Nhằm định hướng sự phát triển của các doanh nghiệp vận tải khách bằng xe ô tô nói chung và vận tải khách bằng taxi nói riêng trên địa bàn TP Hải Phòng phù hợp với sự phát triển kinh tế –
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự giúp đỡ, hướng dẫn của PGS.TS Dương Văn Bạo và chưa được sử dụng trong các công trình đã công bố
Tài liệu tham khảo và nội dung trích dẫn đảm bảo sự đúng đắn, chính xác, trung thực và tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 11 tháng 8 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Quang Hiếu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành hàng loạt chính sách và biện pháp lớn trên các lĩnh vực để đạt được mục tiêu trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN dưới sự quản
lý, điều tiết của Nhà nước Đối với lĩnh vực hoạt động vận tải, Chính phủ và Bộ GTVT đã ban hành nhiều văn bản nhằm tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước
Nhằm định hướng sự phát triển của các doanh nghiệp vận tải khách bằng
xe ô tô nói chung và vận tải khách bằng taxi nói riêng trên địa bàn TP Hải Phòng phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, của đất nước và tuân thủ theo đúng các quy định về điều kiện kinh doanh của pháp luật; công tác quản
lý hoạt động vận tải khách bằng taxi cần có những biện pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực vận tải góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Là cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý hoạt động vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố, trong thời gian nghiên cứu luận văn tôi đã được Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Văn Bạo cùng các thầy cô giáo Viện Đào tạo sau Đại học - Đại học Hàng hải, lãnh đạo, đồng nghiệp tại Sở GTVT Hải Phòng cùng các doanh nghiệp kinh doanh vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành tốt chương trình học tập
và luận văn cũng như việc trau dồi kiến thức phục vụ cho công tác chuyên môn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó và đặc biệt tôi xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS-TS Dương Văn Bạo đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và có các ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ 5
VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG TAXI 5
1.1 Vận tải hành khách công cộng bằng taxi 5
1.1.1 Vận tải hành khách công cộng 5
1.1.2 Vận tải hành khách công cộng bằng taxi 7
1.2 Quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi 9
1.2.1 Khái niệm Quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng 9
1.2.2 Vai trò của quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi 11 1.2.3 Nội dung công tác quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi 14
1.2.4 Công cụ và phương pháp quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi 21
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi 25
1.3.1 Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước về vận tải 25
1.3.2 Bộ máy, nhân sự quản lý 25
1.3.3 Công nghệ, trang thiết bị, phương pháp quản lý 26
1.3.4 Các nhân tố khác 26
1.4 Kinh nghiệm phát triển và quản lý vận tải hành khách công cộng bằng taxi của các nước trên thế giới và trong khu vực 27
1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ 27
1.4.2 Kinh nghiệm của Pháp 27
1.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 28
Trang 41.4.4 Kinh nghiệm của Thái Lan 28
1.4.5 Bài học kinh nghiệm 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI KHÁCH BẰNG TAXI TRÊN ĐỊA BÀNTHÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 31
2.1 Giới thiệu về hệ thống giao thông vận tải thành phố Hải Phòng 31
2.1.1 Giới thiệu về tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 31
2.1.2 Giới thiệu về hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị thành phố Hải Phòng 32
2.1.3 Giới thiệu hệ thống vận tải hành khách trên địa bàn TP Hải Phòng 39
2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2010 – 2014 và cho đến nay 55
2.2.1 Thực trạng công tác ban hành và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố Hải Phòng 55
2.2.2 Thực trạng việc tổ chức thực hiện công tác quản lý Nhà nước về vận tải khách bằng taxi trên địa bàn TP Hải Phòng 62
2.2.3 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm về kinhdoanh vận tải hành khách bằng taxi trên địa bàn thành phố Hải Phòng 66
2.3 Kết quả đạt được và những hạn chế 69
2.3.1 Kết quả đạt được 69
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 71
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC 75
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI KHÁCH BẰNG TAXI 75
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 75
3.1 Định hướng phát triển triển vận tải khách bằng taxi tại Hải Phòng 75
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng 75
3.1.2 Định hướng phát triển vận tải hành khách công cộng tại TP Hải Phòng 75
3.2 Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về vận tải khách bằng taxi trên địa bànthành phố Hải Phòng 76 3.2.1 Hoàn thiện công tác ban hành và triển khai các văn bản quy phạm pháp
Trang 53.2.2 Hoàn thiện cơ cấu quản lý VTHKCC bằng taxi tại TP Hải Phòng 78 3.2.3 Đề xuất một số biện pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về vận tải khách bằng taxi 81 3.2.4 Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động vận tải khách bằng taxi 83 3.2.5 Các biện pháp hỗ trợ phát triển dịch vụ vận tải hành khách bằng taxi 84 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hiện trạng mạng lưới đường bộ thành phố Hải Phòng 32
Bảng 2.2 Hiện trạng các bến xe khách trên địa bàn TP Hải Phòng 36
Bảng 2.3 Hiện trạng bãi đỗ xe trên địa bàn TP Hải Phòng 37
Bảng 2.4 Hiện trạng các điểm đỗ xe trên địa bàn TP Hải Phòng 38
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động VTHK bằng taxi tại Hải Phòng 42
Bảng 2.6 Cơ cấu doanh nghiệp và phương tiện taxi TP Hải Phòng 44
Bảng 2.7 Tổng hợp các hãng taxi tại thành phố Hải Phòng 45
Bảng 2.8 Tổng hợp diện tích đất làm bãi để xe của các hãng taxi trên địa bàn 47 TP Hải Phòng năm 2010-2014 47
Bảng 2.9 Điều kiện kinh doanh vận tải taxi 61
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình quản lý nhà nước về vận tải khách bằng taxi 17 Hình 2.1 Vị trí các bến xe trên địa bàn thành phố năm 2014 35 Hình 2.2 Tăng trưởng về số lượng hành khách sử dụng taxi trên địa bàn thành phốgiai đoạn 2010-2014 43 Hình 2.3 Tăng trưởng về số lượng phương tiện taxi trên đ ịa bàn thành phốgiai đoạn 2010-2014 44 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về vận tải khách tại Hải Phòng 79
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
ĐVKDVT Đơn vị kinh doanh vận tải
KT - XH Kinh tế - xã hội
PTVTKCC Phương tiện vận tải khách công cộng
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vận tải nói chung và vận tải ô tô nói riêng có vai trò thiết yếu đối với sản xuất và đời sống của con người Hiện nay ở nước ta, vận tải ô tô đảm nhiệm trên 90% tổng khối lượng vận chuyển hành khách và trên 70% tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa Vì vậy, vận tải ô tô có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Kể từ khi Nhà nước chủ trương xã hội hoá lực lượng vận tải đường bộ, các thành phần kinh tế đã phát triển mạnh mẽ, các phương tiện kinh doanh vận tải gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi la ̣i của người dân Cùng với sự phát triển của lực lượng vận tải, công tác quản lý hoạt động vận tải đường bộ cũng đã có những chuy ển biến tích cực và ngày càng được hoàn thiện
Trong các loại hình vận tải hành khách bằng ô tô nói chung thì vận tải hành khách bằng taxi nói riêng là loại hình vận tải không thể thiếu trong các đô thị, các thành phố văn minh, hiện đại đặc biệt là những thành phố, đô thị phát triển mạnh về kinh tế - chính trị - xã hội, giao lưu văn hóa, trung tâm thương mại và nhu cầu đi lại của người dân
Thành phố Hải Phòng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng tăng cao (tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 – 2013 đạt 10,96%), cùng với đó là tốc độ tăng trưởng PTGT hàng năm tăng nhanh chóng, đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân như xe máy,
ô tô con; cho nên trong những năm qua, cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tại Hải Phòng hoạt động vận tải đường bộ đã có những bước phát triển vượt bậc và hoạt động vận tải hành khách bằng taxi cũng nằm trong nhu cầu phát triển đó
Như tình hình quản lý hoạt động vận tải hiện tại của cả nước, quản lý vận tải đường bộ của Hải Phòng đến nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề tác động tiêu cực đến chất lượng dịch vụ vận tải và an toàn giao thông, làm hạn chế những
Trang 10thành công trong quá trình phát triển của vận tải đường bộ Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, mất an toàn giao thông, mất an ninh trật tự … vẫn còn diễn ra Hiện tượng “xe dù”, taxi “dù” đón trả khách không đúng nơi quy định, tranh giành khách, bán khách,… vẫn tồn tại; quản lý Nhà nước thiếu sự kết hợp đồng bộ giữa các ban ngành để thắt chặt hoạt động VTHK bằng xe ô tô đặc biệt là VTHK bằng taxi, việc thực hiện các chế tài xử phạt đối với các đơn vị kinh doanh vận tải taxi, các lái xe còn nhiều hạn chế, tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường xảy ra ở một số tuyến đường phố
Trên địa bàn thành phố Hải Phòng, ngoài việc gia tăng số lượng phương tiện nhanh chóng, sự phân bố không đồng đều tại các khu vực dân cư đã làm nảy sinh những bất cập như: ùn tắc, tai nạn giao thông, ô nhiễm không khí, tiếng ồn từ đó tạo ra áp lực lớn lên hệ thống điểm đỗ xe, bãi đỗ xe taxi trong trung tâm thành phố Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các đơn vị kinh doanh vận tải bằng taxi có xu hướng gia tăng, từ đó gây ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ
và giảm năng lực trong kinh doanh Theo điều tra khảo sát của các tổ chức, cá nhân thì các đơn vị kinh doanh VTK bằng taxi tại Hải Phòng chỉ nghiêng về hiệu quả sản xuất kinh doanh mà bỏ qua chất lượng dịch vụ, an toàn giao thông, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng taxi hoạt động lộn xộn, không đúng quy định và cũng là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây ảnh hưởng đến trật tự ATGT, văn minh đô thị của Thành phố
Để khắc phục những mặt tồn tại, hạn chế đó và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng vận tải đường bộ cả nước cũng như của Thành phố Hải Phòng một cách ổn định, theo hướng hiện đại hoá, đảm bảo an toàn với chất lượng dịch vụ phục vụ ngày càng cao đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trước hết cần đổi mới công tác quản lý vận tải đường bộ theo hướng hiện đại nhằm tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước cũng như quản lý tại các đơn vị trong lĩnh vực vận tải bằng ô tô với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, đảm bảo an toàn giao thông đáp ứng nhu
Trang 11buýt, taxi, đường sắt đô thị, …; trong đó, tập trung vào nghiên cứu các biện pháp
để phát triển loại hình VTHK bằng xe taxi với ưu điểm: cơ động, tiện nghi, an toàn, … theo hướng hiện đại hóa, đổi mới công tác quản lý tổ chức, nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn giao thông
Trên cơ sở đó với kinh nghiệm làm công tác quản lý vận tải của bản thân, với kiến thức về luật pháp, QLNN về vận tải được trang bị, với mục tiêu quản
lý, định hướng hoạt động vận tải khách bằng taxi đáp ứng nhu cầu KTXH của thành phố Việc nghiên cứu đ ề tài: “Biê ̣n pháp hoàn thiê ̣n công tác qu ản lý
Nhà nước về vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố Hải Phòng” sẽ
góp phần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước trong vận tải khách bằng taxi, để hoạt động taxi phù hợp với nhu cầu đi lại và sự phát triển KTXH của thành phố trong từng giai đoạn cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo an toàn giao thông
2 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống lại cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, thực trạng và định hướng phát triển VTHK bằng taxi tại Hải Phòng, từ đó nêu ra các biện pháp, kiến nghị, đề xuất giúp tăng cường năng lực quản lý chuyên môn của cơ quan QLNN và nâng cao hiệu quả kinh doanh VTHK bằng taxi tại thành phố, phù hợp với tình hình phát triển KTXH
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Các đơn vị kinh doanh VTHK bằng taxi;
- Công tác quản lý Nhà nước tại Hải Phòng về quản lý kinh doanh VTHK
Trang 12- Định hướng phát triển kinh tế xã hội, phát triển vận tải hành khách từ nay đến năm 2020 của TP Hải Phòng
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chung như: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề một cách khách quan và toàn diện Trên nguyên tắc tiếp cận hệ thống luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá để làm rõ hiệu quả, bản chất hoạt động của hoạt động vận tải khách bằng taxi
5 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của Quản lý Nhà nước về vận tải khách công cộng bằng taxi
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước
về vận tải khách bằng taxi trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 13CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG TAXI
1.1 Vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.1.1 Vận tải hành khách công cộng
* Khái niệm:
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp
ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển, đối tượng vận chuyển gồm con người (hành khách) và vật phẩm (hàng hoá) Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi
Theo thuật ngữ khoa học, thông lệ quốc tế mà nhiều nước đang sử dụng, trong luận văn này sử dụng một phần khái niệm về vận tải hành khách công
cộng như sau: Vận tải hành khách công cộng là tập hợp các phương tiện vận tải
hành khách trong đô thị để đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, theo thời gian xác định, theo hướng và tuyến
cố định
Qua định nghĩa trên có thể thấy, phương tiện vận tải hành khách công cộng có đặc điểm là sức chứa lớn, chuyên chở được nhiều hành khách, phục vụ đông đảo nhân dân, diện tích chiếm dụng đường rất nhỏ so với các loại phương tiện khác (tính trên một hành khách) Phương tiện vận tải có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như: chức năng sử dụng, vị trí xe chạy, đặc điểm xây dựng đường xe chạy, động cơ sử dụng, sức chứa của phương tiện,… Phương tiện vận tải bao gồm: xe điện bánh sắt, tàu khách chạy điện, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao, ô tô buýt, xe điện bánh hơi, taxi, xe lam, xích lô, xe thô sơ
* Phân loại vận tải hành khách công cộng
Trang 14Hệ thống vận tải hành khách công cộng có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau Nhưng tựu chung lại, hệ thống VTHKCC có thể bao gồm một số loại hình cơ bản như sau:
- VTHKCC bằng ô tô buýt (vận tải xe BUÝT)
- VTHKCC bằng ô tô tắcxi (vận tải TAXI)
- VTHKCC bằng tàu điện bánh hơi (vận tải TROLAYBUS)
- VTHKCC bằng tàu điện bánh sắt (vận tải TRAMWAY)
- VTHKCC bằng tàu điện ngầm (vận tải bằng METRO )
- VTHKCC bằng tàu điện trên cao (Monoray)
* Vai trò của vận tải hành khách công cộng
Vận tải hành khách công cộng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu của người dân:
Vận tải hành khách công cộng phục vụ cho sự di chuyển của người dân: trước sự phát triển ngày càng cao của xã hội, vận tải hành khách công cộng không những thỏa mãn nhu cầu theo đúng thời gian và không gian xác định, còn đảm bảo cho hành khách khỏi một số tác nhân tác động khi di chuyển bằng phương tiện cá nhân như mưa, nắng, bụi, khói, …
Vận tải hành khách công cộng có vai trò tạo thuận lợi cho việc phát triển chung của đô thị: Đô thị ngày càng phát triển dẫn đến tăng cả về số lượng và quy mô dân cư, khu công nghiệp, khu thương mại, trung tâm văn hóa, … Do đó xuất hiện các quan hệ vận tải với công suất lớn, khoảng cách xa, … nằm ngoài khả năng đáp ứng của phương tiện vận tải cá nhân
Vận tải hành khách công cộng có vai trò là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tiết kiệm thời gian đi lại của người dân, tăng cao năng suất lao động xã hội: Khi tần suất đi lại ngày một tăng lên, cự ly đi lại bình quân lớn dẫn đến tổng hao phí thời gian đi lại trung bình trên một người dân ngày càng tăng cao Vận tải hành khách công cộng là một giải pháp hữu hiệu góp phần tiết kiệm thời gian đi lại cho người dân, đảm bảo an toàn, giữ gìn sức khỏe giúp tăng năng
Trang 15Vận tải hành khách công cộng có vai trò góp phần bảo vệ môi trường: Một trong những tác nhân lớn hủy hoại môi trường sinh thái là do khí thải của các phương tiện vận tải gây ra Do đó, căn cứ đặc điểm của vận tải hành khách công cộng có thể thấy hiệu quả về giảm thiểu khí thải, mật độ bụi, cường độ ồn,
… ra môi trường của hình thái vận tải này
Vận tải hành khách công cộng có vai trò là một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo trật tự ổn định xã hội: Khi xã hội ngày càng phát triển, cường độ
đi lại của người dân ngày càng tăng cao Do đó, khi người dân sử dụng vận tải hành khách công cộng sẽ góp phần giúp cho việc kiểm soát dòng người và phương tiện dễ dàng hơn, đảm bảo được trật tự ổn định xã hội
1.1.2 Vận tải hành khách công cộng bằng taxi
- Xe taxi là loại xe ôtô có không quá 9 ghế (kể cả ghế người lái) được thiết kế để vận chuyển khách đáp ứng các điều kiện vận chuyển taxi
- Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi:
“+ Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có hành trình và lịch trình theo yêu cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào ki lô mét xe lăn bánh, thời gian chờ đợi;
+ Xe có hộp đèn với chữ "TAXI" gắn cố định trên nóc xe;” [15]
- Điểm đỗ xe taxi là nơi cơ quan có thẩm quyền quy định cho xe taxi được
đỗ chờ đón khách hoặc đỗ trong thời gian ngừng vận hành
Vận tải taxi rất phổ biến trong vận tải hành khách ở các nước, đặc biệt ở các thành phố lớn nó bổ sung hỗ trợ cho các hình thức vận tải hành khách khác Taxi thường được sử dụng phổ biến trong các trường hợp sau:
- Những chuyến đi yêu cầu nhanh chóng khẩn trương;
- Những chuyến đi yêu cầu vận chuyển từ cửa đến cửa (đi và đến tận cửa nhà);
- Những chuyến đi mà ở vùng đó mạng lưới hành trình vận tải công cộng không đảm bảo hoặc chưa có;
- Những chuyến đi mà hành khách mang theo nhiều hành lý;
Trang 16- Những chuyến đi vào những thời điểm mạng lưới vận tải công cộng không làm việc
* Yêu cầu đối với vận tải taxi
- Với phương tiện:
+ Có không quá 9 ghế (kể cả ghế người lái) được thiết kế để vận chuyển khách; có niên hạn sử dụng không quá 12 năm; có chứng nhận kiểm định an toàn
kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
+ Có máy bộ đàm liên hệ với Trung tâm điều hành của doanh nghiệp + Có phù hiệu “XE TAXI”; trên nóc taxi phải gắn cố định hộp đèn có chữ
“TAXI” hoặc “METER TAXI” bằng chữ in nhãn từ được cả phía trước và phía sau hộp đèn Trên hộp đèn có thể ghi thêm tên doanh nghiệp, số điện thoại của doanh nghiệp với cỡ chữ và số nhỏ hơn cỡ chữ “TAXI” hoặc “METER TAXI” Hộp đèn phải được bật sáng khi xe không có khách và tự tắt khi xe có khách
+ Phía mặt ngoài hai bên thành xe phải ghi tên, số điện thoại doanh nghiệp, biểu trưng lôgô của doanh nghiệp (nếu có), số thứ tự xe taxi (theo số thứ
tự của doanh nghiệp quản lý)
- Đồng hồ tính tiền: Xe taxi phải có đồng hồ tính tiền theo quy định sau: + Đồng hồ tính tiền được tính bằng tiền Việt Nam (VNĐ) đơn giá trên số
* Đặc điểm của vận tải taxi
- Nhu cầu sử dụng taxi thay đổi theo thời gian (theo giờ trong ngày: giờ rất sớm, khuya; theo ngày trong tuần: ngày làm việc và ngày nghỉ; theo mùa; theo hướng)
Trang 17- Khối lượng hành khách do vận tải taxi đảm nhận chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng khối lượng hành khách vận chuyển
- Số chuyến sử dụng taxi trong năm của người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố (phong tục tập quán, thu nhập bình quân đầu người, giá cả vận tải taxi )
- Độ dài chuyến đi trong vận tải taxi hết sức đa dạng phụ thuộc nhiều yếu tố
- Số người cùng đi (nhóm) trên 1 xe taxi có thể: từ 1 đến sức chứa tối đa của xe
- Phương tiện sử dụng trong vận tải taxi yêu cầu có tính năng tốc độ cao, có chỗ để hành lý, có thiết bị tính tiền tự động, có đèn hiệu, có ký hiệu riêng
- Thời gian hoạt động bình quân của một xe trong ngày từ 14 - 15 giờ, thời gian làm việc của taxi thường là suốt cả ngày đêm (đối với những thành phố lớn), quãng đường xe chạy trong ngày lớn từ 200 - 300 Km / ngày
- Giá cước trong vận tải taxi thường được tính theo số lần mở cửa xe, số
Km xe lăn bánh và thời gian chờ đợi được trả tiền
- Các hình thức vận tải taxi bao gồm taxi tự do và taxi hành trình
1.2 Quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.2.1 Khái niệm Quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng
Quản lý Nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội Nội hàm của quản lý Nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Xét về mặt chức năng, quản lý Nhà nước bao gồm
3 chức năng: thứ nhất, chức năng lâp pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính Nhà nước đảm nhiệm; và thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư
pháp thể hiện “Có thể hiểu quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì
sự ổn định và phát triển của xã hội.”[10, tr 3]
Trang 18“Quản lý Nhà nước về lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ là sự tác động của bộ máy quản lý Nhà nước vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong hoạt động giao thông vận tải đường bộ.”[11]
Quản lý Nhà nước về hoạt động vận tải đường bộ nói chung gồm các nội dung cơ bản sau đây:
- Quản lý về quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển vận tải bằng xe ôtô;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vận tải đường bộ;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động vận tải: Việc tuyên truyền, phổ biến nhằm mục đích để các tổ chức, cá nhân có liên quan hiểu
và thực hiện đúng nội dung văn bản;
- Công tác thanh tra, kiểm tra, tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động vận tải do các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền thực hiện [11]
Quản lý Nhà nước về hoạt động vận tải hành khách bằng taxi cũng nằm trong quản lý Nhà nước về hoạt động vận tải đường bộ bằng xe ô tô và là toàn
bộ những hoạt động quản lý của các cơ quan chấp hành và điều hành của bộ máy Nhà nước để tác động vào các quá trình, các quan hệ thuộc hoạt động vận tải hành khách bằng taxi Gồm các nội dung sau:
- Xây dựng mục tiêu quy hoạch, chiến lược, kế hoạch định hướng phát triển đối với hoạt động VTHK bằng taxi, quan tâm, khuyến khích các doanh nghiệp vận tải bằng taxi phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh bình đẳng nhằm đảm bảo hoạt động theo định hướng phát triển của Nhà nước
- Nghiên cứu, xem xét các vướng mắc, kiến nghị của các doanh nghiệp để
có những chỉ đạo tháo gỡ kịp thời Hướng dẫn doanh nghiệp hoạt động theo đúng pháp luật, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp và phát huy được vai trò của họ trong nền kinh tế quốc dân đồng thời đảm bảo cạnh tranh
Trang 19- Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật
- Tổ chức đăng ký kinh doanh, hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh loại hình vận tải taxi phải bảo đảm thực hiện đúng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế – xã hội
- Tổ chức thực hiện và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao phẩm chất đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp, phẩm chất chính trị, nghiệp vụ cho người cán bộ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp, đào tạo và xây dựng đội ngũ lái xe tay nghề cao và có thái văn minh, lịch sự
- Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội
- Kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chế độ báo cáo tài chính định kỳ và báo cáo khác
Như vậy, có thể tổng hợp nội dung của công tác quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi bao gồm:
- Ban hành, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi;
- Tổ chức thực hiện việc quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi;
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện;
- Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.2.2 Vai trò của quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.2.2.1 Vai trò của quản lý Nhà nước về vận tải
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo hoạt động vận tải được trật tự, an toàn và đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa
và đi lại của nhân dân với chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao Quản lý Nhà nước về hoạt động vận tải bằng ôtô có những vai trò chính như sau:
Đối với xã hội:
Trang 20Quản lý Nhà nước về vận tải có mục tiêu xã hội sâu sắc Mọi tác động quản
lý đối với hoạt động vận tải nói chung và vận tải hành khách nói riêng đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Tính chất phục vụ của vận tải hành khách được thể hiện ở việc nó đáp ứng được nhu cầu đi lại của con người và ngày càng làm cho cuộc sống của con người trong xã hội được thuận tiện hơn, kích thích sự giao lưu, phát triển văn hóa, xã hội
Đối với chính trị:
Giao thông vận tải được coi là mạch máu của một quốc gia và đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho công tác an ninh quốc phòng của đất nước Chiến lược an ninh quốc phòng được xây dựng ngoài việc tập trung xây dựng lực lượng quốc phòng lớn mạnh, tính sẵn sàng chiến đấu, cũng phải có các biện pháp bố trí, xây dựng một mạng lưới giao thông vận tải đảm bảo phục vụ yêu cầu trong mọi tình huống Ngoài ra quản lý Nhà nước về vận tải bằng ôtô cũng phải đảm bảo sao cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh được cạnh tranh lành mạnh, phát triển ổn định, đúng quy định của pháp luật và đảm bảo an ninh, trật tự, điều này cũng gián tiếp tạo ổn định về mặt chính trị của đất nước Đối với kinh tế:
- Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước thông qua thu thuế các đơn vị tham gia kinh doanh vận tải bằng ôtô
- Góp phần phát triển kinh tế của đất nước
- Tạo môi trường kinh doanh cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia - Tạo điều kiện để các đơn vị hoạt động đúng pháp luật và có hiệu quả
- Đảm bảo lợi ích của hành khách với chất lượng dịch vụ cao do quá trình vận tải hành khách mang lại Với các chỉ tiêu nhanh chóng, thuận lợi, an toàn, tiện nghi và lịch sự
Vai trò cụ thể :
- Hiện đại hóa công tác quản lý hoạt động vận tải nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải và giảm thiểu tai nạn giao thông;
Trang 21- Làm căn cứ để xây dựng kế hoạch từng bước đổi mới công tác quản lý vận tải đảm bảo hiệu quả, ổn định;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh vận tải phát triển và triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về vận tải, tăng cường công tác quản lý tại các đơn vị kinh doanh vận tải nhằm đảm bảo an toàn giao thông và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải
1.2.2.2 Vai trò của quản lý Nhà nước về vận tải hành khách bằng taxi
Loại hình vận tải taxi hiện nay đã rất phổ biến và có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với tổng số lượng xe taxi vào khoảng 50 ngàn xe, hoạt động trên địa bàn 59/63 tỉnh, thành phố và dần dần trở thành một loại hình vận tải hành khách không thể thiếu tại các đô thị, thành phố, trung tâm thương mại Trên cơ sở lý luận chung về vai trò của quản lý Nhà nước trong hoạt động vận tải bằng xe ô tô thì vận tải hành khách bằng taxi là loại hình vận tải hành khách công cộng, về mặt hiệu quả xã hội taxi không thể so với các loại hình vận tải khách công cộng như xe buýt, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao khác nhưng taxi hiệu quả hơn các loại hình sử dụng phương tiện cá nhân (hệ số người trên xe lớn hơn, thời gian sử dụng xe trong ngày lớn hơn) Do vậy hoạt động VTHK bằng xe taxi vẫn cần được phát triển ở mức độ phù hợp nhằm hỗ trợ cho VTHKCC để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong khi hệ thống VTHKCC thành phố chưa hoàn thiện
Quản lý Nhà nước đối với loại hình vận tải hành khách bằng taxi có vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo hoạt động vận tải taxi được trật tự, an toàn và đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân với chất lượng dịch vụ ngày càng cao, đại diện một phần cho VTHKCC của địa phương trong quá trình giao lưu hội nhập với thế giới
Quản lý Nhà nước về VTHK bằng taxi có vai trò quan trọng cả về mặt kinh
tế và xã hội Mọi tác động quản lý đối với hoạt động VTHK đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Tính chất phục vụ của VTHK được thể hiện ở việc nó đáp ứng được nhu cầu đi lại của con người và
Trang 22làm cho cuộc sống của con người trong xã hội ngày càng được thuận tiện hơn, kích thích sự giao lưu, phát triển văn hóa, xã hội… thể hiện qua một số nội dung sau:
- Đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân một cách nhanh chóng, thuận tiện,
an toàn trên cơ sở phát triển KCHT giao thông
- Đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải taxi
- Tạo điều kiện về việc làm và thu nhập cho người lao động tại các doanh nghiệp, góp phần ổn định và phát triển KTXH của đất nước
1.2.3 Nội dung công tác quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.2.3.1 Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vềhoạt động vận tải
Công tác quản lý Nhà nước về vận tải có vai trò quan tro ̣n g, tạo hành lang pháp lý, định hướng cho sự phát triển và đảm bảo trật tự, an toàn trong hoạt động vận tải Để tổ chức và quản lý hoạt động vận tải đường bộ, hiện nay cơ quan quản lý Nhà nước đã ban hànhnhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, riêng đối với hoạt động vận tải hành khách bao gồm một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành sau:
- Luật Giao thông đường bộ 2008: về cơ bản đã có những thay đổi cơ bản với Luật Giao thông đường bộ 2001
- Nghị định số 86/2014/NĐ - CP ngày 10 tháng 09 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô: Về cơ bản đã quy định tương đối đầy đủ các điều kiện cấp phép cho tổ chức, cá nhân tham gia đối với từng loại hình kinh doanh vận tải đường bộ
- Nghị định số 171/2013/NĐ – CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Nghị định số 107/2014/NĐ – CP ngày 17/11/2014 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 171/2013/NĐ – CP: quy định xử lý vi phạm về vận tải đường bộ: đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô
Trang 23chở người; với tổ chức, cá nhân vi phạm về vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ
- Thông tư 63/201/TT-BGTVT ngày 07 tháng 11 năm 2014 của Bộ GTVT: Thông tư về cơ bản đã hướng dẫn công tác tổ chức quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô cho các đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo các điều kiện quy định tại tại Luật GTĐB 2008 và Nghị định 86/2014/NĐ – CP
- Thông tư số 49/2012/TT-BGTVT ngày 12/12/2012 của Bộ GTVT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bến xe khách: Thông tư đảm bảo các điều kiện, quy chuẩn, nội dung kinh doanh tại bến, bãi đỗ xe… công tác quản lý và điều hành, trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị quản lý khai thác bến, bãi
- Thông tư số 10/2015/TT-BGTVT ngày 15/4/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định trách nhiệm và xử lý vi phạm trong hoạt động vận tải bằng xe ô tô: Thông tư có quy định trách nhiệm cũng như các hình thức xử lý cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động vận tải bằng xe ô tô
Trang 24- Thông tư liên tịch số 152/2014/TT-BTC – BGTVT giữa Bộ Tài chính và
Bộ GTVT quy định về việc kê khai, niêm yết giá cước vận tải bằng xe ô tô
- Ngoài ra Bộ Giao thông vận tải cũng đã phê duyệt và chuẩn bị ban hành: Tiêu chuẩn cơ sở của Bộ Giao thông vận tải về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng xe ô tô: Nội dung của Tiêu chuẩn nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc thực hiện chất lượng dịch vụ tại các đơn vị kinh doanh vận tải; có sự quản lý về chất lượng dịch vụ của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; tạo cơ chế để hành khách lựa chọn và giám sát chất lượng dịch vụ vận tải hành khách; trên cơ sở đó tạo cơ chế để khuyến khích phát triển các đơn vị có chất lượng dịch vụ tốt, loại bỏ dần những đơn vị chất lượng dịch vụ kém, thúc đẩy ngành vận tải phát triển theo hướng văn minh, hiện đại
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện việc quản lý Nhà nước về hoạt động vận tải
Mô hình quản lý Nhà nước về vận tải khách bằng taxi:
Trang 25Hình 1.1 Mô hình quản lý nhà nước về vận tải khách bằng taxi
Sở GTVT Công an TP Sở Tài
chính
Sở Kế hoạch đầu tƣ
Trang 261.2.3.3 Một số quy định của nhà nước về hoạt động vận tải khách bằng taxi
Công tác quản lý Nhà nước về hoạt động vận tải hành khách bằng xe taxi: Hoạt động vận tải hành khách bằng xe taxi là một trong những loại hình kinh doanh có điều kiện, đã được cơ quan nhà nước quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật Các điều kiện kinh doanh cụ thể đã được Chính phủ quy định tại Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 về Kinh doanh và Điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô gồm:
- Đơn vị kinh doanh vận tải taxi phải có đủ điều kiện chung sau:
+ Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật + Khi hoạt động kinh doanh vận tải phải có đủ số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt; phương tiện phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh vận tải hoặc quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng của đơn
vị kinh doanh vận tải với tổ chức cho thuê tài chính hoặc tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật
Trường hợp xe đăng ký thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã phải có hợp đồng dịch vụ giữa thành viên với hợp tác xã, trong đó quy định HTX có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý, sử dụng, điều hành xe ô tô thuộc sở hữu của thành viên HTX
+ Xe ô tô phải bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường
+ Xe phải được gắn thiết bị giám sát hành hành trình theo quy định
+ Lái xe không phải là người đang trong thời gian bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật, có hợp đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh vận tải
+ Người điều hành vận tải phải có trình độ chuyên môn về vận tải từ trung cấp trở lên hoặc có trình độ từ cao đẳng trở lên đối với các chuyên ngành kinh
tế, kỹ thuật khác và có thời gian công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 03 năm trở lên
Trang 27+ Đơn vị kinh doanh vận tải phải có nơi đỗ xe phù hợp với phương án kinh doanh và đảm bảo các yêu cầu về an toàn giao thông, phòng chống cháy, nổ và
vệ sinh môi trường theo quy định pháp luật
+ Phải có trang bị máy tính, đường truyền kết nối mạng và phải theo dõi,
xử lý thông tin tiếp nhận từ thiết bị giám sát hành trình của xe
+ Bố trí đủ số lượng lái xe theo phương án kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khoẻ cho lái xe và sử dụng lái xe đủ sức khoẻ theo quy định + Phải có bộ phận quản lý, theo dõi các điều kiện về an toàn giao thông; phải đăng ký và thực hiện tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ vận tải hành khách [8]
“- Từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, xe taxi phải có thiết bị in hoá đơn kết nối với đồng hồ tính tiền trên xe; lái xe phải in hoá đơn và trả cho hành khách.” [8]
- Lái xe kinh doanh vận tải phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Được đơn vị kinh doanh vận tải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định
+ Phải được khám sức khoẻ định kỳ và được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Bộ Y tế
+ Phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ GTVT
- Người điều hành vận tải của đơn vị vận tải phải bảo đảm các yêu cầu sau: + Không được đồng thời làm việc tại cơ quan, đơn vị khác
+ Không phải là lao động trực tiếp lái xe, nhân viên phục vụ trên xe ô tô kinh doanh của đơn vị mình
+ Được tập huấn theo quy định của Bộ GTVT
- Xe taxi phải có sức chứa từ 09 chỗ ngồi trở xuống (kể cả người lái xe)
- Xe taxi có niên hạn sử dụng không quá 08 năm tại đô thị loại đặc biệt; không quá 12 năm tại các địa phương khác
- Trên xe phải gắn đồng hồ tính tiền được cơ quan có thẩm quyền về đo lường kiểm định và kẹp chì
Trang 28- Phải đăng ký và thực hiện sơn biểu trưng (logo) không trùng với biểu trưng đã đăng ký của đơn vị kinh doanh vận tải taxi trước đó và số điện thoại giao dịch cho các xe thuộc đơn vị
- Phải có trung tâm điều hành, duy trì hoạt động của trung tâm điều hành với lái xe, đăng ký tần số liên lạc và có thiết bị liên lạc giữa trung tâm với các xe thuộc đơn vị
“- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, đơn vị kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có số xe tối thiểu là 10 xe; riêng đối với đô thị loại đặc biệt phải có số xe tối thiểu là 50 xe.” [8]
Thực hiện công tác quản lý nhà nước chuyên ngành về hoạt động vận tải bằng xe ô tô, Bộ GTVT đã ban hành Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT ngày 07/11/2014 Quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch
vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, trong đó có các quy định cụ thể về quản lý hoạt động
vận tải hành khách bằng xe taxi gồm:
- Quy định về niêm yết:
+ Hai bên cánh cửa xe: tên, số điện thoại và biểu trưng (logo) của đơn vị vận tải
+ Trong xe: bảng giá cước tính tiền theo kilômét, giá cước tính tiền cho thời gian chờ đợi và các chi phí khác (nếu có) mà hành khách phải trả Niêm yết
ở vị trí lái xe dễ nhận biết khi điều khiển phương tiện khẩu hiệu: “Tính mạng con người là trên hết” theo mẫu quy định
+ Trên xe có trang bị bình chữa cháy còn sử dụng được và còn hạn theo quy định
+ Có phù hiệu xe taxi theo quy định
+ Có hộp đèn với chữ “TAXI” gắn trên nóc xe, hộp đèn phải được bật sáng khi xe không có khách và tắt khi trên xe có khách
+ Có đồng hồ tính tiền cước đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm định và kẹp chì
Trang 29Ngoài ra, để quản lý hoạt động vận tải khách bằng taxi chặt chẽ hơn, Bộ GTVT cũng đã có quy định cụ thể tại Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT về việc đăng ký biểu trưng (điều 38); hồ sơ lắp đặt thiết bị thông tin liên lạc (điều 39); điểm đón, trả khách, điểm đỗ xe taxi (điều 40); trách nhiệm của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh VTHK taxi (điều 41); quyền hạn, trách nhiệm của lái xe (điều 42); quyền hạn, trách nhiệm của hành khách đi xe taxi (điều 43)
* Công tác tthanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh vận tải nói chung
và hoạt động vận tải taxi nói riêng:
Theo Thông tư 08/2010/TT-BGTVT ngày19 tháng 3 năm 2010 của Bộ GTVT quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra đường bộ thì Thanh tra GTVT có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
“Thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính đối với
tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động
vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ, điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và khi phát hiện phương tiện (có hành vi vi phạm) dừng, đỗ trên đường bộ.” [2]
Kinh doanh vận tải hành khách bằng taxi cũng là một trong các loại hình kinh doanh vận tải, vì vậy hiện nay công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh vận tải bằng taxi cũng đang diễn ra như đối với các loại hình kinh doanh vận tải khác
1.2.4 Công cụ và phương pháp quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.2.4.1 Công cụ quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
Trong lĩnh vực hoạt động vận tải nói chung và hoạt động VTHKCC bằng
xe taxi nói riêng, công tác quản lý Nhà nước là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho hoạt động của xe buýt phục vụ toàn thể xã hội Với đối tượng quản lý là doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ như đã trình bày ở trên, các công cụ để quản lý Nhà nước được sử dụng hiện nay là công cụ pháp luật, công
Trang 30cụ chính sách, công cụ kế hoạch
- Công cụ pháp luật: bao gồm Luật giao thông đường bộ, hệ thống văn bản dưới luật như là các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải, các bộ ngành liên quan và các Quyết định của UBND tỉnh, thành phố, Sở GTVT liên quan đến hoạt động VTHKCC bằng taxi
- Công cụ chính sách: là công cụ quản lý Nhà nước được sử dụng nhằm điều chỉnh hoạt động của các đối tượng quản lý, cụ thể ở đây là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực taxi Cơ chế chính sách quản lý về VTHKCC bằng xe taxi có thể bao gồm quy định điều kiện doanh nghiệp hoạt động; quy định về điều kiện phương tiện vận tải; quy định về cưới phí, quy định về chi phí trong hoạt động VTHKCC bằng xe taxi, các chính sách hỗ trợ về lãi vay,…
- Công cụ kế hoạch: được nói đến ở đây như những chiến lược phát triển ngành vận tải, quy hoạch mạng lưới VTHKCC, đề án phát triển vận tải hành khách công cộng bằng taxi theo giai đoạn, theo khu vực
1.2.4.2 Phương pháp quản lý Nhà nước về VTHKCC bằng taxi
Phương pháp quản lý nhà nước là các cách thức điều hành để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các chức vụ quản lý hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng rất nhiều phương pháp quản lý
và có thể phân làm 2 nhóm:
* Nhóm thứ nhất: Các phương pháp quản lý chung
- Phương pháp kế hoạch hoá: Ở tầm vĩ mô của Nhà nước, nó được dùng
để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; lập quy hoạch tổng thể và chuyên ngành; dự báo xu thế phát triển; đặt chương trình mục tiêu và xây dựng
kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn Còn ở tầm vi mô của cơ sở, nó được dùng để tỉnh toán các chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, các biện pháp cân đối
- Phương pháp thống kê: Được các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng để
Trang 31bình quân gia quyền, chỉ số, tương quan quyết định, tương quan hồi quy để phân tích tình hình và nguyên nhân của hiện tượng quản lý, làm căn cứ khoa học cho việc ra quyết định quản lý Sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp và chỉnh lý để tính toán tốc độ phát triển cac chỉ tiêu quan trọng
- Phương pháp toán học: Ứng dụng ma trận, vận trù học, sơ đồ mạng trong quản lý; sử dụng máy điện toán để thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin; toán học hoá các chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội; tính toán các cân đối liên ngành trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý
- Phương pháp tâm lý - xã hội: nhằm tác động và tâm tư, tình cảm của người lao động, tạo cho họ không khí hồ hởi, yêu thích công việc, gắn bó với tập thể lao động, hăng say làm việc, giải quyết cho họ những vướng mắc trong công tác, động viên, giúp đỡ họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống
- Phương pháp sinh lý học: Bố trí nơi làm việc phù hợp với sinh lý của con người, tạo ra sự thoải mái trong làm việc và tiết kiệm các thao tác không cần thiết nhằm tăng năng suất lao động
* Nhóm thứ hai: 4 phương pháp chủ yếu của khoa học quản lý
- Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức: là phương pháp tác động về tư tưởng, tinh thần của con người để họ giác ngộ lý tưởng, ý thức chính trị và pháp luật, nhận biết được đúng - sai, tốt - xấu Trên cơ sở ý thức đúng sẽ dẫn đến hành động tốt, con người sẽ có trách nhiệm, có kỷ luật, lương tâm, không vi phạm pháp luật, hăng hái lao động Việc giáo dục chính trị, tư tưởng không phải
là hô hào suông mà phải là những việc làm cụ thể, có kế hoạch thực hiện rõ ràng cho từng giai đoạn phát triển nhất định, trang bị cho người lao động đủ kiến thức, năng lực, tâm huyết để đảm đương công việc do yêu cầu thực tiễn Giáo dục chính trị, tư tưởng không chỉ đối với đối tượng quản lý mà cả đối với chủ thể quản lý
- Phương pháp tổ chức (biện pháp tổ chức): là biện pháp đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương thông qua các quy chế, quy trình, nội quy hoạt động của cơ quan, bộ phận, cá nhân và phải cương quyết thực hiện một cách
Trang 32nghiêm túc, dân chủ và công bằng Làm tốt biện pháp này thì trách nhiệm và kỷ luật được giữ vững và nâng cao, dẫn đến hiệu quả công việc cao Ngược lại sẽ khiến cho tư tưởng không lành mạnh, mất đoàn kết nội bộ, hiệu quả công việc thấp
- Phương pháp kinh tế (hiệu quả): là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của đối tượng quản lý thông qua đòn bẩy kinh tế, tác động đến lợi ích của con người
Việc tác động đến lợi ích sẽ làm cho các khách thể quản lý phải tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm của mình tốt nhất mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần Tuy nhiên, phải biết kết hợp đúng đắn 3 loại lợi ích: lợi ích người lao động, lợi ích tập thể và lợi ích Nhà nước Trong đó, lợi ích người lao động là động lực trực tiếp, lợi ích Nhà nước là tối cao
- Phương pháp hành chính (cấm đoán, bắt buộc): là phương pháp quản lý bằng cách đưa ra các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc đối với đối tượng quản lý Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp lên đối tương bằng cách quy định đơn phương nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng quản lý
Phương pháp hành chính thể hiện tính chất quyền lực cuả hoạt động quản
lý Cơ sở của nó là nguyên tắc tập trung, dân chủ mà cụ thể là sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên và tính chất bắt buộc thi hành những mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên đối với cấp dưới Phương pháp hành chính cần thiết để đảm bảo cho hoạt động quản lý được tiên hành có hiệu quả và đảm bảo kỷ luật nhà nước
Phương pháp hành chính được thực hiện qua các nội dung:
+ Quy định những quy tắc xử sự chung trong quản lý hành chính nhà nước
+ Quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan dưới quyền, giao nhiêm vụ cho các cơ quan đó
+ Thoả mãn đơn phương yêu cầu hợp pháp của công dân
Trang 33+ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới
+ Áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết
Như vậy, trong 4 phương pháp này thì phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức là hàng đầu, phải thực hiện thường xuyên, liên tục và nghiêm túc Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng, có tính khẩn cấp Phương pháp kinh tế là biện pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước Phương pháp hành chính là rất cần thiết, nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn và hợp lý
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng taxi
1.3.1 Hệ thống văn bản quản lý Nhà nước về vận tải
Bất kì một hoạt động kinh tế nào cũng chịu ảnh hưởng của những ràng buôc, những quy định của Nhà nước, hoạt động VTHKCC bằng taxi cũng vậy Bằng các văn bản luật, dưới luật như nghị định, thông tư… nhà nước kiểm soát cho phép, không cho phép đối với từng hoạt động Theo đó các doanh nghiệp kinh doanh vận tải taxi phải tuân thủ, chấp hành một cách nghiêm túc
1.3.2 Bộ máy, nhân sự quản lý
Có thể nói, bất kỳ một hoạt động nào thì con người bao giờ cũng đóng vai trò trung tâm, quan trọng nhất Một công việc có tốt hay không phụ thuộc nhiều vào trình độ, phương pháp làm việc của con người
Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực VTHKCC bằng taxi muốn tốt trước hết cán bộ quản lý từ trung ương đến địa phương, đến doanh nghiệp phải là những người được đào tạo, am hiểu về hoạt động VTHKCC nói riêng cũng như
về GTVT nói chung
Ngoài công tác quản lý, hướng dẫn các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện đúng theo quy định của nhà nước, các nhân sự này còn có trách nhiệm tham mưu, giúp đỡ cấp trên trong việc hoàn thiện các văn bản cũng như phương pháp quản lý
Trang 341.3.3 Công nghệ, trang thiết bị, phương pháp quản lý
Công nghệ, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý tại các cơ quan quản lý Nhà nước về vận tải từ trung ương đến các địa phương được xem là phương tiện giúp các cơ quan quản lý làm việc nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn Qua đó cũng giúp tinh giảm bộ máy quản lý
Việc trang bị công nghệ quản lý cũng như sử dụng hệ thống thông tin phổ biến như mạng internet sẽ giúp các doanh nghiệp cập nhật nhanh hơn các quy định mới; theo dõi các vi phạm của đơn vị mình nhanh chóng chính xác hơn để
từ đó có phương pháp quản lý mới, phù hợp với yêu cầu của nhà nước
- Cơ cấu tổ chức quản lý của các doanh nghiệp Nhận thức của các cá nhân trong doanh nghiệp về loại hình dịch vụ VTHKCC bằng taxi cũng như các quy định của nhà nước về lĩnh vực này
- Đội ngũ lái xe taxi chưa được quan tâm, đào tạo cả về trình độ tay nghề cũng như kiến thức pháp luật, thái độ phục vụ, đạo đức nghề nghiệp; thâm niên làm việc, công tác tuyển dụng các lái xe taxi được thực hiện ồ ạtdẫn đến chất lượng một bộ phận đội ngũ lái xe taxichưa tốt
- Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này như Sở GTVT, Cục thuế, Sở kế hoạch và Đầu tư, Công an thành phố chưa thực sự gắn kết, nhịp nhàng
Trang 351.4 Kinh nghiệm phát triển và quản lý vận tải hành khách công cộng bằng taxi của các nước trên thế giới và trong khu vực
Nhìn chung, hoạt động VTHK bằng xe taxi trên thế giới được quản lý linh hoạt thông qua các quy định về màu xe, về khu vực hoạt động của xe hoặc điều hành bằng các hợp tác xã vận tải hay thậm chí là qua mạng internet Dưới đây là một vài ví dụ về hoạt động taxi tại một số thành phố và một số quốc gia trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Quan điểm của các nhà quản lý hoạt động VTHK bằng taxi ở thành phố này là xe phải có màu bắt mắt để hành khách dễ nhận biết đâu là lo ại xe hợp lệ
và được quản lý Do vậy, hầu như toàn bộ xe taxi ở New York đều có màu
vàng tươi và họ cho rằng màu này bắt mắt hơn màu đỏ “Tại Quận Manhattan, 100% xe taxi đều có màu vàng và chủ yếu là loại xe 4 chỗ do quận này có diện tích nhỏ nên việc bắt taxi ngoài đường thuận tiện hơn là gọi qua điện thoại.”
[23] Còn ở một số thành phố nhỏ khác, do chi phí đậu xe cao nên người dân chủ yếu có xe riêng, việc taxi chạy tìm khách là không kinh tế do đó taxi không nhất thiết phải sơn màu vàng và đón khách qua điện thoại gọi
Loại xe taxi ở đây chủ yếu là Ford, một số xe là loại Lotus hay Lamborghini
1.4.2 Kinh nghiệm của Pháp
Dịch vụ taxi ở Pháp được cung cấp một cách dễ dàng và thuận tiện qua mạng internet.Các hãng taxi được phép cung cấp chi tiết và dịch vụ của mình trên mạng để hành khách lựa chọn
Với cách quản lý này, hành khách có thể vào mạng để lựa chọn khu vực và hãng taxi theo ý thích của mình Bước đầu tiên là chọn bản đồ nước Pháp được chia theo 22 khu vực hành chính, tiếp theo là chọn vùng, rồi chọn khu vực và quận/huyện cụ thể Sau khi chọn quận/huyện, hành khách sẽ được cung cấp một danh mục hãng taxi thành viên bao gồm tên công ty, số điện thoại, địa điểm đỗ
và dịch vụ cung cấp
Trang 361.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
“Bắc Kinh có khoảng 100.000 xe taxi hoạt động hợp pháp.” [2] Toàn bộ
những xe này được quản lý bằng đồng hồ tính cước và hành khách sau khi đi xe được cung cấp hóa đơn in tự động bằng máy tính trên đó có tên và số điện thoại của hãng taxi Taxi chính thức là những xe được cấp thẻ chứng nhận bắt đầu bằng chữ "Beijing B", có gắn biển taxi trên nóc, có đèn taxi vào ban đêm và trên táp-lô bên ghế ngồi của khách có thẻ hiển thị số đăng ký của lái xe
“Bắc Kinh còn có một số lượng taxi bất hợp pháp (thường gọi là "xe dù") lên tới 20.000 - 30.000 xe, chiếm 1/3 số xe taxi hợp pháp.” [2] Taxi dù có thể là
những xe dùng thẻ với chữ "Beijing E" hay "Beijing" và không có đèn taxi vào ban đêm Hóa đơn tính cước của xe taxi dù là hóa đơn viết tay, trên đó thường không có số điện thoại và tên hãng xe Với tỷ lệ taxi dù cao như vậy, hoạt động VTHK bằng taxi tại những điểm đầu mối (như sân bay, ga đường sắt, trung tâm mua sắm, điểm du lịch, ) của Bắc Kinh không được trật tự cho lắm
Bắc Kinh còn có loại taxi trống dành cho người khuyết tật Những xe này không có phần ghế ngồi dành cho khách để xe lăn có thể dễ dàng đi lên và là loại xe theo mô hình LTI của Anh quốc, chỉ có một tấmkim loại bắt vào sàn phía cửa xe giúp cho người điều khiển xe lăn có thể lên xuống taxi một cách dễ dàng Kiểu xe taxi chủ yếu là: Sonata, Jetta, The Red Flag, China, Elysée, Santana 3000
Chính sách quản lý taxi của Bắc Kinh được xem là điển hình cho khu vực
do việc đồng thời hạn chế hoàn toàn xe máy ở khu vực trung tâm thành phố từ vành đai 3 trở vào và phát triển taxi nhằm hỗ trợ cho hoạt động VTHKCC nhưng kiểm soát chặt chẽ sự phát triển về số lượng (có đấu giá quyền sử dụng phương tiện, thu phí ra vào khu vực nội đô, nâng cao chất lượng dịch vụ và xây dựng bộ tiêu chuẩn riêng cho taxi hoạt động trong khu vực trung tâm)
1.4.4 Kinh nghiệm của Thái Lan
Những năm gần đây, giao thông vận tải ở Thái Lan phát triển khá mạnh
Trang 37khách có sự đóng góp rất lớn của các hợp tác xã GTVT thông qua thu hút phương tiện tham gia cũng như điều hành hoạt động vận tải khách
Mô hình HTX vận tải ở Thái Lan rất thành công trong việc thu hút được khá đông đảo hộ cá thể VTHK bằng taxi tham gia, đồng thời góp phần hạn chế tình trạng giao thông lộn xộn, tranh giành khách ảnh hưởng mỹ quan của thành phố, cụ thể là:
“Chỉ tính riêng ở thủ đô Bangkok, năm 2014 có 90.000 xe taxi, trong đó 69.000 xe được đăng ký theo các công ty và 21.000 xe do tư nhân sở hữu Hoạt động taxi được quản lý rất nền nếp với trên 90% số lượng xe do 12 trung tâm điều hành, trong đó 9 trung tâm là của các hợp tác xã giao thông vận tải và 3 trung tâm của doanh nghiệp tư nhân.”[2] Như vậy, ở Bangkok chỉ còn khoảng
10% lượng taxi hoạt động độc lập
Taxi hoạt động ở Băng-cốc có 2 loại: taxi có đồng hồ tính tiền (taxi meter)
và taxi phổ thông Không có vấn đề gì đối với taxi meter vì tính cước cho khách theo đồng hồ, mức cước phí tỷ lệ với quãng đường Nếu xe chạy trên quốc lộ, hành khách phải trả thêm phí cầu đường (từ 10 đến 30 Baht) Còn đối với taxi phổ thông, phải thỏa thuận trước về giá cả Hiện nay, toàn bộ xe taxi mới đều là loại taxi meter Xe taxi thường là loại xe Toyota Corolla Màu sắc của xe có thể là màu vàng và màu xanh lá cây Màu sắc của xe là do công ty kinh doanh, sở hữu xe quyết định
Bên cạnh đó, cùng với việc nâng cao chất lượng của hoạt động VTHKCC bằng taxi, quy đ ịnh màu sơn, chính quyền thành phố Băng-Kốc còn dùng các chính sách hạn chế xe máy tại khu vực trung tâm thành phố, trên các tuyến chính Hiện nay, lượng xe máy hoạt động trong khu vực nội đô chỉ chiếm đến 30% số phương tiện hoạt động nhằm tạo điều kiện cho VTHKCC khối lượng lớn phát triển: sky train, metro, BRT
1.4.5 Bài học kinh nghiệm
1.4.5.1 Thành công
Trang 38Tại các đô thị lớn trên thế giới hiện nay, chính quyền sử dụng một số biện pháp nhằm khuyến khích, đồng thời quản lý hoạt động vận tải taxi đã đạt được kết quả khả quan trong quá trình thực hiện như:
- Sử dụng màu sơn xe thống nhất, bắt mắt
- Sử dụng mạng internet để hỗ trợ đặt dịch vụ taxi cho người sử dụng
- Quản lý bằng đồng hồ tính cước, in hóa đơn tự động sau khi khách hành
sử dụng dịch vụ
- Phương tiện taxi hỗ trợ cho người khuyết tật
- Phương tiện có hệ thống đóng, mở cửa bằng điều khiển của tài xế và tự đóng khóa, mở cửa khi phương tiện tăng tốc hoặc phanh
- Sử dụng phương tiện taxi kết hợp với vận tải hành khách công cộng để hạn chế phương tiện cá nhân trong khu vực nội đô
- Phát triển mô hình hợp tác xã, thu hút các hộ kinh doanh cá thể tham gia, hạn chế được tình trạng lộn xộn, tranh giành khách gây mất mỹ quan thành phố
- Tình trạng chạy xe theo giá “cuốc” chứ không theo giá “cước” Thường
theo mức giá thỏa thuận, hoặc gấp 1,5 đến 2 lần giá thực tế
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀVẬN TẢI KHÁCH BẰNG TAXI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2.1 Giới thiệu về hệ thống giao thông vận tải thành phố Hải Phòng
2.1.1 Giới thiệu về tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp quốc gia bao gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với
223 xã, phường và thị trấn.Với vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ
độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình.Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km và là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Hải Phòng từ lâu đã là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Chính
vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước (Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng
cơ bản ổn định, kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định với tỷ lệ lạm phát ở mức
Trang 40thấp; các cơ chế chính sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu tiếp tục được tập trung chỉ đạo, thực hiện Nhiều dự án đầu tư nước ngoài được đưa vào khai thác, phát huy hiệu quả Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh Một số công trình lớn, trọng điểm có tác động thúc đẩy thành phố và cả vùng phát triển được tập trung thi công Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, thành phố Hải Phòng trong những năm qua đối diện với không ít khó khăn, thách thức Tình hình kinh tế, chính trị
- xã hội thế giới còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, căng thẳng với bất ổn chính trị ở nhiều khu vực, đặc biệt là diễn biến tình hình biển Đông phức tạp và khó lường đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước trong đó có thành phố Hải Phòng; Tổng cầu xã hội tăng chậm, sức mua chưa được cải thiện rõ rệt, dư nợ tín dụng tăng trưởng chậm đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
2.1.2 Giới thiệu về hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị thành phố Hải Phòng
Mạng lưới đường bộ trên địa bàn thành phố bao gồm các tuyến đường: QL, đường tỉnh, đường huyện, đường đô thị, đường xã và đường chuyên dùng với tổng chiều dài khoảng 3.531 km
Bảng 2.1 Hiện trạng mạng lưới đường bộ thành phố Hải Phòng
TT Loại đường Chiều dài (km)
(Ghi chú: không bao gồm đường chuyên dùng; Nguồn: Phòng Quản lý vận tải -
Sở Giao thông vận tải Hải Phòng)