1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 6 trường THCS chu văn an nga sơn

23 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 233 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đổi mới phương pháp dạy học Văn chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự thamgia tích cực của giáo viên và học sinh qua từng giờ học cụ thể.Trong đó người giáoviên với vai trò là người dẫn

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

- Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trongnhà trường đang là vấn đề rất được xã hội rất quan tâm Mục đích của việc đổi mớiphương pháp là thay đổi lối dạy học thụ động sang phương pháp dạy học tích cực,nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo ở người học

Việc đổi mới phương pháp dạy học Văn chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự thamgia tích cực của giáo viên và học sinh qua từng giờ học cụ thể.Trong đó người giáoviên với vai trò là người dẫn dắt, hướng dẫn học sinh trong giờ học, phải xác địnhđược những mục tiêu cơ bản, rõ ràng của giờ học Hướng tới hình thành nhữngkiến thức chuẩn xác, các kĩ năng thành thục và những thái độ đúng đắn cho họcsinh

Trong quá trình dạy học, bên cạnh việc hình thành kiến thức, thì việc rèn các kĩnăng cho học sinh là rất quan trọng Ở môn Ngữ văn, hình thành các kĩ năng liêntưởng, tưởng tượng giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình hướng dẫn họcsinh tiếp nhận tác phẩm văn học và viết các bài Tập làm văn theo hướng tư duy tíchcực, chủ động và sáng tạo

Đối với học sinh lớp 6, việc rèn các kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng có vai trò

hết sức quan trọng Bởi vì bắt đầu từ cấp học này, các em sẽ dần làm quen với việctiếp nhận và cảm thụ vẻ đẹp của các tác phẩm văn học, đồng thời tập viết các bàivăn miêu tả và tự sự theo hướng sáng tạo

Kĩ năng liên tưởng tưởng tượng giúp học sinh hình dung ra đối tượng được gợi

ra trong tác phẩm văn chương một cách cụ thể, sinh động Từ đó để hiểu giá trị củatác phẩm Còn trong các bài văn miêu tả và tự sự, nếu liên tưởng, tưởng tượng cànglô-gíc, tự nhiên, phong phú thì sự sáng tạo càng cao Ở lứa tuổi của các em, sự liêntưởng, tưởng tượng là rất tự nhiên, phong phú và đáng yêu nhưng rất cần có sự địnhhướng đúng đắn của giáo viên

Nhận thức được vai trò quan trọng của các kĩ năng liên tưởng và tưởng tượngtrong việc dạy học môn Ngữ Văn, bản thân tôi đã có những tìm tòi, thử nghiệm một

số biện pháp để hướng tới rèn các kĩ năng này cho học sinh lớp 6 ở trường THCSChu Văn An - Nga Sơn - Thanh Hóa

- Mục đích nghiên cứu

Việc tiến hành nghiên cứu đề tài này góp phần nâng cao chất lượng rèn kĩ năngliên tưởng, tưởng tượng cho học sinh, giúp cho việc dạy học các tác phẩm văn học,các biện pháp tu từ đạt hiệu quả cao Trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc về các tácphẩm văn học, các biện pháp tu từ từ vựng được học trong chương trình và nhữngnắm bắt cơ bản về kĩ năng làm văn miêu tả và tự sự học sinh biết cách diễn đạt vàtạo lập các văn bản tự sự và miêu tả đạt chất lượng cao hơn

Đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Văn theo hướng phát huy tínhtích cực, chủ động của học sinh trong giờ hoc Đồng thời cũng hướng dẫn học sinh

Trang 2

bước đầu làm quen và thích ứng với việc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triểnnăng lực của học sinh

Từ những kinh nghiệm thực tế của bản thân khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệmnày, tôi cùng chia sẻ với đồng nghiệp để tìm ra những phương pháp đổi mới giờdạy học môn Ngữ văn trong nhà trường đạt hiệu quả cao hơn

- Đối tượng nghiên cứu

Đề tài hướng đến nghiên cứu và tổng kết các bước tổ chức thực hiện rèn kĩnăng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 6 trong các giờ dạy tác phẩm vănhọc, các giờ dạy Tiếng Việt và các giờ hướng dẫn học sinh viết các bài Tập làmvăn tự sự và văn miêu tả

Từ hiệu quả đạt được sau khi đã áp dụng sáng kiến vào giờ dạy, bản thân tôi tiếptục học hỏi và có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời, phù hợp hơn trong các giờdạy học Văn trong nhà trường

- Phương pháp nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lí thuyết

- Điều tra khảo sát thực tế

- Thống kê, xử lí số liệu

- Phân tích, phân loại

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận

Trang 3

Liên tưởng, tưởng tượng trước hết là hiện tượng tâm lí “Liên tưởng là nghĩ tới

sự việc, hiện tượng nào đó có liên quan nhân sự việc, hiện tượng đang diễn ra Tưởng tượng là tạo ra trong trí những hình ảnh không có ở trước mắt hoặc chưa hề có” (Từ điển Tiếng Việt- Hoàng Phê , năm 2009)

Như vậy cơ chế của liên tưởng là dựa vào trí nhớ, chắp nối, liên kết các sự kiện,

để tạo hình ảnh đối lập hoặc tương đồng Còn cơ chế của tưởng tượng là dựa trên

cơ sở các liên tưởng và sức sáng tạo để xây dựng biểu tượng mới Cũng có nghĩaliên tưởng nằm trong trí nhớ, là phương thức để nhớ, đồng thời liên tưởng cũng làthao tác của tưởng tượng Vì thế giữa liên tưởng và tưởng tượng có mối quan hệvừa là bộ phận vừa là nhân quả của nhau trong nhận thức và phản ánh đối tượng Sáng tác văn học là một hoạt động giao tiếp xã hội nhằm hướng tới sự đồngcảm, tri âm nơi người đọc Vì lí do “sinh tồn” ấy, người sáng tác bao giờ cũng gửigắm ý tưởng của mình qua hình tượng nghệ thuật của tác phẩm- mã hoá trong cácdạng thức kết cấu đặc biệt của ngôn ngữ Tác phẩm văn học khi đã hiện diện bằngvăn bản, tức là trong nó đã kết tinh một quá trình lao động nghệ thuật - từ khâuquan sát, bộc lộ cảm xúc, huy động những liên tưởng và tưởng tượng để kháiquát, kết cấu thành một chỉnh thể Như vậy quá trình sáng tác là quá trình bằng xúccảm cá nhân, nhà văn hút dẫn và nhào nặn chất liệu đời sống để phục vụ một nhucầu bộc lộ, trong đó liên tưởng, tưởng tượng có một vai trò đặc biệt quan trọng

Phương pháp dạy học tích cực xác định vai trò của học sinh là bạn đọc sáng tạo của nhà văn Có nghĩa là người học sinh là chủ thể trong giờ học, nhằm khơi

dậy và phát triển những năng lực tâm lí cảm thụ văn học một cách chủ động vàsáng tạo Muốn đạt được hiệu quả trên, học sinh phải có kĩ năng liên tưởng, tưởngtượng được những điều nhà văn thể hiện trong tác phẩm

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng đánh giá rất cao lứa tuổi học sinh trong

nhà trường như sau: “ Lứa tuổi từ 7 đến 17 là rất nhạy cảm, thông minh, lạ lùng

lắm” Trong quá trinh tiếp nhận tác phẩm Văn học, học sinh trở thành người đồng

sáng tạo với tác giả Qua trí liên tưởng, tưởng tượng của các em, nội dung của tácphẩm càng trở nên phong phú hơn

Và cũng từ những gì đã cảm nhận được trong tác phẩm văn học, vốn kiến thứccủa các em thêm phong phú, giàu có, các kĩ năng nói và viết cũng trở nên thànhthục hơn Kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cũng rất cần thiết giúp học sinh tiếpnhận và vận dụng các đơn vị kiến thức Tiếng Việt và phần Tập làm văn trongchương trình Ngữ văn lớp 6 Đặc biệt là đối với văn miêu tả và tự sự, các yếu tốliên tưởng và tưởng tượng rất quan trọng trong quá trình giúp học sinh tập viết bàivăn Bởi lẽ từ những gì các em quan sát được, các em phải liên tưởng đến những gì

có quan hệ gần gũi, giống nhau tưởng tượng ra các hình ảnh cụ thể để diễn đạtthành những từ ngữ, hình ảnh chính xác, gợi cảm, có giá trị nghệ thuật cao

2.2 Thực trạng của vấn đề

- Đối với giáo viên

Trang 4

Trong những năm gần đây, mặc dù ngành giáo dục đã quan tâm và bổ sung thêmnhiều đồ dùng dạy học cho môn Ngữ văn, nhưng số lượng tranh ảnh, cũng nhưbăng đĩa hình phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu cầnthiết trong công tác giảng dạy.

Việc trang bị công nghệ thông tin trong các phòng học chưa đồng đều Cảtrường chỉ có một phòng học có trang bị máy chiếu đa năng, vì vậy hạn chế rấtnhiều việc giáo viên muốn áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học

Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường THCS chưa mang lại

hiệu quả cao Truyền thụ kiến thức một chiều vẫn là phương pháp chủ đạo trongcác giờ dạy học Văn Tỉ lệ những giờ dạy học phát huy tính chủ động, tích cực,sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều

Hoạt động kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá quađiểm số đã dẫn đến tình trạng giáo viên duy trì lối dạy truyền thống là chủ yếu

- Đối với học sinh

Ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, nhiều năm gần đây đã cónhững đổi mới đáng kể về hoạt động kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên việc kiểm trađánh giá vẫn chưa đảm bảo yêu cầu khách quan, chính xác Ra đề theo hướng mởnhưng vẫn chấm điểm theo đáp án chứ chưa linh hoạt trong cho điểm sáng tạo.Điều này khiến học sinh vẫn học tập thiên về ghi nhớ hơn là vận dụng kiến thức.Nhiều học sinh vẫn học theo kiểu cũ: đọc thuộc, sao chép, nói lại ý của sách vở,thầy cô Các em chưa có sự sáng tạo khi tiếp xúc tác phẩm văn học

Đối với học sinh lớp 6, vì mới bước đầu tiếp xúc và tìm hiểu các tác phẩm vănhọc nên các em còn tỏ ra lúng túng Mặt khác, trong chương trình Ngữ văn lớp 6,học sinh lại được học các tác phẩm văn học dân gian Thể loại này giàu yếu tốtưởng tượng kì ảo nên đòi hỏi các em cũng phải có kĩ năng tưởng tượng tốt thì mớihiểu sâu sắc được các tác phẩm văn học Bên cạnh đó thì kĩ năng liên tưởng, tưởngtượng của các em còn hạn chế

Trong kì thi khảo sát chất lượng đầu năm môn Ngữ văn lớp 6 năm học

2015-2016, thu được kết quả như sau:

Đề bài: Em hãy tả lại khu vườn mùa xuân vào một buổi sáng

Trang 5

Từ thực tế trên, bản thân tôi đã vận dụng một số biện pháp và cách thức tổ chức

để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 6 trường THCS Chu Văn

An – Nga Sơn như sau

Ví dụ :

- Dạy bài “Thánh Gióng”, có thể cho học sinh xem những bức tranh về Thánh

Gióng, hoặc đoạn phim về cảnh Thánh Gióng đánh giặc Ân

- Dạy bài “ Sự tích Hå G¬m”, cho häc sinh xem tranh hoÆc mét

®o¹n b¨ng h×nh vÒ quÇn thÓ di tÝch Hå G¬m

- Dạy bài “ Bánh chưng, bánh dày” có thể yêu cầu học sinh miêu tả lại không

khí gói bánh chưng, bánh dày ngày Tết ở địa phương…

Tuy nhiên do tranh ảnh và tư liệu không phong phú nên điều quan trọng là phảikhơi gợi được ở học sinh sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú từ những gì đã có

trong văn bản ngôn từ Trước tiên là qua cách đọc tác phẩm sao cho “vang nhạc,

sáng hình” và sau đó là hệ thống câu hỏi có khả năng gợi mở, định hướng.

Trong giảng Văn, giọng đọc của người thầy phải có khả năng truyền được cáihồn của tác phẩm cho học sinh Qua giọng đọc của thầy, các em thấy mở ra trongtâm trạng, trong cảm xúc và tư duy những gì cần lĩnh hội Không chỉ có thế, thầy

cũng phải rèn cho trò cách đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc sáng tạo Chính người

học sẽ tự cảm thụ được vẻ đẹp của văn chương qua giọng đọc ngân vang của mình.Trong quá trình các em đọc là đồng thời trong tư duy của các em đã diễn ra sựtưởng tượng những hình ảnh một cách cụ thể và sinh động

Trang 6

Hệ thống cõu hỏi tỡm hiểu bài cũng cần phải được chuẩn bị kĩ càng để từngbước dẫn dắt học sinh thõm nhập vào tỏc phẩm Cú thể vận dụng cỏc kiểu cõu hỏinhư:

Cõu hỏi tỏi hiện: Tỏi hiện là phương phỏp rất phổ biến trong giờ dạy học Văn.

Đú khụng chỉ đơn giản là sự hỡnh dung, tưởng tượng mà cũn bao gồm cả cỏch hỡnhdung, tưởng tượng nữa Với những tư liệu phong phỳ, sinh động, với những cõu hỏichớnh xỏc và cú tớnh thẩm mỹ cao, giỏo viờn phải hướng dẫn để học sinh hỡnh dungđược nhõn vật đi, đứng, khúc, cười… Cuộc sống đang chuyển động trước mắt cỏcem.Và từ đú cú thể miờu tả lại những gỡ tỏc giả viết bằng ngụn ngữ của mỡnh

Vớ dụ :

- Em tưởng tượng và miờu tả lại trận thuỷ chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh ?

( Học bài : Sơn Tinh, Thủy Tinh)

- Bằng trí tởng tợng, em hãy tờng thuật lại cảnh Thánh Gióng

đánh giặc Ân?

( Học bài : Thỏnh Giúng)

- Nếu được vẽ tranh minh họa cho truyền thuyết “ Con Rồng, chỏu Tiờn” em

sẽ lựa chọn những chi tiết nào để vẽ?

( Học bài : Con Rồng, chỏu Tiờn)

Cõu hỏi liờn hệ: Sự liờn hệ là từ cỏc chi tiết, hỡnh ảnh trong tỏc phẩm, học

sinh nghĩ tới cỏc chi tiết, hỡnh ảnh hoặc sự việc khỏc cú nột tương đồng hoặc gầngũi Liờn hệ khụng chỉ trong tỏc phẩm mà cũn ngoài cuộc sống Vỡ vậy đũi hỏi họcsinh phải huy động những hiểu biết của mỡnh về văn chương và xó hội để sự liờn hệ

cú ý nghĩa Đụi khi học sinh cú những sự liờn hệ khụng phự hợp, giỏo viờn phải cú

sự điều chỉnh kịp thời để giỳp học sinh hiểu đỳng

(Đờm nay Bỏc khụng ngủ- Minh Huệ)

Em cảm nhận được tỡnh cảm của Bỏc dành cho cỏc chiến sĩ giống với tỡnh cảm

của ai dành cho chỳng ta?

( Học bài : Đờm nay Bỏc khụng ngủ- Minh Huệ)

- Qua lời núi của thầy Ha- men vúi cỏc học sinh trong buổi hoc tiếng Phỏp cuốicựng ở vựng An-dỏt, em cú liờn hệ gỡ đến quỏ trỡnh phỏt triển của tiếng núi dõn tộcta?

( Học bài: Buổi học cuối cựng – An-phụng-xơ Đụ-đờ)

Cõu hỏi khơi gợi sự sỏng tạo: Những cõu hỏi tỏi hiện và liờn hệ là sự chuẩn bị

cho học sinh khỏm phỏ bằng hệ thống những cõu hỏi cú tớnh khơi gợi sự sỏng tạo

Trang 7

Phạm vi câu hỏi có khi rất hẹp thuộc một từ, một câu, một hình ảnh, một chi tiếtnhưng đòi hỏi ở người học sự suy nghĩ, sự hoạt động nhận thức sáng tạo, giúp các

em hiểu sâu sắc hơn giá trị nghệ thuât cũng như nội dung của tác phẩm

Ví dụ:

- Đọc xong truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”, em hãy hình dung tâm

trạng của mụ vợ ông lão khi đã mất tất cả? Hãy miêu tả lại tâm trạng ấy?

- Em thấy kết thúc truyện“Ông lão đánh cá và con cá vàng”có gì độc đáo so

với cách kết thúc của truyện cổ tích thông thường? Nếu được viết kết thúc cho câuchuyện em sẽ viết như thế nào để câu chuyện có một ý nghĩa sâu sắc?

( Học bài: Ông lão đánh cá và con cá vàng)

Có thể khẳng định rằng: giờ học Văn thành công hay không là phụ thuộc phầnlớn vào hệ thống câu hỏi mà giáo viên dẫn dắt cho học sinh khám phá tác phẩm Việc rèn cho học sinh một số thói quen trong giờ dạy học Văn cũng rất quantrọng Như thói quen đọc kĩ tác phẩm, ghi nhớ các chi tết nghệ thuật quan trọng vàthuộc tác phẩm thơ cũng như những đoạn văn, câu văn hay Đây là công việc rấtcần thiết để tiện cho các em liên hệ, so sánh, đối chiếu Thói quen liên tưởng, liên

hệ những vấn đề, những tác phẩm khác có liên quan đến những giá trị cơ bản trongtác phẩm đang học là vô cùng cần thiết trong quá trình lĩnh hội văn học

b Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong các giờ dạy Tiếng Việt.

Đối với phân môn Tiếng Việt, các kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng rất quantrọng trong việc giúp học sinh hiểu và vận dụng cách dùng từ, đặt câu chính xác vàsáng tạo, đem lại hiệu quả diễn đạt cao Đặc biệt là các biện pháp tu từ so sánh,nhân hóa, ẩn dụ và hoán dụ mà các em được học trong chương trình Ngữ văn lớp 6 Trong những giờ dạy các biện pháp nghệ thuật này, người giáo viên phải giúphọc sinh nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép tu từkhi nói và viết

Trong thực tế, học sinh thường chưa xác định được chính xác các phép tu từ,lẫn lộn giữa các phép tu từ và khó khăn lớn nhất đối với các em là chưa hiểu hếtđược giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của các phép tu từ Từ đó khả năng vậndụng rất hạn chế

Từ thực tế đó, bản thân tôi đã thực hiện các bước cơ bản trong một giờ dạy vềbiện pháp nghệ thuật là:

+ Giúp học sinh nắm vững khái niệm, hiểu được cơ sở hình thành các biệnpháp nghệ thuật thông qua việc phân tích các ngữ liệu mẫu Chẳng hạn:

Cơ sở của so sánh và ẩn dụ là dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đốitượng khác loại So sánh luôn có hai vế ( vế A và vế B), còn ẩn dụ thì sự vật, sựviệc được so sánh (vế A), từ so sánh, phương diện so sánh bị ẩn đi, chỉ còn sự vật,

sự việc được dùng để so sánh (vế B)

Cơ sở của hoán dụ là dựa trên sự liên tưởng kề cận của hai đối tượng màkhông so sánh

Trang 8

Cơ sở của nhân hóa là từ những đặc điểm, hoạt động, tính chất của sự vật màliên tưởng đến những đặc điểm, hoạt động, tính chất giống con người và dùng các

từ vốn để chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái… của con người để chỉ vật

+ Nhận biết chính xác phép tu từ trong các ngữ liệu tiếp theo

+Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó

+ Vận dụng đặt câu hoặc viết đoạn văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật

Cụ thể khi dạy học phép tu từ so sánh:

- Cách nhận biết:

So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tươngđồng để tạo nên những hình ảnh cụ thể, hàm súc cho sự diễn đạt Nghĩa là qua cái

đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết

Khi dạy bài này,bước đầu tiên giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện phép sosánh thông qua cấu trúc của nó

Cấu trúc của phép so sánh bao giờ cũng có hai vế:

Vế A ( nêu tên sự vật, sự việc được so sánh)

Vế B (nêu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh)

Giữa hai vế thường có: Từ ngữ so sánh, phương diện so sánh Có thể vắng mộttrong hai yếu tố này hoặc cả hai

Sau khi tìm hiểu giáo viên cho học sinh rút ra mô hình cấu tạo của phép sosánh rất đa dạng, để học nhận biết Mỗi dạng giáo viên hoặc học sinh lấy nhanhmột ví dụ để minh họa

+ Dạng đầy đủ: Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận + Dạng biến đổi: Trẻ em như búp trên cành.

Tấc đất, tấc vàng.

Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất.

Trường Sơn, chí lớn ông cha.

- Cách tìm giá trị nghệ thuật:

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân tích nội dung ý nghĩa của về B thì nộidung của vế A và nội dung của toàn câu sẽ được làm rõ Muốn hiểu được vế B mộtcách chuẩn xác chúng ta phải sử dụng vốn hiểu biết từ thực tế, vốn kiến thức vănhọc đã có Khi các em làm tốt khâu này, các em sẽ tìm được giá trị đích thực củaphép tu từ này

Cụ thể khi phân tích ví dụ: Học sinh xác định cấu trúc:

Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện

VA PDSS TSS VB

thuốc phiện.

+ Em hình dung gã nghiện thuốc phiện là người như thế nào?

- > Dáng người gầy gò, ốm yếu, da vàng tái, đi liêu xiêu…

Trang 9

+ Thông qua hình ảnh so sánh, tac giả muốn người đọc hình dung điều gì về

Ví dụ: Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc,các bắp thịt cuồn

cuồn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa nghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ cảu trường Sơn oai linh hùng vĩ.

+ Thông qua các hình ảnh so sánh, em thấy dượng Hương Thư hiện lên nhưthế nào?

Học sinh chỉ ra được tác dụng của các hình ảnh so sánh trong việc miêu tảdượng Hương Thư trong cảnh vượt thác

Giáo viên chốt ý và bình : Hình ảnh so sánh này gợi cho người đọc liên

tưởng đến vẻ đẹp thể chất và sự dũng mãnh của dượng Hương Thư như một người anh hùng khi vượt thác Đồng thời giúp ta hiểu được dụng ý của nhà văn: Trong đời sống thường ngày, dượng Hương Thư nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì nhưng khi vược thác , dượng trở thành con người hoàn toàn khác Phải chăng khi đứng trước khó khăn thử thách, con người Việt Nam vốn bình thường bỗng trở nên phi thường

Từ những lời bình của giáo viên, học sinh sẽ tập sử dụng những lời bình khitìm hiểu giá trị của các biện pháp tu từ Và các em dễ dàng vận dụng vào tìm hiểu,tạo lập văn bản đặc biệt là văn bản miêu tả

- Vận dụng phép tu từ so sánh trong đặt câu:

Giáo viên nên chọn những hình ảnh gần gũi và cho học sinh tập đặt câu có sửdụng hình ảnh so sánh Ví dụ: Hình ảnh cây phượng nở hoa đỏ rực vào mùa hè;hình ảnh cây bàng đang nhú những búp nõn vào mùa xuân; hay cánh đồng ngôxanh mơn mởn…

Học sinh tự nhận xét giá trị của các hình ảnh so sánh đã sử dụng và giáo viênchốt ý, rút kinh nghiệm cho các em trong diễn đạt

c Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong các giờ dạy Tập làm văn

- Quan sát mẫu:

Một thao tác không thể thiếu trong giờ dạy các bài Tập làm văn miêu tả và tự sự

là cho học sinh quan sát mẫu Bên cạnh các mẫu có sẵn trong sách giáo khoa, giáoviên phải tìm tòi đưa thêm một số các đoạn văn mẫu tiêu biểu có trong chươngtrình hoặc ngoài chương trình Nên chọn những ngữ liệu hay đã được khẳng định.Chẳng hạn khi dạy văn miêu tả nên đưa thêm đoạn tuỳ bút của Nguyễn Tuân :

Trang 10

“Sau trận bóo, chõn trời ngấn bể sach như một tấm kớnh lau hết mõy, hết bụi.

Mặt trời nhỳ lờn dần dần, rồi lờn cho kỡ hết Trũn trĩnh và phỳc hậu như lũng đỏ một quả trứng thiờn nhiờn đầy đặn Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lờn một mõm bạc đường kớnh mõm rộng bằng cả một cỏi chõn trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng Y như một mõm lễ phẩm tiến ra từ trong bỡnh minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người dõn chài lưới trờn muụn thuở biển đụng.”

( Trớch: Cụ Tụ)

Qua việc phõn tớch cỏc mẫu, học sinh vừa cảm nhận được cỏi hay, cỏi đẹp trongcỏch diễn đạt của nhà văn, vừa học tập được cỏch nhà văn liờn tưởng, tưởng tượngqua những biện phỏp như so sỏnh, nhõn hoỏ, ẩn dụ, hoỏn dụ

- Hướng dẫn học sinh cỏch làm bài:

Trong những giờ hướng dẫn học sinh làm cỏc đề văn kể chuyện và miờu tả, giỏoviờn cần hướng dẫn chi tiết cỏc bước Sau khi đó xõy dựng được dàn ý, phần quan

trọng để rốn kĩ năng liờn tưởng, tưởng tượng cho học sinh là tập viết cỏc đoạn văn Trong bước này, giỏo viờn cho học sinh tập diễn đạt bằng cỏch: từ một hỡnh ảnh,

một sự việc, cú thể liờn tưởng, tưởng tượng đến nhiều sự việc, hỡnh ảnh khỏc nhau

và lựa chọn lấy những hỡnh ảnh hợp lớ, đặc sắc hơn cả

Sau khi hoàn chỉnh bài văn, giỏo viờn yờu cầu học sinh đọc lại để sửa chữa bàiviết Ở phần này, đũi hỏi giỏo viờn phải rất chỳ ý đến những hỡnh ảnh liờn tưởng,tưởng tượng chưa hợp lớ, chưa hay để cú những điều chỉnh kịp thời

- Đổi mới phương phỏp ra đề theo hướng mở.

Đối với văn tự sự: Bờn cạnh những đề văn kể chuyện đời thường, giỏo viờn

nờn tớch cực tỡm hiểu và ra những đề văn kể chuyện tưởng tượng sỏng tạo, nhằmkớch thớch khả năng liờn tưởng, tưởng tượng phong phỳ ở học sinh, kớch thớch tưduy sỏng tạo ở cỏc em

Vớ dụ:

- Tưởng tượng kết thỳc khỏc cho một truyện cổ tớch

- Đặt ra những tỡnh huống giả định khỏc với tỡnh huống cú sẵn trong truyện vàviết tiếp theo trớ tưởng tượng của mỡnh

- Hình dung gặp gỡ các nhân vật trong truyện cổ dân gian

- Tởng tợng gặp gỡ những ngời thân trong giấc mơ

- Tưởng tượng cuộc trũ chuyện giữa cỏc nhõn vật là đồ vật, hay con vật…

- Cách làm:

+ Xác định đợc đối tợng cần kể là gì? (sự việc hay con ngời) + Xây dựng tình huống xuất hiện sự việc hay nhân vật đó + Tởng tợng các sự việc, hoạt động của nhân vật có thể xảy

ra trong không gian cụ thể nh thế nào?

Trang 11

Và giỏo viờn đặc biệt lưu ý học sinhlà dự tưởng tượng theo hướng nào thỡ cõuchuyện cũng phải mang lại một ý nghĩa cho cuộc sống.

Đối với văn miờu tả: Những năng lực cần có khi làm văn miêu tả:

- Quan sát: nhìn nhận, xem xét sự vật

- Nhận xét liên tởng hình dung về sự vật đặt trong tơngquan các sự vật xung quanh

- Ví von so sánh: Thể hiện sự liên tởng độc đáo riêng của

ng-ời viết hình dung, cảm nhận về sự vật, hiện tợng miêu tả

Từ những người đó gặp, những cảnh đó biết, giỏo viờn yờu cầu học sinh tả lạibằng ngụn ngữ của mỡnh Nhưng ở mức độ cao hơn là yờu cầu học sinh miờu tả lạinhững cảnh, người mà cỏc em chưa được trực tiếp nhỡn, gặp mà chỉ được nghe qua

hoặc xem qua, đõy là kiểu bài miêu tả sáng tạo.

Trong bài văn miờu tả sỏng tạo, đối tợng miêu tả thờng xuất hiệntrong hình dung tởng tợng có bắt nguồn từ một cơ sở thực tếnào đó

- Đối tợng: Ngời hay cảnh vật

- Yêu cầu khi miêu tả:

- Tả cảnh phải bám vào một số nét thực của đời sống Ví dụ

khi tả một phiên chợ trong tởng tợng của em cần dựa trên

những đặc điểm thờng xảy ra của cảnh đó làm cơ sở tởng tợngnh: không khí của cảnh, số lợng ngời với những lứa tuổi tầng lớpnào? Chợ diễn ra ở địa điểm nào? Thời tiết khí hậu rasao? Những cơ sở đó là thực tế để tởng tợng theo ý định củamình

- Tả ngời trong tởng tởng: nhân vật thờng là những ngời có

đặc điểm khác biệt với ngời thờng nh các nhân vật ông Tiên,

ông Bụt trong cổ tích hay một ngời anh hùng trong truyềnthuyết Cần dựa vào đặc điểm có tính bản chất để tởng tợngnhững nét ngoại hình cho phù hợp, tạo sự hấp dẫn

Lu ý: Dù miêu tả theo cách nào và đối tợng nào cũng cần chú ý

vận dụng ví von so sánh để bài văn miêu tả có nét độc đáomang tính cá nhân rõ

Để cú được những đề văn theo hướng mở, thực sự phỏt huy được trớ liờn tưởng,tưởng tượng của học sinh, người giỏo viờn phải nghiờn cứu, tập ra đề, trao đổi tậpthể Xõy dựng thử cỏc khả năng thực hiện đề mở, cựng với nhúm chuyờn mụn tỡm

ra biện phỏp dạy học sinh làm quen, làm thử thỡ học sinh mới làm được

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w