Xuất phát từ kinh nghiệm trong quá trình công tác nhiều năm, với vốn kiến thức được học và qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản qui định của pháp luật, Nhà nước, các bài báo, b
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi NGUYỄN HUY THIÊM - tác giả luận văn này xin cam đoan rằng luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên và chưa được công
bố lần nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và lời cam đoan này
Hải phòng, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Thiêm
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tham gia lớp học Thạc Sỹ ngành Quản lý kinh tế tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam, em đã được học các môn học về Quản trị tài chính, Quản trị nguồn nhân lực, Dự án đầu tư do các giảng viên của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam giảng dạy
Các thày cô đã rất tận tình và truyền đạt cho chúng tôi khối lượng kiến thức rất lớn, giúp cho tôi có thêm lượng vốn tri thức để phục vụ tốt hơn cho công việc nơi công tác, có được khả năng nghiên cứu độc lập và có năng lực để tham gia vào công tác quản lý trong tương lai
Xuất phát từ kinh nghiệm trong quá trình công tác nhiều năm, với vốn kiến thức được học và qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản qui định của pháp luật, Nhà nước, các bài báo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về lĩnh vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng, xây dựng cơ bản, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ tiêu đề “Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại”
Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phức tạp Mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp và đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo PGS.TS Đặng Công Xưởng nhưng sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm đến lĩnh vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Nhà trường, Giảng viên hướng dẫn và Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Thiêm
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 4
1.1 Dự án đầu tư 4
1.1.1 Khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Đặc điểm dự án đầu tư 4
1.1.3 Phân loại dự án đầu tư 6
1.1.4 Các giai đoạn của một dự án đầu tư 7
1.2 Quản lý dự án đầu tư 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Bản chất của quản lý dự án 10
1.2.3 Mục tiêu của quản lý dự án 10
1.2.4 Tác dụng của việc quản lý dự án 11
1.3 Quản lý dự án đầu tư 12
1.3.1 Các nội dung quản lý dự án đầu tư 12
1.3.2 Các mô hình quản lý dự án 14
1.3.3 Nội dung, Đặc điểm và các giai đoạn của quản lý dự án đầu tư 17
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ NỐI ĐƯỜNG LẠCH TRAY VỚI ĐƯỜNG HỒ SEN – CẦU RÀO 2 30
2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại 30
Trang 42.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty 31
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty 32
2.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 36
2.2 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư dự án Khu đô thị nối đường Lạch tray với đường Hồ Sen - Cầu Rào 2 37
2.2.1 Giới thiệu các dự án do Công ty làm chủ đầu tư 37
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư tại dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 41
2.2.3 Đánh giá công tác quản lý dự án đàu tư tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại 48
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ NỐI ĐƯỜNG LẠCH TRAY VỚI ĐƯỜNG HỒ SEN –CẦU RÀO 2 57
3.1 Định hướng và mục tiên phát triển của Công ty trong giai đoạn 2015-2020 57
3.2 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác quản lý dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 của Công ty 59 3.2.1 Đổi mới cơ cấu tổ chức 59
3.2.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 62
3.2.3 Nâng cao chất lượng quá trình lập kế hoạch trong quản lý dự án 66
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác quản lý chất lượng 67
3.2.5 Nâng cáo chất lượng công tác quản lý tiến độ dự án 67
3.2.6 Nâng cáo chất lượng công tác quản lý chi phí 68
3.2.7 Nâng cao chất lượng công tác quản lý rủi ro 69
3.3 Một số kiến nghị với các cơ quan ban ngành có thẩm quyền của Nhà nước 70 KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
1.2 Sơ đồ mô tả bản chất của qúa trình quản lý dự án 10 1.3 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 15
1.6 Sơ đồ làm việc của phòng quản lý dự án 27 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp
3.1 Tổ chức thực hiện dự án theo mô hình ma trận 60
Trang 8MỞ ĐẦU
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tình hình kinh tế hiện nay Hải Phòng đã và đang tập trung phát huy tối
đa tiềm năng, lợi thế để xây dựng và phát triển đô thị Hải Phòng theo hướng đô thị cảng biển xanh, văn minh, hiện đại Vấn đề này cần thực hiện tốt ba khâu đột phá chiến lược, trong đó phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải bảo đảm đồng bộ, hiện đại, tạo nền móng cho sự phát triển kinh tế, có như vậy các nhà đầu tư mới có thể yên tâm tham gia vào thị trường kinh tế Việt Nam đặc biệt là Hải Phòng Ngoài việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, một khu đô thị với nhiều công trình hiện đại, tạo nền móng cho sự phát triển kinh tế, thì ở đây dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen - Cầu Rào 2 đã xác định được việc cần khẩn trương cải tạo, nâng cấp hạ tầng đô thị khi dự án đi qua địa bàn hai phường Đông Hải, Dư Hàng Kênh thuộc quận Lê Chân Ở đó người dân đang phải sống quanh khu bờ đầm Chung với nguồn nước tù, gây ô nhiễm môi trường, mặt khác hai bên bờ đầm là hai nghĩa trang lâu đời cần phải di dời ra ngoài nội đô, khi đó mới có thể giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường và xây dựng được một đô thị với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, góp phần phát triển đô thị thành phố Hải Phòng Có thể nói, dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho Doanh nghiệp khi thành công mà còn mang lại lợi ích cho xã hội là rất lớn
Để thực hiện được dự án này Công ty đã xác định đây là một nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung nhiều nguồn lực với một tinh thần làm việc cao độ và sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành thành phố mới có thể hoàn thành được dự án Tuy Công ty đã có nhiều năm kinh nghiệm nhưng trong việc thực hiện dự án đầu
tư, Công ty vẫn luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý dự
án, do quy mô dự án lớn và phức tạp Vì vậy, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng có tốt thì mới đem lại lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong quá trình thực hiện dự án đầu tư của Công ty
Với mong muốn mang lại hiệu quả từ việc thực hiện các dự án đầu tư của Công ty,
Trang 9qua đó đóng góp một phần vào sự phát triển chung của Công ty, em chọn đề tài: "Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại"
Có thể nói, đầu tư xây dựng là một ngành sản xuất có đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân, do đó tiềm năng phát triển của Công ty là vô cùng lớn, nhưng để tồn tại và phát triển thì các dự án của Công ty phải có tính hiệu quả cao Do vậy việc nâng cao hiệu quả dự án đầu tư là một yêu cầu bức thiết mà trong đó cần quan tâm đặc biệt đến việc nâng cao hiệu quả của công tác quản lý dự án đầu tư, để làm được điều này cần phải xây dựng một quy trình thống nhất với hiệu quả cao nhất cho các
dự án Vì thế, việc nghiên cứu đề tài này để tìm ra một hướng đi hiệu quả hơn trong công tác thực hiện dự án đầu tư, xây dựng công trình của Công ty là cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
2 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn liên quan đến công tác quản lý dự án đầu
tư xây dựng và đánh giá thực trạng, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
dự án Đề tài sẽ làm sáng tỏ những cơ sở lý luận, thực tiễn trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng, nhằm góp phần hoàn thiện và phát triển các nhận thức,
các quan điểm về quản lý, điều hành các dự án đầu tư xây dựng cơ bản
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công tác thực hiện dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 của Công ty Cổ phần đầu tư và Xây lắp thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 là một dự án lớn gồm nhiều giai đoạn và đã được triển khai trong nhiều năm nay, vì vậy phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu công tác triển khai, thực hiện dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần đầu tư và Xây lắp thương mại
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu công tác thực hiện dự án, ngoài việc tham khảo các
Trang 10tài liệu liên quan trong lĩnh vực dự án đầu tư, đề tài còn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích đánh giá;
- Phương pháp;
-Phương pháp so sánh
5 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về quản lý dự án đầu tư và quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình
- Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại chủ yếu và nguyên nhân
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư và quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Công
ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng dựng tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại
Trang 11CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm cơ bản
Hiện nay, khái niệm về dự án đang tồn tại rất nhiều và nó được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau Nhưng chung nhất, dự án là tập hợp nhiều hoạt động mang
tính duy nhất, phức tạp, liên quan đến nhau, có mục tiêu và mục tiêu đó phải được thực hiện, hoàn thành trong một thời gian cụ thể, với mức đầu tư nhất định và tùy theo tính kỹ thuật, chuyên môn riêng
Còn đầu tư là việc bỏ vốn đầu tư khi có cơ hội đầu tư vào một công trình xây dựng nào đó để đạt được mục đích cụ thể của người bỏ vốn đầu tư với những yêu cầu nhất định Đầu tư xây dựng có thể là xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc tạo ra sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
Tóm lại, các khái niệm về dự án đầu tư cùng nêu các yếu tố: mục đích, nguồn lực và thời gian Bất cứ một dự án nào có thể khác nhau về mục tiêu hay phương tiện cách thức tiến hành nhưng vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn của bản chất dự án
1.1.2 Đặc điểm dự án đầu tư
Một dự án đầu tư có những đặc điểm sau đây:
- Dự án luôn hướng đến một mục tiêu và kết quả cụ thể
Các dự án đầu tư phải xác định được kết quả Mặc dù dự án là tập hợp nhiều nhiệm vụ cần phải giải quyết để mỗi nhiệm vụ phải có một kết quả riêng biệt Tổng hợp các kết quả đó là hình thành nên kết quả chung của dự án Hay có thể nói, dự
án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều phần để thực hiện và quản lý nhưng phải thống nhất mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao nhất
- Sản phẩm của dự án mang tính đặc thù Không như quá trình sản xuất sản
phẩm một cách liên tục, hàng loạt mà sản phẩm của dự án có tính khác biệt cao Đặc biệt sản phẩm, dịch vụ mà dự án đem lại là duy nhất
Trang 12- Dự án diễn ra trong khoảng thời gian nhất định Giống như mọi thực thể
sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu
và kết thúc Bất kỳ dự án nào cũng chịu sự ràng buộc bởi thời gian, vì mỗi mục tiêu mỗi nhu cầu chỉ xuất hiện theo từng thời điểm Có thể trong thời gian thực hiện tồn tại một mục tiêu, song nếu dự án chỉ được hoàn thành sau thời gian dự kiến thì mục tiêu đó không còn hoặc giảm hiệu quả lợi ích Bất kỳ sự chậm trễ nào cũng kéo theo một chuỗi các biến cố bất lợi như: bội chi, khó tổ chức lại nguồn lực, tiến độ cung cấp thiết bị vật tư không đáp ứng được nhu cầu sản phẩm vào đúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện như dự án ban đầu
- Dự án là tổng hợp các mối liên quan giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Gồm chủ đầu tư, người sử dụng sản phẩm dự án, các trung tâm
nhà tư vấn, các đơn vị thầu và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, tuỳ theo tính chất và yêu cầu của mỗi dự án mà chủ đầu tư cần sự tham gia của các thành phần và sự tham gia đó không nhất thiết phải giống nhau Giữa các bộ phận quản
lý dự thường xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ và mức độ tham gia của các bộ phận này cũng không giống nhau Để đạt được mục tiêu của dự án, nhà quản lý dự án cần duy trì tốt mối quan hệ với các bộ phận quản
lý khác
- Môi trường hoạt động Dự án là sự cạnh tranh lẫn nhau về tiền vốn, nhân
lực, thiết bị và thị trường sản phẩm Một đơn vị, thành viên quản lý dự án thường
có hai thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau
- Tính không định và độ rủi ro cao Khi thực hiện dự án mức đầu tư dự án
luôn đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư và nguồn lao động rất lớn để có thể thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Trong khi đó, thời gian đầu tư thường rất dài nên các dự án đầu tư thường có độ rủi ro cao Công tác điều hành dự án do vậy phải tính đến hiện tượng này để phân tích và ước lượng các rủi ro, chọn lựa giải pháp cho một tương lai bất định, đảm nhận và dự kiến những bất lợi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dõi và có phản ứng kịp thời đảm bảo
Trang 13cho việc hoàn thành dự án đúng yêu cầu
1.1.3 Phân loại dự án đầu tƣ
Có nhiều cách phân loại dự án khác nhau, tuỳ theo mục đích của công tác tổ chức, quản lý và kế hoạch hoá vốn đầu tư, người ta lựa chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại, ví dụ: Theo cơ cấu tái sản xuất, Dự án đầu tư được chia làm hai loại theo chiều rộng và theo chiều sâu; Theo các lĩnh vực hoạt động trong xã hội thì có thể phân thành: Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,Dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng v.v Trong công tác quản lý các dự án đầu tư tại Việt Nam, các dự án đầu tư thường được phân loại theo sự phân cấp quản lý và theo nguồn vốn
- Theo phân cấp quản lý: Dự án đầu tư được phân loại thành các nhóm A, B,
C Việc phân chia này dựa trên tổng mức đầu tư, ngành và tính chất của dự án Các
dự án nhóm A là các dự án dự án lớn với tổng mức đầu tư lớn có tính chất quan trọng, các dự án nhóm B có quy mô và tính chất ở mức độ trung bình, các dự án nhỏ ở nhóm C, ví dụ: Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp điện có vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng sẽ thuộc nhóm A, từ 75 đến 1.500 tỷ đồng sẽ thuộc nhóm B và dưới 75 tỷ đồng thuộc nhóm C Ngoài ra, một số dự án có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thì được phân vào cấp đặc biệt, một số dự án đó là: Dự án nhà máy Thủy điện Sơn La, trung tâm hội nghị Quốc gia, tòa nhà Quốc hội Các dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại chi tiết tại phụ lục số I của nghị định 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình
- Theo nguồn vốn: Dự án được chia theo nguồn vốn mà Dự án đó sử dụng
như: vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; Vốn tư nhân; Vốn đầu tư từ nước ngoài; Vốn khác hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn Thông thường các dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì phải tuân theo các nghị định, thông tư hướng dẫn của chính phủ và các cơ quan ban ngành, còn các dự án sử dụng nguồn vốn khác thì được khuyến khích áp dụng theo
Trang 14các văn bản pháp luật của nhà nước như: các Nghị định, Thông tư hướng dẫn
1.1.4 Các giai đoạn của một dự án đầu tƣ
Một dự án phải trải qua các giai đoạn tính từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc
dự án và để có kết quả tốt cần phải thực hiện tốt các giai đoạn quản lý thông qua các công việc giám sát, đánh giá Sự chuyển tiếp giữa các giai đoạn thường có điểm mốc đánh dấu và một kết quả cụ thể, kèm theo những phê duyệt của chủ đầu
tư trước khi chuyển sang giai đoạn tiếp theo
Các giai đoạn của dự án thường được chia thành 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn xây dựng ý tưởng: Xây dựng ý tưởng là việc xác định toàn cảnh
về mục tiêu, kết quả của dự án như thế nào và cách thức thực hiện để đạt kết quả
đó Phải tiến hành khảo sát, tổng hợp số liệu, xác định được yêu cầu và phải đánh giá được mức độ rủi ro, tính toán nguồn lực cần có đây là những công việc phải triển khai và cần được quản lý trong giai đoạn này Trong giai đoạn này những nội dung được xem xét đến là mục đích, yêu cầu của dự án, tính khả thi, lợi nhuận tiềm năng, mức độ chi phí, mực độ rủi ro và ước lượng các nguồn lực cần thiết Đồng thời cũng cần làm rõ hơn nữa ý tưởng dự án bằng cách phác thảo những kết quả và phương pháp thực hiện trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, kết thúc giai đoạn này là sự phê duyệt về chủ trương thực hiện dự án
Giai đoạn phát triển: Là giai đoạn dự án cần biết được việc thực hiện như
thế nào, đây là giai đoạn gồm những công việc phức tạp nhất của dự án Các công việc chủ yếu của giai đoạn này cần được thực hiện gồm: Lập được nhóm thực hiện
dự án tốt nhất, cấu trúc tổ chức như thế nào; lập kế hoạch tổng thể; lập bảng chi tiết công việc cần thực hiện; tiến độ về thời gian thực hiện; kế hoạch nguồn vốn; kế hoạch nguồn lực; kế hoạch chi phí Kết thúc giai đoạn này, tiến trình dự án có thể bắt đầu Thành công của dự án phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các kế hoạch trong giai đoạn này
Giai đoạn thực hiện: Là quá trình quản lý, tố chức triển khai các nguồn lực
cần thiết, ví dụ đối với dự án xây dựng bao gồm các công việc như thiết kế tiêu chuẩn kỹ thuật, ký kết hợp đồng, các công tác chuẩn bị cho xây dựng công trình
Trang 15Đây là giai đoạn cần đầu tư nhiều thời gian nhất, những công việc cần xem xét trong giai đoạn này là những yêu cầu kỹ thuật cụ thể nhằm mục đích so sánh và đánh giá để lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng Kết thúc giai đoạn này dự án có thể chuyển sang giai đoạn vận hành, đưa vào khai thác thử nghiệm
Giai đoạn kết thúc: Giai đoạn kết thúc của quá trình thực hiện dự án, cần thực hiện những công việc còn lại như hoàn thành sản phẩm, bàn giao hệ thống và những tài liệu liên quan; tập trung đánh giá dự án và giải phóng các nguồn lực, như: Lập kế hoạch lưu trữ các hồ sơ liên quan đến dự án; kiểm tra lại sổ sách kế toán, tiến hành bàn giao và báo cáo; nghiệm thu dự án và đưa dự án vào sử dụng; giải quyết công ăn việc làm cho những người từng tham gia dự án;
1.2 Quản lý dự án đầu tƣ
1.2.1 Khái niệm
Quân sự Mỹ lần đầu áp dụng phương pháp quản lý dự án vào năm 1950, đến nay các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng và xã hội đã nhanh chóng thích ứng và được ứng dụng rộng rãi Có hai nội dung cơ bản thúc đấy sự phát triển của phương pháp quản lý dự án:
Thứ nhất: là nhu cầu ngày càng tăng những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phức tạp, kỹ nghệ tinh vi, trong khi khách hàng ngày càng khó tính
Thứ hai: là kiến thức của con người (hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật) ngày càng tăng
Quản lý dự án là biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để thỏa mãn các yêu cầu của dự án Hay nói cách khác, quản lý dự
án là quá trình lập kế hoạch, điều phối nguồn lực, thời gian và giám sát quá trình phát triển của dự án, nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đã được phê duyệt và đạt được các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt nhất cho phép
Các dự án thường bao gồm một số quy trình liên kết với nhau, lặp đi lặp lại
và diễn ra trong từng giai đoạn của vòng đời dự án, tác động lẫn nhau Các giai đoạn quản lý dự án thường tương ứng với các giai đoạn của dự án đầu tư, có năm
Trang 16giai đoạn quản lý dự án như sau:
- Khởi tạo: Sự cấp phép cho dự án hay giai đoạn nào đó
- Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là xây dựng mục tiêu của dự án và thiết lập
các phương pháp cũng như các biện pháp thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đó một cách tốt nhất Các kế hoạch cho phép tổ chức các nguồn lực cần thiết để hoàn thành dự án và tất cả các thành viên tham gia dự án phải được thực hiện công việc một cách nhất quán với các phương pháp đã được lựa chọn
- Thực hiện kế hoạch: Khi các mục tiêu được thiết lập và các kế hoạch
được tiến hành từ mọi tố chức, cần phải biết dẫn dắt chúng thực hiện một cách thành công Các công việc thực hiện bao gồm việc triển khai các nguồn tài nguyên nhân lực và các hệ thống để đạt được bản kế hoạch tổng thể và tiến độ dự án
- Kiểm soát: Chức năng của kiểm soát phải được áp dụng cho tất cả các giai
đoạn của công việc, nhằm đạt được những mục tiêu chung khi xây dựng dự án như
đã chỉ định Theo dõi thời gian bằng cách kiểm soát sự phát triển của dự án theo tiến độ, theo dõi chi phí thông qua một hệ thống dựa vào ngân quỹ của dự án Hệ thống báo cáo của dự án thông báo đều đặn cho những thành viên chính của dự án
và các kết quả của hệ thống kiểm soát dự án một cách chi tiết
- Kết thúc: Đạt được ký kết hoàn tất từ chủ đầu tư và đưa dự án hoặc giai
đoạn đó đến một kết thúc theo thứ tự
Sơ đồ và mối quan hệ của các giai đoạn quản lý dự án (xem hình 1.1)
Hình 1.1 Các giai đoạn quản lý dự án
Kiểm soát Thực hiện
Kết thúc
Trang 17Trong hệ thống, con người được gọi là “kỹ năng mềm” còn phương tiện gọi
là “kỹ năng cứng”
1.2.3 Mục tiêu của quản lý dự án
Mỗi dự án có đều có một mục tiêu tổng quan nhằm đưa ra định hướng hoạt động Mục tiêu của dự án xác định kết quả cuối cùng, chỉ ra một cách rõ ràng cần phải hoàn thành cái gì, đồng thời trả lời các câu hỏi liên quan đến quy mô và mục đích của dự án Ví dụ, dự án nhà máy thủy điện có mục tiêu là xây dựng nhà máy sản xuất điện năng dựa vào nguồn thủy năng của các con sông, suối Trong công tác quản lý dụ án việc xác định mục tiêu phải đáp ứng đuợc tiêu chuấn SMART:
- Cụ thể (Speciíĩc):
- Định lượng được (Measurable)
- Phân công được (Assignable) - Khả thi (Attainable, achievable)
- Hiện thực (Realistic) - Phù hợp (Relevant)
- Có thời hạn (Time-related)
- Tùy vào quy mô dự án, tính chất dự án và phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế
xã hội của từng quốc gia mà mỗi nước, mỗi tố chức có những mục tiêu quản lý khác nhau Tuy nhiên, Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành
Trang 18các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo đúng tiến độ thời gian cho phép
- Về mặt toán học, bốn vấn đề này liên quan với nhau theo công thức sau:
C = f(P, T, S) Trong đó:
C: Chi phí P: Hoàn thành công việc (kết quả) T: yếu tố thời gian
S: Phạm vi dự án
Ba yếu tố: thời gian, nguồn lực và chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mức độ quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kỳ đối với từng dự án nhưng kết quả đạt được đối với yếu tố này thường phải chấp nhận mất đi một trong hai yếu tố kia Trong quá trình quản lý dự án thường diễn ra các hoạt động đánh đổi mục tiêu dự án, là việc phải mất đi một yếu
tố nào đó để thực hiện tốt hơn các yếu tố kia trong ràng buộc không gian và thời gian Nếu tiến độ dự án diễn ra theo đúng kế hoạch thì không phải đánh đổi yếu tố Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan mà công việc dự
án thường có nhiều thay đổi nên việc phải đánh đổi mục tiêu là một kỹ năng quan trọng của nhà quản lý dự án Trong quá trình quản lý dự án các nhà quản lý luôn hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các yếu tố quản lý dự án
1.2.4 Tác dụng của việc quản lý dự án
Mặc dù quản lý dự án đòi hỏi sự quyết tâm, sức mạnh có tính tập thể và yêu cầu hợp tác nhưng tác dụng của nó rất lớn Quản lý dự án có những tác dụng như: Gắn kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án; Tạo điều kiện cho việc liên
hệ thường xuyên, gắn bó giữa các nhóm quản lý dự án với khách hàng và nhà cung cấp đầu vào cho dự án; Phát huy sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án; Tạo cơ hội phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc các điều kiện không dự đoán được; Thuận lợi cho việc đàm phát trực tiếp giữa các bên
Trang 19liên quan để giải quyết nhũng bất đồng nảy sinh; Tạo ra những sản phẩm và dịch
vụ có chất lượng cao hơn
Tuy nhiên, công tác quản lý dự án cũng có mặt hạn chế của nó Như các mâu thuẫn do cùng chia nhau một nguồn lực của đơn vị; quyền lực và trách nhiệm của các nhà quản lý dự nhiều khi không được thực hiện đầy đủ và vấn đề hậu của dự án
là những điểm cần được khắc phục trong công tác quản lý các dự án
1.3 Quản lý dự án đầu tƣ
1.3.1 Các nội dung quản lý dự án đầu tƣ
a Quản lý vĩ mô và vi mô
Quản lý vĩ mô: Quản lý vĩ mô bao gồm tống thế các biện pháp vĩ mô tác
động đến các yếu tố của quá trình hình thành, hoạt động và kết thúc dự án Trong khi triến khai thực hiện dự án, Nhà nước mà đại diện là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi phối hoạt động của dự
án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội Những công cụ quản lý vĩ mô chính của nhà nước để quản lý dự án là các chính sách, kế hoạch, quy hoạch về tài chính tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, hệ thống pháp luật, những quy định về chế độ kế toán, bảo hiểm, tiền lương
Quản lý vi mô: Quản lý dự án ở tầm vi mô là quá trình quản lý của các hoạt
động cụ thể của dự án, nó bao gồm nhiều khâu công việc như: Lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát các hoạt động dự án
Quản lý dự án bao gồm hàng loạt các vấn đề như: Quản lý thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, hoạt động mua bán quá trình quản lý này được thực hiện trong suốt các giai đoạn của dự án và đều phải gắn với 3 mục tiêu cơ bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và kết quả hoàn thành
b Lĩnh vực quản lý dự án
Gồm các lĩnh vực quản lý sau:
Lập kế hoạch tổng quan dự án: Là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự
logic, xác định những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời gian nhằm
Trang 20hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự án và chi tiết hoá các mục tiêu dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ Kế hoạch thực hiện dự án bao gồm: kế hoạch tổng thể về dự án, kế hoạch tiến độ, kế hoạch nguồn vốn, kế hoạch phân phối nguồn lực
Quản lý thời gian: Quản lý thời gian là việc lập kế hoạch, phân phối và
giám sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án
Quản lý phạm vi: là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích, mục
tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc về dự án và cần phải thực hiện, công việc nào ngoài phạm vi của dự án
Quản lý chi phí: Quản lý chi phí của dự án là quá trình dụ toán kinh phí,
giám sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án; là việc
tổ chức, phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí
Quản lý chất lượng: Quản lý chất lượng dự án là quá trình triển khai giám
sát những tiêu chuấn chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư
Quản lý nhân lực: Quản lý nhân lực là việc hướng dẫn, phối hợp những nỗ
lực của mọi thành viên tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án Nó cho thấy việc sử dụng lực lượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào?
Quản lý thông tin: Quản lý thông tin là đảm bảo quá trình thông tin thông
suốt một cách nhanh nhất và chính xác nhất giữa các thành viên dự án với các cấp quản lý khác nhau Thông qua quản lý thông tin có thể trả lời được các câu hỏi: Ai cần thông tin về dự án, mức độ chi tiết và các nhà quản lý dự án cần báo cáo cho
họ bằng cách nào?
Quản lý rủi ro: Quản lý rủi ro là xác định các yếu tố rủi ro của dự án, lượng
hoá mức độ rủi ro và có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán: Quản lý hợp đồng và hoạt động
mua bán của dự án là quá trình lựa chọn, thương lượng các họp đồng, điều hành
Trang 21việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết cho dự án Quá trình quản lý này giải quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của các tố chức bên ngoài cung cấp cho dự án, tiến độ cung, chất lượng như thế nào?
c Quản lý theo giai đoạn dự án
Dự án là một quá trình thực hiện một cách thống nhất, thời gian thực hiện được xác định và có độ bất định nhất định nên các tổ chức, các dự án thường được chia thành một số giai đoạn để quản lý thực hiện Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ hay vòng đời của dự án Chu kỳ của dự án xác định thời điếm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời gian thực hiện dự án và xác định những công việc nào sẽ được thực hiện trong từng giai đoạn nào và ai sẽ tham gia thực hiện Nó cũng chỉ ra những công việc nào còn tồn tại ở giai đoạn cuối sẽ thuộc về hoặc không thuộc về phạm vi của dự án
Thông qua chu kỳ dự án có thể nhận thấy một số đặc điểm như:
Thứ nhất: Chi phí và nhân lực thường là thấp khi mới bắt đầu dự án, tăng cao hơn vào thời kỳ phát triển, nhưng giảm nhanh khi dự án bước vào giai đoạn kết thúc
Thứ hai: xác suất dự án thành công thấp nhất và do đó mức độ rủi ro là cao nhất khi dự án bắt đầu thực hiện, xác suất thành công sẽ tăng lên khi dự án chuyển sang các giai đoạn sau
Thứ ba: Là khả năng ảnh hưởng của nhà đầu tư tới đặc tính cuối cùng của sản phẩm dự án Do đó, chi phí thường được đầu tư cao nhất vào thời kỳ bắt đầu và giảm mạnh khi dự án tiếp tục trong các giai đoạn sau
1.3.2 Các mô hình quản lý dự án
Các mô hình tổ chức quản lý dự án luôn thay đổi để phù hợp với sự thay đổi của môi trường cạnh tranh, công nghệ và yêu cầu quản lý Những năm gần đây mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý dự án nói riêng có những thay đổi tích cực theo hướng phát triển nhiều mô hình tổ chức mới, năng động và hiệu quả Thực tế hiện nay, có nhiều mô hình tổ chức quản lý dự án, tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu mà phân loại các mô hình tổ chức thực hiện dự án cho phù hợp
Trang 22Có hai nhóm mô hình quản lý dự án
a Mô hình Chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý
Mô hình này là do chủ đầu tư tự thực hiện hoặc lập ra ban quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc của dự án theo sự ủy quyền, nếu chủ đầu tư có
đủ điều kiện về nghiệp vụ chuyên môn phù hợp với dự án đầu tư (Xem hình 1.3)
Mô hình này thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ, đơn giảnvề
kỹ thuật và gần với chuyên môn sâu của chủ đầu tư, đồng thời chủ đầu tư phải có
đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quán lý dự án
Nhược điểm cơ bản của hình thức này là chủ đầu tư không có chuyên môn trong lĩnh vực đầu tư sẽ không thể quản lý được, để giải quyết nhược điểm này, chủ đầu tư cần phải thuê các chuyên gia làmcố vấn chuyên môn để đảmbảo các mục tiêu của quản lý dự án đầu tư
Hình 1.3 Mô hình chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý dự án
b Mô hình chủ nhiệm điều hành
Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án là mô hình tổ chức quản lý trong đó chủ đầu tư giao cho ban quản lý điều hành dự án hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý
có năng lực chuyên môn để điều hành dự án và họ được đại diện toàn quyền trong mọi hoạt động thực tiễn dự án Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc
Tổ chức thực hiện dự án III
Tổ chức thực hiện dự án IV
Trang 23lập, có năng lực quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án Mọi quyết định của chủ đầu tư về thực hiện dự án mà liên quan đến các đơn vị thực hiện sẽ được triên khai thông qua chủ nhiệm điêu hành dự án Mô hình này thường áp dụng cho những dự án quy mô lớn, tính chất
phức tạp (Xem hình 1.4)
Hình thức này có ưu điểm là mang tính chuyên nghiệp, các tổ chức tư vấn quản lý dự án là các pháp nhân hành nghề theo luật định, có đăng ký hoạt động, đóng thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chuyên môn và trách nhiệm của mình Đây là một hình thức dịch vụ mới có trong nền kinh tế thị trường, cần được khuyến khích áp dụng Tuy nhiên, do thói quen muốn tự làm, tự cho rằng quản lý
và lãnh đạo ai cũng làm được, nên các Chủ đầu tư chưa thích lựa chọn hình thức này, Vì vậy, các văn bản pháp luật phải quy định rõ trường họp nào thì bắt buộc phải dùng hình thức này
Hình 1.4 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án
c Mô hình chìa khóa trao tay
Là hình thức tổ chức mà trong đó nhà quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư mà còn là chủ dư án
Mô hình này cho phép tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà tổng thầu thực hiện
Chủ đầu tư
Chủ nhiệm điều hành dự án
Tổ chức thực hiện dự án I
Tổ chức thực hiện dự án II
Lập dự
toán
Khảo sát Thiết kế Xây lắp
Trang 24toàn bộ dự án, khác với mô hình chủ nhiệm điều hành, giờ đây mọi trách nhiệm được giao cho nhà quản lý dự án và họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với việc thực hiện dự án Trong trường hợp nhà quản lý dự án không chỉ được giao toàn quyền thực hiện mà còn được phép cho người khác nhận thầu từng phần việc trong dự án đã trúng thầu Khi đó họ như chủ điều hành dự án, trong trường hợp này bên quản lý dự án không phải là một cá nhân mà phải là một tổ chức quản lý
dự án chuyên nghiệp (Xem hình 1.5)
Hình 1.5 Mô hình tô chức chìa khoá trao tay.
1.3.3 Nội dung, Đặc điểm và các giai đoạn của quản lý dự án đầu tƣ
a Đặc điểm công tác quản lý dự án đầu tƣ
Dự án đầu tư xây dựng là một loại dự án phổ biến nhất trong các loại dự án, trong đó bao gồm cả dự án đầu tư xây dựng cơ bản và dự án cải tạo kỹ thuật Dự án xây dựng là loại công việc mang tính chất một lần, cần có một lượng đầu tư nhất định, trải qua một loạt các trình tự như ra quyết định và thực thi Dự án xây dựng
Chủ đầu tư
Thuê tư vấn hoặc tự lập
dự án
Chọn tổng thầu (Chủ nhiệm điều hành DA)
Tổ chức thực hiện dự án I
Tổ chức thực hiện dự án II
phụ A
Trang 25có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Dự án xây dựng được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình đơn lẻ có mối liên hệ với nhau, thực hiện hạch toán thống nhất, quản lý thống nhất trong quá trình xây dựng trên phạm vi thiết kế tổng thể hoặc thiết kế sơ bộ
Thứ hai: Dự án đầu tư xây dựng công trình coi việc hình thành tài sản cố định là một mục tiêu đặc biệt trong một số điều kiện ràng buộc về thời gian, nghĩa
là một dự án xây dựng phải có mục tiêu hợp lý về kỳ hạn của công trình xây dựng; Ràng buộc về nguồn lực, nghĩa là một dự án xây dựng phải có được mục tiêu nhất định về tống mức đầu tư; Ràng buộc về chất lượng, nghĩa là dự án xây dựng phải
có mục tiêu dự định về khả năng sản xuất, trình độ kỹ thuật, và hiệu quả sử dụng
Thứ ba: Dự án đầu tư xây dựng công trình phải tuân theo một trình tự và trải qua quá trình xây dựng đặc biệt Dự án xây dựng là cả một quá trình theo thứ tự từ lúc đưa ra ý tưởng xây dựng và đề nghị xây dựng đến lúc lựa chọn phương án, đánh giá, quyết sách, điều tra thăm dò, thiết kế, thi công cho đến lúc công trình hoàn thiện, đi vào sản xuất hoặc đi vào sử dụng
Thứ tư: Mỗi dự án xây dựng công trình đều có tính đặc trưng riêng biệt lại được thực hiện trong những điều kiện khác nhau về cả địa điểm, thời gian và không gian Tuy nhiên, mỗi dự án vẫn cần thiết có một cơ cấu phân chia công việc thành các phần việc khác nhau và tạo nên mối liên kết để có thể nhận biết và hành động trong phạm vi hiểu biết và kinh nghiệm tích lũy Các phần việc này có thể phối hợp với nhau theo nhiều cách khác nhau sao cho kết quả đạt được tương ứng với dự tính trong kế hoạch Môi trường bên ngoài mà dự án đang tồn tại khác biệt với mỗi tổ chức, nó tạo sức ép khác nhau lên dự án, hay mỗi dự án đều có cơ cấu yếu tố không gian, thời gian, ý tưởng và điều kiện tự nhiên khác nhau
b Các giai đoạn của công tác quản lý dự án đầu tƣ
* Theo thông lệ quốc tế
Theo thông lệ quốc tế và tìm hiểu một số nước như: Mỹ, Singapore cho thấy quá trình đầu tư xây dựng công trình thường được chia thành 3 giai đoạn lớn
và bao gồm 9 bước nhỏ Các giai đoạn đó lần lượt là:
Trang 26Giai đoạn xác định dự án: Đây là giai đoạn đâu tiên hình thành nên dự án
Giai đoạn này bao gồm các bước như sau: Khởi xướng và đề xuất sự cần thiết của
dự án; Nghiên cứu tính khả thi của dự án; Thẩm định và phê duyệt dự án Kết thúc giai đoạn này sẽ xác định được tính khả thi của dự án và quyết định xem có đầu tư
dự án hay không
Giai đoạn tiền thiết kế chi tiết dự án: Giai đoạn này là bước chuầnbị cho giai đoạn thực hiện dự án, bao gồm các bước như sau: Xác định kế hoạch triển khai; Xác định các cơ sở cho thiết kế; Chỉ dẫn kỹ thuật cho dự án Sau giai đoạn này, mọi công việc đã được sẵn sàng đển thực hiện dự án
Giai đoạn thực hiện dự án: Giai đoạn thực hiện mọi công việc của dự án
được thực hiện cho đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng và bàn giao công trình cho đơn vị quản lý Giai đoạn này bao gồm các bước: Thiết kế chi tiết (thiết kế bản vẽ thi công); Đấu thầu mua sắm vật tư và xây lắp; Tiến hành xây láp; Nghiệm thu, chạy thử, bàn giao
* Theo quy định của Việt Nam
Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng công trình tại Việt Nam được quy định rõ trong Luật Xây dựng Việt Nam số 16/2003/QH11 và nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.Theo đó trình tự đầu tư và xây dựng được chia ra làm 3 giai đoạn
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Đây là giai đoạn đầu tiên nghiên cứu các yếu tố
để hình thành dự án Trong giai đoạn này cần triển khai một số công việc như sau: Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư; Nghiên cứu thị trường, khả năng đầu tư và lựa chọn địa điểm xây dựng công trình; Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, nơi tiêu thụ sản phấm, khả năng cạnh tranh, khả nănghuy độngvốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư; Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa chiểm xây dựng; Lập dự án đầu tư xây dựng công trình; Thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư; Trình dự án đầu
tư đến các cấp có thẩm quyền Kết thúc giai đoạn này, dự án đã được xác định rõ ràng và có đầy đủ các thủ tục pháp lý cho phép triển khai thực hiện đầu tư
Trang 27Giai đoạn thực hiện đầu tư: Quá trình thực hiện đầu tư bao gồm các công
việc: Làm thủ tục để được cấp hoặc thuê đất; Xin giấy phép xây dựng và giấy sử dụng tài nguyên (nếu có); Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch
di dân và phục hồi (nếu có) và chuẩn bị mặt bằng xây dựng; Mua sắm thiết bị công nghệ; Thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng; Thẩm định, phê duyêt thiết kế, tổng
dự toán và dựa toán công trình; Tiến hành thi công xây lắp công trình; Giám sát thực hiện dự án Sau giai đoạn này, công trình đã được xây dựng xong và chuẩn bị
để đưa vào vận hành
Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử dụng: Ởgiai
đoạn này tất cả các công việc xây dựng đã hoàn thành chỉ còn một số công việc liên quan đến thủ tục, quyết toán như: Vận hành thử nghiệm, nghiệm thu, bàn giao; Thực hiện bảo hiếm sản phẩm; Quyết toán vốn đầu tư
Trên cơ sở các đặc điểm trên, ta có nhận xét: Quán trình đầu tư xây dựng công trình giữa Việt Nam và quốc tế trong giai đoạn thực hiện dự án có một số đặc điểm giống và khác nhau Giống nhau là hai quan niệm đều có những bước thực hiện cơ bản như thiết kế, mua sắm, xây lắp Tuy nhiên điểm khác biệt là ở cách thức thực hiện và tham gia của mỗi đối tượng Nếu như ở Việt Nam nhàthầu chỉ thực sự bắt đầu tham gia ở bước đấu thầu mua sắm thì theo thông lệ quốc tế lại cho phép nhà thầu tham dự ngay từ khâu thiết kế thông qua những chỉ dẫn ký thuật chi
dự án, Điều này khiến dự án trở nên khả thi hơn
c Nội dung của quản lý dự án đầu tƣ
Quản lý dự án xây dựng là một chuyên ngành của quản lý dự án nói chung
Nó bao gồm một cơ sở lý thuyết khoa học và thực tiễn về quản lý trong ngành xây dựng Quản lý một dự án xây dựng rất khác với quản lý một tổ chức có trạng thái
ốn định Một dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rõ ràng trong khi một tổ chức
ổn định vận hành liên tục
So với công tác quản lý các dự án khác, quản lý một dự án xây dựng có những đặc điểm khác biệt Để quản lý dự án xây dựng cần nhiều bộ phận hợp thành Đó là các kiến thức chung, các lý thuyết chung về quản lý, các kiến thức về
Trang 28chuyên môn như: Quy hoạch, kiến trúc, kết cấu, công nghệ xây dựng, tổ chức xây dựng, kinh tế xây dựng và các kiến thức hỗ trợ như: pháp Luật, tổ chức nhân sự, môi trường
Nhiệm vụ chính của quản lý dự án xây dựng là trong những điều kiện bị ràng buộc, làm thế nào để điều hành một tập hợp các công việc phức tạp, biến động trong một không gian, thời gian cụ thế, nhàm đạt được mục tiêu là tạo ra các công trình xây dựng như mong muốn Vì vậy, nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm đầu đủ các nội dung: Lập kế hoạch tổng quan; Quản
lý phạm vi; Quản lý thời gian, Quản lý chi phí; Quản lý chất lượng; Quản lý nhân lực; Quản lý thông tin; Quản lý rủi ro; Quản lý môi trường; Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán Tuy nhiên trong luận văn chỉ tập trung chủ yếu vào năm nội dung co bản, đó là: Quản lý thời gian, quản lý chất lượng, quản lý nhân sự; quản lý chi phí và quản lý rủi ro Những nội dung chủ yếu được cho trong bảng 1.1
Trong quá trình quản lý dự án đầu tư ngành xây dựng các công cụ thường được
sử dụng là sơ đồ phân tách công việc (WBS); biểu đồ Gantt hay sơ đồ mạng PERT
Bảng 1.1 Nội dung chủ yếu của công tác Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng
Quản lý thời gian
Xác định nhiệm vụ cần thực hiện Tính toán thời gian cụ thể
Phương án quản lý tiến độ
Xây dựng kế hoạch Quản lý chi phí
Quản lý rủi ro
Kế hoạch đánh giá rủi ro Phương pháp đánh giá rủi ro Phân loại và lựa chọn rủi ro
Trang 29* Quản lý thời gian của dự án
Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý bao gồm việc thiết lập mạng công việc, xác định thời gian thục hiện từng công việc cũng như toàn bộ dụ án và quản lý tiến trình thực hiện các công việc dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép và những yêu cầu về chất luợng đã định Nó chỉ rõ ra đuợc mỗi công việc phải kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án bao giờ sẽ hoàn thành
Mục đích của quản lý thời gian là làm sao đế dự án hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng những yêu cầu đã định về chất luợng
Quản lý thời gian là cơ sở đề giám sát chi phí cũng nhu các nguồn lực khác cần cho công việc của dự án Đối với các dự án đầu tư ngành xây dựng do đặc trưng các dự án thường đòi hỏi nguồn vốn lớn nên giai đoạn thực hiện dự án càng kéo dài thì chi phí vốn càng lớn, do đó nội dung quản lý thời gian và tiến độ của dự
án càng trở nên quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý dự án đầu tư Muốn quản lý tiến độ đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án buộc phải có một kế hoạch chi tiết, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện từng hạng mục nhỏ Nói chung quản lý tiến độ dự án ngành xây dựng phải đảm bảo:
Tiến độ chung dự án phải thể hiện sự phù hợp, kịp thời và nhịp nhàng giữa các khâu, các giai đoạn, không có khâu làm quá nhanh hay quá chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu, các giai đoạn tiếp sau đó
Tiến độ hoàn thành dự án phải phù hợp với kế hoạch đề ra ban đầu, các khâu phải hợp logic (tiến độ thi công, tiến độ giải ngân thanh quyết toán, tiến độ quyết toán vốn)
Tiến độ chính là thời gian nên nó ảnh hưởng tới các nhân tố liên quan tới thời gian như chi phí sử dụng nguồn lực (lãi suất, tiền lương, đất đai ), như lạm phat, trượt giá Các dự án đầu tư ngành xây dựng được thực hiện nhàm một mục tiêu định trước, cần có kết quả đầu tư vào một thời điểm đã định nên khi tiến độ không hoàn thành sẽ ảnh hưởng tới chi phí đầu tư cho dự án Kéo dài tiến độ, chi phí đầu tư tăng, hiệu quả đầu tư giảm, không những dự án không đạt được
Trang 30mongmuốn ban đầu, không có lãi mà còn kéo theo hàng loạt các vấn đề phát sinh khác từ phía khách hàng
* Quản lý chất lƣợng dự án
Quản lý chất lượng là quá trình lập kế hoạch, triển khai, giám sát việc thực hiện kế hoạch đó sao cho chất lượng các dự án phải phù hợp với tiêu chuẩn quy định về đầu tư xây dựng, phù hợp với hệ thống quản lý chất lượng ngành xây dựng Đồng thời, chất lượng công trình không chỉ đảm bảo ở thời điểm nghiệm thu, quan trọng hơn phải luôn luôn đảm bảo trong quá trình công trình được đưa vào khai thác, sử dụng: thể hiện ở sự an toàn, bền vững, hữu ích, hiệu quả thực sự
và lâu dài
Các dự án đầu tư ngành xây dựng thường đòi hỏi tính bền vững lâu dài nên việc quản lý chất lượng dự án là vô cùng cần thiết Nó đảm bảo cung cấp cho con người xã hội những sản phấm có tính an toàn, bền vững cao và thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Do đó quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình là quá trình giám sát những tiêu chuẩn chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm của dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư
và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Quản lý chất lượng được thực hiện theo các quy định của Nghị định 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình
* Quản lý nhân lực thực hiện dự án
Quản lý nhân lực là sự điều phối, kết hợp giữa các thành viên, giữa các cấp quản lý trong tập thể ban quản lý dự án Để công tác nhân sự đạt được hiệu quả cao, cần đảm bảo:
Thứ nhất, nhân sự cho dự án phải được tuyền chọn, đào tạo theo đúng chuyên môn, phù hợp với vị trí công tác, đúng người đúng việc, mọi cá nhân phải biết làm việc theo nhóm (vì môi trường dự án là nơi có nhiều cán bộ đến từ nhiều chuyên ngành khác nhau, đã có kinh nghiệm hay mới tuyển dụng, cùng thực hiện một dự án nên tầm quan trọng của hoạt động theo nhóm là vô cùng quan trọng )
Thứ hai, nhân sự quản lý dự án xây dựng phải được đào tạo về chuyên ngành
Trang 31xây dựng, vừa phải được đào tạo về công tác quản lý như Quản lý đầu tư, quản lý đấu thầu, quản lý dự án, ngoài ra với từng vị trí chuyên môn cụ thề cần được đàotạo chuyên ngành cụ thể, ví dụ nhân viên kế toán cần được đào tạo về nghiệp
vụ kế toán, nhân viên an toàn lao động cần được đào tạo về chuyên ngành an toàn lao động
Thứ ba, người lãnh đạo quản lý dự án phải là người biết phối họp các sức mạnh cá nhân tạo thành một sức mạnh tập thể vững chắc, biết hỗ trợ cho nhau, giám sát lẫn nhau, và trên hết tất cả phải biết vì lợi ích chung của tập thể
* Quản lý chi phí
Các dự án đầu tư trong ngành xây dựng có chi phí đầu tư ban đầu thường rất cao do đó việc quản lý chi phí dự án một cách hợp lý, tiết kiệm chi phí là một nội dung rất quan trọng trong quản lý dự án đầu tư của ngành Quản lý chi phí là quá trình dự toán kinh phí, giám sát từng hạng mục chi phí theo tiến độ của từng công việc sao cho phù hợp với tiến độ của toàn bộ dự án Quản lý chi phí cũng bao gồm việc tổ chức thực hiện, phân tích, báo cáo về những chi phí đó sao cho:
Các chi phí phát sinh trong quá trình đầu tư thực hiện dự án phải có thật, hợp pháp, được phê duyệt và thẩm tra của cấp có thẩm quyền, tuân thủ đúng quy định
và co chế quản lý của nhà nước
Việc xác định được chi phí cho dự án làm cơ sở xác định hiệu quả đầu tư thực sự của dự án Chi phí dự án bao gồm hai nội dung chính: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, (chi phí gián tiếp liên quan đến chi phí nhân công, chi phí máy móc thiết bị, chi phí dịch vụ, chi phí quản lý, chi phí liên quan đến thời gian: như chi phí lãi vay, trượt giá, lạm phát)
Xác định được tổng mức đầu tư cho thực hiện dự án làm cơ sở cho việc lập
kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình
Do chi phí đầu tư ban đầu cho các dự án ngành xây dựng là rất lớn, nó chính
là yếu tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu của dự án như NPV, IRR phản ánh mức độ hiệu quả của dự án nên quá trình quản lý chi phí luôn được quan tâm giám sát Các chi phí được dự toán chi tiết tới từng hạng mục, giao xuống cấp dưới, các cấp thực
Trang 32hiện thường xuyên báo cáo tiến độ thực hiện chi phí lên cấp trên Để quản lý về chi phí của dự án ta dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá trong đó đáng chú ý có chỉ tiêu phân tích sai lệch về chi phí và phân tích sai lệch về tiến độ
Phân tích sai lệch về chi phí
Sai lệch về chi phí đuợc thể hiện qua công thức sau:
CV = ACWP - BCWP
BCWP
BCWP ACWP
%
Trong đó: CV: Sai lệch về chi phí
ACWP: Thực chi cho công việc đã tiến hành BCWP: Kinh phí dự trù cho công việc đã tiến hành
Phân tích sai lệch về tiến độ
Sai lệch về tiến độ được thể hiện qua các công thức sau:
SV = BCWP –BCWS
BCWS
BCWS-
BCWP
%
Trong đó: SV: Sai lệch vê tiến độ
BCWP: Kinh phí dự trù cho công việc đã tiến hành BCWS: Kinh phí dự trù cho công việc theo lịch
* Quản lý rui ro
Trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tiềm ẩn rất nhiều rủi
ro từ khâu thiết kế đến thi công và vận hành công trình Có rất nhiều khả năng rủi ro đến môt dự án như: Chất lượng thiết kế không tốt, theo thống kê tại Việt Nam 60% nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công trình là khâu thiết kế; Giải phóng mặt bằng chậm, thiếu chi phí đền bù; Điều kiện khí hậu, thời tiết, điều kiện địa chất công trình có những điếm không lường trước; Các yếu tố tiền tệ, giá cả như: Biến động lãi suất ngân hàng, lạm phát giá vật liệu nhân công leo thang, biến động
tỷ giá, không vay được vốn; Tại nạn tại công trường, dịch bệnh, công nhân đình công, vì vậy cần phải có biện pháp để quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là một kỹ thuật để xác định những mối đe dọa đến sự thành
Trang 33công, loại bỏ rủi ro bằng cách triển khai các kế hoạch để giảm thiểu những ảnh hưởng và tăng khả năng thành công của dự án Việc này bao gồm cả kế hoạch làm tăng tối đa các yếu tố tích cực liên quan đến các rủi ro (rủi ro tích cực) Quản lý rủi
ro là một tập hợp của các hoạt động quản lý dự án, được thi hành cùng với các chức năng quản lý chi phí kế hoạch và kỹ thuật Đồng thời, quản lý rủi ro là một hệ thống phương pháp đánh giá các yếu tố bất lợi và một phần cơ bản của phương pháp quản
lý dự án hiệu quả và hoàn chỉnh Các bước để quản lý rủi ro bao gồm: Kế hoạch quản lý rủi ro, Đánh giá rủi ro; Lựa chọn các vấn đề rủi ro; Loại bớt rủi ro; Kế hoạch rủi ro dự phòng; Tố chức quản lý rủi ro
d Ban quản lý dự án đầu tƣ
Bộ phận quản lý dự án là một thành phần quan trọng của Dự án, đó là một cá nhân hoặc một tổ chức do Chủ đầu tư thành lập, có nhiệm vụ điều hành, quản lý dự
án trong suốt quá trình thực hiện dự án Các thành phần của Ban quản lý dự án có thể thay đổi qua các giai đoạn cụ thể của dự án, gồm giai đoạn Lập báo cáo dự án, Thiết kế & Đấu thầu, Thi công xây dựng, Nghiệm thu bàn giao công trình
Vị trí quan trọng nhất của Ban quản lý dự án đó là Giám đốc điều hành dự án (Project Manager), hay Người quản lý dự án Đây phải là một người có trình độ học vấn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý; có bản lĩnh cá nhân vững vàng, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc theo nhóm, và phải biết ngoại ngữ nếu Dự án có yếu tố đầu tư với các đối tác nước ngoài Giám đốc có thể là một Kiến trúc sư, một Kỹ sư xây dựng, hay một chuyên gia kinh tế và phải hiểu rõ chủ trương, ý đồ của Chủ đầu
tư, đồng thời hiểu cặn kẽ mọi khía cạnh của dự án, để có thể truyền đạt lại cho các thành viên khác và phải đưa ra những quyết định chính xác, hợp lý và khách quan trong quá trình quản lý, nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đã đề ra Giám đốc sẽ chịu trách nhiệm và hoạt động liên tục trong suốt quá trình của dự án, kể từ đầu đến cuối cùng là giai đoạn nghiệm thu bàn giao công trình
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý dự án bao gồm:
Thứ nhất: Thay mặt Chủ đầu tư làm việc với các đối tác và các cơ quan liên quan trong suốt quá trình thực hiện dự án Trong trường hợp Dự án đầu tư xây dựng
Trang 34một khách sạn quốc tế mà Chủ đầu tư ký hợp tác với một Nhà quản lý khách sạn chuyên nghiệp khi công trình đưa vào sử dụng, thì khi đó ban QLDA sẽ thay mặt Chủ đầu tư làm việc với Nhà quản lý khách sạn và các đơn vị tư vấn thiết kế theo sơ
đồ làm việc ba cực (hình 1.6)
Sơ đồ làm việc
Hình 1.6 Sơ đồ làm việc của Phòng quản lý dự án
Thứ hai: Thiết lập mối quan hệ giữa các bên tham gia vào dự án, đồng thời điều phối tất cả thông tin giữa các bên đảm bảo đúng trình tự và nhất quán;
Thứ ba: Sắp xếp, tố chức các nguồn lực để thực hiện dự án và xây dựng nhiệm vụ cho từng bộ phận; Xây dựng kế hoạch thực hiện của dự án, có sự tham khảo từ Kỹ sư định giá công trình (QS- Quantity Surveyors);
Thứ tư, thiết lập và kiểm soát định kỳ chất lượng và nguồn vốn ngân sách cho dự án;
Thứ năm, Tư vấn và trợ giúp Chủ đầu tư và các bên tư vấn trong việc chuẩn
bị các hồ sơ xin thẩm định và phê duyệt tại địa phương và lựa chọn nhà thầu
Trong trường hợp dự án có qui mô lớn, chức năng sử dụng phức tạp hay dự án
Chuyên gia Phương án
thiết kế
Trang 35có yêu cầu cao về chất lượng, kỹ thuật thì cần thiết phải huy động đến các dịch vụ tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp, cần phải lưu ý một trong những lý do chủ yếu của việc thất bại, chậm trễ của các dự án bất động sản là sự yếu kém hoặc thiếu kinh nghiệm của Quản lý dự án
Hiện tại, ở Việt Nam đã có nhiều tổ chức tư vấn cung cấp dịch vụ quản lý dự án mang tính chuyên nghiệp, các đơn vị này hoặc là các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc là công ty Việt Nam nhưng có các chuyên gia nước ngoài tham gia tư vấn Một số tên tuổi đơn vị tư vấn có thể kể đến như: Công ty TNHH Archetype Việt Nam, Atelier Management & Design Việt Nam, Meinhardt Việt Nam, Page Kirkland Việt Nam, Cty TNHH tư vấn Hyder-CDC, Công ty TNHH AIC Management
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
a/ Quan điểm đánh giá của dự án đầu tư
Các dự án phải được đánh giá theo các giác độ lợi ích khác nhau như lợi ích của chủ đầu tư, lợi ích của quốc gia và xã hội, lợi ích của tổ chức tài trợ cho dự án, lợi ích của dân cư địa phương đặt dự án đầu tư
Quan điểm của chủ đầu tư: Khi đánh giá dự án đầu tư các chủ đầu tư dĩ
nhiên phải xuất phát trước hết từ lợi ích trực tiếp của họ, tuy nhiên lợi ích này phải nằm trong khuôn khổ lợi ích chung của quốc gia và cộng đồng, mà lợi ích này thể hiện trước hết ở đường lối chung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như ở các luật có liên quan đến đầu tư, bảo vệ môi trường
Quan điểm của Nhà nước: Nói chung khi đánh giá các dự án đầu tư, Nhà
nước phải xuất phát từ lợi ích tổng thể của quốc gia và xã hội, từ đường lối chung phát triên của đất nước và phải xét toàn diện các mặt kĩ thuật, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, bảo vệ an ninh và quốc phòng cũng như bảo vệ môi trường Đối với các dự án đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, sự đánh giá của nhà nước cũng sâu sắc và toàn diện hơn so với dự án đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, mà ở đây sự xem xét của Nhà nước chủ yếu chỉ hạn chế ở các mặt tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường, sự phù hợp với đường lối phát triển chung của đất nước của dự án đầu tư
Trang 36b/ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý dự án
Hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án)
Để đánh giá một dự án đầu tư phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu về kĩ thuật, công nghệ, tài chính, kinh tế và xã hội, trong đó một số chỉ tiêu tài chính và kinh tế đóng vai trò chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp để lựa chọn phương án
Chỉ có các chỉ tiêu tài chính và kinh tế mới có thề phản ánh tổng hợp và tương đối toàn diện dự án đầu tư, kế cả các mặt kĩ thuật và xã hội của dự án
Theo phương án hiện hành, các chỉ tiêu tài chính, kinh tế, xã hội của một dự
án đầu tư bao gồm các nhóm sau:
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án: Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
phản ánh lợi ích trực tiếp của các doanh nghiệp với tư cách là chủ đầu tư, và được chia thành hai nhóm: các chỉ tiêu tĩnh (tính toán cho một năm) và các chỉ tiêu động(tính toán cho cả đời dự án có tính đến sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế theo thời gian)
- Các chỉ tiêu tĩnh gồm: Chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm; Lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm; Mức doanh lợi của một đông vốn đầu tư hàng năm; Thời gian thu hồi vốn nhờ lợi nhuận và khấu hao cũng như thời gian thu hồi vốn nhờ lơi nhuân
- Các chỉ tiêu động bao gồm: Hiệu số thu chi đuợc quy về thời điểm hiện tại (NPV); Suất lời thu nội tại và các biến loại (IRR); Tỷ số thu chi (B/C)
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án: Nhóm chỉ tiêu này phản
ánh lợi ích của Nhà nước và của cộng đồng thu được từ dự án Các chỉ tiêu thu được của dự án ở đây được dùng để phục vụ cho Nhà nước và cộng đồng Các chỉ tiêu ở đây có thề xảy ra trực tiếp trong dự án hay gián tiếp ngoài dự án Có thể dẫn ra một
số chỉ tiêu chủ yếu như: mức đóng thuế hàng năm của dự án cho Nhà nước, mức tăng thu nhập cho người lao động của doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp, giảm thất nghiệp, bảo về môi trường vv
Trang 37CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ NỐI ĐƯỜNG LẠCH TRAY VỚI
ĐƯỜNG HỒ SEN – CẦU RÀO 2
2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Thương mại - ICC, tiền thân là Công trường xây dựng cơ bản khu phố Lê Chân, được thành lập tháng 10 năm 1976 đến tháng 3/1982 được đổi tên thành Công ty Xây dựng quận Lê Chân
Theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, công ty được thành lập lại thành Công ty xây dựng sản xuất kinh doanh vật tư Lê Chân theo Quyết định số 1145/QĐ-TCCQ ngày 14/10/1992 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng
Đến tháng 12/1992, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng ra Quyết định số 1419/QĐ-TCCQ ngày 8/12/1992 về việc thành lập doanh nghiệp nhà nước Công ty Vật liệu và Xây lắp Thương nghiệp (Tên cũ: Công ty xây dựng sản xuất kinh doanh vật tư Lê Chân) trực thuộc Sở Thương nghiệp Hải Phòng
Năm 1995 Sở Thương nghiệp đổi thành Sở Thương mại, Công ty Vật liệu và Xây lắp Thương nghiệp được đổi tên thành Công ty Vật liệu và Xây lắp Thương mại theo Quyết định số 1152/QĐ-TCCQ ngày 10/07/1995 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng
Tại quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 28/02/2006 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng Công ty Vật liệu và Xây lắp Thương mại Hải Phòng được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang Công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp
Từ năm đầu mới thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại chỉ
có 100 ngàn đồng vốn Khi chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty Cổ phần
Trang 38(năm 2006) vốn điều lệ của Công ty là 3 tỷ đồng Đến tháng 04/2008 vốn điều lệ của công ty là 50,4 tỷ đồng
Hoạt động sản xuất kinh doanh của ICC từ ngày mới thành lập đã đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh từ việc xây dựng các công trình dân dụng công nghiệp; Nhập khẩu vật tư nguyên liệu; xuất khẩu nông sản thuê phẩm (tiểu ngạch); Đại lý kinh doanh xăng dầu đến đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và kinh doanh bất động sản Thế mạnh của ICC trong hoạt động sản xuất kinh doanh là triển khai và thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ để xây dựng nhà bán theo cơ chế kinh doanh, kinh doanh bất động sản, là doanh nghiệp có uy tín, kinh nghiệm trong làng kinh doanh bất động sản của thành phố Hải Phòng
Sau khi được thành lập, trải qua những khó khăn, thử thách để hội nhập và phát triển trong cơ chế thị trường Công ty luôn hoạt động có hiệu quả Bằng nỗ lực đoàn kết không ngừng thi đua lao động sản xuất của tập thể Ban Lãnh đạo và toàn thể các cán bộ công nhân viên, Công ty luôn đạt và vượt kế hoạch sản xuất hàng năm Công ty đã đạt được những bước tiến thành công trên nhiều mặt tự khẳng định
và tạo dựng uy tín tốt trong thị trường xây dựng Hải Phòng và các tỉnh lân cận
Cũng như các doanh nghiệp khác hoạt động trong cơ chế thị trường nơi luôn diễn ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi sự thích ứng kịp thời Công ty đã
và đang từng bước đầu tư trang bị thêm các máy móc thi công, dây truyền sản xuất mới, hiện đại có năng suất, hiệu suất kinh tế cao và nhanh chóng nắm bắt, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh Đồng thời không ngừng hoàn thiện cơ cấu bộ máy doanh nghiệp, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ
và tổ chức tối ưu hóa các khâu trong sản xuất Công ty đang có được đội ngũ cán
bộ công nhân viên có trình độ, năng lực và tính trách nhiệm cao, tích cực lao động sản xuất, nâng cao tay nghề Qua nhiều năm hoạt động Công ty đã tạo nên bề dày thành tích và cùng các đơn vị kinh tế khác đóng góp thiết thực, hiệu quả vào công cuộc xây dựng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Thành phố Hải Phòng
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Theo chứng nhận đăng ký kinh doanh thì các ngành nghề đăng ký kinh
Trang 39doanh gồm:
- Kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng
- Kinh doanh bất động sản
- Đầu tư xây dựng nhà ở để bán theo cơ chế kinh doanh
- Xây lắp các công trình điện đến 220KV
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp
- Làm đường giao thông liên tỉnh
- Kinh doanh vật tư vật liệu xây dựng
- Kinh doanh tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
- Kinh doanh cho thuê nhà làm đại diện, và làm dịch vụ khách sạn
- Đại lý bán lẻ xăng dầu, khí hoá lỏng(ga)
Với các chức năng đã đăng ký, nhiệm vụ chính của Công ty là hoạt động sản xuất kinh doanh phải đem lại lợi nhuận cho các cổ đông, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cán bộ, nhân viên trong công ty Bên cạnh đó, Công ty cũng có nhiệm
vụ vào việc góp phần mang lại các lợi ích kinh tế xã hội cho các địa phương nơi có các dự án mà công ty đang đầu tư
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty
Nền kinh tế nước ta hiện nay đã có sự tăng trưởng liên tục trong nhiều năm, những chuyển biến về kinh tế, xã hội trong nước cũng như khu vực và thế giới tạo cho Việt Nam nhiều thử thách và kinh nghiệm Công cuộc đối mới đất nước tiếp tục thực hiện với những yêu cầu cao hơn về công nghệ hiện đại, trình độ tố chức sản xuất ở mọi lĩnh vực, mọi ngành Để đáp ứng được nhu cầu phát triển và nám bắt được các công nghệ tổ chức hiện đại, Công ty đã xây dựng cho mình một cơ cấu gọn nhẹ với sự tham gia trực tiêp của Hội đông quản trị trong việc điêu hành các công việc của công ty Với mô hình quản lý này, các công việc thường được trực tiếp Hội đồng quản trị công ty phê duyệt và giao cho Tống giám đốc và các phòng ban thực hiện Mô hình này có ưu điểm là có được sự quan tâm sát sao của Hội đồng quản trị công ty, ban kiểm soát, họ đều là những người có trình độ có năng lực trong việc điều hành, quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình Tuy
Trang 40nhiên, nhược điểm của mô hình này là việc giải quyết các công việc đôi khi còn chậm trễ, việc chờ Hội đồng quản trị xem xét và ra quyết định sẽ để lờ các cơ hội kinh doanh cũng như chậm trễ trong khâu giải quyết công việc của Công ty Cơ cấu tổ chức Công ty được thể hiện qua sơ đồ trong hình 2.1.
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp thương mại
Cơ cấu tổ chức của công ty được hoạt động theo mô hình: Trực tuyến- Chức năng, Công ty có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và Ban
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÒNG QUẢN
LÝ KỸ THUẬT
PHÒNG KINH DOANH
PHÒNG ĐẦU
TƯ
CÁC PHÒNG
QL DỰ
ÁN