Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là phải đổimới phương pháp dạy học, chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dụ
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
1 - Lí do chọn đề tài 2
2 - Mục đích nghiên cứu 3
3 - Đối tượng nghiên cứu 3
4 - Phương pháp nghiên cứu 3
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 - Cơ sở lí luận 4
2 - Thực trang vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5
3 - Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 6
3.1/ Dạy học hợp tác theo nhóm 6
3.2/ Sử dụng phương pháp trực quan 9
3.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 10
3.4/ Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp 13
3.5/ Xây dựng hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng 14
3.6/ Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp 15
3.7/ Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh 15
Một số ví dụ minh họa 16
4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 21
C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 22
1 Kết luận 23
2 Kiến nghị 23
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài :
Chúng ta đang sống trong một xã hội với sự phát triển nhanh như vũ bãocủa khoa học kĩ thuật, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào sựphát triển của khu vực và thế giới Thực tế đó đòi hỏi cần có một nền giáo dụcluôn cải tiến, đổi mới để theo kịp với sự thay đối của thời đại
Nền giáo dục nước ta những năm gần đây đã và đang có nhiều đổi mới tíchcực Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là phải đổimới phương pháp dạy học, chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện,
xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hànhđộng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Đặc biệt đối với bậc trunghọc cơ sở (THCS), đổi mới trong phương pháp dạy học giữ vai trò quan trọng vì đốitượng của bậc học này mang tính phức tạp
Trong các môn học ở bậc THCS, môn Vật lí được xem là môn học gắn nhiềuvới thực tiễn, yêu cầu cao về kĩ năng thực hành ở học sinh Việc đối mới phương phápgiảng dạy trong môn học lại càng quan trọng, nhất là ở lứa tuổi các em học sinh lớp 6.Các em vừa mới đặt chân vào môi trường học mới, còn nhiều bỡ ngỡ nên việc giáoviên định hướng phương pháp học có ý nghĩa quyết định trong tiếp thu bài của các em Thực tiễn giảng dạy ở một số trường phổ thông cho thấy, giáo viên thường
“lạm dụng” một số phương pháp dạy học truyền thống để thực hiện bài giảng củamình Trong quá trình sử dụng các phương pháp dạy học, giáo viên còn coi trọng chứcnăng truyền thụ tri thức của phương pháp dạy học, nên thường sử dụng phương phápdạy học theo hướng thông báo, liệt kê, nghiêng hẳn về khía cạnh tái hiện kiến thức Trên lớp học sinh chủ yếu phải nghe giảng, chép bài liên tục, ghi nhớ máy móc màkhông phát huy được tính tích cực trong quá trình học tập Học sinh ít được lôi cuốnđộng viên khích lệ để hứng thú, tự giác học tập, gây nên tình trạng chán học, bỏhọc ở một số bộ phận học lực yếu kém
Chính vì vậy, bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Vật línhiều năm, tôi rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lí bằng
Trang 3cách sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động của học sinh Vì những lí do trên tôi đã mạnh dạn đề xuất “Một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí 6 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trường THCS Đông Nam, huyện Đông Sơn”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên, học sinh trong nhà trường
- Rèn luyện tính tư duy độc lập, sáng tạo và phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh
- Rèn luyện cho học sinh thực hiện thí nghiệm chứng minh trên lớp, sử dụng hìnhảnh trực quan, làm phiếu học tập…trong việc học tập môn Vật lí 6
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : Các phương pháp đổi mới dạy học môn Vật lí 6
- Khách thể : Học sinh khối 6 trường THCS Đông Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Phân tích - tổng hợp - khái quát
- Nghiên cứu thực tiễn: Chủ yếu rút ra từ thực tế kinh nghiệm của bản thân và cácbạn đồng nghiệp qua quan sát, thực hành, kiểm tra, đối chiếu chất lượng
Trang 4B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Luật giáo dục năm 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực học tập, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớmáy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạtđộng xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổimới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhậnthức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học phải nhằm giúp học sinh phát huytính tích cực, tự giác, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác,
kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập vàtrong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Từ đó học sinhdần hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Đó là điều kiện cần thiết chobản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội
Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nóiriêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:
- Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hìnhthành và phát triển nhân cách của học sinh Dạy học không chỉ đơn thuần cung cấpcho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được,
mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu
Trang 5đào tạo Học sinh được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thìphẩm chất và năng lực của cá nhân được sớm hình thành phát triển và hoàn thiện.Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại,phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
- Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọngtruyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập vànghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ môn).Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm cho họcsinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn Điều đó có ý nghĩa to lớnvới nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai
- Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóatrong dạy học Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn giốngnhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu đểđảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh
- Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm.Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng quan trọng này của bộ môn
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Từ những năm cải cách giáo dục cho đến nay, chúng ta đã đa dạng hoá
cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Cải cách giáo dục trên cả 3 mặt: hệ thốnggiáo dục, nội dung và phương pháp dạy học Song phương pháp giáo dục vẫnchưa được quan tâm và phương pháp dạy học chưa được đổi mới tương xứng.Tình trạng phổ biến vẫn là:
+ Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạy chay.Các bài thực hành thì không có nhiều bộ đồ dùng để học sinh tự làm mà chỉ có 1đến 2 bộ thí nghiệm
+ Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vào tìnhhuống có vấn đề Giáo viên chỉ sợ học sinh không trả lời được do đó học sinhnhiều khi chỉ cần trả lời "có" hay "không"
+ Học sinh được luyện tập ở mức tối thiểu và chủ yếu là vận dụng tri thứcmột cách máy móc đơn giản
Trang 63 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạyhọc trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải thựchiện kết hợp một số giải pháp sau đây:
Bước 1: Làm chung cho cả lớp
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giaonhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm
Bước 2: Hoạt động nhóm
Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác.Thành viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến, phân công nhóm sau đó từng thànhviên làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cầnthiết Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, giáo viên tổ chức cho học sinh ở cácnhóm khác nhận xét, đánh giá và giáo viên xác nhận lại khi cần thiết Giáo viêntổng kết, chốt lại những điểm quan trọng sau khi các nhóm đã báo cáo xong.Cuối cùng giáo viên động viên, khen ngợi các nhóm cũng như các cá nhân hoànthành tốt nhiệm vụ, phê phán những cá nhân và nhóm chưa hoạt động tích cực Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm cáccông việc sau:
* Tổ chức nhóm:
+ Quy mô nhóm:
Mỗi nhóm nên có từ 3 đến 6 học sinh Nhóm 3 đến 4 học sinh là nhómnhỏ, thích hợp với các hoạt động giải bài tập rèn luyện kĩ năng hay thực hành
Trang 7trong lớp Với nhóm nhỏ, các em thảo luận, đề ra được quyết định nhanh hơn,giáo viên quản lí các thành viên trong nhóm dễ dàng hơn, nhưng việc bao quátcác nhóm phức tạp hơn, việc theo dõi hoạt động và thời gian để các nhóm trìnhbày kết quả phải nhiều hơn vì có nhiều nhóm hơn.
Nhóm từ 5 đến 6 học sinh là nhóm lớn, chủ yếu thích hợp với những công
cụ lớn, phức tạp như thực hành thí nghiệm Các nhóm lớn dễ tạo cho học sinhcảm giác vui, hồ hởi và niềm tin vào sự thành công Tuy nhiên, sự phối hợp giữacác thành viên trong nhóm là phức tạp hơn, khó đạt được sự đồng thuận hơn.Giáo viên khó khăn hơn trong việc quản lí các thành viên trong nhóm lớn nhưng
dễ dàng bao quát chung các nhóm hơn và thời gian để các nhóm trình bày kếtquả cũng ít hơn
+ Phân công nhiệm vụ trong nhóm:
Trong các nhóm thường có các thành phần: Trưởng nhóm, thư kí nhóm,báo cáo viên và các thành viên còn lại Trưởng nhóm chịu trách nhiệm chỉ đạo,điều khiển nhóm, thư kí có trách nhiệm ghi chép lại các kết quả công việc củanhóm Các thành viên còn lại trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vàohoạt động của nhóm theo sự phân công của nhóm trưởng
Sự phân công nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, không phải luôn cần cóđầy đủ các thành phần như trên Tuy nhiên một nhóm nhất thiết nên có trưởngnhóm để triển khai hoạt động của nhóm Các thành phần trong một nhóm cũngcần thực hiện luân phiên, các em trong nhóm lần lượt trao đổi với nhau thựchiện các vai trò đó để đều có cơ hội rèn luyện về mọi mặt như nhau
Trang 8dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ các dụng cụ cho các nhóm thựchành có hiệu quả.
* Giao nhiệm vụ cho nhóm:
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện Sau khi giaonhiệm vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh
đã hiểu được nhiệm vụ của mình chưa Có thể thực hiện điều này bằng cách hỏimột vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói rõnhiệm vụ của mình Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải hoànthành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7 phút
* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:
Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinhtheo các chú ý sau:
- Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khănthông qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp
- Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốnnắn Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời Dù là khuyến khíchhay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân mật, hợptác, tạo niềm tin cho học sinh
* Tổ chức hoạt động thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cửđại diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày nhưđứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác quan sát,nhận xét, bổ sung Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là rất quantrọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả lớp trongmục tiêu chung của nhiệm vụ học tập Sau khi mỗi nhóm đã trình bày và có sựnhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra ý kiến củamình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp
Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên tổngkết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và nhận xét, động
Trang 9viên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những khiếm khuyết đãmắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá trình thực hiện hoạt động nhóm
3.2/ Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:
Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sửdụng các vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ thể hóacái nhìn trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc phục khó khănban đầu, tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách hiệu quả, nhanh chóng Phương pháp trực quan thường được sử dụng trong việc dạy và học mônVật lí Nhất là đối với bậc trung học cơ sở, giáo viên cần sử dụng các vật thật,
mô hình hay tranh vẽ để minh hoạ cho các bài học thêm sinh động
Ví dụ 1: Bài 5 “Khối lượng – Đo khối lượng” - SGK Vật lí 6
Để giúp học sinh hiểu thêm một số dụng cụ dùng để đo khối lượngthường dùng trong đời sống, giáo viên cần dùng một số tranh vẽ sau:
Cân y tế Cân tạ Cân đòn Cân đồng hồ
Ví dụ 2: Bài 13: “Máy cơ đơn giản” - SGK Vật lí 6
Giáo viên cần đưa một số tranh ảnh minh họa cho học sinh thấy được một
số máy cơ đơn giản thường dùng là mặt phẳng nghiêng, đòn bẩy và ròng rọc
Trang 103.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tìnhhuống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà họcsinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họthấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ
Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợivấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủđộng, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới, rènluyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:
- Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là đượcthông báo tri thức dưới dạng có sẵn
Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy độngtri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải
là nghe thầy giảng một cách thụ động
- Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quátrình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triểnkhả năng tiến hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới
Trang 11Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiệnhoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làmcác bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
- Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra Họcsinh có thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề
- Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đềđược đặt ra
- Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó
Bước 2: Tìm giải pháp
- Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái
đã biết và cái phải tìm Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặcđiểm hoặc tính chất thích hợp
- Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giảiquyết vần đề một cách hiệu quả
Bước 3: Trình bày giải pháp
Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việcphát biểu vấn đề cho tới giải pháp Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thểkhông cần phát biểu lại vấn đề Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõràng, mạch lạc, logic
Ví dụ: Biết 10dm3 có khối lượng 15kg
a) Tính thể tích của 1 tấn cát
b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m3
Hoạt động của giáo viên và học sinh Thực hiện lời giải
Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt
học sinh làm bài tập theo trình tự các
bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán
- Em hãy cho biết đề bài đã cho những