngành giao chỉ tiêu thực hiện thì công ty đã bắt đầu vươn ra đấu thầu và thắng thầu trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng Bắc bộ Đặc biệt, năm 2001 Công ty đã bắt đầu tiếp cận các tỉnh miền Tây Nam Bộ, từ đó mở ra hướng phát triển mới cho Công ty trong việc chủ động khai thác việc làm, duy trì sự ổn định phát triển trong sản xuất kinh doanh
*Giai đoạn 2005 đến nay:
Năm 2005, Công ty xây dựng thủy lợi Hải Phòng được cổ phần hóa thành Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng theo quyết định số 2526/QĐ-UB ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng Công ty
cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp 0200110296, đăng ký lần đầu ngày 06/12/2005, đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 09/06/2011, đăng ký thay đổi lần
Trang 30thứ 2 ngày 05/11/2012, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 31/12/2013 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng Công ty trở thành một doanh nghiệp phải tự chủ toàn
bộ về mặt tài chính, công ăn việc làm đồng thời chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Trong những năm đầu cổ phần hóa Công ty gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính, công ăn việc làm Tuy nhiên với truyền thống đoàn kết gắn bó khắc phục khó khăn Công ty đã từng bước ổn định tình hình sản xuất, mở rộng thị trường khẳng định thương hiệu của mình thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển
Trụ sở chính của Công ty đặt tại: Km 57 quốc lộ 10, thị trấn Trường Sơn, huyện
An Lão, Hải Phòng Vốn điều lệ của Công ty là 9.000.000.000 VND (chín tỷ đồng)
Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng là đơn vị xây dựng Thủy lợi chuyên ngành xây dựng các công trình phòng chống thiên tai, xây dựng cơ sở hạ tầng nông lâm thủy sản, nạo vét công trình giao thông đã được bộ chủ quản và các ban ngành Trung ương và địa phương đánh giá cao Bên cạnh hoạt động xây dựng thủy lợi công ty còn có một số hoạt động kinh doanh khác như: chuẩn bị mặt bằng, bán buôn gạch xây, ngói, đá, cát, sỏi, bán buôn sơn, vecsni, bán buôn gạch ốp lát
và thiết bị vệ sinh, sản xuất xi măng, vôi và thạch cao, đóng tàu và cấu kiện nổi, xây dựng các công trình đường sắt và đường bộ, xây dựng công trình công nghiệp, xây lắp công trình đường điện và trạm biến áp đến 110 KV, xây dựng công trình cửa đường hầm, phá dỡ bán buôn sắt thép, gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại, sản xuất bê tông và các sản phầm từ xi măng và thạch cao, truyền tải và phân phối điện, nhà khác, nhà nghỉ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày, nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động, kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sở dụng hoặc đi thuê, hoàn thiện công trình xây dựng, nạo vét luồng sông cảng biển, trồng rau, đậu các loại và trồng hoa, cây cảnh, khai thác
đá, cát, sỏi, đất sét, xây dựng nhà các loại, lắp đặt hệ thống cấp thoát nước, lò sưởi
và điều hòa không khí, sản xuất gạch, ngói, giám sát công tác xây dựng và hoàn thiện công trình thủy lợi, giám sát công tác xây dựng và hoàn thiện công trình dân dụng và công nghiệp, thiết kế kết cấu các công trình thủy lợi, hoạt động đo đạc bản
đồ, hoạt động thăm dò địa chất, nguồn nước, tư vấn quản lý dự án các công trình
Trang 31xây dựng nhóm c, tư vấn lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu các công trình xây dựng, cho thuê máy móc thiết bị và xây dựng
Từ khi thành lập đến nay, trải qua quá trình trưởng thành và phát triển Công
ty đã tổ chức thi công hầu hết các công trình, hệ thống thủy lợi, đê kè phòng chống thiên tai tại địa phương, đã thắng thầu xây dựng một số công trình của dự án địa phương và trên cả nước Công trình do Công ty tổ chức thi công đã đáp ứng yêu cầu tiến độ, đảm bảo chất lượng, kỹ, mỹ thuật phục vụ kịp thời cho phát triển kinh
tế và phòng chống thiên tai, nhiều công trình đạt huy chương vàng chất lượng cao
toàn ngành và tiêu biểu toàn quốc
2.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty
Trụ sở chính của Công ty hiện nay được tọa lạc ngay trên mặt đường quốc lộ
10, trung tâm thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão Với diện tích hơn 22.224,5m2
, Công ty có khuôn viên rộng rãi khang trang, thoáng mát nhiều cây xanh Nơi làm việc của cán bộ công nhân viên là tòa nhà 7 tầng được đầu tư xây mới vào năm
2011 với đầy đủ tiện nghi và hệ thống thang máy, hệ thống báo cháy Phía sau tòa nhà là xưởng cơ khí, xưởng máy và nhà kho với đầy đủ các máy móc thiết bị cần thiết cho việc sản xuất thi công
Văn phòng làm việc của cán bộ công nhân viên Công ty được trang bị đầy
đủ các máy móc thiết bị văn phòng cần thiết cho công việc
Trang 32Đội ngũ lao động của Công ty là đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm Công ty có đội ngũ lãnh đạo chủ chốt nhiều kinh nghiệm trong quản lý Hầu hết tất cả các cán bộ công nhân công ty đều hoàn thành chương trình đào tạo đại học cả chính quy và tại chức Tất cả các lãnh đạo chủ chốt của công ty đều có trình độ đại học và trên đại học
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức
- Hội đồng quản trị công ty gồm 5 thành viên do đại hội đồng cổ đông bầu
ra, một chủ tịch HĐQT, một phó chủ tịch HĐQT, 3 đồng chí ủy viên, trong đó có 1 đồng chí là tổng giám đốc và một Phó tổng giám đốc
Hội đồng quản trị là cơ quan xem xét ban hành các quy chế, quy định của Công ty, phê duyệt các kế hoạch sản xuất kinh doanh, tài chính, lao động tiền lương, mua sắm tài sản Xây dựng và nghiên cứu kế hoạch phát triển Công ty, mô
HỘI ĐỒNG QUẢ TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ
TRÁCH KINH DOANH
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH KỸ THUẬT
PHÒNG TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN
LÝ
DỰ ÁN NHÀ
ĐÔ THỊ
XƯỞNG
CƠ KHÍ
CÁC XÍ NGHIỆP THI CÔNG
TỪ 1 ĐẾN 8
VÀ XN
TC CƠ GIỚI
PHÒNG
KẾ HOẠCH
- KỸ THUẬT ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
Trang 33hình tổ chức, quyết định việc thành lập chi nhánh, các xí nghiệp thi công, văn phòng đại diện của Công ty Phê duyệt các phương án thanh lý tài sản cố định Bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh gồm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng
-Đại hội đồng cổ đông còn bầu ra ban kiểm soát là cơ quan thay mặt đại hội đồng cổ đông kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh của Công ty giữa 2 kỳ đại hội, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán kế toán, hoạt động của hệ thống, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của Công ty theo quy định của pháp luật và điều
lệ Công ty Ngoài ra Công ty còn có những phòng chức năng và những xí nghiệp trực tiếp thi công xây lắp
-Phòng Hành chính - Tổ chức có chức năng tham mưu cho tổng giám đốc và HĐQT về công tác cán bộ, công tác tuyển dụng lao động Quản lý nhân sự, chấm công và quản lý con dấu của Công ty Thực hiện quan hệ đối nội, đối ngoại với các
cơ quan, các ngành và chính quyền sở tại, tiếp khách đến liên hệ công tác làm việc, thực hiện các hoạt động thuộc nghiệp vụ công tác văn phòng để đáp ứng mọi yêu cầu hoạt động hành chính của Công ty
-Phòng kế toán – tài chính: thực hiện hạch toán kế toán theo quy định của nhà nước, tham mưu cho lãnh đạo Công ty toàn bộ về lĩnh vực tài chính kế toán Phân tích hoạt động kinh doanh, kiểm tra hồ sơ chứng từ của các xí nghiệp, theo dõi công nợ với các chủ đầu tư và các nhà cung cấp, tổng hợp báo cáo tài chính theo quy định của nhà nước…
-Phòng kế hoạch kỹ thuật: lập hồ sơ dự thầu, kết hợp cùng các phòng liên quan hoàn chỉnh các tài liệu của hồ sơ dự thầu Tham mưu cho lãnh đạo Công ty về công tác sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển Công ty Tìm hiểu và tiếp cận thị trường xây dựng cơ bản, thường xuyên báo cáo diễn biến trên thị trường xây dựng cơ bản Hỗ trợ tổng giám đốc kiểm tra chất lượng các công trình thi công
-Các xí nghiệp thi công từ 1 đến 8: Thực hiện hoạt động sản xuất chính, trực tiếp thi công các công trình Các xí nghiệp hoạt động dưới 2 hình thức là hạch toán báo sổ và hạch toán trực thuộc phụ thuộc Mỗi xí nghiệp có bộ phận kế toán riêng,
Trang 34theo dõi ghi chép những thu chi phát sinh của công trình, lập chứng từ kế toán sau
đó chuyển lên phòng kế toán Công ty kiểm tra và hạch toán
-Ban quản lý dự án nhà và đô thị: Cũng giống như các xí nghiệp khác, trực tiếp thi công các công trình và nhiệm vụ chính là quản lý khu dự án ở nhà Nam sông Lạch Tray
Trong Công ty, các đơn vị và phòng ban có mối quan hệ trực tiếp với nhau
và với ban Giám đốc Công ty Mỗi phòng ban, đơn vị có chức năng nhiệm vụ khác nhau do vậy khi thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh các phòng ban, đơn
vị phải phối hợp trợ giúp nhau thực hiện tốt các kế hoạch mà Công ty giao
Sơ đồ 2.2 Hệ thống quản lý chất lượng công trình
Bộ phận quản lý chất lượng công trình dưới sư chỉ đạo của tổng giám đốc có nhiệm vụ:
Quản lý chất lượng theo các quy trình quy phạm ở các đơn vị và sản phẩm thực hiện
Kiểm tra việc thực hiện quy trình quy phạm ở các đơn vị thi công và các sản phẩm thực hiện
Tiếp nhận và xử lý thông tin về chất lượng của chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, công ty cùng với phòng kế hoạch kỹ thuật hướng dẫn đơn vị thực hiện
Tổ chức kiểm tra chất lượng thường xuyên các thiết bị theo yêu cầu của cấp công trình
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÕNG KẾ HOẠCH
KỸ THUẬT
CÁC XÍ NGHIỆP THI CÔNG
Trang 352.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 2010-2014
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 2010-2014
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán - Công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Hải Phòng)
2.1.6 Một số thuận lợi và khó khăn của Công ty
*Một số thuận lợi
Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng tiền thân là công ty xây dựng
thủy lợi Hải Phòng trực thuộc sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng
nên có mối quan hệ tốt với các cơ quan, ban, ngành trong thành phố Hải Phòng
Ngoài ra, Công ty còn có quan hệ tốt với các chủ đầu tư, các ban quản lý của các
tỉnh khu vực Bắc bộ và Bắc trung bộ Tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong
việc tìm kiếm khai thác việc làm, và tổ chức thi công các công trình trên địa bàn
thành phố
Mặc dù chủ trương của nhà nước là cắt giảm đầu tư công để kiềm chế lạm
phát và ổn định kinh tế nhưng vẫn ưu tiên cho các công trình nông nghiệp và phát
triển nông thôn Theo phê duyệt quy hoạch thủy lợi giai đoạn 2012-2020 và định
hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, vùng
Trang 36Bắc Bộ và Bắc trung bộ tiếp tục được Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng các công trình, hệ thống công trình thủy lợi chủ động thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng phục vụ sản xuất nông nghiệp, nâng cao mức đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường góp phần phát triển kinh tế xã hội Với sự đầu tư, quan tâm của nhà nước đã tạo điều kiện cho những doanh nghiệp lĩnh vực xây dựng trong đó có Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng có thêm cơ hội tăng công ăn việc làm, phát triển Công ty
Thành phố Hải Phòng là một trong 3 tỉnh, thành phố trực thuộc khu tam giác kinh tế của bắc bộ, là một thành phố biển có tổng diện tích tự nhiên là trên 152.300ha Hải Phòng là một thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sống Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía đông là biển Đông với đường bờ biển dài trên 125km nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình và hệ thống sông ngòi phức tạp mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km² Thành phố Hải Phòng có nhiều cảng biển lớn, và có Tân Cảng Hải Phòng tại đình vũ là cảng biển lớn và hiện đại nhất miền Bắc Chính vì lẽ đó mà công tác thủy lợi, thủy nông được thành phố ưu tiên quan tâm hàng đầu, là một trong những công tác trọng yếu của thành phố, là tiền
đề để phát triển kinh tế ổn định Hàng năm, nguồn vốn Trung ương và địa phương
có trích một phần để tu bổ và cải tạo đê điều thường xuyên nhằm ổn định sản xuất nông nghiệp và đời sống của bà con nhân dân thành phố Theo báo cáo của Ban quản lý dự án các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn Hải Phòng, năm
2014 nguồn vốn Trung ương đầu tư cho Hải Phòng gần 17 tỷ đồng, thi công 3 hạng mục công trình gồm 2 hạng mục tu bổ đê, 1 hạng mục xây mới cống Thành phố đầu tư hơn 32 tỷ đồng, thi công 7 hạng mục công trình gồm 3 hạng mục tu bổ đê, 1 hạng mục kè, 3 hạng mục xây cống Với sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước và Thành phố đã tạo ra việc làm cho nhiều công ty xây dựng, tạo ra nguồn thu cho các công ty trong đó Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng đã trúng thầu công
Trang 37trình cống Cói đê biển 3 thuộc địa phận huyện Tiên Lãng, cống Táu thuộc địa phận huyện Thủy Nguyên
Ngoài Hải Phòng thì các tỉnh, thành lân cận trong khu vực Bắc bộ và Bắc trung bộ cũng có những sự quan tâm và đầu tư nhất định đến xây dựng các công trình thủy lợi, thủy nông, Công ty nắm được điều này nên tích cực ngoại giao, khai thác và tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cho công ty
Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng thường xuyên thi công những công trình ở các địa phương có lực lượng nhân công trực tiếp nhiều, giá nhân công
rẻ, tiết kiệm được chi phí
*Một số khó khăn của Công ty
Trong những năm qua Công ty đã thực hiện thi công nhiều công trình lớn nhỏ trên địa bàn thành phố và cả nước Tuy nhiên trong quá trình sản xuất kinh doanh Công ty và các xí nghiệp trực thuộc gặp rất nhiều khó khăn về nguồn vốn do
sự biến động của giá nguyên vật liệu trên thị trường đặc biệt là giá xăng dầu lên xuống thất thường, sự thay đổi về chế độ chính sách dẫn đến nhiều công trình đã thi công xong nhưng chủ đầu tư không bố trí được nguồn vốn thanh toán Dẫn đến việc nguồn vốn của Công ty bị ứ đọng, ảnh hưởng lớn đến vốn lưu động của Công
ty
Công tác đấu thầu được Công ty quan tâm và thời gian qua công tác đấu thầu đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, nghiệp vụ đấu thầu của các cán bộ đấu thầu được nâng lên Tuy nhiên, môi trường pháp luật ở Việt Nam còn nhiều những điều khiến cho công tác đấu thầu còn hạn chế Hệ thống pháp luật và những văn bản dưới luật chồng chéo, ngôn ngữ không thực sự
dễ hiểu khiến cho không chỉ Công ty mà các nhà thầu khác cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu thầu Các chủ đầu tư cũng gây áp lực đối với các nhà thầu khi đưa ra các điều kiện khắt khe buộc các nhà thầu phải thực hiện vô điều kiện
Do đặc thù công việc thường xuyên thi công ở những vùng, những địa phương với cơ sở vật chất và hạ tầng còn đơn sơ, nghèo nàn, đường xá giao thông còn khó khăn nên việc vận chuyển nguyên vật liệu, máy móc thiết bị của Công ty
Trang 38còn nhiều khó khăn, các cán bộ nhân viên Công ty đã cố gắng hết sức để đảm bảo tiến độ thi công công trình nhưng đôi khi cũng gặp những sự cố ngoài ý muốn Hơn nữa còn làm tăng chí phí vận chuyển, tăng giá thành và giảm lợi nhuận của Công ty
Các công trình do Công ty thi công là các công trình đê, kè, cống, tràn xả lũ, đập dâng, đập đất….với địa bàn thi công ở những vùng hay gặp nhiều thiên tai lũ lụt ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất thi công của Công ty Công ty luôn cố gắng đảm bảo an toàn về con người và tài sản, giảm tối đa những thiệt hại không đáng có Trước những thiên tai bão lụt, công ty luôn có sự theo dõi sát sao và chuẩn bị kỹ lương nên trong thời gian qua chưa có thiệt hại to lớn gì về người và tài sản
Mặc dù được sự hỗ trợ và ưu ái của các tổ chức tín dụng song cơ chế về cho vay và cơ chế lãi suất đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khiến cho Công ty còn gặp nhiều khó khăn do phải chịu mức lãi suất vay khá cao làm tăng chi phí tài chính, giảm lợi nhuận của Công ty
Một số công trình Công ty đã trúng thầu nhưng được triển khai thi công một cách rất chậm trễ do chủ đầu tư không bố trí được nguồn vốn Công ty vẫn phải chịu một số tiền khá lớn để chi trả tiền nhân công bảo vệ mặt bằng và một số chi phí khác Còn một số công trình đủ vốn nhưng công tác di dời và đền bù còn chưa được thực hiện một cách quyết liệt và triệt để khiến cho Công ty không có mặt bằng thi công, gây nhiều khó khăn cho Công ty
2.2 Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng
2.2.1 Thị phần
Do thị phần tương đối không có cách tính thật sự chính xác nên ở phần này chỉ đánh giá thị phần tuyệt đối của Công ty – là phần tỷ lệ giữa doanh thu của Công ty so với tổng doanh thu trên thị trường
Trang 39Bảng 2.3: Thị phần tuyệt đối của Công ty từ năm 2010-2014
(Nguồn: Website của thành phố Hải Phòng: www.haiphong.gov.vn )
Biểu đồ 2.1: Thị phần tuyệt đối của công ty từ 2010-2014 Căn cứ vào bảng số liệu và biểu đồ thể hiện thị phần của Công ty từ năm 2010-2014 có thể thấy năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường xây dựng khu vực Hải Phòng có nhiều biến động tuy nhiên vẫn giữ ở mức cao Điều này cho thấy vị thế của công ty tương đối cao so với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành Năm 2010 là một năm gặt hái được nhiều thành công của công ty Với mức doanh thu cao, kí được nhiều hợp đồng có giá trị Công ty thực sự đã chiếm lĩnh được thị trường xây dựng thủy lợi của Hải Phòng khi thị phần tuyệt đối của công ty đạt 36,5% Năm 2011 và năm 2012 có sự giảm sút về doanh thu, cũng chính vì lẽ đó
mà thị phần của Công ty có sự giảm sút đáng kể, nguyên nhân chủ yếu do thị trường xây dựng gặp nhiều khó khăn về vốn và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
So với năm 2010 thì thị phần của công ty năm 2011 giảm đi 7,2%, năm 2012 giảm
đi 113,39% đây thực sự là bài toán đau đầu cho ban lãnh đạo công ty khi tìm cách
Trang 40vực dậy vị thế của Công ty Năm 2013 Công ty đã có sự vươn lên khi thị phần tuyệt đối tăng lên 30,61% tuy chưa bằng mức năm 2010 nhưng đó là một sự nỗ lực không hề nhỏ của lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Năm 2014
có sự giảm nhẹ so với năm 2013, khi thị phần của công ty chỉ ở mức 29,42% Công
ty luôn cố gắng duy trì thị phần, giữ vững vị trí của mình trên thị trường ở mức cao nhất có thể Mặc dù có sự biến động về thị phần nhưng đối với các công ty xây dựng khác thì Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi Hải Phòng luôn là một đối thủ
nặng kí cần phải dè chừng