1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp tổ chức dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình ngữ văn lớp 9 cấp THCS

19 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH TRƯỜNG THCS PHẠM VĂN HINH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY KIỂU BÀI ĐỌC THÊM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 CẤP THCS Người thực

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

TRƯỜNG THCS PHẠM VĂN HINH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY KIỂU BÀI ĐỌC THÊM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 CẤP THCS

Người thực hiện: Vũ Thị Phương Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Phạm Văn Hinh SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

THẠCH THÀNH, NĂM 2016

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong nhà trường THCS hiện nay, môn Ngữ văn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, không chỉ hướng tới rèn luyện các kĩ năng nghe, nói đọc, viết; giáo dục nhận thức, tư tưởng tình cảm, đạo đức nhân cách mà còn hình thành và phát triển các năng lực tư duy hình tượng, khả năng liên tưởng, đánh giá, nhận xét

để hướng tới các giá trị Chân- Thiện – Mĩ ở người học Phân môn Văn chính là một trong những thành tố tạo nên năng lực đó Mỗi tác phẩm văn học ra đời là kết quả của sự khổ công lao động, sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm mang đến những khoái cảm thẩm mĩ, sự nhận thức để hướng tới sự tự nhận thức ở người đọc về cuộc sống và chính bản thân mình

Ngoài các văn bản được chọn dạy chính thức, còn có các văn bản đọc thêm theo phân phối chương trình Đó là những văn bản có giá trị văn học cao, phục

vụ đắc lực cho giờ Đọc - hiểu Văn Đặc biệt, ở lớp 9, tư duy của học sinh đã có

sự phát triển tương đối cao Không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận, các em còn có nhu cầu được trải nghiệm, khám phá cuộc sống và về chính mình thông qua tác phẩm văn học Đây cũng là lợi thế để các bài đọc thêm phát huy tác dụng Tuy nhiên, việc tổ chức dạy bài Đọc thêm như thế nào để đảm bảo mục tiêu dạy học

và giáo dục thì không phải là vấn đề đơn giản Bởi chưa có nhiều tài liệu hướng dẫn cách soạn giảng một cách thống nhất Mặt khác, là các tiết đọc thêm nên thường không được quan tâm để ý đúng mức từ cả phía người dạy lẫn người học, dẫn tới hiệu quả giờ đọc - hiểu kiểu bài này không cao, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi lối đi phù hợp, làm thế nào để phát huy tác dụng thực sự của việc dạy kiểu bài Đọc thêm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung và phân môn Văn nói riêng Đây cũng là lí do tôi chọn đề

tài: “Một số biện pháp tổ chức dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình Ngữ

văn lớp 9 cấp THCS” để trao đổi một số hiểu biết và kinh nghiệm ít ỏi của mình

về việc dạy kiểu bài này tới các thầy cô giáo, với mong muốn được góp phần nâng cao chất lượng, hiêu quả của việc dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THCS

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài này sẽ góp phần làm rõ đặc trưng kiểu bài Đọc thêm; cách thức tổ chức dạy kiểu bài đọc thêm bằng những biện pháp cụ thể Mặt khác, với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi muốn chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giảng dạy Từ đó giúp học sinh tìm hiểu các khía cạnh xã hội, tình cảm, suy ngẫm về cuộc đời Bên cạnh đó, khai thác các bài Đọc thêm này nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy, bồi dưỡng cảm xúc

và thị hiếu thẩm mĩ để tạo lập các đoạn văn, bài văn có gí trị, tạo cho các em sự hứng thú, say mê với việc học tập môn Ngữ văn hơn

Trang 3

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Với sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp tổ chức dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cấpTHCS ” này, tôi chú trọng nghiên

cứu, tổng kết các vấn đề sau:

- Đặc trưng của văn bản Đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 9

- Biện pháp tổ chức ghi bảng theo từng phần của bài Đọc thêm

- Biện pháp tổ chức dạy phần Hướng dẫn tìm hiểu chung

- Biện pháp tổ chức dạy phần hướng dẫn Đọc – hiểu văn bản

- Biện pháp tổ chức dạy phần Tổng kết

- Biện pháp tổ chức dạy phần Luyện tập

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết

2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

3 Phương pháp phân tích, chứng minh

4 Phương pháp so sánh đối chiếu

5 Phương pháp trực quan

B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trước hết, cần làm rõ khái niệm về phương pháp và biện pháp dạy học:

Phương pháp dạy học là “những cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh,

nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực” Biện pháp dạy học là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể trong quá trình dạy học” Nói cách khác, biện pháp là sự cụ

thể hoá của phương pháp trong quá trình giảng dạy Trọng tâm của phương pháp giáo dục phổ thông hiện nay là hướng tới đối tượng người học Nghĩa là người thầy giữ vai trò định hướng Người học giữ vai trò chủ đạo trong việc tiếp thu,

lĩnh hội kiến thức, nhằm “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của

học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” (Điều 28, khoản 2,

Luật Giáo dục 2005)

Việc đổi mới phương pháp dạy học Văn đã tác động và quy định đến việc thay đổi nội dung, phân phối chương trình giảng dạy, cách thức kiểm tra, đánh giá học sinh, cách dạy từng kiểu bài theo phương pháp, đặc trưng phân môn Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS, ngoài các bài học chính khoá, với cách thức tiến hành của thầy và trò được áp dụng đồng bộ và có tính

thống nhất, còn một kiểu bài nữa là “Đọc thêm”.

Thực chất, đọc thêm cũng là hoạt động Đọc – hiểu văn bản Tức là tìm hiểu phân tích, cắt nghĩa văn bằng nhiều biện pháp và hình thức đặc thù của dạy

Trang 4

học văn nhằm đạt được mục tiêu dạy và học Trong đó, việc xây dựng hệ thống câu hỏi cảm thụ văn bản thực hiện dưới hình thức đối thoại là hình thức dạy học

chủ đạo trong một giờ “Đọc thêm ”

Nhìn chung, các bài Đọc thêm trong chương trình đều có vai trò lớn ở việc phản ánh chân dung cuộc sống, con người trên nhiều góc độ, đồng thời thể hiện được những tư tưởng, quan điểm nghệ thuật và tình cảm, cảm xúc chân thành, sâu sắc của người nghệ sĩ Các tác phẩm ấy được truyền đến người học qua giờ dạy Đọc thêm bằng chiếc cầu nối trái tim đến trái tim Từ đó, học sinh

có được nhận thức đầy đủ về cuộc sống, con người; rèn luyện khả năng cảm thụ, phân tích, đánh giá một bài thơ, câu chuyện; khiến các em có thể tự tin, say mê, yêu thích được khám phá nhiều hơn nữa thế giới quanh mình và muốn được trải nghiệm cảm xúc ở các tác phẩm khác trong cũng như ngoài chương trình

Trong nhà trường THCS, việc tổ chức dạy kiểu bài “Đọc thêm” chính là sắp

xếp, bố trí cho bài dạy thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng nhất định Tuy nhiên, thực tế từ việc dự giờ và trao đổi ý

kiến với đồng nghiệp, tôi thấy vấn đề tổ chức dạy bài Đọc thêm chưa được thống nhất Có người thực hiện kiểu bài này bằng các thao tác, tiến trình hoạt động như một bài Đọc- hiểu chính khoá Có người lại cho rằng giờ đọc thêm chỉ đơn thuần là dành thời gian cho học sinh đọc văn bản là đủ Ý kiến khác lại

khẳng định“đây chỉ là bài đọc thêm nên không có gì quan trọng, chủ yếu rút ra

nội dung, nghệ thuật một cách ngắn gọn là đủ” Có thể thấy, những quan điểm

đó đều mang tính chủ quan, phiến diện một chiều Bởi các tiết “ Đọc thêm” là thời điểm thích hợp để rèn luyện khả năng tư duy độc lập, chủ động, tích cực chiếm lĩnh tri thức ở học sinh theo đúng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học văn Để làm được điều đó, vai trò của người giáo viên và phương pháp dạy học phù hợp là điều cần thiết Đây cũng là hướng để tôi phần nào làm rõ ở sáng kiến kinh nghiệm này

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Văn bản đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS được bắt đầu từ lớp 6 đến lớp 9 Các tác phẩm này ứng với các kiểu văn bản ở từng khối lớp – tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận Ở lớp 9, có sự tiếp nối ở các kiểu văn bản biểu cảm trữ tình và văn xuôi tự sự nhưng có sự phát triển cao hơn về mặt thể hiện cảm xúc, tình cảm (trữ tình) và nhân vật, sự kiện, cốt truyện, chủ đề, tư tưởng (tự sự) của các tác giả, gắn với tinh thần thời đại Vì vậy, việc dạy và học các văn

bản này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Cụ thể:

1 Về phía người dạy

Nhiều giáo viên đã có sự tìm tòi, đầu tư cả về kiến thức lẫn phương pháp vào việc dạy bài Đọc thêm Vì vậy, chất lượng một số giờ Đọc thêm được cải thiện theo chiều hướng tích cực

Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại không nhỏ trong quá trình giảng dạy kiểu bài này ở giáo viên:

Trang 5

- Không ít giáo viên chưa nắm được cách thức, phương pháp giảng dạy một bài Đọc thêm Vì vậy, tiến hành lên lớp với kiểu bài này còn mang tính hình thức, hời hợt, qua loa cho xong tiết dạy

- Nhiều tiết dạy chỉ chú ý đến khâu tóm tắt văn bản, khái quát chủ đề bài thơ, đoạn thơ và cho học sinh thay nhau đọc cho đến khi hết giờ

- Nhiều giáo viên soạn bài và lên lớp với trò đúng cách thức một bài dạy Đọc

- hiểu chính thống

- Chưa chú trọng khai thác những câu hỏi ngoài văn bản, có liên quan trực tiếp đến việc tiếp nhận kiến thức của bài Đọc thêm đang giảng; việc hướng đến rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích, cắt nghĩa văn bản và các năng lực khác cho học sinh cũng chưa được nhiều người dạy để ý

- Người dạy chưa có sự đầu tư về tư liệu, tranh ảnh, đồ dùng trực quan dẫn tới chất lượng nhiều giờ dạy Đọc thêm rất thấp

2 Về phía người học

Một số học sinh đã có sự nỗ lực, cố gắng hết mình trong giờ Đọc thêm bằng

sự tích cực, chủ động, sáng tạo của mình Tuy nhiên, vẫn còn nhiều học sinh học kiểu bài này mang tính chất hình thức, đối phó Cụ thể:

- Học sinh phần lớn còn thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức ở các giờ Đọc thêm Vì vậy, ngoài định hướng của giáo viên, nhiều em không biết cách chủ động tiếp cận, lĩnh hội tri thức bằng nhiều cách khác nhau để làm giàu có vốn hiểu biết của mình

- Nhiều học sinh còn xem nhẹ các bài Đọc thêm nên không có sự soạn bài, chuẩn bị bài chu đáo như các bài học chính khoá khác

- Việc thi cử phần lớn được khuôn khổ ở các bài chính thống nên học sinh thường bỏ qua các bài đọc thêm

- Phần lớn, học sinh không hứng thú, sôi nổi học tập các giờ Đọc thêm, dẫn tới kết quả học tập các tiết này là thấp Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập môn Ngữ văn của các em

3 Kết quả của thực trạng

Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh ở 3 lớp 9 tại trường THCS Phạm Văn Hinh, năm học 2013 –

2014 qua các bài kiểm tra đột xuất sau giờ dạy, bài kiểm tra 15 phút và bài kiểm tra giao về nhà cho học sinh Kết quả thu được như sau:

Bài KT

Bài KT 15

phút 95 0 0,0 09 9,5 38 40 43 45,3 05 5,2

Bài KT

Trang 6

Theo số liệu thống kê trên, tôi thấy kết quả học tập thể hiện qua bài kiểm tra của học sinh là thấp, tỉ lệ nghịch với mức độ đề ra của giáo viên Vì thế chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra của việc dạy học Văn nói chung và dạy kiểu bài Đọc thêm nói riêng

III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

1 Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc trưng kiểu bài Đọc thêm

Trong chương trình SGK Ngữ văn 9, có 5 bài Đọc thêm được bố trí theo phân phối chương trình như sau:

T

Tiết theo PPCT

Thể loại

1 Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh Trần Đình Hổ 22 Tuỳ bút

2 Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Nguyễn Khoa Điềm 57 Thơ trữtình

3 Những đứa trẻ M Go-rơ-ki 89

Truyện ngắn ( nước ngoài)

4 Con cò Chế Lan Viên 112 Thơ trữtình

5 Bến quê Nguyễn Minh Châu 136 Truyệnngắn Nhìn vào bảng trên, ta thấy số bài đọc thêm tuy không nhiều nhưng đã phản ánh khá nhiều khía cạnh cuộc sống trong từng giai đoạn lịch sử dân tộc: Hiện thực lịch sử và thái độ của kẻ “thức giả” trước những vấn đề của đời sống xã hội

(Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh); Tình cảm thiết tha của người mẹ Tà – ôi dành cho con, cho đất nước trong kháng chiến chống Mĩ ( Khúc hát ru những

em bé lớn trên lưng mẹ); Tình bạn tuổi thơ trong sáng, đẹp đẽ và những khao

khát tình cảm của những đứa trẻ (Những đứa trẻ); Ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và khẳng định ý nghĩa lời hát ru đối với cuộc đời con người (Con cò);

Những nghịch lí cuộc đời thường vượt ra khỏi dự định, toan tính, cái vòng vèo, chùng chình cuốn con người vào khiến họ không nhận ra vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cuộc sống, thức tỉnh sự trân trọng giá trị cuộc sống gia đình, vẻ đẹp bình dị

của quê hương (Bến quê) Bên cạnh đó, các văn bản trên đều được thể hiện ở hai

kiểu loại văn bản trữ tình và văn xuôi Đây là những văn bản mẫu mực có giá trị văn học cao trong việc tiếp nhận và tạo lập văn bản của học sinh

Về đặc trưng của kiểu bài này: Đây là những tác phẩm có cùng đề tài với các văn bản chính khoá và thường là những tác phẩm khó Vì vậy được chuyển sang các tiết Đọc thêm Thời lượng cho tiết đọc thêm cũng tương đương với các tiết học chính nên về cơ bản tiến trình và nội dung từng phần cũng gần giống với các tiết học khác Tuy nhiên, tiến trình tổ chức dạy học ở từng mục không nhất

Trang 7

thiết phải đảm bảo đầy đủ như ở tiết học chính Tuỳ vào yêu cầu mục tiêu, nội dung, nghệ thuật của từng bài mà có thể tăng hay giảm phạm vi, mức độ kiến thức Nghĩa là có thể chọn vùng kiến thức để dạy sao cho làm nổi bật trọng tâm, nội dung, kĩ năng của bài học Mặt khác, giờ Đọc thêm là hoạt động đồng tiếp nhận, cảm thụ và sáng tạo của cả thầy lẫn trò nhưng cần đề cao vai trò của người học, tức học sinh phải tự học là chính dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên Như vậy, để giờ dạy bài Đọc thêm đạt chất lượng tốt, khâu hướng dẫn học sinh chuẩn

bị bài, soạn bài ở nhà là rất quan trọng Học sinh có thể tìm hiểu kĩ về tác giả, tác phẩm, những vấn đề liên quan đến tác phẩm… để có thể khai thác sâu giá trị nội dung, nghệ thuật của bài ở trên lớp Việc hướng dẫn của giáo viên có thể được tổ chức xây dựng bằng hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề v.v… để giao nhiệm vụ cụ thể cho nhóm hoặc từng học sinh

Với giờ Đọc thêm, hoạt động Đọc – hiểu là rất quan trọng Vấn đề là đọc thế nào để cảm nhận được tác phẩm, để có những phân tích, kiến giải phù hợp nhằm làm rõ giá trị nội dung, tư tưởng, nghệ thuât, tính cách, số phận nhân vật, phong cách nhà văn…Một trong số đó là phương pháp đọc sáng tạo - đọc diễn

cảm ở phần Hướng dẫn tìm hiểu chung hoặc trong quá trình Đọc – hiểu văn

bản Đọc sáng tạo được thể hiện qua việc đọc mẫu của giáo viên, việc phân vai

đọc của học sinh Có nhiều cách để thể hiện hoạt động đọc sáng tạo: đọc hướng dẫn, đọc có phân tích, kể chuyện hoặc đọc thuộc lòng, phát biểu cảm nghĩ v.v… hay hoạt động liên môn với hội họa, âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật… Nhằm tạo

ra sự hứng thú, sôi nổi và trải nghiệm cảm xúc trọn vẹn của học sinh vào không gian nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời bước đầu cảm thụ, cắt nghĩa được văn bản Để làm được điều đó, cần có sự hướng dẫn của giáo viên để đạt được hiệu quả cao nhất Vấn đề này, giáo viên phải làm rõ để học sinh thấy được vị trí, vai trò, đặc trưng của kiểu bài Đọc thêm và nhiệm vụ của mình trong giờ học đó Trên đây là những đặc trưng cơ bản của kiểu bài Đọc thêm Người giáo viên phải chỉ rõ cho học sinh nắm vững đặc trưng này nhằm thấy được vị trí, vai trò, những nét riêng biệt của dạng bài Đọc thêm, từ đó có thể phân biệt được với bài Đọc – hiểu chính khoá và có được hướng tiếp cận, khai thác đúng phương pháp

2 Biện pháp tổ chức ghi bảng theo từng phần của bài Đọc thêm

Có thể đây là thao tác đơn giản nhưng nếu không để ý, giờ đọc thêm sẽ đi chệch mục tiêu, phương pháp Ở mỗi đề mục của từng phần bài học, cần ghi hai

chữ “hướng dẫn” để đảm bảo đúng vai trò định hướng, gợi dẫn phương pháp của

giáo viên cho sự chủ động, tích cực, sáng tạo của trò Cụ thể cho việc ghi bảng ở mỗi phần của một bài dạy Đọc thêm hoàn chỉnh như sau:

I Hướng dẫn Tìm hiểu chung

II Hướng dẫn Đọc – hiểu văn bản III Hướng dẫn Tổng kết

IV Hướng dẫn Luyện tập

Trang 8

Đây là các tiêu mục lớn cho bài dạy Các tiêu mục nhỏ hơn thì có thể linh động, tuỳ vào kiểu bài và nội dung kiến thức cần hướng dẫn mà thể hiện trong bài dạy

3 Biện pháp tổ chức dạy từng phần của kiểu bài Đọc thêm

3.1 Biện pháp tổ chức dạy phần Hướng dẫn tìm hiểu chung

Thông thường ở những bài dạy Đọc – hiểu chính thống, phần Tìm hiểu chung thường được tiến hành tuần tự các nội dung như: Tác giả, tác phẩm, thể loại, bố cục, tóm tắt (đối với văn bản truyện), mạch cảm xúc (đối với văn bản thơ) Tuy nhiên, ở kiểu bài Đọc thêm này, ta nên chọn vùng kiến thức để định hướng phương pháp tiếp cận, học tập văn bản cho học sinh Cụ thể:

3.1.1 Tác giả

Phần chú thích * ( SGK) đã cung cấp khá đầy đủ thông tin về tác giả Giáo viên không cần thiết đặt câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời Giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi về con người, hoàn cảnh quê hương, gia đình, quan điểm nghệ thuật để mở rộng sự hiểu biết về tác giả cho học sinh

Ví dụ: Khi dạy tiết 57 - Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của

Nguyễn Khoa Điềm ( Ngữ văn 9 kì I), giáo viên có thể đặt những câu hỏi định

hướng để học trò phát hiện và trả lời như sau:

TT Câu hỏi Thông tin trả lời cần đạt của học sinh

1 Em hiểu gì về quê

hương nhà thơ Nguyễn

Khoa Điềm?

Cố đô Huế - dải đất miền Trung là quê hương của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Nơi đây đã chứng kiến bao thăng trầm lịch sử Nơi mang vẻ đẹp thâm nghiêm, huyền bí mà dịu dàng, kín đáo Những nét đặc trưng đó

đã tạo nên hồn thơ ông trữ tình, sâu lắng, hài

hoà về trí tuệ và cảm xúc Vì thế bài thơ “

Khúc hát… trên lưng mẹ” của ông đã mang

đậm sắc thái điệu hồn lời ru cùng vẻ đẹp phẩm chất của người mẹ - người phụ nữ của quê hương nhà thơ đối với con, với bộ đội kháng chiến và buôn làng

2 Trình bày hiểu biết của

em về phong cách thơ

của tác giả? Phong cách

ấy đã chi phối như thế

nào đến đặc trưng riêng

của bài thơ?

Phong cách trữ tình giàu chất chính luận, hiện thực, giàu tính liên tưởng Có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, vừa dân

dã, vừa mang tính văn hoá thời đại Phong cách đó đã chi phối đến sự ra đời của bài thơ

“ Khúc hát ru… lưng mẹ” với sự kết hợp,

tiếp nối giữa lời ru truyền thống với lời ru hiện đại, giữa hiện thực cuộc kháng chiến gian khổ với nét đằm thắm, trữ tình và những khát vọng đẹp của người mẹ Tà –ôi

Trang 9

đối với con, với bộ đội, kháng chiến, quê nhà…

3.1.2 Tác phẩm

Đây cũng là phần cần lựa chọn những nội dung để định hướng tiếp nhận bài học ở học trò Các nội dung có thể là: Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, Giải thích

từ khó, Đọc và xác định bố cục…

a Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Ở mục này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm rõ hoàn cảnh thời đại, xã hội dẫn tới sự ra đời của văn bản Nhằm có cái nhìn khách quan, chính xác về tư tưởng, nội dung, ý nghĩa của tác phẩm

Ví dụ: Khi dạy văn bản “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Vũ trung

tuỳ bút – tiết 22, giáo viên đặt câu hỏi: Em hiểu gì về hoàn cảnh xã hội của

nước ta thời bấy giờ qua văn bản “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh”?

Học sinh có thể trả lời như sau: Xã hội nước ta thế kỉ XVII đen tối, loạn

lạc Nạn đói vì mất mùa khiến bao người dân vô tội phải chết Triều đình thối nát Ở phủ chúa, Thịnh Vương Trịnh Sâm bỏ bê triều chính, ăn chơi sa đoạ, say

mê hưởng lạc cùng Đặng Thị Huệ… Chế độ phong kiến đang trên đường khủng hoảng trầm trọng.

Như vậy, tìm hiểu kĩ hoàn cảnh thời đại, xã hội có ý nghĩa to lớn trong việc tiếp cận, khai thác tác phẩm theo đúng hướng

b.Tìm hiểu từ khó

Ngoài hệ thống từ khó đã được chú thích ở SGK, có thể tích hợp với phần

Tiếng Việt ở bài: Nghĩa của từ, Thành ngữ, Thuật ngữ, Từ nhiều nghĩa và hiện

tượng chuyển nghĩa của từ, Nói quá… để gợi dẫn cho học sinh hiểu được từ

khó

Ví dụ: Khi dạy bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”( Ngữ văn

9 kì I) có thể nêu câu hỏi: Từ “lưng” ( trong lưng núi) ở bài thơ được dùng theo

nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? (nghĩa chuyển)

c Đọc

Với bài Đọc thêm, giáo viên cần dành thời gian hướng đẫn để học sinh nắm được cách đọc và đọc cả tác phẩm (với văn bản có dung lượng vừa phải)

Có thể chọn đoạn văn để đọc nhằm cảm nhận bước đầu về nội dung, nghệ thuật tác phẩm Đọc sáng tạo phải được phát huy cao độ ở kiểu bài này Đọc để hiểu phải tóm tắt được sự việc, nhân vật hướng tới chủ đề.( với tác phẩm truyện); nếu

là truyện dân gian, thơ trữ tình thì có thể sử dụng băng đĩa để minh hoạ nội dung, hình ảnh, giọng đọc cho học sinh học tập Tuy nhiên, các hoạt động đó đều phải diễn ra xung quanh tác phẩm văn học đang được học của giờ đọc thêm

Phần đọc sáng tạo có thể được thực hiện lồng ghép ở phần dưới – hướng dẫn Đọc- hiểu văn bản để học sinh vừa cảm thụ, vừa cắt nghĩa, phân tích, nhận xét, đánh giá được nội dung, nghệ thuật tác phẩm.

Ví dụ:

Dạy bài “Con cò” của Chế Lan Viên – tiết 112 (SGK Ngữ văn 9, kì II) Phần

đọc sáng tạo, giáo viên có thể gợi dẫn để học sinh hát các làn điệu dân ca “ Con

Trang 10

cò mà đi ăn đêm…”; “ Con cò bay lả bay la…” trong lời ru của mẹ để cảm

nhận được tình mẹ và ý nghĩa lời ru của mẹ đối với cuộc đời mỗi con người

d Bố cục

Sau phần đọc, giáo viên tổ chức cho học sinh tìm bố cục của văn bản bằng cách trả lời được các câu hỏi tự đặt ra hoặc do giáo viên định hướng

Ví dụ: Dạy bài “Con cò” của Chế Lan Viên – tiết 112 ( SGK Ngữ văn 9, kì II).

Để tìm được bố cục, học sinh phải trả lời được các câu hỏi sau:

Nhân vật trong thơ trữ tình chính là trung tâm cảm nghĩ của nhà thơ, vậy trung tâm cảm nghĩ của tác giả là hình ảnh nào? (người mẹ)

Ở bài thơ này, tác giả tự chia nội dung thành ba phần, gắn với hình tượng trung tâm xuyên suốt bài thơ – con cò trong mối quan hệ với con người Hãy đặt tên cho từng phần?

+ Phần I: Hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với thế giới tuổi

thơ

+ Phần II: Hình ảnh con cò đi vào tiềm thức tuổi thơ, trở nên gần gũi, theo con suốt hành trình cuộc đời.

+ Phần III: Từ hình ảnh con cò, suy ngẫm triết lí về lòng mẹ và ý nghĩa lời

ru của mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

Tuỳ vào đặc trưng thể loại, nội dung, tư tưởng nghệ thuật của văn bản, giáo

viên có thể hướng các em vào việc tìm bố cục theo hướng cắt ngang hay bổ dọc vấn đề, theo sự kiện hay tuyến nhân vật…

* Lưu ý: Tuỳ vào từng văn bản, ở phần Hướng dẫn tìm hiểu chung này,

giáo viên có thể chọn các nội dung cụ thể: Tác giả, tác phẩm ( hoàn cảnh, thể loại, bố cục…) để hướng dẫn học sinh khai thác Với những văn bản có phần chú thích đã nói rõ thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm… thì không cần dừng lại lâu ở những phần ấy, vì học sinh tự tìm hiểu được ở SGK Như vậy, giáo viên lại định hướng cho học sinh Đọc – hiểu sâu hơn ở những nội dung khác của bài.

3.2 Biện pháp tổ chức dạy phần Hướng dẫn Đọc – hiểu văn bản (phân tích)

Với loại bài “Đọc thêm”, để làm rõ nội dung và nghệ thuật tác phẩm, ngoài hệ thống câu hỏi ở SGk, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở

để định hướng phương pháp Đọc – hiểu cho học sinh theo hai dạng văn bản: + Nếu là văn bản thơ: chú ý đến chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình, mạch cảm xúc ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu…

+ Nếu là văn bản truyện: Chú ý đến sự việc, chuỗi sự việc, cốt truyện, nhân vật, tư tưởng chủ đề…

Trong giờ Đọc thêm, câu hỏi chủ yếu là các câu hỏi khái quát, câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi mở rộng, nâng cao, so sánh, nhận định, đánh giá chung về nội dung tư tưởng, giá trị thẩm mĩ… có liên quan đến tác giả, thời đại, xã hội và những kĩ năng sống cơ bản cũng như bài học đạo lí làm người cho học sinh

Ví dụ: Dạy Văn bản “ Bến quê”, tiết 136 ( SGK Ngữ văn 9, tập II) Giáo

viên có thể hướng dẫn học sinh phần Đọc – hiểu bằng các nội dung sau:

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Khảo sát tình hình học tập của học sinh tại trường THCS Phạm Văn Hinh, năm học 2014 – 2015 qua các bài kiểm tra đột xuất sau giờ dạy, bài kiểm tra thường xuyên và bài kiểm tra giao về nhà cho học sinh - Một số biện pháp tổ chức dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình ngữ văn lớp 9 cấp THCS
h ảo sát tình hình học tập của học sinh tại trường THCS Phạm Văn Hinh, năm học 2014 – 2015 qua các bài kiểm tra đột xuất sau giờ dạy, bài kiểm tra thường xuyên và bài kiểm tra giao về nhà cho học sinh (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w