1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hướng dẫn học sinh giỏi lớp 9 làm tốt kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua luận đề

21 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 219,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN: HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 LÀM TỐT KIỂU BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MÔT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ THÔNG QUA LUẬN ĐỀ.kể chuyện nhằm kích thích trí tưởng tượng, xây dựng óc quan sát tinh t

Trang 1

SKKN: HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 LÀM TỐT KIỂU BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MÔT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ THÔNG QUA LUẬN ĐỀ.

kể chuyện nhằm kích thích trí tưởng tượng, xây dựng óc quan sát tinh tế với tìnhcảm chân thực, những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên, về đời sống, xã hội…thì văn nghị luận trực tiếp trình bày tư tưởng, quan niệm về các vấn đề của đờisống hoặc văn học, nó hình thành và phát triển khả năng lập luận, trình bày vấn đềmột cách rõ ràng, chặt chẽ, giàu sức thuyết phục

Trong chương trình Ngữ văn THCS, ở lớp 7 và lớp 8 các em đã làm vănnghị luận theo một số đề tài xã hội và một phần đề tài văn học Lên lớp 9, các em

sẽ tiếp tục làm văn nghị luận về các đề tài xã hội và văn học được mở rộng hơnvới những đòi hỏi cao hơn về khả năng kiến thức và suy nghĩ của người viết

Phạm vi đề tài nghị luận xã hội trong SGK Ngữ văn 9 gồm nghị luận một vềmột sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.Cũng như nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề

tư tưởng, đạo lí là dạng văn nghị luận chính trị xã hội quen thuộc và khá phổ biến,thiết thực Mảng đề tài này có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống con người,bởi vì dù ở chế độ xã hội nào, thuộc thành phần giai cấp nào, điều kiện sống vàlàm việc ra sao… mỗi người đều xác định cho mình một tư tưởng, một lối sống,những phẩm chất đạo đức chuẩn mực nào đó để tự điều chỉnh suy nghĩ và hành vicủa mình Mặt khác, khi đặt trong các mối quan hệ xã hội, con người chịu nhiềutác động từ bên ngoài ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống cá nhân Sự ảnh hưởng này

có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Đối tượng được nghị luận ở đây cóthể là những vấn đề đã được xác định, thậm chí đã được coi là chân lí như các câudanh ngôn, các câu tục ngữ, lời phát biểu của các danh nhân… Tuy nhiên cũng cóthể là những vẫn đề bức xúc do cuộc sống hiện đại đặt ra, có tính cập nhật và mới

mẻ (như cách giao tiếp; văn hóa ứng xử; văn hóa trong sử dụng điện thoại nơiđông người; văn hóa trong lễ tết…) Nội dung của vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bànluận có thể được diễn đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua luận đề

Dạng nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua luận đề trongnhững năm gần đây được ra đề khá phổ biến trong các kì thi của học sinh lớp 9như kì thi vào lớp 10 THPT, đặc biệt là các kì thi HSG cấp huyện, cấp tỉnh Đây làmột dạng bài khó với kiến thức rộng, sâu, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng tổnghợp nhiều kiến thức, kỹ năng mới có thể hiểu rõ và bàn sâu được những vấn đề đặt

ra trong luận đề Trong khi đó, học sinh lớp 9 còn nhiều hạn chế về vốn kiến thứcđời sống, kỹ năng lập luận nên chưa hiểu sâu sắc, toàn diện được vấn đề Trongnhững năm học vừa qua, khi được giao nhiệm vụ giảng dạy đội tuyển Ngữ văn 9cấp huyện, cấp tỉnh tôi đã luôn trăn trở và suy nghĩ về vấn đề này Từ thực tế

Trang 2

giảng dạy, tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm hướng dẫn HSG lớp 9 làm tốt

kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua luận đề Trong đề

tài này, tôi xin được trình bày để mong được trao đổi cùng với các đồng nghiệp đểnâng cao chất lượng giảng dạy đội tuyển

2 Mục đích nghiên cứu:

Giúp học sinh hiểu đặc điểm, cách làm cơ bản của kiểu bài văn nghị luận vềvấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua luận đề; biết nhận diện đúng và bàn luận sâu sắcvấn đề nghị luận thông qua luận đề; biết bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân củamình về vấn đề bàn luận

3 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh đội tuyển học sinh giỏi lớp 9 THCS

nhằm giúp các em làm tốt kiểu bài văn nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí thôngqua luận đề

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp thống kê – phân loại

II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Về hình thức, bài viết phải có bố cục ba phần; có luận điểm đúng đắn, sángtỏ; lời văn chính xác, sinh động

Đề văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thường gồm có hai dạng cơbản:

- Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói đến một cách trực tiếp

Ví dụ : bàn về sự tự tin, lòng tự trọng của con người trong cuộc sống, tinh thần tựhào dân tộc …

- Dạng đề trong đó tưởng đạo lí được nói tới một cách gián tiếp thông quamột hoặc nhiều luận đề

Đề văn nghị luận dạng này thường gồm có hai phần:

+ Phần 1: Đưa ra luận đề có tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

+ Phần 2: Nêu yêu cầu bàn luận (cũng là định hướng về cách làm): nêu ýkiến, suy nghĩ…

Luận đề diễn đạt tư tưởng, đạo lí rất đa dạng, có thể là: những câu ca dao,câu văn, đoạn văn; một lời bài hát; một mẩu chuyện…

Trong một luận đề có thể có một hoặc nhiều vấn đề tư tưởng, đạo lí mà đềbài yêu cầu học sinh bàn luận

2 Thực trạng của vấn đề

Trong những năm gần đây, trong cấu trúc đề thi HSG môn Ngữ văn cấp tỉnh

có một câu phần văn nghị luận xã hội thường là nghị luận về một vấn đề tư tưởng,

Trang 3

đạo lí thông qua luận đề (khoảng 6 điểm/20 điểm của toàn bài thi) với mức độ yêucầu ngày càng khó hơn Ví dụ như:

Đề thi năm học 2010 – 2011: Giả sử cha em nói với em rằng:

Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con

( Trích Nói với con – Y Phương )

Em có suy nghĩ gì về lời của cha và sẽ hành động như thế nào để thực hiệnđược lời dặn dò ấy Hãy trình bày điều đó trong một bài văn nghị luận

Đề thi năm học 2011 – 2012:

Mỗi ngày ta chọn một niềm vui Chọn những bông hoa và những nụ cười.

( Mỗi ngày một niềm vui – Trịnh Công Sơn )

Từ nội dung trên, viết một bài luận với chủ đề: Niềm vui trong cuộc sống

Đề thi năm học 2012 – 2013:

Mẹ là trường học vĩ đại nhất của những người con.

( Tục ngữ Tây Ban Nha)

Từ câu tục ngữ trên và sự hiểu biết về những tấm gương người mẹ, hãy viếtmột bài luận với chủ đề: mẹ ( có độ dài khoảng 02 trang )

Nhà bác học Đác-uyn chia sẻ: Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều thu nhận được bằng cách tự học.

- Chưa hiểu sâu nội dung luận đề đã cho nên triển khai còn thiếu nội dungvấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

Trang 4

- Chỉ lướt qua hoặc không đề cập gì đến luận đề đã cho mà bàn luận trựctiếp luôn vấn đề.

- Chưa rút ra được những bài học nhận thức sâu sắc cho bản thân…

- Với những vấn đề tương đối phức tạp, nếu nắm được những thông tin vềxuất xứ, hoàn cảnh xã hội… của luận đề thì việc bàn luận sẽ chủ động hơn, thuyếtphục hơn Những thông tin này có thể lấy trong SGK, sách tham khảo, các phươngtiện thông tin

- Với những nhận định mang tính khái quát như một chân lí tất yếu của đờisống thì nên bàn luận ngay về cơ sở hiện thực, tính đúng đắn, tính thuyết phục củanội dung nhận định mà không cần trình bày thông tin về tác giả, hoàn cảnh lịchsử… của nhận định

- Khi bàn luận, không chỉ phân tích rõ tính đúng đắn của vấn đề mà cũngcần chỉ ra những hạn chế, những khía cạnh chưa hoàn chỉnh của nhận định (nếucó)

- Để chứng minh tính đúng đắn của vấn đề, cần nêu rõ cơ sở thực tế và tưtưởng của nhận định, cần liên hệ với đời sống lịch sử, văn học… Đồng thời, có thểnêu những biểu hiện trái chiều như những luận cứ phản đề với mục đích làm rõhơn ý nghĩa, giá trị của nhận định Ví dụ: Sau khi khẳng định điểm đúng của câutục ngữ “ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, có thể làm rõ có nhiều trường hợp “gần mực mà không đen, gần đèn mà chưa rạng” để thấy môi trường sống là mộtyếu tố quan trong nhưng yếu tố quyết định đến việc hình thành nhân cách, tínhcách của con người chính là ý chí, nghị lực của bản thân mỗi người Với nhữngnhận định có điểm còn chưa thật tích cực về tư tưởng thì cần phân tích, nêu dẫnchứng làm rõ điểm không phù hợp đó Dẫn chứng cần ngắn gọn, cụ thể, chính xác

và có tính khái quát

- Bên cạnh việc bàn luận vấn đề dựa trên những cơ sở khách quan, có thểnêu những ý kiến riêng, những trải nghiệm thực tế của bản thân với mục đích làmsáng tỏ nhận định Những ý kiến cá nhân phải thống nhất với hệ thống lập luậncủa toàn bài Phần này có thể lồng vào những nội dung cơ bản hoặc trình bày ởcuối bài Nên viết ngắn gọn, tự nhiên và chân thực

b Về hình thức:

- Bố cục bài viết theo một cấu trúc chặt chẽ, phù hợp với dạng bài và nhậnđịnh đưa ra bàn luận Phần thân bài phải tách thành nhiều đoạn văn và trình bàynội dung của đoạn theo kiểu đoạn phù hợp như diễn dịch, quy nạp, tổng – phân –hợp…

Trang 5

- Nhận định phải được trích dẫn nguyên văn như đã nêu trong đề bài Khinêu các nhận định khác nhằm bàn luận mở rộng, đối chiếu, so sánh… cũng phảitrích dẫn chính xác, nêu rõ tác giả hoặc xuất xứ Phải biết cách nêu và phân tíchdẫn chứng.

- Diễn đạt cần linh hoạt, giàu cảm xúc, ngôn từ chính xác và có sức thuyếtphục

3.2 Hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho học sinh cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua luận đề.

3.2.1 Các bước làm một bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua luận đề.

Bước 1: Phân tích đề

Trước hết các em cần xác định dạng đề Đề nghị luận xã hội có 2 dạng cơ

bản là nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng trong đờisống Để xác định đúng dạng đề học sinh cần đọc kĩ đề bài, chú ý đến những từngữ trọng tâm, then chốt Khi đã xác định rõ ràng, đúng dạng đề sẽ là bước đầutiên giúp các em định hướng được cấu trúc cơ bản của bài làm

Học sinh cần đưa ra các câu hỏi để xác định đúng yêu cầu của đề bài Ví dụnhư:

- Đề yêu cầu bàn luận về vấn đề gì? Vấn đề đó thuộc dạng bài nghị luận vềvấn đề tư tưởng, đạo lí hay nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống? Vấn đề bànluận đó được diễn đạt trực tiếp hay gián tiếp thông qua luận đề?

- Đề yêu cầu cách làm bài như thế nào?(nêu suy nghĩ, nêu ý kiến …)

- Phạm vi kiến thức cần vận dụng để giải quyết vấn đề đó (trong tác phẩmvăn học, trong đời sống xã hội hàng ngày, từ thực tế bản thân…)

Cần xác định nội dung trọng tâm cần bàn luận Mỗi dạng đề sẽ có những

yêu cầu khác nhau Với dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý thông qua luận đề,việc xác định nội dung trọng tâm cần bàn luận là điều khó khăn hơn bởi vấn đềbàn luận không được diễn đạt trực tiếp mà đòi hỏi người viết phải tìm tòi, suy nghĩ

và tự rút ra nội dung bàn luận sau khi đã hiểu, giải thích được ý nghĩa của luận đề

Khi xác định đúng nội dung, yêu cầu đề bài tức là bài viết của mình sẽkhông lạc đề, xa đề

Bước thứ hai: tìm ý và lập dàn ý khái quát cho đề bài

Tìm ý bằng cách đặt ra và trả lời các câu hỏi theo từng kiểu bài, từng vấn đề

bàn luận Ví dụ như: Vấn đề cần bàn luận là gì? Em hiểu vấn đề đó như thế nào?Vấn đề đó được biểu hiện cụ thể như thế nào trong thực tế đời sống xã hội? Vìsao? Làm thế nào?

Lập dàn ý giúp học sinh xác định những luận điểm, luận cứ cụ thể, chính

xác, không bỏ sót ý Với mỗi dạng đề nghị luận xã hội sẽ có một dàn ý cơ bản.Với đề nghị luận về tư tưởng, đạo lý thông qua luận đề thì dàn ý cụ thể như sau:

Trang 6

- Giải thích khái niệm (nếu có) hoặc giải thích ngắn gọn nội dung, ý nghĩa của luận đề mang tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

Tùy theo yêu cầu đề bài mà có thể có những cách giải thích khác nhau:

+ Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề + Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó

giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề

+ Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý

nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập

(Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra được ý nghĩa của luận đề)

- Liên hệ thực tế để giải thích, chứng minh những mặt đúng/sai của tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để

làm sáng tỏ bản chất của vấn đề Phần này thực chất là trả lời câu hỏi: Tại sao? Vấn đề được biểu hiện như thế nào?Làm thế nào?

- Bàn luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…)

+ Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, đóng góp – hạn chế của vấn đề.

+ Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm đối với bản

thân

+ Đề xuất phương châm đúng đắn…

* Kết bài:

- Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài

- Rút ra bài học cho bản thân, bài học nhận thức và hành động

Bước thứ ba: viết thành một bài nghị luận hoàn chỉnh sau khi đã lập dàn

ý khái quát Khi viết bài cần lưu ý:

- Phải biết vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong bài văn: giải thích,phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận… Trước một đề bài cụ thể, cầnsuy nghĩ lựa chọn: Nên sử dụng các thao tác lập luận nào? Sắp xếp trình tự cácthao tác ra sao?

- Để bài văn có sức thuyết phục, cần sử dụng một số phương thức biểu đạtnhư biểu cảm, tự sự, miêu tả, thuyết minh… hỗ trợ cho phương thức nghị luậnchính

- Đặc biệt giữa các phần và giữa các luận điểm, các đoạn trong phần thânbài phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau Để làm được như vậy, cần phải sử dụngnhững từ ngữ, những câu văn để chuyển ý Câu chuyển ý thường ở đầu đoạn văn

có chức năng liên kết với ý ở đoạn văn trước đó và mở ra ý mới trong đoạn văntiếp theo

- Triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng đã xâydựng (theo dàn ý) Phải bảo đảm tính cân đối giữa ba phần mở bài, thân bài, kếtbài trong toàn bộ bài văn cũng như giữa các luận điểm ở phần thân bài, tránh

trường hợp viết phần “mở bài, thân bài” quá nhiều, thiếu thời gian để viết phần

“kết bài”

Trang 7

- Đặc biệt phải chú ý về thời gian dành cho câu nghị luận xã hội Thôngthường học sinh chỉ nên viết câu này trong 30-40 phút/150 phút của bài thi Tuyệtđối tránh trường hợp viết quá dài dòng, lan man mà không còn nhiều thời gian đểlàm các câu hỏi khác

- Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên cầnphân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể

lể, giải thích vấn đề không cần thiết Trên cơ sở dàn ý, cần luyện cách viết và trìnhbày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao

Bước thứ tư: Đọc lại và sửa chữa để hoàn chỉnh bài viết

Thông thường khi làm bài học sinh hay bỏ qua bước này Nguyên nhân cóthể do thời gian không đủ, cũng có thể do các em không coi trọng Thực tế đây làbước cuối cùng khi viết một bài văn, cũng là bước hết sức quan trọng Bởi khi đọclại bài làm, học sinh có thể sửa những lỗi về dùng từ, đặt câu, diễn đạt mà mình

vô tình mắc phải trong khi viết; cũng có thể phát hiện ra ý thiếu mình lỡ bỏ quên

* Học sinh cần đọc kĩ nội dung của luận đề đã cho để xác định đúng vấn đềbàn luận, bởi có luận đề có thể có một hoặc nhiều vấn đề cần bàn luận Ví dụ như

vấn đề bàn luận: Quà tặng cuộc sống em đã nhận được từ câu chuyện sau:

Câu chuyện về Chim Én và Dế Mèn

Mùa xuân đất trời đẹp, Dế Mèn thơ thẩn ở cửa hang, hai con Chim Én thấy tội nghiệp bèn rủ dế mèn dạo chơi trên trời Mèn hốt hoảng Nhưng sáng kiến của Chim Én đưa ra rất giản dị: hai Chim Én ngậm hại đầu của một cọng cỏ khô, Mèn ngậm vào giữa Thế là cả ba cùng bay lên Mây nồng nàn, trời đất gợi cảm,

cỏ hoa vui tươi Dế Mèn say sưa Sau một hồi lâu miên man Mèn ta chợt nghĩ bụng, ơ hay việc gì phải ta phải gánh hai con Én này trên vai cho mệt nhỉ Sao ta không quẳng gánh nợ này đi để dạo chơi một mình có sướng hơn không? Nghĩ là làm, Mèn há mồm ra Và nó rơi vèo xuống đất như một chiếc lá lìa cành.

(Theo Đoàn Công Lê Huy trong mục Trò chuyện đầu tuần - báo Hoa Học Trò) Câu chuyện “Chim Én và Dế Mèn” ngắn gọn, dồn nén trong vài dòng ngắn

ngủi nhưng lại chứa đựng rất nhiều bài học nhân sinh lớn Mỗi người đều họcđược những bài học nhân sinh từ câu chuyện:

- Đó có thể là câu chuyện về sự hợp tác và chia sẻ: nếu biết hợp tác, chia

sẻ tất cả mọi người sẽ cùng có lợi

- Đó có thể là câu chuyện về giá trị cuộc sống: biết trân trọng những gì

mình đang có thì sẽ cảm nhận được giá trị đích thực của cuộc sống Những ngườikhông biết quý trọng những gì mình đang có sẽ không bao giờ hạnh phúc, thậmchí bất hạnh Bởi vậy hạnh phúc là tuỳ thuộc vào chính ta

Trang 8

- Đó có thể là câu chuyện về niềm tin: Lòng tốt là đáng quý nhưng lòng tin

còn đáng quý hơn, chúng ta cần phải tin tưởng nhau để cuộc sống thoải mái, nhẹnhàng hơn

- Đó cũng có thể là bài học về cách nhìn, cách cảm nhận: với cái nhìn

thiển cận, hời hợt ta sẽ không phát hiện đúng bản chất cuộc sống dẫn đến nhữngquyết định sai lầm

- Đó cũng có thể là bài học về cho và nhận mà cả cho và nhận luôn luôn chuyển hóa: tưởng rằng cho đi nhưng lại được nhận lại và ngược lại…

Điều quan trọng không phải là những thứ ta mang theo bên mình, mà là những gì

ta đã đóng góp cho cuộc sống Hãy quan tâm đến mọi người và tận hưởng cuộcsống, ta sẽ thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn

Như vậy, khi làm bài học sinh cần chú ý đến tính đa nghĩa của luận đề đểđưa ra những lí giải hợp lí, thuyết phục

* Trong quá trình bàn luận, cần chú ý bàn sâu vấn đề bàn luận thông qualuận đề, không sa vào phân tích nội dung của luận đề, phải nhận ra và bàn luậnđược những mặt đúng hoặc chưa đúng, mặt tích cực hay tiêu cực mà luận đề đưara

* Dàn ý chung của dạng bài nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí thông quamột luận đề:

- Mở bài:

+ Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề bàn luận

+ Trích dẫn luận đề mang tư tưởng, đạo lí

- Kết bài: khẳng định ý nghĩa của vấn đề cần bàn luận.

a.2 Yêu cầu cụ thể với từng kiểu luận đề:

* Luận đề là một câu ca dao, tục ngữ: yêu cầu học sinh đọc kĩ câu ca dao,

tục ngữ đã cho; giải thích ý nghĩa của câu ca dao, tục ngữ bằng việc giải thíchnghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ hoặc ý nghĩa của những hình ảnh so sánh, ẩn

dụ trong câu rồi giải thích nghĩa của cả câu (cũng là nội dung vấn đề tư tưởng, đạo

lí cần bàn luận) Liên hệ với những câu ca dao, tục ngữ có nội dung tương tự hoặctương phản với câu đã cho Từ đó học sinh xác định vấn đề cần bàn luận và tiếnhành bàn luận theo các bước của bài văn nghị luận về vấn đề tư tưỏng, đạo líthông qua một luận đề

Ví dụ: Dân gian ta có câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

Nhưng có người lại bảo: Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng

Suy nghĩ của em về vấn đề trên như thế nào?

Gợi ý cách làm bài:

Trang 9

- Học sinh đọc kĩ cõu tục ngữ, chỳ ý giải thớch nghĩa đen, nghĩa búng của

cỏc từ ngữ trọng tõm: mực - đen, đốn – rạng Từ đú tỡm ra vấn đề bàn luận.

- Liờn hệ thực tế để giải thớch, chứng minh:

+ Vỡ sao mụi trường sống lại tỏc động đến việc hỡnh thành nhõn cỏch conngười?

+ Chứng minh: Gần mực thỡ đen, gần đốn thỡ rạng?

+ Chứng minh: Gần mực chưa chắc đó đen, gần đốn chưa chắc đó rạng?

- Bàn luận mở rộng: ngợi ca hoặc phờ phỏn những cỏch ứng xử khỏc nhaucủa con người trước hoàn cảnh sống

Cụ thể: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhng cần đảmbảo các ý cơ bản sau:

- Giải thớch ý nghĩa cõu tục ngữ:

+ Mực: chất lỏng, màu đen, dựng để viết; gần mực thỡ dễ bị vấy bẩn Mựccũng là hỡnh ảnh ẩn dụ chỉ những mụi trường sống, con người xấu; sống lõu trongmụi trường đú con người dễ bị ảnh hưởng những thúi xấu

+ Đốn: vật chiếu sỏng, gần đốn thỡ được ỏnh sỏng của nú chiếu rọi đốn cũng

là hỡnh ảnh ẩn dụ chỉ những mụi trường sống tốt, những con người tốt; sống trongmụi trường đú con người sẽ hỡnh thành cho mỡnh những thúi quen, tớnh cỏch tốt.-> cõu tục ngữ khẳng định sự ảnh hưởng của mụi trường sống đến việc hỡnh thànhnhõn cỏch, tớnh cỏch của con người

- Liờn hệ thực tế để giải thớch, chứng minh sự ảnh hưởng của mụi trường sống đến việc hỡnh thành tớnh cỏch, nhõn cỏch con người.

+ Vỡ sao mụi trường sống lại ảnh hưởng đến việc hỡnh thành nhõn cỏch conngười?

Con người là tổng hũa của nhiều mối quan hệ xó hội, luụn sống trongnhiều mụi trường, chịu nhiều tỏc động khỏc nhau từ mụi trường, cú tốt, cú xấu, cútớch cực, tiờu cực, vỡ thế sẽ chịu tỏc động của nhiều mối quan hệ đú

Con người dễ chịu ảnh hưởng của một quy luật tõm lớ: bắt chước

+ Thực tế cuộc sống, cú nhiều người sống trong mụi trường xấu, bờn cạnhnhững người xấu thỡ dễ bị nhiễm những thúi quen xấu Ngược lại, nếu được sốngtrong mụi trường tốt, bờn cạnh những người tốt thỡ học sẽ học tập được nhiều thúiquen tốt (Dẫn chứng)

+ Thực tế cuộc sống cũng cú nhiều người gần mực mà khụng đen, gần đốn

mà chưa rạng (dẫn chứng)

-> Mụi trường sống là một yếu tố quan trọng để gúp phần hỡnh thành nhõn cỏchcon người Nhưng điều quyết định đến việc hỡnh thành nhõn cỏch của con ngườilại chớnh là ý chớ, nghị lực, bản lĩnh, nhận thức và hành động của bản thõn mỗingười

- Bàn luận mở rộng:

+ Trõn trọng những con người khụng ngại khú, ngại khổ, sẵn sàng đến vớinhững mụi trường làm việc cũn nhiều khú khăn để cải tạo mụi trường, giỳp đỡnhững người lầm lỡ để học làm lại cuộc đời Trõn trọng những con người biếtvượt lờn hoàn cảnh để tự khẳng định giỏ trị bản thõn, khụng lệ thuộc vào hoảncảnh

Trang 10

+ Phê phán những con người sống cá nhân, ích kỉ, chỉ biết chọn việc nhẹnhàng mà không dám đương đầu với khó khăn, thử thách.

+ Liên hệ bản thân: phải biết chọn bạn mà chơi; có nhận thức và hành độngđúng đắn trong nhiều môi trường sống, nhiều mối quan hệ khác nhau trong thực tếcuộc sống; biết khắc phục hoàn cảnh…

* Luận đề là một câu nói: Yêu cầu học sinh đọc kĩ câu nói, giải thích ý

nghĩa của câu nói bằng cách giải thích ý nghĩa của một số từ ngữ trọng tâm, chú ýnghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ, câu nói Từ đó học sinh xác định vấn đề cầnbàn luận và tiến hành bàn luận theo các bước của bài văn nghị luận về vấn đề tưtưỏng, đạo lí thông qua luận đề

Ví dụ: Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan đẹp nhất

là trái tim của người mẹ”.

Ý kiến của em về câu nói trên?

Gợi ý cách làm bài:

- Đề yêu cầu bàn luận về một vấn đề đạo lý – đó là tình cảm thiêng liêng nơi trái tim người mẹ Khi làm, học sinh cần chú ý các từ ngữ trọng tâm trong câu nói như: kì quan, kì quan đẹp nhất, trái tim người mẹ để hiểu ý nghĩa của câu nói.

- Liên hệ thực tế để chứng minh trái tim người mẹ là kì quan đẹp nhất.

-> Khẳng định ý nghĩa của câu nói

- Bàn luận, mở rộng: Thực tế có phải người mẹ nào cũng là kì quan đẹpnhất? Câu nói đem đến cho mỗi người những bài học?

Cụ thể: Học sinh có thể cảm nhận và trình bày nhiều cách khác nhau, nhưngyêu cầu phải nêu cho được những ý cơ bản sau:

- Giải thích nội dung câu nói của Bersot:

+ kỳ quan: là cảnh đẹp tự nhiên, một công trình kiến trúc đẹp đến mức kỳ

diệu hiếm thấy

+ Bersot nói: “trong vũ trụ có lắm kỳ quan” có nghĩa cái đẹp đến mức kỳ

diệu hiếm thấy (ở những công trình kiến trúc hay cảnh vật tự nhiên) là không ít,

nhưng kỳ quan đẹp nhất là trái tim người mẹ - là tấm lòng yêu thương, che chở của mẹ

- Liên hệ thực tế để chứng minh trái tim, tấm lòng người mẹ là kì quan đẹp nhất.

+ Trái tim người mẹ ở đây là tình cảm của mẹ dành cho con Đó là tình yêu thiêng liêng nhất không gì có thể sánh được (học sinh có thể liên hệ với thực tế để nói về đức hi sinh của mẹ suốt đời cho con).

Mẹ là người mang nặng, đẻ đau, sinh con ra, ban cho con hình hài, ban chocon sự sống để con có mặt trên cuộc đời này Từ đó, biết bao niềm vui, niềm hạnhphúc, cả những đắng cay của cuộc đời mẹ đều gắn bó với con

Mẹ là người chăm sóc, lo lắng, hy sinh cả cuộc đời vì con, từ lúc con còntuổi ấu thơ cho đến khi khôn lớn, trưởng thành:

Tuổi ấu thơ: mẹ nuôi con bằng dòng sữa ngọt ngào, bằng lời ru êm đềm,chăm sóc cho con từng bữa ăn, giấc ngủ, lo lắng cho con những lúc con ốm đau…

Con lớn lên, đi học: mẹ là người thức khuya dậy sớm, chăm chút con, theodõi từng bước trưởng thành của con Mẹ dạy con những bài học đường đời đầu

Ngày đăng: 14/10/2017, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w