1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vận dụng một số cách thức tổ chức giờ dạy học môn tiếng việt nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 6

34 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 228 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chất lượng với những hoạt động phong phú, hấp dẫn, thu hút sự tập trung học tập của tất cả học sinh trong lớp;- Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong các hoạt động học tập,

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ MINH KHAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG MỘT SỐ CÁCH THỨC TỔ CHỨC GIỜ HỌC MÔN TIẾNG VIỆT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH LỚP 6 - TRƯỜNG THCS MINH KHAI

THANH HÓA, NĂM 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

I/Lý do chọn đề tài 1

II/Mục đích nghiên cứu 2

III/ Đối tượng nhiên cứu 2

III/ Phương pháp nghiên cứu 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

I/Cơ sở lí luận của đề tài 3

II/ Thực trạng việc dạy và học 4

III/ Thực hiện vận dụng một số cách thức tổ chức giờ 5

dạy học môn Tiếng Việt nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 6 1 Phiếu học tập 5

2 Tạo tình huống có vấn đề 8

3 Tổ chức học sinh thảo luận nhóm 10

4.Tổ chức trò chơi 13

IV/ Kết quả thực hiện 15

C PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 18

Trang 5

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng dạy học là một trong những yêu cầu cấp bách tronggiảng dạy Đặc biệt là đối với bộ môn Văn - Tiếng Việt Để thực hiện điều đó,người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học: Lấy học sinh làm đốitượng trung tâm, nâng cao năng lực cảm thụ, viết văn cũng như giao tiếp củahọc sinh Trong bộ môn Văn - Tiếng Việt, ba phân môn Văn học, Tiếng Việt,Làm văn có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Nếu đứng trước một tác phẩm vănhọc hay, người học sinh có những rung cảm sâu sắc đối với tác phẩm đó vàmuốn chuyển tải tới người đọc (tức là làm bài làm văn) thì buộc người học sinh

đó phải có được vốn kiến thức Tiếng Việt phong phú và năng lực sử dụng ngônngữ Tiếng Việt tốt Vì vậy, phân môn Tiếng Việt đóng vai trò rất quan trọngtrong việc hình thành kỹ năng viết văn của người học sinh Vậy việc dạy và họcmôn Tiếng Việt (Ngữ Pháp) ở lớp 6 cấp THCS như thế nào để đáp ứng đượcyêu cầu đó?

Trong văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có chỉ rõphương hướng đổi mới của ngành Giáo dục - Đào tạo, đó là: "Tập trung nângcao chất lượng dạy và học, trang bị đủ kiến thức cần thiết đối với học sinh tạo ranăng lực tự học, sáng tạo của học sinh" Để đạt được điều đó, một trong nhữngphương pháp quan trọng là:

II Mục đích nghiên cứu

Trang 6

chất lượng với những hoạt động phong phú, hấp dẫn, thu hút sự tập trung học tập của tất cả học sinh trong lớp;

- Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong các hoạt động học tập, giúp các em chiếm lĩnh tri thức khoa học một cách hiệu quả;

- Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng qua các giờ học như: Kỹ năng nắm bắt, phân tích các câu hỏi; kỹ năng trình bày, diễn đạt suy nghĩ của bản thân qua phiếu học tập; kỹ năng giao tiếp và phối hợp với tập thể thông qua hoạt động nhóm, qua việc thực hiện các trò chơi nhanh; kỹ năng suy nghĩ độc lập để giải quyết các câu hỏi có tình huống vv Từ đó, giúp các em trở nên tự tin, chủ động trong học tập, tránh thói học tập thụ động, ỷ lại, bắt chước

III Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài được áp dụng với đối tượng là học sinh lớp 6I – Trường THCS Minh Khai – Thành phố Thanh Hóa

- Kết quả khảo sát đầu năm của lớp 6I năm học 2014-2015như sau:

III Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý thuyết: Nghiên cứu, tham khảo các tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài; nghiên cứu tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 6;

- Phương pháp điều tra thực tế, thu thập thông tin qua việc dự giờ;

-Phương pháp đàm thoại;

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trang 7

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trong việc đổi mới sách giáo khoa lớp 6 của Bộ giáo dục, chúng ta nhậnthấy rõ tính "tích hợp" của các phân môn trong môn Ngữ văn, mối quan hệ qualại giữa các phân môn Văn học - Tiếng Việt - Tập làm văn Nhưng xét về đặcđiểm và cấu tạo riêng của từng phân môn, chúng ta vẫn thấy phần lớn các bàiTiếng Việt lớp 6 đều được biên soạn theo 3 phần:

Các bài Tiếng Việt ở sách giáo khoa thường được biên soạn theo cách thức xuôi

đi từ ví dụ đến khái niệm, cách thức sử dụng, tác dụng

Để nắm kiến thức theo một chiều đó thường rất đơn giản, công việc củangười giáo viên và học sinh cũng rất nhàn Vậy thì việc lĩnh hội kiến thức chỉdừng ở dạng nhận biết Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu được bản chất củavấn đề, hiểu được thực tiễn ứng dụng thì bắt buộc người thầy phải đưa ra cáccách thức khác nhau để khêu gợi trò biết suy nghĩ: Tại sao lại như vậy? Tại saokhông theo cách này mà lại theo cách kia? Tại sao ở trường hợp này thì dùngđược mà ở trường hợp khác lại không dùng được?

Muốn làm được như vậy đòi hỏi việc nỗ lực, suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo của

cả thầy và trò khi đứng trước một vấn đề Phải có sự “cọ sát” giữa thầy-trò; trò để khám phá hết mọi khía cạnh của vấn đề Tất cả những điều đó là nhữngvấn đề đặt ra không có ở sách giáo khoa Vai trò của người thầy là phải hướngdẫn học sinh cách thức lĩnh hội kiến thức theo nhiều chiều Muốn vậy, học sinhphải nghiên cứu vấn đề, khai thác vấn đề và liên tưởng theo nhiều chiều khácnhau Có liên tưởng được thì mới giải quyết được những bế tắc, khám phá đượcnội dung của bài giảng và tìm ra chân lý của vấn đề Vấn đề đặt ra là khó Songlàm được như vậy, tôi nhận thấy đó là cách thức dạy tránh khuôn sáo, tránh

Trang 8

trò-truyền thụ kiến thức một cách hời hợt, học sinh mới thực sự được học với đúngnghĩa là quá trình tìm hiểu chinh phục kho tri thức vô tận của nhân loại.

II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT

1 Việc dạy:

Trong dạy văn nói chung và dạy tiếng Việt nói riêng, nhiều giáo viên chỉ táihiện sách giáo khoa một cách đơn điệu, dạy xuôi một chiều Các ví dụ đưa racho học sinh tìm hiểu thường đơn giản, chỉ thiên về phát hiện, đôi khi sử dụngcác ví dụ để tìm hiểu bài học mà không cần hiểu nguồn gốc, xuất xứ Trong tiếtdạy người thầy là trung tâm, dạy theo lối cung cấp, truyền thụ cho học sinh kiếnthức sẵn có trong sách giáo khoa và thường áp đặt luôn kiến thức vào học sinhbuộc học sinh phải công nhận luôn kiến thức đó Giáo viên không hướng dẫncho học sinh khai phá và chiếm lĩnh kiến thức mà đưa học trò vào tình trạng tiếpnhận kiến thức một cách bị động một chiều Học sinh không hiểu và cảm nhậntheo ý nghĩ riêng của mình Sự sáng tạo của học sinh không được sử dụng vàphát huy

Nhiều khi ở trong lớp, học sinh rất im lặng nhưng thực chất là để nghe thầynói kiến thức và nghe không có nghĩa là hiểu Học sinh phải tin, phải chấp nhậnnhững kiến thức thầy nói, tiếp nhận và làm theo như một cái máy mà không hiểuthực chất của vấn đề Ý thầy nói luôn trở thành "chân lý" mà các trò chỉ biếttuân theo và chấp nhận Như vậy, người học ít có cơ hội sáng tạo, ý chí muốnvươn lên của các em có nhiều khả năng bị hạn chế Học sinh không phát huyđược năng lực vốn có của mình, dần dần dẫn đến "mòn" trí tuệ của bản thân

2/ Việc học:

Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động Bởi, kiến thức do đã cósẵn trong sách giáo khoa, và thầy chỉ dừng ở việc tái hiện lại kiến thức đó chonên trong giờ học, trò thường ỷ lạ, sự suy nghĩ, tìm tòi bị hạn chế Nghe thầytruyền thụ kiến thức nhưng thực chất là trò không hiểu bản chất của vấn đề.Hoặc đôi khi trò đọc trước sách giáo khoa và biết thầy cũng chỉ nói lại kiến thức

đó nên dẫn đến lười suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo những khía cạnh mới Và cuốicùng là không hiểu được thực chất của vấn đề

Trang 9

Để khắc phục tình trạng trên, trong thời gian qua, tôi đã suy nghĩ và thựchiện việc vận dụng một số cách thức tổ chức giờ dạy – học Tiếng Việt nhằmphát huy tính "tích cực" của học sinh lớp 6.

III/ VẬN DỤNG MỘT SỐ CÁCH THỨC TỔ CHỨC GIỜ DẠY - HỌC MÔN TIẾNG VIỆT NHẰM PHÁT HUY TÍNH "TÍCH CỰC" CỦA HỌC SINH LỚP 6.

Trên cơ sở như đã nói ở trên, tôi đã thực hiện một số cách thức cụ thể tronggiờ dạy Tiếng Việt lớp 6 như sau:

1 Phiếu học tập:

a/ Mục đích:

Phiếu học tập được soạn để phát cho từng học sinh Nội dung có thể là tìmhiểu các ví dụ để học sinh suy nghĩ và ghi nhận những ý kiến cá nhân về nhữngvấn đề được tìm hiểu Việc làm này giúp cho học sinh phát huy trí lực cá nhân,độc lập trong tư duy, có cơ hội trình bày những hiểu biết của bản thân mìnhtrước tập thể Đồng thời rèn học sinh tự tin vào vấn đề mình đã được tìm hiểu,tin vào ý kiến của mình dẫu có thể ý kiến đó chưa thực sự đúng Còn các họcsinh khác nghe có so sánh, đối chiếu với ý kiến của riêng mình, đánh giá, nhậnxét, bổ sung cho bạn Cách làm như vậy tạo cho học sinh cơ hội mạnh dạn tự tin

và cái hay là học sinh được “cọ sát” với nhau, thậm chí được tranh luận vớinhau để đi đến chân lý Như thế thì việc học mới không cảm thấy nặng nề vàngược lại, trò cảm thấy thoải mái khi ý kiến của minh đúng hay chưa đúng

b/ Cách thức thực hiện:

Phiếu học tập có khi được phát ngay phần tìm hiểu bài để hình thành bàihọc Đặc biệt là đối với các bài mà kiến thức học sinh đã được học ở cấp tiểuhọc; ở cấp THCS, các em sẽ tìm hiểu kiến thức ấy kỹ càng hơn, sâu hơn

(Chẳng hạn bài: "Các thành phần chính của câu").

Phiếu học tập có thể dùng trong phần luyện tập dưới dạng bài tập để họcsinh tự vận dụng kiến thức lý thuyết vừa học vào làm bài tập Đây cũng là hình

thức để giáo viên nắm được học sinh có hiểu bài tại lớp hay không (Bài: Các

thành phần chính của câu).

Trang 10

Phiếu học tập cũng có khi là hình thức trắc nghiệm được phát vào cuối giờhọc để kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh Nếu là phiếu học tập sử dụngvào phần luyện tập hoặc cuối giờ có thể có hình thức cho học sinh tự đánh giákiểm tra nhau bằng việc trao đổi phiếu của mình cho bạn và cùng theo dõi đáp

án của cô, đối chiếu kiểm tra bài trắc nghiệm của bạn (bài: Danh từ)

c/ Ví dụ cụ thể: (có giáo án kèm theo ở phần sau)

Trong bài: " Các thành phần chính của câu" (Tiết 106) tôi đã sử dụng phiếu

học tập ở 2 thời điểm:

* Khi hình thành khái niệm về các thành phần chính của câu (Đặt trong sựphân biệt với thành phần phụ của câu) tôi đã cho học sinh làm việc cá nhân trênphiếu học tập sau:

Bài tập 1: Cho câu văn:

Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng Dế thanh niên cường tráng.

(Tô Hoài)

Câu hỏi:

1 Xác định thành phần chính con đã học ở tiểu học trong câu văn trên?

2 Thử lần lượt bỏ các thành phần câu con vừa xác định đó rồi rút ra nhận xét ?Học sinh làm cá nhân vào phiếu học tập rồi trả lời ý kiến của mình, các bạnkhác nhận xét bổ sung Từ đó, tự học sinh có thể rút ra được bài học 1

* Sang phần luyện tập, muốn kiểm tra xem học sinh hiểu bài như thế nào,tôi đã cho học sinh làm việc trên phiếu học tập sau:

Bài tập 3:

Có một số ý kiến khi tìm hiểu 2 TPC: CN và VN của câu văn sau:

Sau trận bão, chân trời, ngấn bể // sạch như tấm kính lau hết mây bụi

Trang 11

- Chủ ngữ là 1 cụm danh từ ? Vị ngữ là 1 cụm động từ ?

- Câu văn có 1 chủ ngữ ? Vị ngữ là 1 cụm tính từ ?

- Câu văn có 2 chủ ngữ ? Câu văn có 2 vị ngữ ?

Câu văn có 1 vị ngữ ?Bài tập này đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, lựa chọn ý trên cơ sở kiến thứcvừa được học để trả lời Sau đó, học sinh trao đổi kết quả trong bài, giáo viênbật đáp án để học sinh đối chiếu Giáo viên kiểm tra bằng cách học sinh giơ tayxem bao nhiêu bạn làm đúng rồi khích lệ học sinh bằng cách tuyên dươngnhững bạn làm đúng

Còn trong bài "Danh từ", tôi đã sử dụng phiếu học tập ở cuối tiết để củng cố

kiến thức toàn bài:

TRẮC NGHIỆM

Khoanh tròn vào những câu trả lời con cho là đúng

1 Danh từ là những từ chỉ người và vật

2 Danh từ là từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm

3 Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước; các từ "này, kia,

ấy, nọ " ở phía sau và một số từ ngữ khác để tạo thành cụm danh từ

4 Danh từ luôn luôn kết hợp với từ "này, kia, ấy, nọ " để tạo thành cụmdanh từ

5 Danh từ giữ chức vụ chủ yếu làm chủ ngữ trong câu

6 Danh từ cá thể làm chủ ngữ hoặc vị ngữ trong câu

7 Danh từ khi làm vị ngữ cần có từ "là" đứng trước

8 Có các loại danh từ sau:

- Danh từ chỉ đơn vị

- Danh từ chỉ tính chất của sự vật

- Danh từ chỉ sự vật

d Đánh giá chung:

Trang 12

Với hình thức hoạt động này, tôi thấy học sinh chủ động làm việc, chủđộng tìm tòi, nghiên cứu khám phá kiến thức của bài Từ đó, hiểu và áp dụngkiến thức tốt Học sinh được nói lên suy nghĩ riêng của mình (dẫu là những suynghĩ, ý kiến chưa thực sự đúng) Đồng thời tránh được việc tiếp thu ý kiến thụđộng.

2 Tạo tình huống

a/ Mục đích:

Trong giờ học, học sinh được tiếp thu những vấn đề, những kiến thức cótrong sách giáo khoa Song cũng có những vấn đề không có trong sách giáokhoa (tức là những tình huống phía thầy đưa cho trò) Từ những tình huống cóvấn đề này, bắt buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng những kiến thức

đã có để quan sát, mô tả, giải thích kết hợp với tư duy liên tưởng để phát hiệnđịnh hướng, giải quyết tình huống Như vậy, kiến thức mới được tạo ra cao hơnvới kiến thức ban đầu Đặc biệt lúc này học sinh là chủ thể của nhận thức, các

em ở vào một tình huống trạng thái tâm lý đặc biệt: Cái đã biết mâu thuẫn vớicái chưa biết đã kích thích nhu cầu nhận thức, lĩnh hội tri thức mới Trong giờhọc, học sinh muốn được “cọ sát” kiến thức thì cần được đặt vào tình huống cóvấn đề Những tình huống có thể hình thành kiến thức song cũng có thể lànhững tình huống qua đó để đón lỗi, sửa lỗi cho học sinh Cũng rất có thể ngaytrong phần trả lời của bạn học sinh này, bạn học sinh khác đã phát hiện tìnhhuống để tranh luận Lúc đó giáo viên phải là người trọng tài để kết luận ý kiếnđúng

b/ Cách thức thực hiện:

* Về phía giáo viên: Giáo viên phải tìm, phát hiện những tình huống

thường hay xảy ra khi sử dụng có liên quan đến những kiến thức của bài học.Đây là khâu rất quan trọng, cần thiết song cũng rất khó và mất nhiều công sức,thời gian bởi phần này không có trong sách giáo khoa, giáo viên phải chủ động,đầu tư, suy nghĩ, đọc tài liệu Theo tôi, đây chính là lúc người giáo viên đóng

Trang 13

vai trò quan trọng trong tiết dạy Tiết dạy có những tình huống hay sẽ tạo đượckhông khí lớp học sôi nổi và hào hứng, đem lại thành công cho việc dạy học.

* Về phía học sinh: Đứng trước tình huống có vấn đề thì học sinh phải

phân tích tình huống: Tại sao là thế này mà không phải là thế kia? Nhận thứcđược bản chất tình huống để lựa chọn cách giải quyết rồi trình bày lời giải và rút

ra kết luận Trước tình huống ấy, không phải chỉ có một học sinh trình bày mà ítnhất phải có từ 2-3 học sinh trình bày ý kiến Trước ý kiến của bạn, học sinh cóthể đồng tình hoặc không Nếu không đồng tình thì tại sao? Bảo vệ quan điểmcủa mình bằng chính kiến thức mình đã có

Giáo viên yêu cầu học sinh chỉ trên bài tập cụ thể ở phần tìm hiểu bài Rất

có thể học sinh sẽ đưa từ "đôi" ở chủ ngữ trong câu "Đôi càng tôi mẫm

bóng." là số từ, lượng từ Khi đó sẽ nảy sinh tình huống:

"

Đôi" có phải là số từ, lượng từ không ? Tại sao ?

Lúc đó, tôi sẽ tổ chức học sinh tranh luận về tình huống này Có học sinh sẽkhẳng định là đúng vì "Đôi" được hiểu là "hai" mà "hai" thì chính là số từ Họcsinh khác có thể bác bỏ vì trong bài học "Số từ và Lượng từ" cô giáo đã lưu ýnhững từ thường nhầm lẫn với Số từ và Lượng từ trong đó có từ "đôi" là danh từchỉ đơn vị

Lúc này giáo viên sẽ kết luận và nhắc lại một lần nữa phần lưu ý để họcsinh tránh nhầm lẫn

Ví dụ 2:

Trong bài: "Câu trần thuật đơn có từ là", tôi đã đưa ra tình huống sau:

Khi đặt câu trần thuật đơn có từ là, một bạn học sinh đã đặt 2 câu:

Trang 14

2 Sông nước Cà Mau là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

Con có đồng ý với 2 câu bạn vừa đặt không ?

Có thể học sinh sẽ nói 2 câu đều đúng vì cả hai câu đều sử dụng từ "là" ở vịngữ Nhưng cũng có thể học sinh sẽ tranh luận về vai trò từ "là" trong câu để rồi

đi đến kết luận: câu 1 sai, câu 2 đúng

Từ tình huống đó, giáo viên sẽ lưu ý học sinh khi học bài này: Không phảibất cứ câu đơn nào sử dụng từ "là" đều là câu trần thuật đơn có từ "là"

d/ Đánh giá chung

Có thể kết luận rằng: Qua các giờ học tôi nhận thấy cách thức tạo tìnhhuống trong giờ học như thế làm cho giờ học không chỉ phát triển xuôi chiều.Không phải lúc nào sôi nổi cũng là tốt mà trước tình huống có vấn đề không khílớp thường lắng xuống Đây là những lúc học sinh được tự chủ trong tư duy,phát huy trí lực của mình Dùng những kiến thức đã có để giải quyết vấn đề.Những kiến thức học sinh có được sau lời giải đáp của thầy là những kiến thứchọc sinh nhớ lâu, khắc sâu và đặc biệt trong tình huống có vấn đề thường có đónlỗi của học sinh nên giúp học sinh tránh được lỗi đó khi sử dụng

Cách thức này tạo cho giáo viên chủ động với bài giảng, học sinh chủ động,hứng thú trong hoạt động tiếp nhận kiến thức và đặc biệt là các em đều có một tâmtrạng hào hứng, phấn chấn chờ đợi những điều mới mẻ, chờ đợi được “cọ sát” kiếnthức của chính bản thân mình với mình, của mình với bạn ở những tiết học sau

3/ Tổ chức học sinh thảo luận nhóm

a/ Mục đích:

Học sinh không chỉ học kiến thức ở thầy mà các em còn học kiến thức ởchính bạn của mình Học bạn là bước đầu cần thiết cho trò Nơi học bạn là lớphọc Lớp học là cộng đồng các chủ thể, là thực tiễn xã hội Đó là môi trường xãhội trung gian giữa thầy và trò Cá nhân hoạt động trong môi trường này thì hoạtđộng không còn là hoạt động cá nhân thuần tuý mà phải là hoạt động hợp tác.Tri thức vừa là kết quả cá nhân của trò, vừa là kết quả của xã hội lớp học trướckhi trở thành thật sự khoa học Thông qua quá trình khám phá ra tri thức, người

Trang 15

học có thể tạo ra sản phẩm ban đầu mang tính chất cá nhân bao gồm tri thứcmới, phương pháp hành động mới, song tri thức đó có thể chưa mang tính chấtkhách quan, khoa học đầy đủ Thông qua việc trình bày, bảo vệ sản phẩm củamình ở tập thể lớp học, trao đổi, tranh luận với bạn cùng lớp (nhóm, tổ) kiếnthức chủ quan của trò mới bớt phần chủ quan, phiến diện, tăng thêm tính kháchquan, khoa học Học bạn, hợp tác với bạn trò mới tự nâng cao được trình độ củamình.

b Cách thức thực hiện:

* Về hình thức: Có thể phát phiếu học tập cho các nhóm Lúc này phiếu

học tập chính là những tờ giấy A3 (khổ lớn) để học sinh ghi ý kiến của nhóm.Một nhóm ghi vào phim trắng để hắt máy kết quả rồi các nhóm khác đối chiếutrên máy để đưa ra nhận xét bổ sung Cũng có thể để tạo ra không khí học tậpcủa các nhóm có thể thay đổi cách sắp xếp bàn ghế trong lớp học Trong nhóm,

cử ra nhóm trưởng để ghi những ý kiến, thay mặt nhóm trình bày ý kiến củanhóm mình trước lớp (có thể lên trên máy để trình bày kết quả nhóm mình) Khi

đó giáo viên có thể rèn được kỹ năng trình bày trước lớp của học sinh

* Về nội dung: Các phiếu học tập cũng là những tình huống có vấn đề,

trong nhóm phải tự thảo luận với nhau để đưa ra ý kiến thống nhất mà nhómmình cho là xác đáng Nhóm phải chọn ra người nói năng lưu loát để trình bày.Các nhóm khác nghe và nếu đồng tình hay không thì cũng phải đưa ra ý kiếncủa mình

Trong hoạt động này, thường xuyên xảy ra tình thế rơi vào những vấn đềnan giải đúng - sai khó phân biệt để đi đến kết luận khoa học Vậy làm thế nào

để giải quyết vấn đề này ? Không ai khác chính là người thầy đứng ra làm trọngtài để kết luận đúng -sai

Có tình huống ý kiến của mỗi nhóm khác nhau Lúc này người giáo viênphải đứng ra phân tích như thế nào cho thỏa đáng Cũng qua đó, người giáo viên

có thể kiểm nghiệm lại kiến thức học sinh đã có và năng lực phát huy của các

Trang 16

Đồng thời, cũng có những tình huống học sinh sai nhưng giáo viên khôngphủ nhận hoàn toàn mà ghi nhận là đã dám mạnh dạn “cọ sát” kiến thức, trìnhbày ý kiến của mình trước tập thể.

Hoặc có những tình huống học sinh trả lời nhưng lại phát sinh tình huốngkhác

Một nhóm đã đưa câu sai như sau:

Từ xa nhìn lại, trên lưng chừng núi, cảnh thác nước.

Các nhóm nhìn ra lỗi sai rất dễ (thiếu vị ngữ) song chữa như thế nào chođúng và hay thì không phải nhóm nào cũng làm được

Sau khi hết thời gian thảo luận nhóm 1 đưa ra phương án chữa:

Từ xa nhìn lại, trên lưng chừng núi, thác nước như một dải lụa trắng xoá mềm mại buông xuống chân núi.

Nhóm 2:

Từ xa nhìn lại, cảnh thác nước trên lưng chừng núi đẹp như một bức tranh.

Nhóm 3 lại đưa ra cách chữa khác:

Từ xa nhìn lại, trên lưng chừng núi, cảnh thác nước chảy ngày đêm không ngớt.

Rõ ràng, chúng ta nhận thấy nhóm 1, 2 chữa đúng Nhóm 3 chữa như thếchưa ổn thế nào? Khi đó các nhóm sẽ thảo luận, chỉ ra lỗi sai của nhóm 3

Các em có thể thảo luận đưa ra ý kiến: Xét về mặt cấu tạo ngữ pháp thì câuchữa của nhóm 3 không sai (đủ các thành phần chính của câu) nhưng xét về nộidung ý nghĩa thì câu chưa đúng Vì nội dung ý nghĩa của nòng cốt câu khôngphù hợp với thành phần trạng ngữ đứng ở đầu câu Trong trường hợp này, trạng

Trang 17

ngữ "Từ xa nhìn lại" sẽ quy định nội dung của câu là miêu tả cảnh và cảnh đượcquan sát bằng giác quan mắt Hai nữa là lối dùng từ "không ngớt" không đúngvới cảnh được miêu tả trong câu là "Cảnh thác nước".

Có thể từ câu chữa của nhóm 3, tôi lại gợi ý để các em có thể chuyển sangmột câu tả cảnh thác nước được cảm nhận bằng thính giác với các động từ cógiá trị biểu cảm cao (Học cách viết trong bài "Vượt thác" của Võ Quảng)

Và như thế là từ lỗi sai của nhóm 1, người giáo viên lại hiểu thêm đượcnhững lỗi sai khác của học sinh mà kịp thời giúp học sinh hiểu kiến thức và vậndụng kiến thức cho đúng

d/ Đánh giá chung:

Như vậy, trong những tình huống như đã nói ở trên (đặc biệt là tình huốnghọc sinh không trả lời được), tôi nhận thấy người thầy đóng vai trò là tác nhânquan trọng trong quá trình dạy học Và như vậy, một lần nữa, chúng ta có khẳngđịnh rằng, việc đổi mới phương pháp dạy học không phải chỉ là ở chỗ trò chủđộng tiếp thu kiến thức mà còn phải là sự chủ động truyền thụ kiến thức củathầy Điều đó đòi hỏi người thầy phải không ngừng trau dồi kiến thức, nắmvững kiến thức, nắm vững bản chất của vấn đề, hạn chế việc chính trò lại đưathầy vào tình huống hay nói cách khác trước tình huống của trò, thầy lúng lúngthậm chí dường như là bế tắc

4/ Tổ chức chơi trò chơi

a/ Mục đích:

Trong giờ học, học sinh thường căng thẳng, thường phải lập trung suy nghĩ

để vừa tiếp thu kiến thức, vừa ứng dụng kiến thức để giải quyết các bài tập Làmthế nào để giờ học bớt căng thẳng, tạo ra tâm lý "học mà chơi, chơi mà học" chohọc sinh trong giờ học để vừa giúp trò bớt căng thẳng, vừa là củng cố thêm kiếnthức cho các em

b/ Cách thức thực hiện:

Có thể giáo viên đưa ra hình thức thi đua giữa các nhóm như: Tìm các câu

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w