1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Biện pháp chống thất thu thuế đối với DN tại chi cục thuế quận 12, thành phố hồ chí minh

86 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước thực hiện các chức năng của mình trong đó có chức năng quản lý và xây dựng kinh tế thông quan việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã h

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

NGUYỄN THANH NHÃ

BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT THU THUẾ

ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

NGUYỄN THANH NHÃ

BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGÀNH: KINH TẾ; MÃ SỐ: 60340410 CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Nga

TP HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Thị Nga Các số liệu, dữ liệu và kết quả công bố trong luận văn đều có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thanh Nhã

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo sau Đại học, xin cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt để tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Chi cục Thuế quận 12 nơi tôi công tác đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp và cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thanh Nhã

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 4

1.1 Cơ sở lý luận về thuế 4

1.1.1 Khái niệm thuế 4

1.1.2 Đặc điểm của thuế 5

1.1.3 Phân loại thuế 7

1.1.4 Chức năng của thuế 8

1.2 Quản lý thu thuế và chống thất thu thuế đối với doanh nghiệp 9

1.2.1 Khái niệm thất thu thuế và chống thất thu thuế 9

1.2.2 Vai trò quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 12 1.2.3 Nguyên tắc quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 13 1.2.4 Nội dung quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 15 1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 18 1.2.6 Cơ sở pháp lý quản lý và chống thất thu thuế ở Việt Nam 20

1.3 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế trên thế giới và tại Việt Nam 22

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế ở thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc 22

Trang 6

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế ở Chi cục thuế quận 5 thành phố Hồ Chí Minh 231.3.3 Bài học chống thất thu thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận 12 thành phố Hồ Chí Minh 2

2.1 Đặc điểm của quận 12 và chi cục thuế quận 12 ảnh hưởng đến quản lý thuế và chống thất thu thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn quận 242.2 Giới thiệu tổng quan Chi cục thuế quận 12 299

2.2.1 Sự hình thành và chức năng nhiệm vụ của Chi cục thuế Quận 12 29

2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế Quận 12 31

2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ Chi cục Thuế Quận 12 342.3 Thực trạng quản lý doanh nghiệp nộp thuế và kết quả thu ngân sách nhà nước tại Chi cục thuế quận 12 thành phố Hồ Chí Minh 366

2.3.1 Các doanh nghiệp nộp thuế trên địa bàn quận 12, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2014 366

2.3.2 Kết quả thực hiện thu Ngân sách nhà nước 372.4 Quy trình quản lý thuế tại quận 12 thành phố Hồ Chí Minh 4141

2.5 Thực trạng thất thu thuế tại Chi cục thuế quận 12 thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn

2010 – 2014 433

2.5.1 Công tác giải quyết thủ tục hành chính về thuế giai đoạn 2010 – 2014 tại Chi cục thuế quận 12 thành phố Hồ Chí Minh 433

2.5.2 Thực trạng nợ thuế tại chi cục thuế quận 12 giai đoạn 2010 - 2014 455

2.6 Thực trạng một số công tác chống thất thu thuế tại Chi cục thuế quận 12 thành phố

Hồ Chí Minh năm 2014 46

2.6.1 Công tác kiểm tra thuế 46

2.6.2 Công tác Kê khai kế toán thuế và tin học 555

2.6.3 Công tác quản lý nợ 566

2.6.4 Công tác kiểm tra nô ̣i bô ̣ 588

2.6.5 Công tác cải cách thủ tu ̣c hành chính thuế 592.7 Tổng hợp kết quả quản lý thuế và nguyên nhân thất thu thuế tại Chi cục thuế quận

12 thành phố Hồ Chí Minh 600

2.7.1 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý thuế, chống thất thu thuế tại Chi cục thuế quận 12 600

Trang 7

2.7.2 Nguyên nhân gây thất thu thuế tại Chi cục thuế quận 12 622

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 655

3.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý thuế và chống thất thu thuế tại Chi Cục thuế quận 12 đến năm 2020 655

3.1.1 Mục tiêu 655

3.1.2 Định hướng chung 666

3.1.3 Định hướng cụ thể 666

3.2 Một số biện pháp quản lý thu thuế và chống thất thu thuế tại chi cục thuế quận 12 thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 677

3.2.1 Xây dựng các chương trình công tác phù hợp với chủ trương, chính sách chung của Cục thuế thành phố và quận ủy, ủy ban nhân dân 688

3.2.2 Nâng cao ý thức trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, đối tượng nộp thuế 69

3.2.3 Công tác quản lý người nộp thuế 70

3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra chống thất thu ngân sách 71

3.2.5 Công tác quản lý nợ 744 3.2.6 Công tác cải cách thủ tục hành chính - Ứng dụng CNTT 766 3.2.7 Hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ và bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiệp vụ 777 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

Kết luận 80

Kiến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Văn bản pháp lý quản lý và chống thất thu thuế 21

Bảng 2.1 Các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế trên địa bàn quận

Bảng 2.4 Kết quả thực hiện thu NSNN tại các đội thuế của Chi cục

Bảng 2.5 Kết quả giải quyết thủ tục hành chính tính giai đoạn 2010 –

Bảng 2.6 Tổng nợ thuế phân theo khó thu, khả thu và chờ xử lý tại chi

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hình Tên hình Trang

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục Thuế Quận 12 31

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước, công cụ quan trọng để phân phối

và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Thuế là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) Yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách thuế là phải thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật Trong những năm qua, pháp luật thuế ngày càng được hoàn thiện, tạo môi trường công bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử và ổn định, tạo điều kiện cho hoạt động thu NSNN đạt hiệu quả Tuy nhiên, tình trạng thất thu thuế vẫn còn diễn ra và có xu hướng ngày càng trầm trọng hơn

Kết quả thu ngân sách qua các năm ngày càng tăng, nhờ chính sách thuế đã phần nào hợp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển; nuôi dưỡng được nguồn thu; Hệ thống quản lý thu thuế đã từng bước cải cách, hiện đại hóa tạo sự chuyển biết mạnh mẽ về chất lượng cho đội ngũ công chức thuế, tăng hiệu quả trong quản lý thu thuế Tuy nhiên, Hệ thống chính sách thuế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề ở chính sách thuế, cũng như trong quá trình tổ chức quản lý thu thuế Hệ thống chính sách thuế chưa bắt kịp được

sự phát triển ngày càng cao về khoa học, công nghệ Sự hội nhập và quá trình toàn cầu hóa một cách nhanh chóng đã làm cho chính sách thuế cũng như công tác tổ chức quản lý thuế bộc lộ nhiều bất cập và tính khả thi thấp Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức quản lý thu thì chưa phù hợp, thiếu chặt chẽ, chồng chéo, nặng nề nên gây thất thu lớn về số lượng cơ sở, đơn

vị thực tế có kinh doanh nhưng không nộp thuế hoặc nộp không đầy đủ, nợ đọng kéo dài thất hu cho NSNN Trong điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế chưa phát huy hết tác dụng của công cụ thuế để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh có lợi cho quốc kế dân sinh, thực hiện đóng góp hợp lý, công bằng cho ngân sách Nhà nước

Chi cục thuế quận 12 thực hiện nhiệm vụ thu NSNN trong bối cảnh chính sách thuế

có rất nhiều thay đổi theo chiều hướng Chính phủ, Quốc Hội tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế trong thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp NSNN Trong năm 2014 đã thực hiện thu được 1.168.083 triệu đồng, đạt 135,19% dự toán pháp lệnh, tăng 21,76% so với cùng kỳ; tổng thu trừ tiền Sử dụng đất là 842.868 triệu đồng, đạt 114,06% dự toán pháp lệnh, tăng 10,23% so với cùng kỳ; thu thuế CTN NQD là 537.134 triệu đồng, đạt 107% dự toán pháp lệnh, tăng 11,57% so với cùng kỳ Tuy nhiên, tỷ lệ chây ỳ, trốn đóng thuế, nợ đọng thuế

Trang 12

trên địa bàn quận 12 trong thời gian qua vẫn còn lớn, gây thất thu cho NSNN Để giải quyết triệt để thực trạng này cần phải đánh giá thực trạng thu thuế và thất thu thuế tại Chi cục thuế quận 12, từ đó đề xuất được những biện pháp thiết thực nhất nhằm chống thất thu thuế trong thời gian tới

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên tôi chọn thực hiện đề tài “Biện pháp chống thất thu thuế đối với DN tại Chi cục thuế quận 12, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài thạc

sĩ quản lý kinh tế Đề tài nhằm đánh giá thực trạng công tác thu thuế đối với DN tại Chi cục thuế quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu thuế, chống thất thu, đảm bảo ngân sách nhà nước trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thu thuế đối với các DN tại Chi cục thuế quận 12 trong đó tập trung và các biện pháp, quy trình, quy định chống thất thu thuế

Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian: Luận văn thu thập và phân tích dữ liệu công tác quản lý thu thuế đối với

DN tại chi cục thuế quận 12 trong giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014 và các số liệu của năm 2015

- Không gian: Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh

- Nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác thu thế đối với DN tại Chi cục thuế quận

12 thành phố Hồ Chí Minh Phân tích đánh giá những mặt đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân đối với công tác này trong giai đoạn 2010 – 2014 Qua đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp giúp hoàn thiện công tác thu thế, chống thất thu thuế trong thời gian tới

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp phân tích – thống kê, so sánh – tổng hợp, suy luận Loogic – Lịch sử,… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Luận văn giúp hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến quản lý thu thuế Ứng dụng mô hình lý thuyết vào đánh giá thực trạng công tác thu thuế đối với DN tại Chi cục Thuế quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được chia ra làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế và chống thất thu thuế đối với DN

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế và chống thất thu thuế đối với DN tại

Chi cục thuế quận 12 giai đoạn 2010 - 2014

Chương 3: Một số giải pháp chống thất thu thuế trên địa bàn quận 12 đến năm

2020

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ CHỐNG THẤT THU

THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về thuế

1.1.1 Khái niệm thuế

“Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất

yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề

về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài [26]

Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp Trong đó hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định và lâu dài, thường được Nhà nước

sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước

Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu

cầu chi tiêu của mình - Đó chính là thuế”[26]

Như vậy, thuế luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Bản chất của Nhà nước quy định bản chất giai cấp của thuế

Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn

“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế là khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền” (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa dịch vụ) của các Công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà là Tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật [26]

Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khía cạnh sau đây: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thế nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nãy sinh một cách

Trang 15

khách quan và có ý nghĩa đặc biệt việc chuyển giao thu nhận có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước xét theo khía cạnh luật pháp, thuế và một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định

Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau:

Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phúc vụ cho mục tiêu công cộng Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu các nhân [15]

Trong thực tế ở nước ta hiện nay khi tình hình quỹ tiền tệ tập trung Nhà nước thực hiện các chức năng của mình trong đó có chức năng quản lý và xây dựng kinh tế thông quan việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội khác thì người nộp thuế thông qua đó được hưởng một phần kết quả nộp thuế của mình [4] Như vậy thuế ở nước ta luôn luôn là khoản thu bắt buộc, không được trực tiếp hoàn trả cho người nộp thuế nhưng họ được giám tiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, phát triển của Nhà nước cho các công trình phúc lợi xã hội khác [26]

1.1.2 Đặc điểm của thuế

Từ định nghĩa trên ta thấy thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải,

từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật

Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các hình thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng sự bắt buộc này là phi hình sự

Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà nước Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện quyền chuyển đổi Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là phi hình sự Vì vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt

Trang 16

Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, việc đóng góp thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định

và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định

Thứ hai, Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh tế-xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội

- Yếu tố kinh tế thể hiện: Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm

vi, mức độ chi tiêu của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình

- Yếu tố xã hội thể hiện: Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục, tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai đoạn lịch

sử Mặt khác thuế còn thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội Như vậy mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các vấn đề kinh tế, xã hội của quốc gia đó

Thứ ba, Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó như là một khoản vay mượn Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của Ngân sách nhà nước cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng

Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí Lệ phí được coi là một khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi công dân thừa hưởng những dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp phải trả một phần thu nhập của mình cho nhà nước Tuy nhiên việc trao đổi này thường không tuân thủ theo hình thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trường

Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, nó được thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng trở nên quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu được trong công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 17

1.1.3 Phân loại thuế

Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thế khác nhau Để định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế, việc xắp xếp các luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế

Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội mà cơ cấu và nội dung của luật thuế có khác nhau Cũng tùy thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:

+ Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm hai loại : Thuế trực thu và thuế gián thu

Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế

và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là những người phải chịu thuế ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

… [26]

Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập DN, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp … [26]

Sự phân loại thuế thành thuế thực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế

+ Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Theo cách phân loại này thuế được chia thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế GTGT, thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập DN, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như

Trang 18

thuế tài nguyên , thuế sử dụng đất, sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí

Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò hệ thống pháp luật thuế [26]

1.1.4 Chức năng của thuế

1.1.4.1 Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính:

Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước Người ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế

1.1.4.2 Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế:

Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế tự động xuất hiện trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế, nhưng phải đến những năm đầu của thế kỷ XX thì chức năng này mới được nhận thức đầy đủ và sử dụng rộng rãi và gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

Như vậy, thông qua việc thu thuế Nhà nước đã thực hiện điều tiết và kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của

xã hội, tức là chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế đã được thực hiện

Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế (ĐTNT); xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế Trên

cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh [4]

Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập

Trang 19

Nguồn tài chính mà nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các DN Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân

và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chứ năng phân phối và phân phối lại [4]

Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên điều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách quá mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Đó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của

sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội nhất định [4]

1.2 Thất thu thuế và chống thất thu thuế đối với doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm thất thu thuế và chống thất thu thuế trong công tác quản lý thuế:

“Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía nhà nước hay người nộp thuế mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN Như vậy có thể hiểu thất thu thuế có hai hình thức đó là: Thất thu thực và thất thu tiềm năng

- Thất thu thuế thực: Được hiểu là những khoản tiền phải thu vào NSNN đã được quy đinh trong luật nhưng thực tế vì lý do nào đó không được nộp vào NSNN

- Thất thu thuế tiềm năng: Được hiểu là những khoản tiền thuộc khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế đáng lẽ phải được khai thác động viên vào NSNN nhưng không được quy định trong các luật thuế Dạng thất thu thuế là những biểu hiện bên ngoài của thất thu thuế theo những tiêu thức nhất định Do vậy có thể khái quát các dạng thất thu thuế cơ bản như sau:

Trang 20

-Thất thu thuế do không bao quát hết số cơ sở sản xuất, kinh doanh: Tình trạng này xảy ra do các cơ sở sản xuất, kinh doanh không đăng ký kinh doanh, không đăng ký mã số thuế hoặc có thể đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký mã số thuế nhưng vẫn tiến hành sản xuất, kinh doanh Ngoài ra cũng có thể do các cơ sở này xin tạm nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh

-Nhiều đối tượng cố tình kê khai không đúng số thuế đáng lẽ phải nộp theo quy định của pháp luật cũng như thực tế mà các doanh nghiệp đang kinh doanh Các doanh nghiệp cũng như các hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai thấp hơn nhiều so với số thuế thực tế phải nộp bằng cách khai tăng chi phí, giảm doanh thu thậm chí khai sai thuế suất

-Các người nộp thuế nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tìm mọi cách để trốn, lậu thuế như lập 2 hệ thống sổ sách kế toán để đối phó với cơ quan thuế, thực tế cho thấy nhiều kế toán của các công ty “sở hữu” hàng trăm chữ ký khác nhau

-Trốn thuế thông qua buôn lậu, nhất là buôn bán qua biên giới không những không giảm mà có chiều hướng ngày càng tăng và phức tạp hơn trước

-Thất thu từ hoạt động xây dựng, du lịch lữ hành, vận tải tư nhân, cho thuê nhà nghỉ còn lớn do nhà nước chưa có các biện pháp quản lý các hoạt động này có hiệu quả Vì vậy các cá nhân, các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp thường không khai báo, không đăng ký nộp thuế nhằm trốn, tránh nghĩa vụ thuế với nhà nước

-Thất thoát do không bao quát hết thu nhập của người nộp thuế cũng như số lượng người phải nộp thuế thu nhập cá nhân vì số lượng các cá nhân hành nghề tự do còn lớn, chưa có biện pháp quản lý hiệu quả thu nhập của họ Hiện nay thu nhập của người lao động ở nước ta có nhiều nguồn thu khác nhau và thường lớn hơn nhiều so với quỹ lương nhưng nhà nước mới chỉ quản lý được phần thu nhập thông qua quỹ lương mà cá cơ quan, đơn vị chi trả, còn những khoản thu nhập từ các nguồn khác thì chưa có biện pháp quản lý hiệu quả

-Thất thu thuế từ các khoản phí, lệ phí do chưa có biện pháp quản lý có hiệu quả ví

dụ như tình trạng bán vé cầu đường giả diễn ra rất “tấp nập” mà nhà nước chưa có biện pháp quản lý

-Vì lợi ích cá nhân cán bộ thuế móc ngoặc với người nộp thuế để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN để chia chác Tình trạng thất thu thuế nói trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

-Do xuất phát từ người nộp thuế: Trong lịch sử phát triển của xã hội nhà nước ra đời

là tất yếu khách quan trong xã hội có giai cấp Để có thể đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị, nhà nước cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình Nguồn này được lấy bằng cách động viên một phần thu nhập của các tầng lớp trong xã hội Với

Trang 21

quyền lực của mình nhà nước đặt ra các loại thuế buộc mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội phải tuân theo Nhu cầu chi tiêu của nhà nước càng nhiều thì mức động viên của thuế càng cao Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các nhà kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy họ luôn tìm cách để làm tăng doanh thu, giảm chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, mà thuế cũng là một khoản chi mà họ phải nộp cho nhà nước nên sẽ làm giảm lợi nhuận mà họ thu được Do đó vì lợi ích của mình họ luôn tìm cách làm giảm số thuế đáng lẽ phải nộp mà trốn được thuế không phải nộp thì càng tốt Như vậy trong thuế luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người kinh doanh, vì lẽ đó tình trạng thất thu thuế là không thể tránh khỏi

-Các cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý thuế Chính quyền các cấp chưa tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế làm việc -Nguyên nhân từ cơ quan thuế: Có thể do trình độ quản lý còn yếu, bộ máy tổ chức kém hiệu quả, hay có thể do trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý chưa cao hoặc có thể

do chính sách thuế thay đổi liên tục, diễn giải không rõ ràng, còn có những thiếu sót, sơ hở dẫn đến việc hiểu sai luật thuế do đó sẽ dẫn đến thực hiện sai Hoặc cũng có thể do trình

độ cán bộ còn yếu nên không thể phát hiện ra những gian lận, sai sót trong các hóa đơn, chứng từ, sổ sách do vậy người nộp thuế có thể trốn thuế

-Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế đã được cải thiện nhiều song vẫn còn nhiều phiền hà, gây khó khăn cho người nộp thuế Nhiều quy trình quản lý thuế chưa được rà soát, xem xét sửa đổi do vậy gây tâm lý sợ đến cơ quan thuế của người nộp thuế”

“Việc chống thất thu thế đang là vấn đề của tất cả các quốc gia Ở nước ta việc thất thu thuế diễn ra một cách phổ biến ở tất cả các loại thuế Mặc dù ngành thuế ngày càng có nhiều nỗ lực, nhưng các biện pháp chống thất thu thuế xem ra chưa hữu hiệu, dường như người ta mới tận thu được với các đơn vị và công dân gương mẫu trong nghĩa vụ thuế, còn những người cố tình trốn thuế thì không bị chế tài Tình trạng này không những thể hiện trong thuế thu nhập cá nhân (đối với người có thu nhập cao) mà thể hiện rất dễ thấy trong thuế giá trị gia tăng Rất nhiều doanh nghiệp, khách sạn, cửa hàng… không làm hóa đơn cho khách hàng, còn khách hàng thì rất nhiều người cũng không có nhu cầu lấy hóa đơn (trừ những doanh nghiệp cần có hóa đơn để khấu trừ thuế giá trị gia tăng) Phần lớn khoản doanh thu không nhỏ đó Nhà nước không thu được thuế, cả thuế giá trị gia tăng lẫn thuế thu nhập doanh nghiệp Tình trạng đó không những gây tổn hại cho lợi ích của đất nước

mà còn tạo ra sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế của công dân, vô hình trung tạo thêm sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Trong nỗ lực chống thất thu thuế, chính quyền thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) đã thực hiện một biện pháp khuyến khích

Trang 22

người tiêu dùng yêu cầu các doanh nghiệp phải cấp hóa đơn bán hàng Người ta đã đưa vào một ô nhỏ trong hóa đơn để biến hóa đơn thành một vé xổ số, khách hàng cào vào ô đó

có thể trúng thưởng từ 100 đến 5.000 nhân dân tệ Để ngăn ngừa sự giả mạo, một ô thứ hai với mã số cho phép khách hàng có thể kiểm tra thông qua Internet về việc công ty đưa cho

họ hóa đơn có giá trị hay không Trong một chương trình thử nghiệm, một thị trấn nhỏ ở ngoại ô Bắc Kinh đã tăng thuế lên tới 732 ngàn USD trong khi chỉ phải chi ra 17 ngàn USD tiền thưởng” [32]

Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện những quy định trong Luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản thuế vào ngân sách Nhà nước theo luật định [31]

Dưới góc độ chính trị: Quản lý được điều hành chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ

xã hội: Quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dù dưới góc độ nào đia chăng nữa, quản

lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý

Quản lý thuế là hoạt động chấp hành, điểu hành của cơ quan thuế Nhà nước các cấp trên cơ sở của lật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức quản lý, điều hành các họat động thu thuế của Nhà nước Nói cách khác, quản lý thuế chính là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện ít nhất một bên có thẩm quyền hành chính Nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều hành Quản lý thuế là họat động đảm bảo thực thi chính sách thuế trong thực tế, trong vai trò của cơ quan thuế rất quan trọng khi tác động lên ĐTNT để đảm bảo tính hiệu lực - đáp ứng mục đích thu cho NSNN Quản lý thuế chủ yếu được thực hiện bở hệ thống cơ quan thuế Nhà nước: Tổng cục thuế ở Trung ương, Cục thuế, chi cục thuế ở các địa phương [31]

1.2.2 Vai trò quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Quản lý thu thuế và chống thất thu thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong đó có các cơ quan quản lý thuế Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, mà còn có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế vào NSNN, chống thất thu thuế Đó chính là vai trò của quản lý thuế và chống thất thu thuế Vai trò chính trong công tác quản

lý thuế và chống thất thu thuế là:

- Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN Thông qua việc lựa chọn áp

Trang 23

dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng pháp luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN

- Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế Trên cơ sở đó có quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất

bổ sung, sửa đổi các luật thuế

- Thông qua quản lý thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Theo quy định của pháp luật thuế, người nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động kinh

tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Mặc khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế Như vậy, có thể thấy, thông qua quản lý thuế, Nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Từ việc kiểm soát các hoạt động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản

lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước

1.2.3 Nguyên tắc quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Mỗi cấp cơ quan quản lý Nhà nước có nhiệm vụ khác nhau trong quản lý thuế Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế và chống thất thu thuế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định sau:

Tuân thủ pháp luật

Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các bên trong quan hệ quản lý thuế bao gồm

cả cơ quan Nhà nước và người nộp thuế Nội dung của nguyên tắc này là quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế đều do pháp luật quy đinh Trong quan hệ quản lý, các bên có liên quan có thể lựa chọn những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi qui định của pháp luật về quản lý thuế

Đảm bảo tính hiệu quả

Giống như mọi hoạt động quản lý khắc, hoạt động quản lý thuế phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả Các hoạt động quản lý thuế được thực hiện, các phương pháp quản lý

Trang 24

được lựa chọn phải đảm bảo số thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng luật thuế Đồng thời, chi phí quản lý thuế là tiết kiệm nhất Ví dụ như sự lựa chọn quy trình, thủ tục thuế rõ ràng, đơn giản phù hợp với điều kiện thực tiễn nhất định và trình độ của người nộp thuế sẽ hứa hẹn mang lại nguồn thu cao hơn do tiết kiệm được chi phí vận hành bộ máy thu thuế

và chi phí của người nộp thuế so với việc áp dụng một quy trình, thủ tục phức tạp hơn

Thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế

Để đảm bảo hoạt động thu, nộp thuế đúng pháp luật, Nhà nước nào cũng tăng cường các hoạt động quản lý đối với người nộp thuế Trong điều kiện quản lý thể hiện được sự tăng cường vai trò của Nhà nước theo hướng tập trung vào kiểm tra, kiểm soát kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế phù hợp với quy định của pháp luật (kiểm tra sau), đồng thời tạo điều kiện cho người nộp thuế chủ động lựa chọn cách thức khai thuế và nộp thuế phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, tôn trọng tính tự giác của người nộp thuế Để đảm bảo nguyên tắc này cần có hệ thống các văn bản pháp luật thuế đầy đủ, rõ ràng, phù hợp;

có các chế tài đủ mạnh để trừng phạt các vi phạm pháp luật thuế và có tác dụng răn đe

Công khai, minh bach

Công khai, minh bạch là một trong những nguyên tắc quan trọng của quản lý thuế Nguyên tắc công khai đòi hỏi mọi quy định về quản lý thuế, bao gồm pháp luật thuế và các quy định, thủ tục thu nộ thuế phải công bố công khai cho người nộp thuế và tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan được biết Nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định về quản

lý thuế rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và diễn đạt sao cho chỉ có thể hiểu theo một cách nhất quán, không hiểu theo nhiều cách khác nhau Nguyên tắc minh bạch cũng đòi hỏi không quy định những ngoại lệ trong thực thi pháp luật thuế, theo đó, cơ quan thuế hoặc công chức thuế được quyết định áp dụng những ngoại lệ cho là để hoạt động quản lý thuế của Nhà nước được mọi công dân giám sát, là môi trường tốt để phòng chống tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu; qua đó thúc đẩy hoạt động quản lý thuế đúng luật, trong sạch và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

Tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng quan

hệ hợp tác kinh tế cho mỗi nước Đồng thời, quá trình hội nhập cũng đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những thay đổi quy định về quản lý, cũng như các chuẩn mực quản lý phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế Việc thực hiện các cam kết và thông lệ quốc tế về thuế tạo điều kiện cho hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước hội nhập với hệ thống quản lý

Trang 25

thuế thế giới Tuân thủ thông lệ quốc tế cũng tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài

1.2.4 Nội dung quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Để huy động các khoản thu vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cần thiết, nhà nước cần ban hành các chính sách thuế và để đưa được các chính sách thuế vào cuộc sống thì phải có hệ thống quản lý thuế để tổ chức thực thi chính sách thuế Giữa hai nội dung này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, hệ thống chính sách thuế là cơ sở tiền đề để hình thành hệ thống quản lý thuế và ngược lại hệ thống QLT là nơi tổ chức thực hiện chính sách thuế

Theo Điều 3 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội nước CHXHCNVN thông quan tại kỳ họp thứ 10, khóa XI, nội dung quản lý thuế gồm:

a) Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế;

b) Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế;

c) Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt;

d) Quản lý thông tin về người nộp thuế;

e) Kiểm tra thuế, thanh tra thuế;

f) Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

g) Xử lý vi phạm pháp luật về thuế;

h) Giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế;

Các quy định của Luật quản lý thuế, đảm bảo tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chế,

cơ chế tự khai tự tính, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của NNT Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế [29]

Các nội dung trên được cụ thể hóa bằng các quy định cụ thể để quản lý thuế theo chức năng Hiện nay Tổng cục thuế đang triển khai thực hiện 5 quy trình quản lý thuế:

- Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế: QĐ 423/QĐ - TCT ngày 24/9/2009, QĐ số 1864 QĐ-TCT ngày 21 tháng 12 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế:

Quy trình Quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế nhằm đảm bảo theo dõi, quản

lý người nộp thuế thực hiện các thủ tục hành chính thuế về khai thuế, nộp thuế, kế toán thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và đảm bảo công chức thuế, cơ quan thuế

Trang 26

thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế, các Luật thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật

- Quy trình quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế: QĐ số 1395/QĐ-TCT ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế:

Quy định trách nhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian để triển khai thực hiện thống nhất trong cơ quan thuế các cấp trong việc xây dựng và thực hiện chỉ tiêu, đôn đốc thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN (sau đây gọi là quản lý nợ thuế), đã được quy định tại Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn về thuế

- Quy trình kiểm tra thuế: QĐ số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của người nộp thuế nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế

Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây phiền nhiễu

và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

- Quy trình hoàn thuế: QĐ số 905/QĐ-TCT ngày 01tháng 7 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Xác định cụ thể nội dung và trình tự công việc cơ quan thuế, công chức thuế thực hiện giải quyết hoàn thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế Nhằm cải cách thủ tục hành chính trong việc giải quyết hoàn thuế cho người nộp thuế

- Quy trình Miễn thuế, giảm thuế: QĐ số 1444 /QĐ-TCT ngày 24 tháng 10 năm

2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Xác định cụ thể nội dung và trình tự công việc

cơ quan thuế, công chức thuế thực hiện giải quyết miễn thuế, giảm thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế Nhằm cải cách thủ tục hành chính, trong việc giải quyết miễn thuế, giảm thuế được nhanh chóng, thuận lợi cho người nộp thuế Ngoài ra còn có đội tuyên truyền - Nghiệp vụ dự toán là đội sẽ hỗ trợ người nộp thuế tiếp thu ý kiến, giải quyết các vấn đề vướng mắc về kê khai, nộp

Để đạt được mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thực hiện những phần việc chủ yếu nhằm tác động, điều khiển và kiểm soát hoạt động kê khai, nộp thuế của người nộp thuế Nếu như xây dựng chính sách thuế, tổ chức bộ máy thu thuế và tổ chức

Trang 27

quy trình quản lý thuế là những nội dung có tính chất đi trước, tiền đề để thực hiện hoạt động quản lý thuế thì tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế, còn được gọi là hành thu, là nội dung đi sau nhưng phải thường xuyên thực hiện của quản lý thuế

Với mục tiêu tối thượng là thực hiện pháp luật thuế, nghĩa là phải đảm bảo để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nước thì cơ quan thuế cần tác động vào tất cả những yếu tố điều khiển hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Tức là phải cho người nộp thuế hiểu nghĩa vụ thuế, hiểu cách tính toán số thuế phải nộp, thấy được hậu quả của việc không tuân thủ, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp cho Nhà nước, kiểm soát tuân thủ thuế Để làm được điều đó, cần tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế Đó là chức năng chủ yếu sau:

- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế: chuyển tải thông tin về pháp luật thuế đến mọi thành viên trong xã hội bằng những hình thức, biện pháp cụ thể

- Hỗ trợ người nộp thuế: Tạo những điều kiện tốt nhất để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế như hướng dẫn kê khai, giải đáp vướng mắc,…

- Quản lý kê khai, nộp thuế: Nắm bắt toàn bộ tình trạng đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và nợ thuế của người nộp thuế

- Đôn đốc thu nộp thuế: Nhắc nhở người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN

- Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế: Kiểm soát, đối chiếu, đánh giá tính đúng đắn, trung thực trong hoạt động kê khai thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế

- Cưỡng chế thuế: Dùng các hình thức, biện pháp buộc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, thực hiện quyết định hành chính thuế

Trong mọi mô hình tổ chức bộ máy thu thuế thì các chức năng trên đều phải thực hiện Trong các mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo đối tượng và theo sắc thuế thì một

bộ phận nào đó trong cơ quan thuế có thể thực hiện một số chức năng hoặc toàn bộ các chức năng quản lý có thể nói trên Trong mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo chức năng, thông thường một bộ phận trong cơ quan thuế chỉ thực hiện một chức năng nhất định và có thể phối hợp để thực hiện một chức năng khác

Trang 28

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Hệ thống chính sách, pháp luật thuế

Hệ thống chính sách, pháp luật thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế phải đảm bảo được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội Hệ thống thuế phải được tự khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi nghề kinh doanh, các tổ chức và cá nhân bỏ vốn, lao động, đầu tư trang thiết bị và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh theo quỹ đạo của kế hoạch Nhà nước [26]

Hệ thống thuế mang tính cháp vá, chồng chéo, thiếu căn cứ kinh tế, có thể vừa gây lạm thu, vừa gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước ngược lại, hệ thống chính sách thuế khoa học, đơn giản, dễ hiểu và ổn định trong thời gian dài tạo điều kiện nâng cao hiểu biết và nhận thức về nghĩa vụ công dân đối với thuế, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp dân cư và tự giác chấp hành luật thuế, từ

đó tác dụng thúc đẩy hạch toán kinh tế, thực hiện nghiêm chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ [26]

Tổ chức bộ máy quản lý thuế

Yếu tố này có vai trò quan trọng mang tính quyết định cho việc thực thi chủ trương chính sách bảo đảm thắng lợi cho công cuộc cải cách thuế, Hệ thống bộ máy quản lý thuế phải được kiện toàn, cũng cố để có đủ điều kiện thực có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của cả

hệ thống thuế Bộ máy quản lý thuế phải thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực của hệ thống trong quá trình chiển khai hệ thống chính sách thuế mới [29]

Công tác tin học

Khối lượng công việc quản lý thu thế là rất lớn chi phí rất cao và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu ngân sách Nhà nước Phương pháp càng tiến bộ thì kết quả quản lý thu thuế càng cao Do vậy, việc ứng dụng công nghệ tin học là một khả năng tốt nhất có tác dụng mạnh trong việc đẩy mạnh cải cách thuế và phát huy những tiến bộ của ngành thuế trong công quản

lý và thu thế hiện nay [29]

Đặc điểm của công tác quản lý thuế là phải quản lý trực tiếp đến từng ĐTNT theo nhiều loại sắc thuế với số lượng ĐTNT rất lớn mà theo quy định thì tất cả các chứng từ họat động kinh doanh, kê khai nộp thuế, căn cứ tính thuế, thông báo thuế phải lưu dữ là nguyên tác bắt buộc Do vậy, nếu làm bằng phương pháp thủ công thì sẽ cần

Trang 29

rất nhiều nhân lực và chi phí cao Mặt khác, sự sai sót, chậm trễ trong việc tính thuế và cung cấp thông tin để chỉ đạo hành thu sẽ có nhiều khả năng tạo ra kẻ hở để thất thu thuế, tiêu cực trong công tác quản lý thu thuế Nếu ứng dụng tốt công tác tin học sẽ tự động hóa các khâu công việc trên và theo một quy trình chặt chẽ sẽ nâng cao tính pháp

lý và hiệu quả sẽ rất tốt trong công tác quản lý hành thu thuế hiện nay [29]

Ý thức của người (cá nhân) và tổ chức nộp thuế, công tác tuyên truyền chính sách thuế

Các chính sách chế độ luật pháp lệnh về thuế chỉ có thể thực thi một cách đầy đủ thống nhất khi công tác phổ biến giáo dục trong triển khai sâu rộng trong quảng đại quần chúng Mọi

tổ chức, cá nhân cần phải biết đầy đủ các quy định, những việc phải làm và mức độ sẽ bị sử lý đối với từng hành vi trốn thuế, gian lận thuế Không chấp hành nghiêm việc kê khai đăng ký thuế; vi phạm về sử dụng hóa đơn chứng từ, sổ sách kế toán, dây dưa nợ đọng trốn thuế Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế còn có ý nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với việc thực thi các chính sách, pháp luật về thuế, đảm bảo tính công khai, công bằng xã hội [29]

Sự phối hợp giữa ban ngành chức năng

Thuế là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước là công cụ quan trong để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội hay nói một cách khác thuế là một phạm trù kinh tế – chính trị tổng hợp do đó thực hiện chính sách thuế không phải là công việc đơn phương của ngành thuế Cấn có sự phối hợp với các đoàn thể và cơ quan có liên quan để triển khai đồng

bộ việc thi hành chính sách thuế với các chính sách khác và quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn [31]

Cần phát huy chức năng của các Tòa án hành chính kinh tế trong việc giải quyết các tranh chấp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế đảm bảo tính khách quan trong việc thực hiện đầy đủ các quy định về thuế của Nhà nước [31]

+ Trình độ nhận thức và ý thức chấp hành luật thuế của nhân dân Nhà nước đưa được công tác thuế vào quần chúng nhân dân là công việc rất quan trọng góp phần phát huy tác dụng của chính sách thuế; nâng cao tính pháp lý của hệ thống chính sách thuế; giáo dục tính tự giác về nghĩa vụ nộp thuế và quyền lợi được hưởng về thuế, tạo điều kiện giúp thuế trở thành công cụ mạnh mẽ trong điều khiển kinh tế quốc gia Nếu trình độ nhận thức và ý thức chấp hành thuế của quần chúng nhân dân cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thế

Trang 30

đồng thời qua sự phản hồi những vấn đề bất hợp lý sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về thuế [31]

Sự tuân thủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, quan hệ thanh toán

Công tác kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ ảnh hưởng rất lớn đến công tác thu thuế GTGT Việc thực hiện chế độ kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ trong toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh được coi là điều kiện bắt buộc thì công tác thu thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng mới đạt hiệu quả cao

Hình thức thanh toán trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến công tác thu thuế GTGT Việc thanh toán bằng tiền mặt như hiện nay đang gây khó khăn cho việc kiểm soát doanh thu của cơ quan thuế Do đó phải quy định bắt buộc hình thức thanh toán qua ngân hàng mới hạn chế được tình trạng trốn thuế, gian lận thuế [31]

Công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý Nhà nước

Công tác kiểm tra thanh tra của các cơ quan Nhà nước có vai trò đảm bảo công bằng trong xã hội và sự công minh của pháp luật nó làm tăng ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của ĐTNT cũng như ý thức trách nhiệm của cán bộ thuế góp phần ngăn chặn tình trạng tiêu cực, gian lận Các trường hợp vi phạm phải xử lý kịp thời, nghiêm minh mới có tác dụng răn

đe, giáo dục đối tượng vi phạm

Quy trình quản lý thu thuế

Quy trình quản lý thu thế quy định trình tự thủ tục các bước công việc phải làm để quản lý thu thế Việc ban hành quy trình quản lý giúp cơ quan thuế chỉ đạo, điều hành họat động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo một trình tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiện dân chủ hóa, công khai minh bạch và rõ ràng để các cán bộ thuế, ĐTNT dễ thực hiện [31]

Tóm lại công tác quản lý thu thuế có nhiều nhân tố tác động, chúng ta cần chủ động đến những nhân tố cơ bản nhất, nhưng cũng không nên bỏ qua những yếu tố khác về kinh

tế - xã hội và tác động của môi trường

1.2.6 Cơ sở pháp lý quản lý và chống thất thu thuế ở Việt Nam

Để hỗ trợ cho hoạt động quản lý và chống thất thu thuế ở Việt Nam, chính phủ, các

bộ ban ngành đã ban hành hàng loạt các luật, pháp lệnh, qui định về hoạt động quản lý và chống thất thu thuế bao gồm:

Trang 31

Bảng 1.1 Văn bản pháp lý quản lý và chống thất thu thuế

Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập

khẩu

Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12

Chính quyền trung ương

Thuế xuất-nhập khẩu Luật thuế xuất khẩu, thuế

nhập khẩu số 45/2005/QH11

Chính quyền trung ương

Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập

khẩu

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12

Chính quyền trung ương

Thuế thu nhập doanh nghiệp của các

đơn vị hạch toán toàn ngành

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12

Chính quyền trung ương

05/2009/NĐ-CP

Chính quyền trung ương

Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế

giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu

Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12

Chính quyền trung ương, chính quyền địa phương

Thuế thu nhập doanh nghiệp, không

kể thuế thu nhập doanh nghiệp của

các đơn vị hạch toán toàn ngành

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, Luật thuế thu nhập cá nhân

số 04/2007/QH12

Chính quyền trung ương, chính quyền địa phương

Thuế thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập cá nhân

số 04/2007/QH12

Chính quyền trung ương, chính quyền địa phương

Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,

không kể thuế chuyển lợi nhuận ra

nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12

Chính quyền trung ương, chính quyền địa phương

Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng

hóa, dịch vụ trong nước

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12

Chính quyền trung ương, chính quyền địa phương

Thông tư 71/1002/TT-BTC

Chính quyền địa phương

Thuế tài nguyên, không kể thuế tài Nghị định số 05/2009/NĐ- Chính quyền địa

Trang 32

nguyên thu từ dầu, khí CP phương

Thuế môn bài

Nghị định số

75/2002/NĐ-CP, Thông tư số 42/2003/TT-BTC]

Chính quyền địa phương

Thuế chuyển quyền sử dụng đất Luật thuế thu nhập cá nhân

số 04/2007/QH12

Chính quyền địa phương

Thuế sử dụng đất nông nghiệp

Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Nghị quyết số 15/2003/QH11

Chính quyền địa phương

1.3 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế ở thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc

Nhằm hạn chế chống thất thu thuế GTGT do các DN bán lẻ thường xuyên không in hóa đơn bán hàng cho người tiêu dùng thì chính quyền thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc)

đã thực hiện một biện pháp khuyến khích người tiêu dùng yêu cầu các DN phải cấp hóa đơn bán hàng Người ta đã đưa vào một ô nhỏ trong hóa đơn để biến hóa đơn thành một vé

xổ số, khách hàng cào vào ô đó có thể trúng thưởng từ 100 đến 5.000 nhân dân tệ Để ngăn ngừa sự giả mạo, một ô thứ hai với mã số cho phép khách hàng có thể kiểm tra thông qua Internet về việc công ty đưa cho họ hóa đơn có giá trị hay không Trong một chương trình thử nghiệm, một thị trấn nhỏ ở ngoại ô Bắc Kinh đã tăng thuế lên tới 732.000 USD trong khi chỉ phải chi ra 17.000 USD tiền thưởng (theo Báo cáo Phát triển thế giới 2005 của

WB, trích dẫn thông tin từ The Economist)

Biện pháp đơn giản đó rất đáng cho những cơ quan chức năng của chúng ta chúng ta thấy nhờ đó người mua hàng sẽ kích thích người tiêu dùng cung cấp hóa đơn bán hàng và

do đó DN khó có thể làm giả doanh thu để trốn thuế GTGT Hiệu quả đem lại rất hữu ích cho các sở thuế các tỉnh và Tổng Cục Thuế nghiên cứu áp dụng

Trang 33

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế ở Chi cục thuế quận 5 thành phố Hồ Chí Minh

Tại quận 5 công tác chống thất thu thuế hiện vẫn còn tồn tại nhiều bất cập mà trong

đó bất cập lớn nhất là nợ đọng thuế còn quá lớn Tổng nợ tính đến 31/12/2015 là 243.062 triệu đồng, tăng 57.199 triệu đồng (so với 31/12/2014) chiếm tỷ lệ 16,15% trên tổng thu NSNN (233.291 triệu đồng /1.504.600 triệu đồng ) Tuy nhiên về số thu thực hiện đến 31/12/2015 tổng số thực hiện thu Ngân sách Nhà là 1.504.600 triệu đồng đạt 116,55% dự toán pháp lệnh, đạt 108,42% dự toán phấn đấu, bằng 118,55% so với năm 2014 Trong đó thu thuế công thương nghiệp (CTN) ngoài quốc doanh là 777.400 triệu đồng đạt 95,5% (777.400 triệu đồng /814.000 triệu đồng ) chỉ tiêu pháp lệnh năm 2015 và bằng 102,92%

so với năm 2014

Các khoản thu còn lại đều đạt và vượt chỉ tiêu được giao: thuế thu nhập cá nhân đạt 108.81% (217.000 triệu đồng /199.500 triệu đồng ); thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 104,92% (6.295 triệu đồng /6.000 triệu đồng); tiền sử dụng đất đạt 872,42% (30.500 triệu đồng /3.500 triệu đồng); tiền thuê đất đạt 262,56% (147.000 triệu đồng /56.000 triệu đồng)

Nguyên nhân thuế CTN ngoài quốc doanh chỉ đạt 95,5% chỉ tiêu thu được giao, do chính sách thuế GTGT và thuế TNCN đối với hộ cá thể năm 2015 thay đổi cách tính thuế

từ áp dụng thuế suất tính trên tỷ lệ GTGT và tỷ lệ TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần chuyển sang tính trực tiếp trên doanh thu, dẫn đến tỷ trọng số thu từ thuế GTGT giảm, nhưng tăng số thu từ thuế TNCN đã tác động giảm thu thuế CTN ngoài quốc doanh (do số thu từ khu vực hộ cá thể chiếm tỷ trọng 41,66% trong tổng thu thuế CTN-TNCN ngoài quốc doanh của Chi cục Thuế); một vài DN lớn có thuế nộp năm 2015 giảm hoặc chuyển trụ sở về quận, huyện khác (Cty TNHH Kim Hà Việt giảm 7.800 triệu đồng , Cty Cổ phần Hương Thủy giảm 3.835 triệu đồng , Cty MTV Taxi Sài Gòn Hoàng Long giảm 4.048 triệu đồng ); số thuế nộp tăng do một số Cty từ nơi khác chuyển về ( Cty TNHH TMDV Sinh Tài nộp 3.260 triệu đồng , Cty TNHH Riverorchid Việt Nam nộp 1.637 triệu đồng, Cty TNHH Riverorchid PR nộp 1.873 triệu đồng, Cty TNHH Riverorchid Notch nộp 1.441 triệu đồng )

Công tác đốc thu nợ thuế và cưỡng chế thu hồi nợ thuế được Chi cục xác định là nhiệm vụ trọng tâm góp phần hoàn thành dự toán thu ngân sách năm 2015; Chi cục đã bám sát chỉ đạo của Ngành, Cục Thuế và UBND Quận tăng cường theo dõi, quản lý chính xác

Trang 34

số thuế nợ, tuổi nợ của từng DN, triển khai quyết liệt các biện pháp thu nợ theo kế hoạch

số 168/KH-UBND ngày 04/12/2015 của UBND Quận 5 và xử lý cưỡng chế thu hồi nợ thuế theo quy định và hướng dẫn của Tổng cục Thuế tại quy trình quản lý nợ ban hành kèm theo QĐ số 1401/QĐ-TCT ngày 28/07/2015 Bên cạnh đó, công tác kiểm tra thuế tại

DN được Chi cục thuế quận 5 đặc biệt chú trọng:

- Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

Đã thực hiện 885 lượt đạt 110,6% kế họach pháp lệnh (885 hồ sơ/800 hồ sơ) Số thuế truy thu và phạt (đã quy đổi) qua kiểm tra là: 133.407 triệu đồng, đạt 133,4% chỉ tiêu pháp lệnh (133.407 triệu đồng /100 triệu đồng), bằng 151,7% so với năm 2014 (133.407 triệu đồng /87.913 triệu đồng )

- Kiểm tra theo chuyên đề

 Chuyên đề DN kinh doanh vận tải: Thực hiện theo Kế hoạch số 3391/KH-CCT ngày 19/8/2014 của Chi cục về việc kiểm tra chuyên đề các DN hoạt động, kinh doanh dịch vụ vận tải Năm 2015

 Chuyên đề DN kinh doanh dịch vụ ăn uống: Thực hiện theo Kế hoạch số CCT ngày 03 tháng 02 năm 2015 của Chi cục về việc kiểm tra chuyên đề các DN hoạt động kinh doanh ngành ăn uống

247/KH- Chuyên đề DN kinh doanh dịch vụ trò chơi có thưởng (game bắn cá): Căn cứ theo

Kế hoạch số 877/KH-CCT ngày 09/4/2015 của Chi cục Thuế về việc kiểm tra chuyên đề các DN kinh doanh dịch vụ giải trí trò chơi có thưởng

 Chuyên đề DN trọng điểm và DN kinh doanh dịch vụ du lịch: Thực hiện theo kế họach số 2036/KH-CCT ngày 03/8/2015 kiểm tra chuyên đề các DN trọng điểm và DN kinh doanh dịch vụ du lịch;

- Kiểm tra các DN có phát sinh hoạt động chuyển nhượng vốn: Năm 2015, Cục Thuế không chuyển danh sách các DN có phát sinh hoạt động chuyển nhượng vốn để Chi cục kiểm tra, xử lý như năm 2014

- Kiểm tra các DN khác theo nhiệm vụ được giao: Trong năm 2015, Chi cục đã thực hiện kiểm tra theo nhiệm vụ được giao 29 DN (giải thể, hóa đơn bất hợp pháp, hòan thuế ) với số thuế quy đổi là: 15.334 triệu đồng (trong đó: số truy thu và phạt là: 2 021 triệu đồng , giảm khấu trừ: 1.939 triệu đồng , số giảm lỗ: 45.493 triệu đồng, tương ứng thuế TNDN là: 11.374 triệu đồng)

Trang 35

Nhìn chung, Chi cục Thuế quận 5 là đơn vị có số thu lớn là đơn vị trọng yếu của Thành phố Hồ Chí Minh bên cạnh những mắt đạt được, CCT Q5 tồn tại, hạn chế như: Hiệu quả công tác kiểm tra một số hồ sơ còn thấp; công tác giải quyết hồ sơ hành chính đúng thời hạn quy định, nhưng một số hồ sơ chưa được công chức cập nhật kịp thời trên ứng dụng TMS; công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế gặp khó khăn đối với trường hợp hàng hoá

kê biên không đủ giá trị hoặc kinh doanh lòng lề đường, không giấy phép kinh doanh nên khả năng thu nợ thấp Một số công chức thuế chưa nắm vững công việc chuyên môn, chưa thông thạo việc sử dụng ứng dụng TMS vào phục vụ cho công tác quản lý, kiểm tra thuế đã

tạo cảm giác gây phiền hà cho người nộp thuế

1.3.3 Bài học chống thất thu thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận 12 thành phố Hồ Chí Minh

Mặc dù có sự khác biệt khá lớn về chế độ chính trị, về điều kiện, kinh tế xã hội, văn hoá và trình độ quản lý… nhưng qua nghiên cứu về công tác quản lý thu thuế và chống thất thu thuế trên thế giới và tại một số địa phương ở Việt Nam Tác giả rút ra một số bài học cho công tác quản lý thu thuế và chống thất thu thuế tại quận 12 thành phố Hồ Chí Minh cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc thiết kế, xây dựng một Luật thuế ngoài việc phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế, xã hội còn phải phù hợp đặc điểm, truyền thống văn hoá của mỗi nước đồng thời phải tính đến mối quan hệ tương quan với các nước trong khu vực và trên thế giới trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường để có được lợi ích tổng thể của quốc gia

Thứ hai, việc áp các loại thuế có thể chia ra từng bước phù hợp với điều kiện kinh

tế, xã hội và trình độ quản lý

Thứ ba, tính công bằng trong các quy định của luật là điều kiện cơ bản để đạt được tính tuân thủ, khi tính tự tuân thủ được nâng cao sẽ làm giảm đáng kể chi phí hành chính thuế Như vậy ở một khía cạnh nào đó (xét hiệu quả về chi phí hành chính thuế) thì tính công bằng trong các quy định của luật sẽ làm tăng hiệu quả của sắc thuế

Thứ tư, bảo đảm tính tự tuân thủ có ý nghĩa quan trọng trong công tác hành chính thuế Để có được điều đó, ngoài các quy định rõ ràng, chi tiết và công bằng về trách nhiệm của ĐTNT trong việc tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế thì luật có thể chế tài xử phạt một cách nghiêm minh các trường hợp vi phạm

Trang 36

Thứ năm, những bài học kinh nghiệm về các vấn đề kỹ thuật trong thiết kế xây dựng Luật

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 12

GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 2.1.Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của quận 12:

Quận 12 nằm ở phía bắc của Thành Phố Hồ Chí Minh, vị trí địa lý: phí đông giáp với quận Thủ Đức, giáp với tỉnh Bình Dương; phía tây giáp xã Bà Điểm Hóc Môn; phía nam giáp với quận Tân Bình, quận Gò Vấp, quận Bình Thạnh ;

Quận 12 bao gồm có 11 phường: bao gồm;

- Thạnh Xuân: diện tích 968,58 ha

- Hiệp Thành: diện tích 542,36 ha

- Thới An: diện tích 518,45 ha

- Thạnh Lộc: diện tích 583,29 ha

- Tân Chánh Hiệp: diện tích 421,37 ha

- Tân Thới Hiệp: diện tích 261,97 ha

- An Phú Đông: diện tích 881,96 ha

- Trung Mỹ Tây: diện tích 270,63 ha

- Tân Thới Nhất: diện tích 389,97 ha

- Đông Hưng Thuận: diện tích 255,20 ha

- Tân Hưng Thuận: diện tích 181,08 ha

Quận 12 có hệ thống đường bộ với quốc lộ 22 (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là quốc lộ 1A ), các tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày, Quận 12 có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng Trong tương lai, nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua Vị trí này, cảnh quan này tạo cho Quận 12 không gian thuận lợi để bố trí các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Về mật độ dân số đến năm 2014: Mật độ dân số 451.737 người

Về dân tộc: Chủ yếu là người kinh chiếm 93%, người Hoa chiếm 7% với mật độ:

8559 người/km2

Về đặc điểm kinh tế năm 2014:

Trang 38

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 của UBND quận 12 cho thấy tình hình phát triển kinh tế xã hội của quận năm qua vẫn gặt hái được nhiều thành công trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp Tình hình kinh tế phát tiển hơn năm 2013 với tổng mức luân chuyển hàng hóa và dịch vụ ước đạt 9.371.049 triệu đồng, tăng 23,03% so với cùng kỳ, đạt 100,02 % so với kế hoạch (chỉ tiêu 23%); tổng thu ngân sách 1.130.000 triệu đồng/864.000 triệu đồng đồng (đạt 130,78% so với dự toán năm và bằng 117,85% so với cùng kỳ) trong đó số thu ngoài quốc doanh là 530.000 triệu đồng/502.000 triệu đồng (đạt 105,58% so với dự toán và tăng 10,09% so với cùng kỳ, tổng chi ngân sách ước thực hiện 757.455 triệu đồng/727.817 triệu đồng đạt 104,07% dư toán và tăng 6,44% so với cùng kỳ, có 1785 DN thành lập mới với số vốn đầu tư hơn 8.600.441 triệu đồng, 1.107 hộ kinh doanh đăng ký hộ cá thể mới với số vốn 60.409 triệu đồng;

Ngoài ra đã chủ động mời gọi các doanh nghiệp lớn vào đầu tư và đã triển khai các bước như : Tập đoàn Vingroup đầu tư trung tâm thương mai kết hợp ở khu mua sắm ngã tư

Ga phường Thạnh Lộc với quy mô 5,76ha, tập đoàn Aeon Maill với diện tích 5,015 ha, Công ty TNHH Linh Thanh Tuyền đầu tư cụm rạp chiếu phim tại Trung tâm văn hóa quận với diện tích 1.800 m2

Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu thì trong lĩnh vực kinh tế cũng còn có một số khó khăn nhất định Hoạt động của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn; trong năm

có 1.454 doanh nghiệp ngừng hoạt động, tăng tăng 3,12% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó:

 Chuyển đi: 356 đơn vi ̣, tăng 25,35% so với năm 2013

 Giải thể: 238 đơn vi ̣, tăng 11,21% so với năm 2013

Bỏ địa điểm kinh doanh 860 đơn vị, giảm 5,7% so với năm 2013; 3.600 lao động bị mất việc làm; năng lực cạnh tranh của hầu hết doanh nghiệp còn yếu, chưa thích ứng kịp với những thay đổi của thị trường Việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp tuy đã được tập trung chỉ đạo nhưng việc thực hiện có lúc, có nơi, có việc còn chậm và thiếu đồng bộ dẫn đến hiệu quả chưa cao

Nhiều dự án công nghiệp có tiến độ thực hiện chậm; Tình trạng buôn bán hàng giả, hàng lậu, gian lận thương mại, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm còn diễn ra; chất lượng một số dịch vụ như vận tải, du lịch còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu; cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng gia công, sơ chế, giá trị gia tăng thấp

Trang 39

Thị trường bất động sản vẫn trầm lắng; hầu hết các dự án đầu tư phát triển đô thị triển khai chậm hoặc dở dang phải tạm dừng do khó khăn, ảnh hưởng đến thu ngân sách của tỉnh và hoạt động của các doanh nghiệp

Những hạn chế, tồn tại nêu trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của một số ngành, địa phương chưa thực sự sâu sát, cụ thể, thiếu trọng điểm, thiếu quyết liệt; trách nhiệm của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ chưa cao; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm nhưng không được xử lý đúng mức nên không có tác dụng răn đe, ngăn chặn; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định của một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nghiêm túc và kịp thời, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành của quận

Tình hình văn hóa xã hội

Văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm, thực hiện có hiệu quả, nhất là công tác giảm nghèo và chăm lo cho các đối tượng chính sách, bảo trợ xã hội Trong năm đã rà soát đưa 2.074 hộ nghèo vượt chuẩn trên 16 triệu đồng/người/năm, 1.040 hộ cận nghèo vượt chuẩn thu nhập trên 21 triệu đồng/người/năm, tổng số hộ nghèo hiện nay là 2.442 hộ/19.225 nhân khẩu chiếm tỷ lệ 2,11% / tổng số dân;

Bên cạnh đó, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế đều đạt quy định, cụ thể: tỷ lệ trẻ 5 tuổi học mẫu giáo, trẻ 6 tuổi vào lớp 1, hoàn thành 100% chương trình bậc tiểu học và trung học cơ sở; đạt 99,57% tốt nghiệp trung học phổ thông;

Về Quốc phòng an ninh:

Tiếp tục giữ vững tình hình trật tự, an ninh trên toàn địa bàn quận cũng như hoàn thành công tác giao quân nghĩa vụ quân sự và thanh niên có thời hạn phục vụ trong lực lượng công an nhân dân

2.2 Giới thiệu tổng quan Chi cục thuế quận 12

2.2.1 Sự hình thành và chức năng nhiệm vụ của Chi cục thuế Quận 12

Chi cục Thuế Quận 12 được thành lập từ ngày 01 tháng 4 năm 1997 trên cơ sở được tách ra từ Chi cục Thuế Huyện Hóc Môn Đối tượng quản lý thuế là các tổ chức, cá nhân, người nộp thuế có đăng ký kê khai nộp thuế tại Chi cục Thuế Quận 12

Một trong những giải pháp góp phần nâng cao hiệu qủa công tác thu NSNN trên địa bàn Quận 12 thời gian qua phải kể đến việc Chi cục đã thực hiện tốt công tác cải cách các

Trang 40

thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực thuế Hàng năm, Chi cục Thuế đã thường xuyên cải tiến, đổi mới công tác tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thuế tại bộ phận “một cửa” của đơn

vị Bộ phận “một cửa” được đầu tư, trang bị đầy đủ hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại như: Máy quét mã vạch hai chiều tiếp nhận tờ khai, hệ thống máy vi tính, bảng hướng dẫn, bảng công khai thủ tục hành chính thuế cùng một số thiết bị hỗ trợ khác để phục vụ cho người nộp thuế Riêng với lĩnh vực đất đai, trước bạ tài sản được thực hiện theo quy chế một cửa liên thông giữa UBND quận và Chi cục Thuế Các thủ tục hành chính được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch, công khai, nội dung công việc chính xác nhanh chóng, không chỉ tiết kiệm thời gian của người nộp thuế mà còn giúp cho cơ quan thuế có thể giám sát, nắm bắt được quy trình giải quyết thủ tục hành chính thuế tại đơn vị Thông qua

bộ phận “một cửa” hầu hết mọi giao dịch thủ tục thuế đều được tập trung tại một nơi, hạn chế được thời gian và sự phiền hà cho người nộp thuế khi đến cơ quan thuế để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Việc trả lời, giải đáp, vướng mắc của tổ chức, cá nhân người nộp thuế đều được thực hiện thông qua hệ thống thiết bị hỗ trợ hiện đại, khoa học Chi cục thuế

đã triển khai việc tiếp nhận tờ khai thuế qua mạng Internet đối với các DN thuộc Chi cục quản lý Việc kê khai thuế qua mạng giúp cho các DN tiết kiệm về thời gian, nhân lực cũng như chi phí khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước Do đó, được đông đảo

DN trên địa bàn đón nhận và nhiệt tình hưởng ứng Đến nay, 100% số DN đang hoạt động thuộc Chi cục thuế quản lý đều đã kê khai thuế qua mạng Năm 2014, Chi cục thuế đã triển khai hệ thống nộp thuế điện tử đối với các DN đóng trên địa bàn Việc triển khai hệ thống nộp thuế điện tử Góp phần đơn giản hoá thủ tục nộp thuế, tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí cho các DN trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, đồng thời đã giảm thiểu tình trạng quá tải tại cơ quan thuế mỗi khi đến kỳ hạn nộp thuế Chi cục thuế thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra rà soát hồ sơ khai thuế của các DN và người nộp thuế tại cơ quan thuế để kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm hành chính về thuế Chỉ đạo các đội thuế tăng cường các biện pháp thu nợ thuế, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với Kho bạc huyện và các ngân hàng thương mại trên địa bàn để triển khai việc cưỡng chế, khấu trừ và thu thuế nợ đọng của các DN nhằm chống thất thu cho NSNN

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Lê Văn Ái (2000), Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế. (viện nghiên cứu tài chính), NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế
Tác giả: PGS.TS Lê Văn Ái
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
2. Nguyễn Đình Ân (2007), “Đào tạo cán bộ thuế theo yêu cầu cải cách – Cần chuẩn mực & chuyên nghiệp”, Tạp chí thuế Nhà Nước, 129(11), tr6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo cán bộ thuế theo yêu cầu cải cách – Cần chuẩn mực & chuyên nghiệp”, "Tạp chí thuế Nhà Nước
Tác giả: Nguyễn Đình Ân
Năm: 2007
3. Hải Anh ( 2007), “Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thuế đáp ứng yêu cầu cải cách và hiện đại hoá”, Tạp chí thuế Nhà nước, 123(5), tr10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thuế đáp ứng yêu cầu cải cách và hiện đại hoá”, "Tạp chí thuế Nhà nước
4. Ban tư tưởng văn hóa Trung Ương(2006), “ Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền chiến lƣợc cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010”, Hà Nội, tr12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền chiến lƣợc cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung Ương
Năm: 2006
5. Bộ tài chính ( 2005), Dự thảo luật quản lý thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo luật quản lý thuế
6. Trọng Bảo(2008), “ Lựa chọn tiêu chí và phương pháp tính chỉ số tổng hợp và chất lƣợng quản lý thuế”, Tạp chí thuế Nhà nước,. 186(20), tr12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn tiêu chí và phương pháp tính chỉ số tổng hợp và chất lƣợng quản lý thuế”, "Tạp chí thuế Nhà nước
Tác giả: Trọng Bảo
Năm: 2008
7. Bộ tài chính (2002), Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế GTGT sửa đổi bổ sung, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế GTGT sửa đổi bổ sung
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
8. Bộ tài chính ( 2003), Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế GTGT, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế GTGT
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
10. Bộ tài chính ( 2007), Luật quản lý thuế, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội 11. Hoàng Minh Châu(2007), “Đổi mới chính sách thuế nhằm khuyến khích phát triển DN tƣ nhân” , Tạp chí Tài chính DN,(07),tr29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý thuế", Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội 11. Hoàng Minh Châu(2007), “Đổi mới chính sách thuế nhằm khuyến khích phát triển DN tƣ nhân” , "Tạp chí Tài chính DN
Tác giả: Bộ tài chính ( 2007), Luật quản lý thuế, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội 11. Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động- Xã hội
Năm: 2007
13. Ngô Đình Giao(1998), “ Kinh tế học Vĩ mô”, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội,tr 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học Vĩ mô
Tác giả: Ngô Đình Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1998
14. Mai Hằng( 2008), “Luật QLT sau một năm thực hiện vẫn còn vướng mắc”, Diễn đàn DN, 1139(73), tr 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật QLT sau một năm thực hiện vẫn còn vướng mắc”, "Diễn đàn DN
15. Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Thị Liên (2007), Giáo trình thuế, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thuế
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Thị Liên
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2007
16. Hoàng Hữu Hoà(2001), Phân tích số liệu thống kê, Đại học kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích số liệu thống kê
Tác giả: Hoàng Hữu Hoà
Năm: 2001
17. Phạm Văn Hồng(2007), “ Phát triển DN vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển DN vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Văn Hồng
Năm: 2007
18. Trung Kiên(2008) “ Hiệu lực và hiệu quả QLT đƣợc nâng cao, Tạp chí Thuế Nhà nước, 186(20), tr4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực và hiệu quả QLT đƣợc nâng cao, "Tạp chí Thuế Nhà nước
20. Luật quản lý thuế - Khung pháp lý cao nhất đảm bảo thu đúng thu đủ. Tạp chí thuế nhà n ước, (2006), (số 3+4+5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý thuế - Khung pháp lý cao nhất đảm bảo thu đúng thu đủ. Tạp chí thuế nhà n ước
Tác giả: Luật quản lý thuế - Khung pháp lý cao nhất đảm bảo thu đúng thu đủ. Tạp chí thuế nhà n ước
Năm: 2006
21. Vũ Văn Ninh (2007), “Thay đổi căn bản phương pháp quản lý thuế ”, Tạp chí thuế Nhà nước, 158(40), tr 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi căn bản phương pháp quản lý thuế ”, "Tạp chí thuế Nhà nước
Tác giả: Vũ Văn Ninh
Năm: 2007
22. Nguyễn Văn Ninh (2007), “Nợ thuế là thước đo năng lực quản lý thuế”, tạp chí thuế Nhà nước, 158(40) tr4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ thuế là thước đo năng lực quản lý thuế”, "tạp chí thuế Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Ninh
Năm: 2007
23. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2008), Luật thuế GTGT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế GTGT
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2008
24. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam(2006), Luật quản lý thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý thuế
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w