1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ban quản lý dự án trường đại học y hải phòng

70 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn Đầu tư xây dựng cơ bản của Ban Quản lý dự án – Trường Đại họ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế đề tài “Biện

pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn Đầu tư xây dựng cơ bản của Ban Quản

lý dự án – Trường Đại học Y Hải Phòng” là công trình nghiên cứu độc lập của

tôi, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thị Mai Thơm – Giảng viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Các thông tin, số liệu, phương pháp trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tên và nội dung của luận văn không trùng lặp hay sao chép với bất kỳ một công trình nào đã được công bố trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Duy

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn Đầu tư xây dựng

cơ bản của Ban Quản lý dự án – Trường Đại học Y Hải Phòng” là kết quả của

sự cố gắng, nỗ lực nghiên cứu của bản thân tôi, sự tận tình chỉ bảo của người hướng dẫn, sự giúp đỡ, tạo điều kiện từ phía cơ quan công tác, gia đình và bạn

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Thị Mai Thơm – Giảng viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng

và hoàn thành luận văn

Tôi cũng gửi lời cám ơn tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về thời gian, thông tin, tư liệu

Mặc dù tôi đã nỗ lực cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những mặt thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong có được sự góp ý, đánh giá của thầy cô

và độc giả

Tôi xin trân trọng cám ơn./.

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v

CÁC DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư xây dựng 5

1.2 Vai trò, đặc điểm và nội dung của Đầu tư Xây dựng cơ bản 6

1.2.1 Vai trò của đầu tư XDCB 6

1.2.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB 8

1.2.3 Các bước của quá trình đầu tư XDCB 12

1.3 Chức năng của đầu tư xây dựng cơ bản 17

1.4 Hiệu quả sử dụng vốn vào đầu tư XDCB 18

1.4.1 Vốn Đầu tư Xây dựng cơ bản 18

1.4.2 Khái niệm hiệu quả VĐT XDCB 20

1.4.3 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả VĐT xây dựng cơ bản 21

1.4.4 Các tiêu chí sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT XDCB 22

1.4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách vào đầu tư XDCB 23

1.5 Phương pháp nghiên cứu 24

1.5.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 24

1.5.2 Các phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu 24

1.5.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 24

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG 26

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26

2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý 26

2.1.2 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng 26

Trang 4

2.2 Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản trong Đại học Y Hải Phòng giai đoạn

2010-2015 28

2.2.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển trường Đại học Y Hải Phòng 28

2.2.2 Điều tra khảo sát các hạng mục công trình sử dụng vốn đầu tư XDCB trong trường Đại học Y giai đoạn 2010 – 2015 30

2.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại trường Đại học Y Hải Phòng 34

2.3 Đánh giá tình hình sử dụng vốn đầu tư XDCB trong trường Đại học Y Hải Phòng 39

2.3.1 Chất lượng công việc đạt được: 39

2.3.2 Các chi phí khác liên quan đến dự án: 39

2.3.3 Các biến động liên quan đến quá trình thực hiện dự án 40

2.3.4 Những nguyên nhân thành công trong việc sử dụng vốn đầu tư Xây dựng cơ bản trong trường Đại học Y Hải Phòng 40

2.3.5 Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong việc sử dụng vốn đầu tư Xây dựng cơ bản 42

2.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn 51

CHƯƠNG III BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂU DỰNG CƠ BẢN CỦA ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG 53

3.1 Mục tiêu phát triển Đại học Y Hải Phòng 53

3.1.1 Mục tiêu chung 53

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 54

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong trường Đại học Y 54

3.3 Kiến nghị ……….62

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.2 Nguồn vốn cấp đầu tư phát triển trường Đại học Y HP giai đoạn 2010 – 2015 29

2.3 Danh sách các hạng mục công trình đã và đang triển khai trong trường Đại học Y Hải Phòng giai đoạn 2010 – 2015 30

2.4 Thực trạng sử dụng vốn đầu tư XDCB trong Đại học Y Hải Phòng giai đoạn 2010 – 2015 34

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Hải Phòng là một thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp và là cảng biển lớn nhất Miền Bắc Hải Phòng là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là đô thị loại I Chính vì vậy, công tác quy hoạch phát triển thành phố

thành một “Thành phố Cảng xanh” ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết

Một mặt vừa để thành phố Hải Phòng là một trung tâm phát triển kinh tế - khoa học – kỹ thuật của vùng duyên hải Bắc bộ, mặt khác để có tầm nhìn định hướng đúng đắn hơn về quy hoạch và quản lý các khâu trong quy hoạch cũng như thực hiện nó, để thành phố Hải Phòng đạt được những tiêu chí mà Đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ đã đề ra

Với nhiệm vụ phát triển thành phố Hải Phòng thành một “Thành phố Cảng xanh”, trung tâm công nghệ sinh học, công nghiệp công nghệ cao phục vụ phát

triển công nghiệp, nông ngư nghiệp, trung tâm nghiên cứu – đào tạo chuyên khoa hàng đầu của vùng duyên hải Bắc bộ

Song song với mục tiêu đó, vấn đề xây dựng và phát triển ngành y tế hiện cũng đang là vấn đề cấp bách của thành phố Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hải Phòng hiện nay đang trong tình trạng thiếu thốn, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày một tăng cao Quy hoạch, mở rộng trường Đại học Y Hải Phòng đang là một việc làm hết sức phù hợp và đúng đắn, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực chất lượng cao cho không chỉ riêng thành phố Hải Phòng mà còn cho một số tỉnh lân cận, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của thành phố Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn ngân sách Nhà nước (NSNN), công tác đầu

tư xây dựng cơ bản (XDCB) ở trường Đại học Y Hải Phòng thời gian qua đã có nhiều khởi sắc, góp phần làm cho diện mạo của đô thị ngày một đổi mới Kết cấu

hạ tầng kỹ thuật đô thị từng bước hiện đại hoá và hệ thống "điện, đường, trường, trạm" ngày càng được đồng bộ hoá đã tạo tiền đề cho Trường Đại học Y Hải

Trang 8

Phòng không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy, hoà nhập chung vào sự phát triển của thành phố và cả nước Bên cạnh những kết quả đạt được của việc sử dụng vốn NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản, còn có những tồn đọng và hạn chế như: đầu tư manh mún, dàn trải dẫn đến kém hiệu quả và làm thất thoát nguồn vốn của

Nhà nước Trường Đại học Y Hải Phòng là một trường đại học với xuất phát điểm

thấp, nguồn vốn đầu tư từ nội bộ còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ của ngân sách Trung ương nên việc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư (VĐT) nói chung và đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách nói riêng càng mang tính cấp thiết Về yếu kém trong đầu tư và sử dụng vốn NSNN, Đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ X nhận định: “Đầu tư của Nhà nước còn dàn trải, hiệu quả chưa cao, thất thoát nhiều Lãng phí chi tiêu NSNN… còn nghiêm trọng” Nghị quyết của Đại hội nêu rõ: “Phải xoá bỏ cơ chế “xin cho”, nếu còn cơ chế này thì sẽ phát sinh tiêu cực…Đồng thời phải cải cách thủ tục hành chính, phân cấp đầu tư hợp lý Trong lĩnh vực XDCB phải chấn chỉnh từ khâu dự toán, thiết kế đến thi công”

Từ những cơ sở trên đặt ra yêu cầu, cần phải sử dụng hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước, đây là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn không thể giải quyết triệt để cùng một lúc Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và hoàn thiện việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCB, tôi chọn đề tài

“Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn Đầu tư xây dựng cơ bản của Ban

Quản lý dự án – Đại học Y Hải Phòng” để làm đề tài luận văn bảo vệ của mình

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB ở trong trường Đại học Y Hải Phòng

2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hoá những lý luận về sử dụng vốn đầu tư XDCB

Xây dựng chỉ tiêu và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn XDCB ở Ban Quản lý dự

án – Trường Đại học Y Hải Phòng

Chống thất thoát vốn trong đầu tư XDCB

Trang 9

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn XDCB ở trường Đại học Y

Hải Phòng

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Vốn Đầu tư Xây dựng cơ bản trong trường Đại học Y Hải Phòng Do đặc thù của trường Đại học thì Vốn Đầu tư Xây dựng cơ bản chiếm phần lớn là sử dụng nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước Vì vậy, đối tượng nghiên cứu tập trung sâu vào phần vốn Ngân sách Nhà nước cho Đầu tư Xây dựng cơ bản trong trường Đại học Y Hải Phòng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Đầu tư XDCB do Ban Quản quản lý

Dự án trường Đại học Y Hải Phòng đầu tư vào xây dựng cơ bản từ năm 2010-2015

Số liệu thứ cấp: đề tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư XDCB

từ năm 2010-2015

Số liệu sơ cấp: điều tra các công trình đang xây dựng từ năm 2010 đến 2015,

trên cơ sở đó đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn Đầu tư Xây dựng cơ bản trong trường Đại học Y Hải Phòng từ nay đến năm 2020

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp, phân tích, các phương pháp thống kê kết hợp với khảo sát thực tế;

Vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng theo các văn bản quy phạm ban hành;

Nghiên cứu số liệu thứ cấp các tài liệu thống kê, báo cáo các Dự án đầu tư, hồ

sơ, công tác Quản lý dự án đầu tư xây dựng công hiện thời

3.4 Kết cấu luận văn

Tên luận văn “Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn Đầu tư Xây

dựng cơ bản của Ban Quản lý dự án – Trường Đại học Y Hải Phòng”

Ngoài các phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Đánh giá thực trạng sử dụng Vốn Đầu tư Xây dựng cơ bản tại trường Đại học Y Hải Phòng

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn cho Đầu tư XDCB của Đại học Y Hải Phòng

Trang 11

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư xây dựng

Theo cách hiểu chung nhất, đầu tư là sự bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng với các

nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra, khai thác,

sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai Đầu tư là sự

bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, công nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ, …) , để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất khác Biểu hiện của tất cả nguồn lực bỏ ra nói trên gọi chung là VĐT Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực Có nhiều cách phân loại đầu tư, nhưng xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu

tư đem lại, người ta phân chia ra thành:

- Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người ta bỏ tiền ra cho vay hoặc

mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu Chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)

- Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua

hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lại lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán

- Đầu tư tài sản vật chất và nguồn nhân lực: là loại đầu tư trong đó người có

tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động xã hội khác

- Đầu tư cơ bản: là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) đưa

vào hoạt động trong các lĩnh vực KT - XH khác nhau Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động Khác với đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện

Trang 12

vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thành mục đích của mình Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các TSCĐ, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời kỳ

Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới các Tài sản cố định được gọi là đầu tư Xây dựng cơ bản

“XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB XDCB là các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ (như khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt….) Kết quả của hoạt động XDCB là các TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Như vậy, XDCB là một quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch về các TSCĐ của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất cũng như không sản xuất vật chất Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia” [1, tr.3]

Đầu tư XDCB là hoạt đồng đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các TSCĐ và tạo

ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội

Trong trường hợp cụ thể đây là một hình thức đầu tư vốn nhà nước vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh

1.2 Vai trò, đặc điểm và nội dung của Đầu tư Xây dựng cơ bản

1.2.1 Vai trò của đầu tư XDCB

Trước hết cần phải xác định rõ rằng đầu tư nói chung đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là động lực để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Nếu không có đầu tư thì không có phát triển

“Một là, đầu tư XDCB là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp

tác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh - quốc phòng…mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không đầu tư; các dự án đầu tư từ

Trang 13

NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất đảm bảo cho nền KT

- XH phát triển ổn định theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhìn trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước, đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Về cầu, đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư chiếm khoảng 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của các nước trên thế giới Đầu tư có tác động to lớn đến việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Đầu tư còn có mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy, nếu muốn tốc độ phát triển kinh tế tăng cao (9 - 10%) thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu công nghiệp và dịch vụ Ngoài ra đầu

tư còn có tác động giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, xoá đói giảm nghèo, phát huy lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh để làm đầu tàu cho vùng khác Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư ít nhất phải đạt từ 15 - 20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước

Hai là, đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi vì nó

tạo ra các TSCĐ Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để sản xuất ra của cải vật chất, đặc biệt là tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội Tất cả các ngành kinh

tế chỉ tăng nhanh khi có đầu tư XDCB, đổi mới công nghệ, xây dựng mới để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Đầu tư XDCB nhằm xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu

tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đầu tư XDCB sẽ tạo điều kiện

để phát triển mới, đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất ở các doanh nghiệp Đầu tư XDCB sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực, cải thiện cơ sở vật chất của giáo dục

và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển y tế, văn hoá và các mặt xã hội khác Đầu tư XDCB góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát

Trang 14

triển cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện sống ở các địa phương nghèo, vùng sâu và vùng xa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các cơ sở sản xuất và dịch vụ, tạo ra những tác động tích cực cho vùng nghèo, người nghèo, hộ nghèo khai thác các tiềm năng của vùng để vươn lên phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Từ đó đảm bảo tỷ lệ cân đối vùng miền, ngành nghề, khu vực và phân bổ hợp lý sức sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh

Ba là, đầu tư XDCB của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai trò hết sức quan trọng, bởi vì vốn dành cho đầu tư XDCB của Nhà nước chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư XDCB của toàn xã hội Đầu tư XDCB của Nhà nước góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơ cấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội Mặt khác đầu tư XDCB của Nhà nước được tập trung vào những công trình trọng điểm, sử dụng nguồn vốn lớn, có khả năng tác động mạnh đến đời sống KT - XH Bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng đầu tư XDCB của Nhà nước nếu không được quản lý một cách hợp lý sẽ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu tư XDCB từ các nguồn vốn khác.” [3, tr.27]

1.2.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB

Bất kỳ nền kinh tế nào thì đầu tư XDCB cũng mang những đặc điểm cơ bản sau:

“Thứ nhất: đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái

sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCB chính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêu dùng lớn hơn trong tương lai

Để tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế, là những điều kiện kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: xây dựng hệ thống hạ tầng, các nhà máy và mua sắm các thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại…đầu tư XDCB cần một lượng vốn lớn

Muốn đáp ứng được điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi tiềm năng nguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ nền kinh tế, huy động mọi nguồn lực trong

Trang 15

các tầng lớp dân cư, đồng thời phải tìm mọi giải pháp để thu hút các nguồn lực nước ngoài như: vốn ODA, FDI, NGO…

Xuất phát từ đặc điểm này đòi hỏi chúng ta trong việc huy động và sử dụng vốn đầu tư XDCB phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ xuất hiện mâu thuẫn gay gắt giữa đầu tư

và tiêu dùng.” [4, tr 32]

“Thứ hai: quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động rất dài

mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm XDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyền hàng loạt mà mỗi công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều vào yếu

tố tự nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục và phân tán Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án

Quá trình đầu tư XDCB gồm 3 giai đoạn: xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án

Xây dựng dự án và thực hiện dự án là hai giai đoạn có thời gian dài nhưng lại không tạo ra sản phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn giữa đầu tư và tiêu dùng Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này Muốn nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm, nhằm đưa nhanh các dự án đầu tư vào khai thác sử dụng

Khi xét hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần quan tâm xem xét cả 3 giai đoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện

dự án, tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà không chú ý thời gian khai thác dự án Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư XDCB mang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự XDCB Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn cho thích hợp để giảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ động vốn ở sản phẩm dở dang.” [4, tr33]

Trang 16

Thứ ba: đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư chính là

việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những

tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai, “Chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh tế đã nói rằng đầu tư là

đánh bạc với tương lai

Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưởng

sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hết khi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư

Sự thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho nhà đầu tư

Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất là hoàn đủ vốn đầu tư cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế và tránh được rủi ro Vì vậy các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến là ưu đãi, miễn giảm thuế, khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chế thanh toán vốn nhanh, kịp thời… [4, tr.33-34]

Thứ tư: sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như nhà

máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tính cố định gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù giải toả giải phóng mặt bằng, khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác [29]

Sản phẩm của đầu tư XDCB là những TSCĐ, có chức năng tạo ra sản phẩm

và dịch vụ khác cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn, do nhiều người, thậm chí do nhiều cơ quan đơn vị khác cùng tạo ra

Sản phẩm của đầu tư XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuất không theo một dây chuyền mà có tính cá biệt Mỗi công trình đều có điểm riêng nhất

Trang 17

định Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàn toàn giống nhau Với những công trình công nghệ cao, có vòng đời thay đổi công nghệ ngắn như: công trình bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử… thì việc thay đổi công nghệ, kiểu dáng luôn xảy ra

Giá thành sản phẩm XDCB rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn Sản phẩm đầu tư XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn mang tính nghệ thuật Sản phẩm đầu tư XDCB phản ánh trình độ kinh tế, trình độ khoa học

kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sử nhất định của một đất nước

Quá trình XDCB bị tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên như tình hình địa chất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Trong đầu tư XDCB chu kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn Vì vậy, chọn công trình

để bỏ vốn thích hợp nhằm giảm mức tối đa thiệt hại do công trình xây dựng dở dang là một thách thức lớn đối với các nhà thầu

Nơi làm việc và lực lượng lao động không ổn định là điều bất lợi cho quá trình XDCB, dẫn đến thời gian ngừng làm việc nhiều, năng suất lao động thấp, dễ gây tâm

lý tạm bợ, tuỳ tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ công nhân công trường

Để thực hiện một dự án đầu tư XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất nhiều đơn vị tham gia thực hiện Trên một công trường có thể có hàng chục đơn vị làm các công việc khác nhau, nhưng các đơn vị này cùng hoạt động trên một không gian và thời gian, vì vậy trong tổ chức thi công cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau bằng các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng Tuy vậy hiện nay cách thức giao nhận thầu chưa được cải tiến, giá bán được định trước khi chế tạo sản phẩm Tức là trước khi nhà thầu biết giá thành thực tế của mình, việc ước lượng đúng đắn giá cả và phương tiện thi công rất khó khăn vì phải dựa trên những giả thiết mà rất

có thể khi thi công thực tế bị phủ định

Điều phụ thuộc này buộc nhà thầu phải nắm chắc dự toán và kiểm tra thường xuyên trong quá trình thi công

Trang 18

Ngoài những đặc điểm của đầu tư XDCB nói chung thì đầu tư XDCB của NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư XDCB bị tách rời nhau

Vốn đầu tư XDCB của NSNN là thuộc quyền sở hữu Nhà nước Nhà nước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành cho đầu tư XDCB

và là người đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế dự toán (tổng dự toán) Song quyền sử dụng vốn đầu tư XDCB Nhà nước lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự

án Chủ đầu tư và các Ban quản lý dự án là người được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật Xuất phát từ đặc điểm này mà trong quản lý vốn đầu tư XDCB của NSNN dễ

bị thất thoát Nếu các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không ngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng yêu cầu quản lý; Nhà nước không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bằng những cơ chế chính sách ràng buộc trách nhiệm thì thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB thuộc vốn NSNN là không thể tránh khỏi [4, tr.35]

1.2.3 Các bước của quá trình đầu tư XDCB

Trình tự đầu tư

Dự án đầu tư được hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêng biệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiến trình lôgic Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lập và trên các góc

độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm 8 bước công việc, phân thành hai giai đoạn theo sơ đồ sau:

Trang 19

Sơ đồ 1.2.3 Trình tự trong hoạt động đầu tư

Qua sơ đồ ta thấy: bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là

cơ sở thực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của dự án mà một vài bước có thể gộp vào nhau như ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu

dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh

tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ và những dự án có thiết kế mẫu

Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra và đánh giá đủ các khía cạnh về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo Đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư dự án Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm:

+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư

Nghiên cứu cơ

Giai đoạn II Thực hiện đầu tư

Chạy thử, nghiệm thu, quyết toán

Đưa vào khai thác sử dụng

Trang 20

+ Tiến hành thăm dò, xem xét mục đích sử dụng để xác định nhu cầu sử dụng; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư

+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng

+ Lập dự án đầu tư

+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư,

tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập dự án đầu tư

- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:

+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển và thềm lục địa

+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)

+ Lựa chọn, ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu

+ Thi công xây lắp công trình

+ Kiểm tra giám sát thực hiện các hợp đồng

Phân loại dự án đầu tư

Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy mô và thời hạn Do vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta có thể phân loại

dự án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau

Theo tính chất của dự án: người ta có thể chia dự án đầu tư thành các loại dự án: dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển KT - XH, dự án đầu

tư nhân đạo

Theo nguồn vốn đầu tư: có dự án đầu tư bằng vốn trong nước, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn ODA, vốn đầu tư của Chính phủ, vốn đầu tư của khu vực tư nhân, vốn liên doanh và vốn cổ phần…

Trang 21

Theo ngành, lĩnh vực đầu tư: dự án thuộc ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng dịch vụ…

Theo quy mô: dự án đầu tư quy mô lớn, dự án đầu tư quy mô vừa và nhỏ Phân loại dự án theo yêu cầu phân cấp quản lý của Nhà nước thì trong luật Xây dựng và Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã phân dự án thành ba nhóm như sau:

“Dự án nhóm A

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị xã hội quan trọng, dự án sản xuất chất độc hại, hạ tầng khu công nghiệp (không kể mức vốn)

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp điện, dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự

án giao thông (cầu, cảng biển, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư trên 600 tỷ đồng

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Thuỷ lợi, giao thông (khác với các điểm trên) cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử tin học, hoá dược, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu bưu chính viễn thông với tổng mức đầu tư trên 400 tỷ đồng

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông - lâm sản với tổng mức đầu tư trên 300 tỷ đồng

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác với tổng mức đầu tư trên 200 tỷ đồng

Trang 22

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản với tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng

Trang 23

Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác với tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng.” [2, tr.7]

1.3 Chức năng của đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư với tư cách là làm tăng trưởng và thay đổi kết cấu của TSCĐ thực hiện một loạt chức năng, trong đó có các chức năng quan trọng nhất thường được chú ý:

Chức năng năng lực được coi là chức năng đầu tiên của đầu tư XDCB Các chức năng khác được suy ra hoặc hỗ trợ chức năng này.” [1, tr.8]

Hai là chức năng thay thế

“Chức năng thay thế của đầu tư XDCB biểu hiện khả năng thay đổi từng tổ hợp các nhân tố sản xuất và khả năng thay thế lẫn nhau của từng nhân tố này do kết quả của quá trình đầu tư XDCB Tuy nhiên, ý nghĩa của chức năng thay thế phải được biểu hiện ở tiết kiệm chi phí, ở các khu vực sản xuất vật chất nhờ quá trình đầu tư XDCB thay thế hợp lý các nhân tố sản xuất mà đảm bảo tiết kiệm các chi phí sản xuất Tương tự như vậy đầu tư XDCB vào khu vực dịch vụ, trước hết là dịch vụ tiêu dùng cũng đảm bảo hợp lý các nhân tố tiêu dùng cuối cùng nhằm thoả mãn nhu cầu này với chi phí xã hội ít hơn

Vai trò, chức năng thay thế đầu tư XDCB ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật (vì bản chất của nó chính là việc sử dụng vật liệu và công nghệ mới, cao cấp hơn thay thế các vật liệu cũ và công nghệ hiện đang dùng) và

Trang 24

với việc hướng dần nền kinh tế vào loại hình phát triển chiều sâu mà đặc trưng là thay thế có hiệu quả các yếu tố sản xuất.” [1, tr.8]

Ba là chức năng thu nhập và sinh lời

“Chức năng thu nhập và sinh lời của đầu tư XDCB được xác định bởi khả năng tạo ra thu nhập và sinh lời do quá trình đầu tư XDCB mang lại Chức năng thu nhập và sinh lời ở đây chính là sự kết hợp của chức năng năng lực và chức năng thay thế để tạo điều kiện tăng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc gia Đặc trưng kết quả thu nhập là ở chỗ đánh giá công dụng của đầu tư XDCB về phương diện ảnh hưởng của nó, tạo ra mối quan hệ giá trị và thu nhập trong nền kinh tế Do đó chức năng thu nhập và sinh lời của đầu tư XDCB chính là tác động của nó trong việc tạo ra và phân phối thu nhập quốc dân Nói một cách chính xác hơn là tạo ra và tăng thu nhập của từng chủ thể trong hệ thống kinh tế, mà trước hết là ảnh hưởng đến tăng thu nhập của các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đầu tư, làm ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận và tổng thu nhập của các tổ chức kinh doanh và các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế.” [1, tr.9]

1.4 Hiệu quả sử dụng vốn vào đầu tư XDCB

dự án đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước

Nghị định số 385-HĐBT ngày 07/11/1990 của hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) về việc sửa đổi, bổ sung thay thế điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ

bản đã ban hành theo Nghị định số 232-CP ngày 06/06/1981 khái niệm “Vốn đầu

tư XDCB là toàn bộ chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu

Trang 25

tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán” [8, tr.3]

Theo nghĩa chung nhất thì VĐT XDCB bao gồm: chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua sắm

và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác theo một dự án nhất định

Trong các đơn vị sự nghiệp, các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được sử dụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi là VĐT XDCB từ NSNN

NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối VĐT thông qua hoạt động thu, chi ngân sách

Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐT XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:

+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)

+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ)

Phân cấp quản lý ngân sách chia VĐT XDCB từ NSNN gồm:

+ VĐT XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng

+ VĐT XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện

Mức độ kế hoạch hoá, VĐT từ NSNN được phân thành:

+ VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 26

+ VĐT XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội: thu từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp đất, chuyển quyền

sử dụng đất…

+ VĐT XDCB theo chương trình quốc gia

+ VĐT XDCB thuộc NSNN nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất như: truyền hình, thu học phí…[21]

Nguồn VĐT XDCB từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền KT - XH mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ Tuy nhiên, trong nguồn vốn NSNN thì phải loại nguồn vốn không được đưa vào kế hoạch và cấp phát theo kế hoạch của Nhà nước (vốn để lại tại đơn vị), khả năng quản lý, kiểm soát của Nhà nước gặp khó khăn hơn Vốn ngoài nước thường phụ thuộc vào điều kiện nhà tài trợ đặt ra, cũng làm cho việc quản lý bị chi phối Đối với viện trợ không hoàn lại thường do phía nước ngoài điều hành nên giá thành cao [1, tr.10]

VĐT từ ngân sách Nhà nước được đầu tư cho các dự án sau:

+ Các dự án kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng - an ninh không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng phân cấp chi NSNN cho đầu tư phát triển + Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo Quy định của pháp luật

+ Chi cho công tác điều tra, khảo sát lập quy hoạch tổng thể phát triển KT -

XH vùng, lãnh thổ; quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Chính phủ cho phép

1.4.2 Khái niệm hiệu quả VĐT XDCB

“Do nguồn lực khan hiếm có hạn nên nhu cầu đầu tư luôn luôn cao hơn khả năng đầu tư của nền kinh tế Điều này đòi hỏi VĐT phải được sử dụng có hiệu quả nhằm trong một thời gian nhất định với một khối lượng VĐT có hạn nhưng lại có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu đầu tư nhằm góp phần thoả mãn tối đa nhu cầu xã hội

Trang 27

Như vậy hiệu quả VĐT là một phạm trù kinh tế khách quan Nó tồn tại là do

sự có hạn của nguồn lực Yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực nói chung, sử dụng hiệu quả VĐT nói riêng càng trở nên bức thiết đối với nền kinh tế

Hiệu quả VĐT XDCB hiểu một cách chung nhất biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa các lợi ích của VĐT XDCB và khối lượng VĐT XDCB bỏ ra nhằm đạt được những lợi ích đó Lợi ích của VĐT XDCB thể hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu xã hội của sản phẩm do VĐT XDCB bỏ ra, bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Lợi ích kinh tế của VĐT XDCB thể hiện ở mức độ thực hiện các mục tiêu kinh tế của quá trình đầu tư XDCB nhằm thoả mãn chủ yếu các nhu cầu vật chất của xã hội Do đó lợi ích kinh tế biểu hiện cụ thể về sự thay đổi cán cân thương mại, ở mức độ lợi nhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sản xuất…

Lợi ích xã hội của VĐT XDCB, ngoài việc thực hiện các mục tiêu kinh tế nói trên còn thực hiện các mục tiêu xã hội khác như mục tiêu chính trị, mục tiêu an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội…Theo đó lợi ích xã hội của VĐT XDCB còn bao gồm những sự thay đổi về điều kiện sống và điều kiện lao động, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi công cộng, chăm sóc y tế và quyền bình đẳng…Dựa vào quá trình quản lý đầu tư XDCB ta thấy: từ khi có VĐT, tiến hành thực hiện đầu tư sẽ tạo một khối lượng tài sản cố định Khi các TSCĐ này được sử dụng (giai đoạn khai thác dự án) sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nhất định Lợi ích của VĐT chỉ xuất hiện khi mà sản phẩm hàng hoá dịch vụ được

sử dụng thoả mãn nhu cầu theo mục tiêu đã định.” [3, tr 20]

1.4.3 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả VĐT xây dựng cơ bản

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về tiêu chuẩn hiệu quả VĐT, đối với

đề tài luận văn này ta xét tới tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả như sau:

TSCĐ là kết quả do VĐT tạo ra, do đó hiệu suất TSCĐ phản ánh một cách khái quát hiệu quả VĐT trong kỳ Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế vĩ mô

Hệ số thực hiện VĐT là một chỉ tiêu quan trọng Nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng VĐT bỏ ra với các TSCĐ (kết quả của VĐT) được đưa vào sử dụng

Hệ số được tính theo công thức sau:

Trang 28

H0 = FA/I Trong đó:

H0: Hệ số thực hiện VĐT

FA: Giá trị TSCĐ được đưa vào sử dụng trong kỳ

I: Tổng số VĐT trong kỳ

Theo cách tính này hệ số VĐT càng lớn biểu hiện hiệu quả VĐT càng cao [4, tr.42]

1.4.4 Các tiêu chí sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT XDCB

Tùy vào từng công trình xây dựng cơ bản cụ thể mà có những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án cũng như chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý dự án khác nhau; Đối với Dự án xây dựng, mở rộng trường Đại học Y Hải Phòng, ngoài tiêu chí then chốt

là đáp ứng tiến độ theo kế hoạch thì cần phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản như sau: 1.4.4.1 Tiêu chí về môi trường

Hoạt động kỹ thuật của dự án trong giai đoạn này là: San lấp mặt bằng, thi công các hạng mục công trình phục vụ cho dự án Một số tác động đến môi trường khu vực trong giai đoạn này là:

- Tăng tiếng ồn nhưng ở mức độ không lớn, tăng lượng bụi bẩn cũng như các khí thải xả từ các máy thi công Tuy nhiên, khu vực xây dựng có mặt bằng thi công rộng, cách xa các công trình kiến trúc nên ảnh hưởng của chấn động nêu trên nhìn chung không gây ảnh hưởng đến các công trình trong khu vực

- Tăng ô nhiễm khu nước và vùng đất bởi các rác thải rắn và nước sinh hoạt của con người, nước lẫn dầu của máy thi công hoạt động

- Một số tai nạn cần được phòng tránh như: hoả hoạn, sự cố các công trình tạm và các rủi ro khác trong thi công

1.4.4.2 Tiêu chí về mặt xã hội

- Sự phát triển cơ sở hạ tầng của trường nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như nâng cao tay nghề của các đội ngũ sinh viên khi ra trường Từ đó, cung cấp một lượng nhân lực tay nghề cao không nhỏ nhân lực về ngành y tế cho thành phố Hải Phòng và các khu vực lân cận

1.4.4.3 Tiêu chí khác

Trang 29

- Quản lý khai thác của các đơn vị tham gia đầu tư – quản lý – khai thác hệ thống công trình kết cấu hạ tầng

1.4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách vào đầu tư XDCB

Năng lực của cơ quan nhà nước: đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án Để dự án đạt được kết quả mong muốn , các cơ quan thực hiện đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực) Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án

Kinh phí: đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt chẽ Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều

dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng

Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực hiện đầu tư công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạnh cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội [9, tr.21]

Bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội , chính trị, tiến bộ khoa học – công nghệ… đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư Những biến động này

Trang 30

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:

1.5.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

“Phương pháp luận được áp dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Theo phương pháp này, việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, kinh tế, xã hội không thực hiện trong trạng thái rời rạc, đơn lẻ mà luôn đặt trong mối liên hệ ràng buộc các sự vật, hiện tượng và trong

sự vận động phát triển từ thấp đến cao, trong sự chuyển hoá từ lượng sang chất, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai

Đồng thời, trong luận văn này học viên cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tổng hợp và đánh giá thực tiễn, phân tích và hệ thống hoá.” [3, tr.32]

1.5.2 Các phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu

Việc tiến hành khảo sát điều tra thu thập số liệu phục vụ cho cho thực hiện luận văn được tiến hành như sau:

+ Xem xét các văn bản, chính sách, các báo cáo tổng kết trường và các nguồn

số liệu thống kê

+ Tổng quan các tư liệu hiện có về lĩnh vực đầu tư XDCB đã được đang tải trên các sách báo, tạp chí, các báo cáo tổng kết hội nghị hội thảo, kết quả của các đợt điều tra của các tổ chức, các cuộc trả lời phỏng vấn của các nhà khoa học, nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các tài liệu đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng

+ Trao đổi ý kiến trực tiếp với Ban quản lý dự án, một vài đơn vị thi công trong trường Đại học Y Hải Phòng

1.5.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài những phương pháp kể trên, bản thân đã tham khảo các tài liệu quản lý trong lĩnh vực XDCB để làm căn cứ cho việc đưa các kết luận một cách xác đáng, có căn cứ khoa học và thực tiễn; làm cơ

sở cho việc đề xuất các giải pháp có tính thực tiễn, có khả năng thực thi và có sức

Trang 31

Nhìn chung những công trình nghiên cứu này đã đánh giá, giải quyết các vấn

đề liên quan đến tác động của đầu tư đối với tăng trưởng, mối quan hệ giữa chi tiêu ngân sách với việc phát triển xã hội, đưa ra các giải pháp cần thiết như tạo các điều kiện để đa dạng hóa các nguồn đầu tư, tập trung nguồn lực của nhà nước vào các lĩnh vực cần thiết, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội Riêng đối với công tác quản lý đ ầu tư công, còn chưa có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể, do vậy việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y

HẢI PHÒNG 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý

Trường Đại học Y Hải Phòng (tên quốc tế: Haiphong University Of Medicine and Pharmacy) là một cơ sở đào tạo bác sỹ đa khoa và chuyên khoa, cử nhân điều dưỡng, cử nhân Kỹ thuật Y Học và là một trung tâm nghiên cứu y học tại thành phố Hải Phòng, Việt Nam Cơ sở mới của trường tọa lạc tại 72A, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Ngô Quyền

2.1.2 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng

Hiện nay nhà trường đã hoàn tất đưa vào sử dụng khu nhà 07 tầng hiện đại, khang trang từ năm 2006 và khu nhà giảng đường 05 tầng, ngoài ra nhà trường cũng đang tiến hành xây dựng Nhà giảng dạy, đào tạo nghiên cứu khoa học 14 tầng, diện tích xây dựng 1400 m2, diện tích sàn 17300 m2 Tổng mức đầu tư là 205,34 tỷ đồng bằng nguồn đầu tư phát triển NSNN và nguồn vốn tự huy động Dự

án được khởi công năm 2010, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2015 Hiện tại

Trang 33

công trình đang được khẩn trương hoàn thiện để đưa vào sử dụng vào quý I năm

2016 để đáp ứng yêu cầu đào tạo chung của nhà trường Sau khi hoàn thành sẽ đáp ứng mục tiêu qui mô đào tạo 6000 sinh viên

Bên cạnh đó trường còn có Bệnh viện thực hành với 150 giường bệnh (quy

mô 400 giường bệnh vào năm 2020) với đầy đủ các khoa, phòng chức năng (5 phòng, 24 khoa) với nhiều trang thiết bị hiện đại được đưa vào sử dụng đảm bảo cho công tác giảng dạy thực hành tại chỗ, nghiên cứu khoa học và phục vụ người bệnh Bệnh viện phát triển một số mũi nhọn y tế:

- Đầu tư phát triển các kỹ thuật cao như: Tán sỏi ngoài cơ thể, mổ mắt bằng

kỹ thuật phaco hiện đại, phát triển labo sinh học phân tử (PCR) nhằm định hướng các loại vi rút HIV, Viêm gan B,C, xác định chuẩn đoán Lao trong dịch màng phổi, chẩn đoán bệnh lậu mãn

- Phòng khám y học gia đình: Có thể khám lấy máu xét nghiệp và theo dõi điều trị tại nhà để bệnh nhân đỡ phải đi lại trong những trường hợp bệnh nhẹ, vừa Đồng thời có thể quản lý sức khoẻ cho tất cả các thành viên trong gia đình theo định kỳ hàng tháng

- Trung tâm y học thể thao và phục hồi chức năng: khám và chăm sóc sức khoẻ cho các vận động viên thể thao, đặc biệt các vận động viên có thành tích cao

- Hiện nay bệnh viện Đại học Y Dược Hải Phòng đã đưa vào hoạt động trung tâm Điều trị rối loạn giấc ngủ và Trung tâm Chuẩn đoán trước sinh Bên cạnh đó Bệnh viên cũng đang tiến hành xây dựng khu nhà điều trị 10 tầng dự kiến hoàn thành vào năm 2015

Trường có cơ sở thực hành tại các Bệnh viện đa khoa và chuyên khoa của thành phố (Bệnh viện Việt Tiệp, Bệnh viện Phụ Sản, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Kiến An,….) với đội ngũ giáo viên kiêm chức có trình độ cao và bệnh viện có trang thiết bị hiện đại đáp ứng công tác đào tạo Đại học, Sau đại học, nghiên cứu khoa học và phục vụ bệnh nhân trong khu vực [6, tr.1-2]

Trang 34

2.2 Thực trạng Đầu tư Xây dựng cơ bản trong Đại học Y Hải Phòng giai đoạn 2010-2015

2.2.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển trường Đại học Y Hải Phòng

2.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển Đại học Y Hải Phòng từ năm 2010-2015

Nguồn vốn đầu tư phát triển Đại học Y Hải Phòng từ năm 2010 - 2015 được

phân bổ cho Dự án: Xây dựng, mở rộng Trường Đại học Y Hải Phòng

Ngày phê duyệt quyết định đầu tư: Quyết định số 4269/QĐ-BYT ngày 30/10/2008; Phê duyệt lại Quyết định số 1859/QĐ-BYT ngày 8/6/2011

Thời gian thực hiện:

+ Thời gian bắt đầu: năm 2010

+ Thời gian kết thúc: năm 2015

+ Vốn đầu tư phát triển Ngân sách Nhà nước: 149.000.000.000 đồng

+ Vốn đầu tư từ Quỹ phát triển Hoạt động sự nghiệp và các nguồn vốn huy

động hợp pháp khác của chủ đầu tư: 56.338.856.000 đồng

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu vốn đầu tư

Trang 35

Bảng 2.2 Nguồn vốn cấp đầu tư phát triển trường Đại học Y HP giai đoạn 2010 – 2015)

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w