1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý cán bộ, công chức tại ủy ban nhân dân quận ngô quyền

78 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 712,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công chức: “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, c

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, Nhà nước ta luôn quan tâm nâng cao chất lượng quản lý cán bộ công chức và đã đạt nhiều kết quả Tuy nhiên, trong quá trình quản lý cán

bộ công chức còn nhiều hạn chế cần phải tiếp tục giải quyết Đo đó, nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học về công tác quản lý cán bộ công chức là rất quan trọng Trên cơ sở đó, Nhà nước xây dựng chiến lược đào tạo, phát triển đội ngũ cán

bộ công chức có đầy đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu đề ra Các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ công chức

Nằm trong tình trạng chung đó, Quận Ngô Quyền đang từng bước cùng với các cơ quan của thành phố đang giải quyết các bài toán như: quản lý và sử dụng cán bộ công chức sao cho hợp lý, phát huy hết khả năng; đào tạo phải đo đôi với sử dụng; chính sách thu hút nhân tài về công tác tại quận,

Thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu phát triển của Quận Ngô Quyền theo tinh thần Công văn số 2468/UBND-TH ngày 16/4/2014 của UBND thành phố Hải Phòng “về việc đồng ý cho UBND Quận Ngô Quyền lập điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2025” Muốn đạt mục tiêu trên, Quận Ngô Quyền cần quan tâm đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu Điều này, đặt ra bài toán “Làm thế nào để nâng cao chất lượng quản lý cán bộ công chức để đáp ứng yêu cầu phát triển của quận”

Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân Quận Ngô Quyền” Trong

đó, tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng quản lý CBCC tại UBND Quận Ngô Quyền giai đoạn 2016 - 2020

Trang 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng “Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản

lý cán bộ công chức Đánh giá thực trạng quản lý cán bộ công chức tại Uỷ ban

nhân dân Quận Ngô Quyền”

- Phạm vi nghiên cứu “Thực trạng quản lý cán bộ công chức tại Uỷ ban nhân dân Quận Ngô Quyền giai đoạn 2011 – 2015”

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu “Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý cán bộ công chức Nhà nước Đánh giá thực trạng chất lượng quản lý cán bộ công chức tại UBND Quận Ngô Quyền giai đoạn 2011 - 2015, đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng quản lý cán

bộ công chức giai đoạn 2016 – 2020”

Nhiệm vụ “Nghiên cứu một cách có hệ thống lý thuyết về quản lý cán bộ công chức Đánh giá được thực trạng về những kết quả đạt được cũng như hạn chế trong quản lý cán bộ công chức tại UBND Quận Ngô Quyền để từ đó đề ra biện pháp nâng cao chất lượng quản lý cán bộ công chức Quận Ngô Quyền giai đoạn

2016 – 2020”

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận “thu thập tài liệu để phân tích thông tin và

hệ thống hóa các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài”

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn “Phương pháp điều tra phân tích,

phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp…”

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Về mặt khoa học “Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý cán bộ công chức; xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý CBCC để làm rõ những nội dung của công tác quản lý cán bộ công chức, điều kiện khách quan của việc quản lý cán bộ công chức tại UBND Quận Ngô Quyền giai đoạn 2016 – 2020”

- Về mặt thực tiễn “Đánh giá thực trạng quản lý cán bộ công chức tại UBND Quận Ngô Quyền giai đoạn 2011 - 2015 Chỉ ra được những hạn chế trong quản lý

Trang 3

cán bộ công chức làm cơ sở đề đưa ra những biện pháp có giá trị thực tiễn cao nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản lý cán bộ công chức quận giai đoạn 2016 – 2020”

6 Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm 3 phần chính như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý cán bộ công chức ở Việt Nam

Chương 2 Thực trạng quản lý cán bộ công chức tại Uỷ ban nhân dân Quận

Ngô Quyền giai đoạn 2011 - 2015

Chương 3 Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý cán bộ công chức tại Ủy

ban nhân dân Quận Ngô Quyền giai đoạn 2016 - 2020

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁN BỘ CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại cán bộ, công chức

1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức:

Theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 (có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/2010) thì:

- Cán bộ: “là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

- Công chức: “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã): “là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” Công chức cấp xã “là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ

Trang 5

một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

1.1.2 Đặc điểm của cán bộ, công chức:

Cán bộ công chức nhà nước “là lực lượng trực tiếp thực thi pháp luật, quản

lý và điều hành tổ chức theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động liên tục, hiệu quả trên cơ sở đảm bảo kỷ cương phép nước Các mệnh lệnh, quyết định quản lý trong mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội là do công chức hành chính là người triển khai thực hiện” Do vậy, cán bộ công chức hành chính nhà nước có 06 đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất “là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ”

- Thứ hai, “là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có chuyên môn hóa cao”

- Thứ ba, “tương đối ổn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng”

- Thứ tư, “Hoạt động của đội ngũ công chức hành chính diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp”

- Thứ năm, “Họ am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế”

- Thứ sáu, “Trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân”

1.1.3 Phân loại cán bộ, công chức:

Phân loại công chức dựa trên ngạch được bổ nhiệm và vị trí công chức (Theo Điều 34, Luật Cán bộ, công chức năm 2008), cụ thể:

- Theo ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành các loại:

+ Loại A “gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương”

+ Loại B “gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương”

+ Loại C “gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương”

Trang 6

+ Loại D “gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên”

- Theo vị trí công tác, công chức được phân thành 2 loại:

+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

- Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức ở trung ương

- Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp tỉnh

- Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp huyện

- Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp xã

Trong từng ngành chuyên môn có một hoặc một số ngạch phân ra từ cao đến thấp, thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn của công chức Mỗi một ngạch có những mức lương khác nhau, được xếp theo bậc lương Theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ “việc nâng

từ mức lương thấp lên mức lương cao hơn trong ngạch được thực hiện gắn với thâm niên công tác, trừ trường hợp được nâng lương trước thời hạn do có thành tích, cống hiến trong công tác” Nâng lương được tiến hành thường kỳ theo quy định của pháp luật Áp dụng nâng từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn được tiến hành thông qua kỳ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh

Trang 7

1.2 Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức:

1.2.1 Khái niệm quản lý công chức:

Hoạt động công vụ, công chức được nhiều chủ thể quản lý dưới nhiều phương diện khác nhau như quản lý nhà nước; quản lý nhân sự của các cơ quan sử dụng cán bộ, công chức; quản lý theo hệ thống tổ chức Đảng, đoàn thể…

Nếu quản lý công chức “là quản lý hệ thống nhân lực trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước” Thì việc quản lý công vụ lại tập trung vào khía cạnh

khác, đó là “những quy tắc, quy trình hoạt động công vụ; quản lý hành vi và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức hành chính; thái độ ứng xử giữa công chức với nhân dân, giữa các công chức với nhau và giữa các đơn vị, tổ chức hành chính trong quá trình hoạt động của bộ máy nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng và vận hành một nền hành chính Nhà nước mang tính phục vụ, hiệu quả, hiệu lực”

Quản lý công vụ, công chức thực chất “là quản lý hệ thống nhân sự và chất lượng hoạt động của bộ máy các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước” Vì vậy, công chức và công vụ là hai phạm trù khác nhau nhưng cùng là đối tượng điều chỉnh mang tính trực tiếp hoặc gián tiếp của các văn bản pháp lý liên quan, trong

đó quản lý công chức cũng bao hàm ý nghĩa quản lý công vụ và ngược lại, quản lý công vụ cũng có nội dung quản lý công chức

Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức “là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền quản lý, phân công, bố trí, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức”

Cơ quan quản lý cán bộ, công chức “là tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, nâng lương, cho thôi việc, nghỉ hưu, giải quyết chế độ, chính sách và khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức”

1.2.2 Mục tiêu quản lý cán bộ, công chức:

“Quản lý cán bộ, công chức cũng giống như quản lý nguồn nhân lực của tổ chức nhằm tạo ra một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức” Quản lý cán bộ, công chức nhằm đạt 5 mục tiêu sau:

Trang 8

- Thứ nhất “Đáp ứng đòi hỏi của tổ chức về phát triển nguồn nhân lực Quản

lý cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của tổ chức để thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra”

- Thứ hai “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nhà nước, cải cách hành chính, cải cách chế

độ công vụ, công chức và yêu cầu quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa,

xã hội”

- Thứ ba “Tạo cơ hội để cán bộ, công chức phát triển tài năng”

- Thứ tư “Bảo đảm thực thi công vụ đúng pháp luật nhà nước quy định”

- Thứ năm “Xây dựng một môi trường làm việc văn hóa, hiệu quả trên cơ sở hợp tác, phối hợp giữa từng cán bộ, công chức với nhau trong cơ quan, tổ chức”

1.2.3 Nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức:

“Cán bộ, công chức là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực làm trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc đặc trưng trong khoa học quản lý nguồn nhân lực Do

đó quản lý cán bộ, công chức phải tuân thủ một số nguyên tắc có tính đặc thù riêng” Điều 5 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định việc quản lý cán bộ, công chức phải tuân thủ 5 nguyên tắc sau đây:

- Thứ nhất “Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”

- Thứ hai “Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế”

- Thứ ba “Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng”

- Thứ tư “Việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ”

- Thứ năm “Thực hiện bình đẳng giới”

1.2.4 Nội dung quản lý cán bộ công chức:

1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công chức

2 Xây dựng kế hoạch, quy hoạch công chức

Trang 9

3 Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức

4 Xác định số lượng và quản lý biên chế công chức

5 Tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng công chức

6 Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức

7 Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với công chức

8 Tổ chức thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật đối với công chức

9 Thực hiện chế độ thôi việc, nghỉ hưu đối với công chức

10 Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ công chức

11 Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định của pháp luật về công chức

12 Chỉ đạo, tổ chức giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức

1.2.5 Tổ chức bộ máy quản lý công vụ, công chức:

Hiện nay, hệ thống quản lý công vụ, công chức ở nước ta gồm có các cơ quan sau:

- “Quản lý nhân sự cấp cao”: Ban Tổ chức Trung ương Đảng

- “Quản lý nhà nước về công chức, công vụ”: Bộ Nội vụ

- “Quản lý chế độ tài chính”: Bộ Tài chính

- “Quản lý chế độ tiền lương”: Bộ Nội vụ

- “Quản lý chế độ sau công vụ”: Bảo hiểm Xã hội

Ngoài ra còn có cơ quan quản lý ngành dọc về tổ chức, cán bộ gồm “ Sở Nội

vụ các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị chuyên ngành nội vụ ở cấp huyện; Vụ Tổ chức - Cán bộ ở các bộ, cơ quan ngang bộ, bộ phận tổ chức - cán bộ thuộc các đơn vị sự nghiệp”

1.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý cán bộ công chức:

1.3.1 Về cơ sở pháp lý về quản lý cán bộ, công chức:

* Giai đoạn 1998 – 2008:

Năm 1998, Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn quản lý công chức với

Trang 10

nhiều nội dung đổi mới Các vấn đề “về quản lý biên chế, về tuyển dụng, sử dụng

và quản lý cán bộ, công chức; về kỷ luật cán bộ, công chức; về chế độ thôi việc, nghỉ hưu; về đào tạo, bồi dưỡng; ” đều được Chính phủ quy định chi tiết và các

cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện

Năm 2003, thực hiện chủ trương của Đảng “về tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, đẩy mạnh phân cấp quản lý cán bộ, công chức, đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước”, Nhà nước đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức để đáp ứng yêu cầu đó Theo đó, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 đã “phân định cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước với cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước; quy định chế độ công chức dự bị; bổ sung cán bộ chuyên trách cấp xã vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh; đồng thời đổi mới một bước cơ chế quản lý biên chế và tuyển dụng công chức vào các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của nhà nước”

Đến năm 2004, Nhà nước tiếp tục “cải cách chế độ tiền lương đối với cán

bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang”

Có thể nói, “Từ năm 1998 đến năm 2008, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã thực sự là cơ sở pháp lý rất quan trọng để bước đầu đổi mới hoạt động công vụ, công chức ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước”

* Giai đoạn từ năm 2008 đến nay:

Từ năm 2008 đến nay, để chuẩn hóa và đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức, Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để điều chỉnh công tác này Điển hình là Luật cán bộ công chức năm 2008 thay thế cho Pháp lệnh cán bộ công chức

Để bảo đảm thống nhất trong quản lý công chức, Luật cán bộ, công chức quy định rõ “Đối với cán bộ, việc quản lý thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Đối với công chức, việc quản lý nhà nước về công chức do Chính phủ quản lý thống nhất”

Trang 11

Tiếp đến, Chính Phủ cũng đã ban hành các văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức năm 2008, cụ thể:

- Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 của Chính phủ quy định

“Về những người là công chức”;

- Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05-03-2010 của Chính phủ quy định

“về đào tạo bồi dưỡng công chức”;

- Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 8-3-2010 của Chính Phủ “về quản lý biên chế công chức”:

- Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15-3-2010 của Chính phủ “về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức”;

- Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15-4-2010 của Chính phủ quy định

“Chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua – khen thưởng”;

- Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17-5-2011 của Chính phủ quy định về xử

lý kỷ luật đối với công chức”;

- Nghị định số 36/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định “về vị trí việc làm

và cơ cấu ngạch công chức”;

- Nghị định số 56/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định “về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức”;

1.3.2 Quản lý biên chế và xác định vị trí việc làm:

Biên chế “là số lượng người làm việc trong mỗi cơ quan, tổ chức”

Vị trí việc làm “là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, đơn vị”

Việc quản lý biên chế công chức phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Thứ nhất “Tuân thủ các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”

- Thứ hai “Bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa quản lý biên chế công chức với tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức”

- Thứ ba “Kết hợp giữa quản lý biên chế công chức với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của công chức”

Trang 12

- Thứ tư “Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, bảo đảm biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị”

- Thứ năm “Công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý biên chế công chức”

Do đó, việc xác định “biên chế công chức” trong từng cơ quan, đơn vị phải dựa vào “vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền quy định”

Theo Nghị định số 36/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định “về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức”, việc xác định “vị trí việc làm” và “cơ cấu ngạch công chức” bao gồm những bước sau:

Bước 1 - Thống kê công việc theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị

Bước 2 - Phân nhóm công việc

Bước 3 - Xác định các yếu tố ảnh hưởng

Bước 4 - Thống kê, đánh giá thực trạng đội ngũ công chức

Bước 5 - Xác định danh mục vị trí việc làm và phân loại các vị trí việc làm cần có để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức

Bước 6 - Xây dựng bản mô tả công việc của từng vị trí việc làm

Bước 7 - Xây dựng khung năng lực của từng vị trí việc làm

Bước 7 - Xác định ngạch công chức tương ứng

1.3.3 Công tác quy hoạch cán bộ:

* Các khái niệm về quy hoạch cán bộ:

Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý “là công tác phát hiện sớm nguồn cán

bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của đất nước”

Trang 13

Đề án quy hoạch cán bộ “là kế hoạch tổng thể, dài hạn về đội ngũ cán bộ có triển vọng đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng số cán bộ đó theo quy hoạch”

Quy hoạch "mở" được hiểu là một chức danh cần quy hoạch một số người

và một người có thể quy hoạch vào một số chức danh; giới thiệu cán bộ vào quy hoạch không khép kín trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị, không chỉ đưa vào quy hoạch những cán bộ tại chỗ mà cần xem xét, đưa vào quy hoạch cả các đồng chí có đủ tiêu chuẩn, điều kiện và triển vọng đảm nhiệm chức danh quy hoạch ở địa phương, cơ quan, đơn vị khác

Quy hoạch "động" là quy hoạch đựợc định kỳ rà soát, bổ sung, điều chỉnh theo sát sự phát triển của cán bộ; kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không còn đủ tiêu chuẩn, điều kiện, không có triển vọng phát triển hoặc uy tín thấp qua lấy phiếu tín nhiệm hằng năm; bổ sung vào quy hoạch những cán bộ có triển vọng phát triển

Quy hoạch cán bộ “là tạo nguồn để chủ động chuẩn bị cán bộ cho việc bổ nhiệm, bố trí nhân sự nêu trên”

Bố trí nhân sự “là lựa chọn cán bộ trong quy hoạch để bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử đảm đương ngay vị trí lãnh đạo, quản lý khi có nhu cầu hoặc khi đến kỳ đại hội đảng, bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ”

* Các yêu cầu đối với công tác quy hoạch:

Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ cán bộ; phải gắn với các khâu khác trong công tác cán

bộ, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của cả đội ngũ cán bộ trong hệ thống:

- Để quy hoạch cán bộ sát với thực tiễn và có tính khả thi, phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ để xác định tiêu chuẩn, cơ cấu đội ngũ cán bộ trong quy hoạch (trình độ, ngành nghề, lĩnh vực công tác, độ tuổi, nam, nữ, dân tộc ); phải nắm chắc đội ngũ cán bộ hiện có, dự báo được nhu cầu cán bộ trước mắt và lâu dài, trên cơ sở đó mới tiến hành lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào

Trang 14

quy hoạch, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ theo quy hoạch

- Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được xây dựng trên cơ sở quy hoạch cấp ủy đảng các cấp, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở cho quy hoạch ở cấp trên, bảo đảm sự liên thông, gắn kết giữa quy hoạch của các địa phương, ban, bộ, ngành với nhau; giữa quy hoạch cán bộ lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương với quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Phải đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch

- Quy hoạch cán bộ phải bảo đảm phương châm "mở" và "động": “Đối với cán bộ có trong quy hoạch ở nơi khác, được đề xuất, giới thiệu vào quy hoạch của địa phương, cơ quan, đơn vị mình, cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ (ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, vụ (ban) tổ chức cán bộ các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương) cần liên hệ với cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nơi cán bộ đang công tác để thẩm định, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định đưa vào quy hoạch, thông báo cho địa phương, cơ quan, đơn

vị nơi cán bộ đang công tác và cá nhân cán bộ đó biết, không tổ chức lấy phiếu giới thiệu đối với nhân sự đó (cả nơi cán bộ đang công tác và nơi đưa cán bộ vào quy hoạch) Cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch có trách nhiệm bổ sung nhân

sự từ nơi khác vào quy hoạch của cấp dưới”

- Thống nhất thực hiện chủ trương quy hoạch cán bộ lên chức vụ cao hơn, không quy hoạch tái cử, tái bổ nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm khi xây dựng quy hoạch nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo, cũng như khi rà soát, bổ sung quy hoạch của nhiệm kỳ hiện tại Các đồng chí đương nhiệm về nguyên tắc đã phải có

đủ tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ đang đảm nhiệm, nếu có triển vọng phát triển thì đưa vào quy hoạch chức vụ cao hơn; nếu đủ tiêu chuẩn, điều kiện tiếp tục tái cử thì là nguồn đương nhiên để xem xét khi tiến hành công tác nhân sự của khóa mới

Trang 15

- Đối với cán bộ đảm nhiệm chức danh có quy định một người không giữ chức vụ quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp, cần xem xét đưa vào quy hoạch chức vụ khác, hoặc bố trí giữ chức vụ đó ở địa phương, cơ quan, đơn vị khác

- Số lượng nguồn đưa vào quy hoạch:

+ Đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý, tối thiểu phải quy hoạch 2-3 người vào 01 chức danh; không quy hoạch 01 người cho 01 chức danh

+ Không quy hoạch 1 người vào quá 3 chức danh; không quy hoạch 01 chức danh quá 4 người (ví dụ: chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định có 3 người, thì số lượng đưa vào quy hoạch không quá 3 x 4 = 12 người)

- Yêu cầu về độ tuổi và cơ cấu cán bộ nữ trong quy hoạch:

+ “Cần đưa vào quy hoạch những đồng chí có triển vọng, nhưng phải trẻ tuổi, để có quỹ thời gian cho việc đào tạo, bồi dưỡng về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh qua thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở cấp dưới Để đến khi bố trí cán

bộ vào chức danh quy hoạch, phải bảo đảm những đồng chí lần đầu tham gia cấp

ủy hoặc lần đầu bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý phải

đủ tuổi công tác từ hai nhiệm kỳ trở lên, ít nhất cũng trọn một nhiệm kỳ (mỗi nhiệm kỳ là 5 năm)”

+ Những đồng chí đã có trong quy hoạch nhưng không đủ tuổi bổ nhiệm hoặc ứng cử lần đầu vào chức danh quy hoạch, cần đưa ra khỏi quy hoạch

+ Về cơ cấu 3 độ tuổi: “Duy trì nghiêm cơ cấu ba độ tuổi trong quy hoạch cấp ủy và ban lãnh đạo, quản lý các cấp Chức danh lãnh đạo, quản lý phải bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi; dãn cách giữa các độ tuổi là 5 năm, cấp có thẩm quyền chỉ phê duyệt quy hoạch khi đáp ứng yêu cầu này”

+ Về tỷ lệ cán bộ nữ: Bảo đảm tỷ lệ cán bộ nữ không dưới 15%

+ Thực hiện công khai trong công tác quy hoạch cán bộ

- Đảm bảo công khai trong quy hoạch cán bộ

1.3.4 Tuyển dụng công chức:

Tuyển dụng “là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức” Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào “nhiệm vụ, vị trí

Trang 16

việc làm và chỉ tiêu biên chế”; “không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều được đăng ký dự tuyển công chức” và người được tuyển dụng phải đảm bảo 6 điều kiện:

- Thứ nhất là “Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”

- Thứ hai là “Đủ 18 tuổi trở lên”

- Thứ ba là “Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng”

- Thứ tư là “Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp”

- Thứ năm là “Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt”

- Thứ sáu là “Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ”

Theo Luật quốc tịch Việt Nam quy định “Nhà nước Việt Nam cho phép công dân Việt Nam được phép mang quốc tịch của nước khác” nhưng để tuyển dụng vào công chức thì người đăng ký dự tuyển chỉ được mang một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam

Trước đây, độ tuổi tuyển dụng quy định “từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi” Nhưng đến nay, tuổi dự tuyển công chức chỉ quy định “từ đủ 18 tuổi trở lên” mà không khống chế tuổi “trần” Quy định như vậy là để phù hợp với “Luật bảo hiểm xã hội

về loại hình bảo hiểm tự nguyện”, tạo điều kiện cho “những người khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội được tiếp tục đóng bảo hiểm”

Ngoài các điều kiện trên, theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, “cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng có thể quy định thêm một số điều kiện khác, nhưng không được trái với các quy định của pháp luật” Luật cũng quy định đối với những người không được đăng ký dự tuyển công chức:

- Thứ nhất “Không cư trú tại Việt Nam”

- Thứ hai “Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”

- Thứ ba “Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục”

Trang 17

Theo Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15-3-2010 của Chính phủ “về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức”, để thu hút người có tài năng, có trình

độ tham gia vào trong hoạt động công vụ, cũng đã quy định “cho phép người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt sau”:

- Thứ nhất “Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học

Về chế độ tập sự “Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế

độ tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng” Thời gian tập sự được quy định như sau:

- “12 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức” loại C

- “06 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức” loại D

Do “Luật cán bộ, công chức năm 2008” không quy định chế độ “công chức

dự bị”, do đó để bảo đảm quyền lợi cho những người đang là “công chức dự bị”, Chính phủ đã cho phép “người được tuyển dụng vào công chức dự bị trước ngày 01-01-2010 theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 thì được chuyển sang thực hiện chế độ tập sự Thời gian đã thực hiện chế độ công chức dự

bị được tính vào thời gian tập sự” Ngoài ra để bảo đảm được mục đích và ý nghĩa của chế độ độ tập sự thì Luật quy định “thời gian nghỉ sinh con theo chế độ bảo hiểm xã hội và thời gian nghỉ ốm đau, bị tạm giam, tạm giữ, tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật không được tính vào thời gian tập sự”

Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, về thẩm quyền, nội dung, hình thức các môn thi trong kỳ thi tuyển công chức đã được đổi mới, quy định phù hợp với nguyên tắc tổ chức tuyển dụng theo vị trí việc làm, chú trọng về kỹ năng, nghiệp vụ thực tế của công việc Về nội dung, hình thức tuyển dụng đã được đổi

Trang 18

nghiệp vụ trong tuyển dụng Cụ thể là: Về thi tuyển công chức quy định thi môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành; còn môn ngoại ngữ và môn tin học chỉ là môn điều kiện Môn nghiệp vụ chuyên ngành được tính hệ số 02 Nội dung thi môn nghiệp vụ chuyên ngành được gắn với từng ngạch, chức danh, vị trí việc làm cần tuyển, đảm bảo phù hợp với yêu cầu của cơ quan sử dụng công chức Trong kỳ thi tuyển công chức, các thí sinh dự thi vào các vị trí việc làm khác nhau

sẽ có đề thi khác nhau cho phù hợp, không thi chung đề như trước đây Về xét tuyển công chức đã quy định khi xét tuyển phải căn cứ vào kết quả học tập và tổ chức phỏng vấn Như vậy đã khắc phục được hạn chế khi xét tuyển theo đối tượng

ưu tiên như trước đây, bảo đảm tuyển được công chức có năng lực, trình độ ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa

Khoản 2, Điều 62, Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định “cán bộ, công chức cấp xã khi giữ chức vụ được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật được xem xét chuyển thành công chức và được miễn chế độ tập sự, được hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu không được chuyển thành công chức mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật” Do vậy, Chính phủ cũng đã quy định cụ thể việc cán bộ, công chức cấp xã chuyển thành công chức từ cấp huyện trở lên nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau:

- Thứ nhất “Cơ quan sử dụng công chức có nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu ngạch công chức phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển dụng”

- Thứ hai “Có đủ các tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm”

- Thứ ba “Có thời gian làm cán bộ, công chức cấp xã từ đủ 60 tháng trở lên Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã có thời gian công tác không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội bắt buộc một lần thì được cộng dồn”

- Thứ tư “Có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao”

Trang 19

- Thứ năm “Không trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc đang bị thi hành quyết định kỷ luật của cơ quan có thẩm quyền, đang bị truy cứu trách nhiệm hình

sự, đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Toà

án mà chưa được xoá án tích, đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng”

1.3.5 Công tác Đào tạo, bồi dƣỡng:

* Các khái niệm về đào tạo, bồi dƣỡng:

- Đào tạo “là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”

- Bồi dưỡng “là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”

- Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch “là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức”

- Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý “là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý”

- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm “là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao”

* Mục tiêu đào tạo, bồi dƣỡng công chức:

- Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ

- Góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại

* Nguyên tắc đào tạo, bồi dƣỡng

- Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị

- Bảo đảm tính tự chủ của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng

- Kết hợp cơ chế phân cấp và cơ chế cạnh tranh trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

Trang 20

- Đề cao vai trò tự học và quyền của công chức trong việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm

- Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả

* Chế độ đào tạo, bồi dƣỡng

- Hướng dẫn tập sự đối với công chức trong thời gian tập sự

- Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức

- Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý

- Bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm (thời gian thực hiện là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết)

- Thời gian tham gia các khóa bồi dưỡng khác nhau được cộng dồn

* Nội dung đào tạo, bồi dƣỡng

- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước “Lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ; Kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc”

- Nội dung bồi dưỡng ở ngoài nước “Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản

lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành; Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế”

Trang 21

Biệt phái “là việc công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị này được cử đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ”

- Việc điều động công chức được thực hiện trong các trường hợp: “Theo yêu cầu nhiệm vụ cụ thể; chuyển đổi vị trí công tác theo quy định của pháp luật; Theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và giữa các

cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền”

- Việc luân chuyển công chức chỉ thực hiện đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và trong quy hoạch vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn

- Việc biệt phái công chức được thực hiện trong các trường hợp “Theo nhiệm vụ đột xuất, cấp bách; Để thực hiện công việc chỉ cần giải quyết trong một thời gian nhất định; Thời hạn biệt phái công chức không quá 03 năm Đối với một

số ngành, lĩnh vực đặc thù, thời hạn biệt phái thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành Công chức được cử biệt phái chịu sự phân công, bố trí, đánh giá, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi được biệt phái đến và vẫn thuộc biên chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị cử biệt phái Cơ quan, tổ chức, đơn vị cử công chức biệt phái có trách nhiệm bố trí công việc phù hợp cho công chức khi hết thời hạn biệt phái, có trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi khác của công chức được cử biệt phái”

- Việc từ chức đối với công chức được thực hiện trong các trường hợp

“Công chức tự nguyện, chủ động xin từ chức để chuyển giao vị trí lãnh đạo, quản lý; Công chức nhận thấy không đủ sức khỏe, năng lực, uy tín để hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao; Công chức nhận thấy sai phạm, khuyết điểm của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc của cấp dưới có liên quan đến trách nhiệm của mình; Công chức có nguyện vọng xin từ chức vì các lý do cá nhân khác”

- Việc miễn nhiệm đối với công chức được thực hiện trong các trường hợp:

“Được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển, bố trí, phân công công tác khác

mà không được kiêm nhiệm chức vụ cũ; Không đủ sức khỏe để tiếp tục lãnh đạo, quản lý; Không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước nhưng chưa đến mức bị kỷ luật bằng hình thức cách chức; Không đủ năng lực, uy tín để làm việc; Vi phạm quy định của cơ quan có thẩm quyền về bảo vệ chính trị nội bộ”

Trang 22

- Công chức chưa được cấp có thẩm quyền quyết định cho từ chức hoặc miễn nhiệm vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao Công chức sau khi thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý do từ chức hoặc miễn nhiệm được người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức bố trí, phân công công tác khác phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và trình độ, năng lực của công chức

1.3.7 Đánh giá cán bộ, công chức:

Việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao “Đánh giá công chức là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức” Do đặc điểm, phạm vi

và tính chất hoạt động công vụ của công chức là khác với cán bộ, do đó nội dung đánh giá cán bộ và công chức là có những điểm khác nhau

Nếu như cán bộ được đánh giá gắn với các nội dung như “năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm trong công tác; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao ” thì đối với công chức, nội dung đánh giá tập trung vào “năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân ”

Ngoài ra, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung sau đây:

- Kết quả hoạt động của tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý

- Năng lực lãnh đạo, quản lý

- Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức

Thẩm quyền đánh giá công chức là “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn

vị sử dụng công chức có trách nhiệm đánh giá công chức thuộc quyền” Tuy nhiên, khi tiến hành đánh giá công chức thì tập thể công chức của cơ quan sử dụng công chức họp tham gia góp ý Ý kiến góp ý được lập thành biên bản và thông qua tại cuộc họp

Trang 23

Kết quả đánh giá công chức được chia ra thành 4 mức “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; Không hoàn thành nhiệm vụ” Kết quả phân loại đánh giá công chức được lưu vào hồ sơ công chức và thông báo đến công chức được đánh giá Theo quy định “Công chức 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác Công chức 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc” Việc giải quyết cho thôi việc đối với công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ là một giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, tránh sức ì của cán bộ, công chức, góp phần thực hiện chương trình tinh giản biên chế của Chính Phủ

1.3.8 Về chế độ đãi ngộ cán bộ, công chức:

* Về khen thưởng cán bộ, công chức:

Công chức có thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng Bên cạnh đó, công chức được khen thưởng

do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được

ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, đơn vị có nhu cầu

Điểm mới của việc nâng ngạch công chức qua kỳ thi là thực hiện “nguyên tắc cạnh tranh” Trước mắt, Chính phủ quy định việc thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh “chỉ thực hiện giữa các công chức trong cùng cơ quan quản lý công chức” Theo nguyên tắc này thì “việc quy định thâm niên giữ ngạch và hệ số lương

Trang 24

ngạch Trong kỳ thi, ai có tài năng, đạt được kết quả cao nhất sẽ được lựa chọn và

bổ nhiệm vào ngạch chức danh công chức cao hơn”

Trên cơ sở quy định của Luật cán bộ, công chức, “Trong năm 2012, Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ đã tổ chức thành công kỳ thi nâng ngạch công chức

từ ngạch chuyên viên lên lên ngạch chuyên viên chính và từ ngạch chuyên viên chính lên ngạch chuyên viên cao cấp theo nguyên tắc cạnh tranh Trong những năm tiếp theo, Bộ Nội vụ sẽ nghiên cứu, tiếp đổi các kỳ thi nâng ngạch công chức

từ ngạch chuyên viên lên lên ngạch chuyên viên chính và từ ngạch chuyên viên chính lên ngạch chuyên viên cao cấp theo nguyên tắc cạnh tranh theo hướng ngày càng đơn giản, thuận lợi hơn cho cán bộ, công chức dự thi (thí dụ có thể không tổ chức ôn thi tập trung; ra đề thi hoặc bộ câu hỏi thi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng) nhưng vẫn bảo đảm thực hiện nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc thực tài của Luật cán bộ, công chức”

Từ chức “là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý đề nghị được thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm”

Về kỷ luật công chức, cần chú ý một số điểm:

Một là, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng “hình thức kỷ luật, trình

tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật theo quy định tại; không áp dụng đối với công chức cấp xã”

Hai là, để bảo đảm tính thống nhất, tính liên thông với các quy định pháp luật khác có liên quan “Nghị định 34/2011/NĐ-CP đã bổ sung các hành vi bị xử lý

kỷ luật liên quan đến vi phạm các quy định của pháp luật phòng, chống tham nhũng; về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; về bình đẳng giới; về phòng, chống

tệ nạn mại dâm, ma tuý” Đối với các trường hợp chưa xử lý kỷ luật, để bảo đảm

Trang 25

nguyên tắc bình đẳng giới - một nguyên tắc rất quan trọng trong xây dựng pháp luật hiện nay – “khoản 3 Điều 4 Nghị định 34/2011/NĐ-CP đã bổ sung quy định công chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản và công chức đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi cũng là trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật” Đây là điểm đổi mới so với Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17-3-2005 “về việc xử lý

kỷ luật cán bộ, công chức chỉ quy định đối với trường hợp cán bộ, công chức nữ nghỉ thai sản”

Ba là, phân nhóm đối tượng để xác định hình thức kỷ luật phù hợp Đã được

“Nghị định 34/2011/NĐ-CP thiết kế theo hướng có những hình thức kỷ luật áp dụng riêng cho nhóm đối tượng là công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

và nhóm đối tượng là công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý” Các hình thức kỷ luật áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gồm “khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc” Các hình thức kỷ luật áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bao gồm “khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc”

Bốn là, bỏ hình thức kỷ luật “hạ ngạch” và bổ sung hình thức kỷ luật “giáng chức” Ví dụ: “Công chức giữ chức vụ trưởng phòng nếu bị áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức thì bị giáng xuống chức vụ phó trưởng phòng” “Trường hợp công chức không còn chức vụ lãnh đạo thấp hơn chức vụ đang giữ mà nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xem xét ở hình thức kỷ luật giáng chức thì giáng xuống không còn giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý” Ví dụ: “Công chức giữ chức vụ phó trưởng phòng nếu bị áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức mà không còn chức vụ nào thấp hơn thì bị giáng xuống không còn giữ chức vụ”

Năm là “trường hợp công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian đang thi hành quyết định kỷ luật ở hình thức hạ bậc lương thì khi áp dụng hình thức kỷ luật mới, người có thẩm quyền phải ra quyết định khôi phục lại bậc lương

đã bị hạ theo quyết định kỷ luật đã ban hành trước đó”

* Về thôi việc, nghỉ hưu:

Thôi việc và nghỉ hưu “là những trường hợp công chức được giải quyết cho rời khỏi công vụ theo quy định của pháp luật”

Trang 26

Thôi việc là “Công chức được giải quyết chế độ thôi việc trong các trường hợp thôi việc theo nguyện vọng và thôi việc do được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý”

Ngoài ra, việc thôi việc còn được áp dụng “đối với công chức có 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật cán bộ, công chức năm 2008” Luật cũng quy định “Trường hợp chưa được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý mà công chức tự ý bỏ việc thì không được hưởng chế độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật Công chức đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự thì không giải quyết thôi việc Công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì không giải quyết thôi việc, trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng”

Theo Luật cán bộ công chức thì công chức thôi việc được hưởng trợ cấp thôi việc như sau: “cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 (một phần hai) tháng lương hiện hưởng, gồm mức lương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) Mức trợ cấp thấp nhất bằng 01 (một) tháng lương hiện hưởng”

Luật cán bộ, công chức năm 2008 không quy định việc kéo dài thời gian làm việc đối với công chức Công chức được nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động: “Thời điểm nghỉ hưu là ngày 01 của tháng liền kề sau tháng công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định Trường hợp trong hồ sơ của công chức không ghi rõ ngày, tháng sinh trong năm thì thời điểm nghỉ hưu là ngày 01 tháng 01 của năm liền kề sau năm công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định” Thời điểm nghỉ hưu được lùi theo một trong các trường hợp sau:

- Trường hợp 1 “Không quá 01 tháng đối với một trong các trường hợp: thời điểm nghỉ hưu trùng với ngày nghỉ Tết Nguyên đán; công chức có vợ hoặc chồng,

bố, mẹ (vợ hoặc chồng), con bị từ trần, bị Toà án tuyên bố mất tích; bản thân và gia đình công chức bị thiệt hại do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn”

- Trường hợp 2 “Không quá 03 tháng đối với một trong các trường hợp: bị bệnh nặng hoặc bị tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện”

Trang 27

- Trường hợp 3 “Không quá 06 tháng đối với trường hợp đang điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, có giấy xác nhận của bệnh viện”

Trong trường hợp “công chức được lùi thời điểm nghỉ hưu thuộc nhiều trường hợp quy định nêu trên thì chỉ được thực hiện theo quy định đối với một trường hợp có thời gian lùi thời điểm nghỉ hưu nhiều nhất” “Cơ quan, tổ chức, đơn

vị quản lý công chức quyết định việc lùi thời điểm nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật cán bộ, công chức năm 2008, trừ trường hợp công chức không có nguyện vọng lùi thời điểm nghỉ hưu”

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI UBND QUẬN NGÔ QUYỀN

2.1 Giới thiệu chung về UBND Quận Ngô Quyền

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:

Quận Ngô Quyền là một trong 7 quận của thành phố Hải Phòng, nằm ở phía Đông Bắc thành phố, thành lập ngày 05/7/1961 Hiện có 13 phường: Cầu Đất, Lạch Tray, Máy Tơ, Lê Lợi, Gia Viên, Lương Khánh Thiện, Máy Chai, Lạc Viên, Cầu Tre, Vạn Mỹ, Đằng Giang, Đông Khê, Đồng Quốc Bình

ta với các nước trên thế giới

Nhiều cơ quan chuyên môn của Thành uỷ, các sở, ban, ngành của thành phố; các trường đại học như Đại học Hàng hải, Đại học Y Hải Phòng, Trường Chính trị

Tô Hiệu, Viện Nghiên cứu Hải sản ; các công trình văn hoá, sinh hoạt cộng đồng như Cung văn hoá Hữu nghị Việt - Tiệp, Cung Văn hoá – Thể thao Thanh niên, Cung Văn hoá thiếu nhi thành phố, Sân vận động Lạch Tray, Công viên Hồ An Biên, ; một số trung tâm thương mại, chợ lớn như: siêu thị BigC, siêu thị Intimex Lạch Tray, Thùy Dương Plaza, Cát Bi Plaza, chợ Ga… trên địa bàn quận

Giai đoạn 2010-2015, Quận Ngô quyền thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh trong bối cảnh tình hình kinh tế của đất nước và thành phố có nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của sự suy giảm kinh tế thế giới kéo dài và chậm phục hồi, an ninh, chính trị thế giới và khu vực diễn biến

Trang 29

phức tạp, đặc biệt tình hình biển Đông diễn biến phức tạp đã tác động bất lợi đến kinh tế của thành phố nói chung và Quận Ngô Quyền nói riêng Năm 2012-2013, kinh tế vĩ mô không ổn định, lạm phát ở mức cao; lãi suất huy động và cho vay của ngân hàng quá cao đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp, dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của quận, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng cho yêu cầu phát triển

Cơ cấu kinh tế của Quận đang phát triển theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành công nghiệp, một số trung tâm thương mại, dịch vụ như bigC, Coop-mart, khách sạn, các nhà hàng kinh doanh, được hình thành Theo báo cáo của Phòng Nội vụ Quận Ngô Quyền, một số chỉ tiêu kinh tế trên địa bàn quận đạt như sau:

- Về Giá trị Sản xuất công nghiệp trung bình hàng năm tăng 8,35% Năm

2015 ước đạt 166.270 triệu đồng, bằng 100,16% kế hoạch năm và tăng 6,58% so với năm 2014

- Về Giá trị các ngành dịch vụ trung bình hàng năm tăng là 16,2% Năm

2015 ước đạt 18.080 tỷ đồng, bằng 100,02% kế hoạch năm và tăng 14,55% so với năm 2014

- Thu ngân sách nhà nước trung bình hàng năm tăng 10% Riêng năm 2015 ước đạt 890.830 triệu đồng, tăng 46,69% so với dự toán và tăng 35,18% so với cùng kỳ

Đến cuối năm 2015, lĩnh vực văn hóa – xã hội của quận đạt được nhiều kết quả tích cực Tỷ lệ hộ nghèo duy trì ở mức 0,94% theo chỉ tiêu kế hoạch Giới thiệu và giải quyết việc làm ước đạt 35.334 lượt người

Những năm qua, Quận Ngô Quyền là một trong những điểm sáng của toàn quốc mô hình “một cửa liên thông hiện đại”, thí điểm xây dựng Đề án “Chính quyền điện tử” trong giải quyết thủ tục hành chính, được Trung ương, các tỉnh, thành phố bạn đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức và công dân khoa học hơn, rút ngắn được thời gian giải

Trang 30

quyết hơn; tạo được sự công khai, minh bạch hơn, chất lượng phục vụ nhân dân được tốt hơn, đem lại sự hài lòng cho người dân

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của UBND Quận Ngô Quyền:

Ủy bản nhân dân Quận Ngô Quyền: “Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế -

xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn

Uỷ ban nhân dân quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật

Tổ chức chính quyền năm 2015”

Về tổ chức: các cơ quan môn thuộc UBND quận được sắp xếp, tổ chức theo

“Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” Theo đó, quận có 12 phòng chuyên môn với 112 công chức:

+ Phòng Quản lý đô thị : 09 người;

+ Phòng Tài nguyên và Môi trường : 11 người;

+ Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội : 08 người;

+ Phòng Văn hóa và Thông tin : 05 người;

+ Phòng Giáo dục và Đào tạo : 13 người;

+ Phòng Tài chính - Kế hoạch : 10 người;

Trang 31

Sơ đồ 2.1 “Cơ cấu tổ chức của UBND Quận Ngô Quyền”

CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Trang 32

2.2 Đánh giá thực trạng quản lý cán bộ công chức tại UBND Quận Ngô Quyền giai đoạn 2011 - 2015

2.2.1 Quản lý biên chế và xác định vị trí việc làm:

Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận được quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003 và Điều 7 Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường

* Văn bản pháp lý về việc thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận:

- Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, ngày 05/5/2014 của Chính phủ “Quy định

tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”

* Văn bản pháp lý về việc điều chỉnh tăng, giảm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị:

- Thông tư số 06/2008/TT-BNV ngày 21/8/2008 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 04/2008/TT-BNV ngày 04/6/2008 của Bộ Nội vụ;

- Thông tư 04/2011/TT-BNV hướng dẫn bổ sung nhiệm vụ, tổ chức và biên chế của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện về công tác thanh niên do Bộ Nội vụ ban hành

* Các văn bản pháp lý liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận:

- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003;

- Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, phường;

Trang 33

- Thông tư số 04/2008/TT-BNV ngày 04/6/2008 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

- Thông tư liên tịch 90/2009/TTLT-BTC-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về lĩnh vực tài chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện do Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ ban hành;

- Thông tư liên tịch 47/2011/TTLT-BGDĐT-BNV hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ ban hành;

- Thông tư liên tịch 07/2008/TTLT-BCT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về công thương thuộc

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện do Bộ Công thương - Bộ Nội vụ ban hành;

- Thông tư liên tịch 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã về lao động, người có công và xã hội do Bộ lao động thương binh xã hội -

Bộ nội vụ ban hành;

- Thông tư liên tịch 12/2008/TTLT-BGTVT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về giao thông vận tải thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện do Bộ Giao thông vận tải và Bộ Nội

vụ ban hành;

- Thông tư số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV, ngày 15/7/2008 của Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Nội vụ “Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường”;

- Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BYT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện do Bộ Y tế - Bộ Nội vụ ban hành;

Trang 34

- Thông tư liên tịch 03/2014/TTLT-TTCP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Tổng Thanh tra Chính phủ - Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành;

- Thông tư liên tịch 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thuộc

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phòng văn hoá và thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Bộ Nội vụ ban hành; Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BTTTT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin và Truyền thông thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện do Bộ Thông tin và Truyền thông - Bộ Nội vụ ban hành

Bảng 2.1 Vị trí việc làm, Biên chế tại Uỷ ban nhân dân Quận Ngô Quyền

I Vị trí việc làm gắn với công việc lãnh đạo, quản

Trang 35

TT TÊN VỊ TRÍ VIỆC LÀM VỊ TRÍ BIÊN CHẾ

- Phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và XH 2

4 Các vị trí tại phòng Tài chính-Kế hoạch 7 7

5 Các vị trí tại phòng Tài nguyên và Môi trường 5 8

6 Các vị trí tại phòng Lao động Thương binh và XH 5 5

Trang 36

TT TÊN VỊ TRÍ VIỆC LÀM VỊ TRÍ BIÊN CHẾ

7 Các vị trí tại phòng Du lịch, Văn hóa và Thông tin 3 3

8 Các vị trí tại phòng Giáo dục và Đào tạo 9 9

III Vị trí việc làm gắn với công việc hỗ trợ, phục vụ 3 3

2.2.2 Công tác quy hoạch cán bộ:

Công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ công chức tại UBND quận có nhiều đổi mới theo hướng “Đánh giá cán bộ công chức trên cơ sở hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu” “Công tác quy hoạch, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý giai đoạn 2011-2015 được thực hiện thường xuyên, đúng quy định Tăng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ Khắc phục việc khép kín trong từng phòng” Vì thế, chất lượng công tác quy hoạch được nâng lên

Trang 37

Quận chủ trương “Nhận xét đánh giá đúng khả năng, năng lực CBCC để đưa vào quy hoạch ở các vị trí chức danh lãnh đạo quản lý Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, công chức thực hiện khách quan phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của công tác quản lý, đảm bảo công khai, dân chủ”

Bảng 2.2 Đánh giá thực trạng quy hoạch cán bộ quản lý

Chênh lệch (+/-)

Tổng hợp số liệu từ Phòng Nội vụ quận cho thấy “Từ năm 2011 đến năm

2015 đã có 72 công chức được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo quản lý, chiếm 64% tổng số công chức, tỷ lệ nữ chiếm 31 %, công chức trẻ dưới 40 tuổi chiếm 25%” Số công chức trong diện quy hoạch đã có “8 công chức bổ nhiệm cấp trưởng phòng, 12 công chức được bổ nhiệm cấp phó trưởng phòng, 15 công chức được điều động bổ nhiệm đảm nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND phường”

UBND quận quan tâm đến việc tạo nguồn cán bộ kế cận trẻ, có năng lực, trình độ và có tinh thần trách nhiệm Sau khi được quy hoạch, quận đã bố trí công tác phù hợp, tạo điều kiện cho công chức được rèn luyện, học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ bảo đảm tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý theo quy định Qua tổng hợp cho thấy “Trong 5 năm UBND quận đã cử 28 CBCC tham gia lớp học trung cấp, 6 CBCC tham gia lớp học cao cấp lý luận chính trị, trong đó có 2 CBCC trẻ học tập trung”

Trang 38

- Thứ nhất “Một số đơn vị còn nhầm lẫn công tác quy hoạch cán bộ với công tác nhân sự; bị động, khép kín trong công tác quy hoạch cán bộ”

- Thứ hai “Công tác tạo nguồn tại một số phòng còn mỏng, số lượng công chức quy hoạch cho các chức danh còn ít, cá biệt có phòng không có nguồn cho công chức lãnh đạo, quản lý tại chỗ, chưa đảm bảo 2-3 người cho một chức danh, chưa đạt được cơ cấu giữa 3 độ tuổi”

- Thứ ba “Một số phòng việc nhận xét, đánh giá cán bộ chưa đi vào thực chất, còn mang tính hình thức cho nên cán bộ đưa vào quy hoạch chưa đạt chuẩn theo quy định”

2.2.3 Tuyển dụng, bố trí, sử dụng và nâng ngạch cán bộ công chức

Tuyển dụng “là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý cán bộ công chức, có tính quyết định cho sự phát triển một cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước” Bác

Hồ đã từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” Vì vậy “việc tuyển dụng được những cán bộ công chức giỏi thì nhất định nền công vụ sẽ hoạt động đạt kết quả cao hơn vì cán bộ công chức nhà nước là nhân tố quyết định đến sự vận hành của một nền công vụ”

Bảng 2.3 Đánh giá thực trạng công tác tuyển dụng, tiếp nhận công chức

TT Hình thức Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015

So sánh (%)

Chênh lệch (+/-)

Trang 39

tuyển công chức do Sở Nội vụ Hải Phòng tổ chức, UBND quận đã tuyển dụng được 28 CBCC có phẩm chất, trình độ, năng lực vào các phòng ban chuyên môn thuộc quận”

Bảng 2.4 Xác định Cơ cấu ngạch công chức tại Uỷ ban nhân dân Quận Ngô Quyền

“Từ năm 2013 đến nay, thành phố đã tổ chức 02 đợt thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính đối với công chức; UBND quận đã cử 04 công chức tham gia; 01 đợt thi nâng ngạch từ cán sự lên chuyên viên, UBND quận đã cử 01 công chức tham gia và đã được Sở Nội vụ quyết định nâng ngạch theo quy định Việc

bố trí, sắp xếp và sử dụng công chức tại các phòng ban thuộc UBND quận cơ bản đảm bảo đúng người, đúng việc trên cơ sở vị trí việc làm góp phần bảo đảm công chức hoàn thành nhiệm vụ”

Tuy vậy, còn tình trạng phòng bố trí, sử dụng công chức chưa đúng với trình

độ đào tạo, chưa hợp lý, cảm tính

2.2.4 Công tác đào tạo, bồi dƣỡng:

Công tác đào tạo, bồi dưỡng được UBND quận quan tâm và gắn với quy hoạch cán bộ, chú trọng công tác đào tạo tại chỗ và tự đào tạo Ví dụ: Công chức

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ương khóa X (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2009
11. Đảng cộng sảng Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sảng Việt Nam lần thứ XI. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sảng Việt Nam lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sảng Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
16. Học viện Hành chính Quốc gia (2010), Giáo trình lý luận hành chính nhà nước. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2010
17. TS Nguyễn Trọng Điều, Phó Trưởng Ban TCCB Chính phủ (2002), “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay”
Tác giả: TS Nguyễn Trọng Điều, Phó Trưởng Ban TCCB Chính phủ
Năm: 2002
18. Tô Tử Hạ (2003), “Một số giải pháp để xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước hiện nay”, Tạp chí Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số giải pháp để xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước hiện nay”
Tác giả: Tô Tử Hạ
Năm: 2003
19. Trần Quốc Hải (2003), “Đổi mới và hoàn thiện tiêu chuẩn công chức trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới và hoàn thiện tiêu chuẩn công chức trong giai đoạn hiện nay”
Tác giả: Trần Quốc Hải
Năm: 2003
24. Trần Đình Thắng (2013), Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước
Tác giả: Trần Đình Thắng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 3 khóa VIII Khác
3. Bộ Chính trị khóa VII (1995), Nghị quyết số 08-NQ/HNTW ngày 23/1/1995 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII Khác
4. Bộ Chính trị khoá X (2007), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác
5. Bộ Chính trị khoá X (2010), Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08-02-2010 về việc ban hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức Khác
6. Chính phủ (2003), Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Khác
7. Chính phủ (2003), Nghị định số 115/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về chế độ công chức dự bị Khác
8. Chính phủ (2003), Nghị định số 71/2003/NĐ-CP ngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân cấp quản ký biên chế hành chính, sự nghiệp nhà nước Khác
9. Chính phủ (2010), Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính Phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Khác
10. Chính phủ (2010), Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 của Chính Phủ về quản lý biên chế công chức Khác
12. Đảng bộ thành phố Hải Phòng (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XIV nhiệm kỳ 2010 - 2015 Khác
13. Đảng bộ Quận Ngô Quyền: Nghị quyết Đại hội XXI Đảng bộ Quận Ngô Quyền nhiệm kỳ 2010 - 2015; Nghị quyết Đại hội XXII Đảng bộ Quận Ngô Quyền nhiệm kỳ 2015 - 2020 Khác
14. Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, tập 5, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Hồ Chí Minh (2003), Tư tưởng về Nhà nước của dân, do dân, vì dân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w