Trước khá nhiều khó khăn như thế, làm thế nào để dạy tốt, học tốt mônNgữ văn và đặc biệt làm thế nào để việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cáccấp đạt kết quả cao.. Vì thế nên tôi chọ
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài.
Có thể nói bộ môn Ngữ văn là một môn học phản ánh cuộc sống xungquanh chúng ta Mà cuộc sống thì muôn hình vạn trạng Là giáo viên trực tiếpgiảng dạy nhiều năm và hướng dẫn ôn luyện các đội tuyển học sinh giỏi cấphuyện và cấp tỉnh ở một số năm gần đây Bản thân nhận thấy ngày nay khôngcòn tồn tại hình thức trường chuyên, lớp chọn trong trường THCS nhưng việcthành lập đội tuyển học sinh giỏi để dự thi các cấp huyện, tỉnh vẫn là việc làmthường niên trong mỗi nhà trường Để có học sinh giỏi lớp 9 không phải chỉ chú
ý giảng dạy cho học sinh lớp 9 mà từ lớp 6 đến lớp 8 các giáo viên phải hìnhthành ý thức giảng dạy để tạo nguồn cho đội tuyển
Đối với học sinh THCS đặc biệt là học sinh thuộc vùng dân tộc thiểu số
mà cụ thể là học sinh trường THCS DTNT Quan Sơn thì kĩ năng viết văn, cảmnhận văn chương, tư duy sáng tạo, bài viết rời rạc khô khan, dùng câu, dùng từchưa chính xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa có sức thuyết phục, vốn từnghèo nên diễn đạt lủng củng, tối nghĩa, dài dòng không thoát ý và đặc biệt hơnnữa là kĩ năng lập dàn ý của các em còn nhiều hạn chế Mặt khác, học sinh yêuthích môn Ngữ văn ở khu vực miền núi nói chung và trường THCS DTNT QuanSơn nói riêng còn rất ít Có những năm rất khó chọn đội tuyển (chỉ 1 hoặc đến
2 học sinh) Môn Ngữ văn trong nhà trường phải chăng đang mất dần vị trí vốnđược tôn vinh: Văn học là nhân học Xã hội phát triển, khoa học kĩ thuật tiến bộđặc biệt là mạng Internet ngày nay đang là thu hút phần lớn thời gian, tâm trí củacác em Học sinh được cha, mẹ nuông chiều, việc yêu sách, ham đọc sách cònrất ít, các tài liệu tham khảo môn Ngữ văn tràn lan trên thị trường khiến các embối rối không biết chọn sách gì, đọc gì, rồi lười suy nghĩ, tư duy, lười soạn bài,học bài
Trước khá nhiều khó khăn như thế, làm thế nào để dạy tốt, học tốt mônNgữ văn và đặc biệt làm thế nào để việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cáccấp đạt kết quả cao Đó là những câu hỏi đánh động đến lương tri, tình yêu nghềnghiệp và nhiệt huyết của mỗi thầy, cô giáo đã và đang đứng trên bục giảng Đểtrả lời cho những câu hỏi ấy tôi manh dạn đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong
quá trình giảng dạy của mình Vì thế nên tôi chọn đề tài “ Biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS DTNT Quan Sơn”
II Mục đích nghiên cứu.
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc hết sức nan giải Vì vậy tôinghiên cứu đề tài này với mục đích tìm ra những biện pháp, cách thức bồi dưỡnghọc sinh giỏi đạt hiệu quả cao Đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy, trình
Trang 2độ chuyên môn của giáo viên Từ đó tạo hứng thú cho học sinh say mê học văn,yêu môn văn như yêu cuộc sống của mình.
III Đối tượng nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là việc làm cần thiết với tất cả các khốilớp Nhưng ở đây đối tượng nghiên của tôi là : Học sinh lớp 9 ở trườngTHCSDTNT Quan Sơn có yêu thích môn Ngữ văn
IV Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn.
- Phương pháp dùng số liệu
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân loại, phân tích
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thực nghiệm, phươngpháp điều tra
B.NỘI DUNG I.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, lớn lao,khó khăn Môn Ngữ văn có vai trò rất lớn trong đời sống và sự phát triển tư duycủa con người, đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dụcquan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh và đặc biệt là gắn với thực tiễn hếtsức phong phú, sinh động của cuộc sống đó là kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.Nhưng thực tế cho thấy môn Ngữ văn ở các nhà trường học sinh học còn đốiphó, lười tư duy nên chất lượng còn thấp Trước sự phát triển của khoa học,công nghệ thì bộ môn Ngữ văn không thể thiếu để điều chỉnh các ngôn ngữ,trang mạng, thông tin trong cuộc sống muôn hình vạn trạng để phù hợp với bảnchất của con người Việt Nam Từ đó đặt ra nhiệm vụ của người giáo viên dạyvăn là làm cho học sinh hiểu được cái hay, cái đẹp của văn học, kích thích sựhứng thú, yêu thích, đam mê học tập văn học Một tiết học văn phải tạo ra đượccảm xúc thẩm mĩ sâu sắc từ những nội dung của tác phẩm Bởi tác phẩm vănchương luôn phản ánh thực tại khách quan xung quanh cuộc sống con người.Như vậy, qua tiết dạy người giáo viên cần phải truyền lửa từ những giá trị thẩm
mĩ của tác phẩm đến với học sinh Giáo viên tham gia bồi dưỡng phải có sự họctập và trau dồi không ngừng nghỉ cùng với lòng nhiệt huyết, quyết tâm cao vớitrái tim yêu nghề: tất cả vì học sinh thân yêu mới có thể đáp ứng được yêu cầucủa công việc Qua một số năm đứng đội tuyển bản thân nhận thấy những giáoviên được phân công, phụ trách bồi dưỡng học sinh giỏi thực sự trăn trở bởi họ
đã bỏ ra nhiều công sức giảng dạy học sinh trong một thời gian dài mà hiệu quảchưa cao Vậy nên với chuyên đề này tôi đưa ra những suy nghĩ, việc làm của
Trang 3bản thân với mong muốn được trao đổi cùng các đồng nghiệp để góp phân nângcao chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh đểmôn Ngữ văn của huyện nhà sớm bắt nhịp cùng các huyện miền xuôi.
II.Thực trạng của vấn đề.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm phát hiện tài năng, nâng cao nănglực cảm thụ văn chương cho học sinh.Vì thế đây là công việc diễn ra thườngxuyên hằng năm và là một trong những công tác trọng tâm khẳng định vị trí ởcác nhà trường Hằng năm Sở giáo dục đào tạo Thanh Hóa và Phòng giáo dục vàđào tạo Quan Sơn đều tổ chức học sinh giỏi khối 9 Song khó khăn lớn nhất đốivới trường THCSDTNT Quan Sơn nói riêng và Huyện Quan Sơn nói chung làhọc sinh có năng khiếu môn văn là rất hiếm vì vậy khó chọn đội tuyển, chúng tôichọn học sinh thích học văn nên quá trình bồi dưỡng gặp không ít khó khăn Mặtkhác do nhận thức ở một số phụ huynh lại không muốn cho con em mình thamgia đội tuyển văn Một trở ngại nữa là từ phía gia đình học sinh ít quan tâm, đốcthúc học sinh học tập, chủ yếu là trăm sự nhờ thầy cô, có phụ huynh không biếtcon mình thi môn gì, không quan tâm đến kết quả đạt hay không đạt học sinhgiỏi của con mình, có khi không tạo điều kiện về thời gian cho con học tập ởnhà Học sinh tham gia đội tuyển phải học nhiều môn nên việc đầu tư thời giancho môn học còn chưa nhiều
Đối với giáo viên bồi dưỡng ở trường THCS – DTNT Quan Sơn vừaphải bám sát thực hiện phân phối chương trình, vừa phải đảm bảo chất lượng đạitrà rồi công tác chủ nhiệm như: nền nếp, sinh hoạt, nuôi ăn, ở, quản lí học sinhlớp mình cũng ảnh hưởng không nhỏ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.Mặt khác giáo viên dạy đội tuyển phải tự soạn chương trình, chủ yếu theo kinhnghiệm bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu Bên cạnh đóviệc bồi dưỡng học sinh chỉ thích học văn thôi chứ không hề có năng khiếu thìgiáo viên bồi dưỡng lại gặp muôn vàn khó khăn thậm chí có em còn phải luyệnviết chữ, có em chưa biết tạo dựng đoạn văn và đặc biệt nữa là học sinh hiện nayviết văn còn theo cảm xúc nhất thời, chưa có chiều sâu, chưa theo một quy trình
Vì thế việc lập dàn ý trước khi viết bài văn là rất khó khăn với các em học sinh.Một khó khăn nữa của giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề tài liệu nhất
là phương pháp, hình thức bồi dưỡng Những chuyên đề về vấn đề này còn quá
ít Việc trao đổi kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi với các trường bạn chưanhiều Chính những lí do này mà các giáo viên vô cùng lo lắng và áp lực khiđược phân công bồi dưỡng Đó là thực tế mà bản thân luôn trăn trở
III.Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
1.Nguyên tắc trong việc bồi dưỡng
Trang 4Là giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn luôn hướng chocác em nhận thấy văn chương dẫn các em vào một thế giới mà cho đi không đòihỏi sự đáp lại Văn chương chân chính dù ở thời đại nào cũng đề cao tình yêuthương, lòng nhân ái, sự công bằng Học văn các em nhận thấy thế giới này sẽđẹp hơn nhiều, từ những điều giản dị như nụ cười của mẹ hay niềm vui của cha.Với văn học các em có hình dung được cả một thế giới bao la đẹp vô ngần cóthể hướng về quá khứ đến tương lai, liên tưởng, tưởng tượng một thế giới cổtích Tất cả những điều ấy không cần trải qua cuộc hành trình nào cả.
Người thầy luôn xứng đáng là người dẫn đường tin cậy và là tấm gươngsáng ngời về mọi mặt cho học sinh noi theo
Giáo viên dạy đội tuyển luôn có tinh thần trách nhiệm cao, là tâm huyết,
là người truyền lửa đến các em, truyền cảm hứng văn học và kích thích độ sayđến các em học sinh thân yêu
Giáo viên dạy đội tuyển cần phải xây dựng chương trình, nội dung, hệthống luyện tập cụ thể, chi tiết
Việc lựa chọn học sinh tham gia đội tuyển phải là học sinh có niềm say
mê, yêu thích văn chương và đào tạo nguồn từ lớp 6 Nếu không có sự yêu thíchmôn học thì không thể bồi dưỡng đạt hiệu quả cao Bởi sự say mê se giúp các
em chịu khó tìm tài liệu để mở mang kiến thức và giúp học sinh phát huy đượctrí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống một cuộc sống sâu sắc, ý nghĩa với những
gì mình được học
Để học sinh yêu thích môn Ngữ văn thì người dạy phải giữ được ngọn lửanhiệt tình của tình yêu nghề nghiệp, yêu bộ môn, xem việc giảng dạy là sứ mệnhcao cả Có như vậy mới tìm tòi, suy nghĩ, trăn trở, tìm cách này, cách khác đểlựa chọn câu chữ giảng sao cho hay, hứng thú học sinh khích lệ, gây hứng thú đểhọc sinh có niềm đam mê môn học
Nhận thức đúng, rõ công việc mình đảm nhận không chỉ bồi dưỡng họcsinh dự thi bộ môn văn đạt giải mà quan trọng hơn qua văn học các học trò biếtsống đẹp hơn, biết đem cái đẹp đến cho cuộc đời
2.Biện pháp bồi dưỡng.
2.1 Kiểm tra năng lực của học sinh.
Trong giờ học thấy học sinh chú ý nghe giảng, thái độ cảm xúc thay đổitheo nội dung bài học, chủ động, tích cực phát biểu ý kiến
Khi chấm bài thấy những bài có sự sáng tạo riêng, có cách nghĩ riêng(trên cơ sở kiến thức đã học), đúng đắn, phù hợp đem đến những giá trị văn họcphục vụ giá trị thẫm mĩ trong cuộc sống Biết thể hiện tố chất văn học – kiến
Trang 5thức văn học, biết liên hệ, đối chiếu, so sánh cuộc sống thực tế Viết văn mộtcách tự nhiên không mắc lỗi chính tả, diễn đạt.
2.2 Cung cấp kiến thức lí luận văn học cho học sinh.
Qua thời gian giảng dạy bản thân nhận thấy học sinh nắm kiến thức lí luậnvăn học còn mơ hồ cụ thể như: kiến thức về tác phẩm văn học, đặc trưng thể loại
cơ bản của văn học, cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện nhiều em cònnhầm văn nghị luận và chứng minh, giải thích, bình luận đều gọi là các kiểuloại mà không phân biệt được văn nghị luận là phương thức biểu đạt còn giảithích, chứng minh là phép lập luận trong văn nghị luận.Vì vậy giáo viên phảicho học sinh hiểu rõ bản chất của từng vấn đề để vận dụng trong quá trình cảmnhận tác phẩm văn chương
đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả
lời câu hỏi Là gì?
+ Bước 2:
Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu
có vấn đề đó) Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thùcủa thao tác giải thích Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ vềmặt lập luận, lôgic về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng Trong quan niệm
làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi Tại sao?
+ Bước 3:
Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễncuộc sống như thế nào Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quanđiểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như
Trang 6thế nào Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả
lời câu hỏi Như thế nào?
Lưu ý: Khi thực hiện thao tác giải thích: Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (Là gì,tại sao, như thế nào vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn Mục đích đặt câuhỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sựchú ý cần thiết đối với người đọc bài văn Cũng có thể không cần đặt trực tiếp bacâu hỏi (Là gì, tại sao, như thế nào) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khiviết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từngluận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bàilàm, bước như thế nào có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một
+ Bước 2: Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm
làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh
c Thao tác bình luận:
- Mục đích: Tạo sự đồng tình
- Các bước:
+ Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận
+ Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn
đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai) Làm tốt phần này chính là đãbước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận
+ Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ(thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn
+ Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại
2.3 Hướng dẫn kĩ năng làm các dạng bài nghị luận
Bất cứ một bài văn thuộc phương thức biểu đạt nào cũng phải tuân thủ
theo 4 bước trước một đề bài bất kì là:
Trang 7biệt xin lưu ý đến bước lập dàn ý từng dạng bài nghị luận cụ thể cho học sinhbởi bước này định hướng cơ bản sườn bài văn tránh thiếu ý, lan man sa đà khiviết Chương trình nghị luận lớp 9 bao gồm 2 dạng cơ bản :
Dạng 1: Nghị luận xã hội Gồm:
+ Nghị luận tư tưởng đạo lí
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống
+ Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Dạng 2: Nghị luận văn học Gồm:
- Nghị luận về tác phẩm truyện hay đoạn trích
+ Nghị luận toàn bộ tác phẩm
+ Nghị luận về phương diện nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
+ Nghị luận về nhân vật trong tác phẩm
+ Nghị luận về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm
+ Nghị luận về một đoạn văn ngắn
- Nghị luận về một đoạn thơ hoặc bài thơ
+ Nghị luận toàn bộ bài thơ
+ Nghị luận về phương diện bài thơ
+ Nghị luận về nhân vật trữ tình trong bài thơ
- Nghị luận về tác phẩm văn học gắn liền với việc giải quyết một ý kiến,một nhận định
- Nghị luận tổng hợp sâu chuỗi nhiều đối tượng
Trong quá trình ôn luyện giáo viên phải đưa ra dàn ý của từng bài nghịluận cụ thể ở trên cho học sinh thuộc lòng như công thức trong toán học để khigặp dạng đề nào cứ thế áp dụng vào công thức Sau đây xin đưa ra dàn ý củamột số dạng nghị luận tiêu biểu
Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
* Đề tài
- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập )
-Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, thái độ
vô cảm, lòng bao dung, lòng độ lượng; tính trung thực, tính cương quyết, tínhhoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ, tình thương và hạnh phúc )
-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em )
-Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quêhương đất nước )
* Dàn ý lí thuyết nghị luận tư tưởng đạo lí:
a/ Mở bài :Gợi – Đưa- Báo
Gợi : Là gợi ý ra vấn đề cần nghị luận
Trang 8Đưa : Sau khi gợi là đưa vấn đề nghị luận ra.
Báo : Báo là phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận( Có tính chuyển ý )
b/ Thân bài : Giải - Phân – Bác – Đánh
Giải: Giải thích các tư tưởng đạo lí tác động đến hoàn cảnh xung quanh, giảithích từ, giải thích khái niệm
Phân : Phân tích các mặt đúng của nội dung tư tưởng đạo lí (Dùng luận cứ từcuộc sống và xã hội để chứng minh)
Bác : Bác bỏ những biểu hiện sai lệch liên quan đến tư tưởng đạo lí ( dùng dẫnchứng từ trong cuộc sống và văn học để chứng minh)
Đánh : Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận
c/ Kết bài : Tóm – Rút – Phấn
Tóm: Tóm tắt, khái quát vấn đề nghị luận
Rút : Rút ra ý nghĩa , từ bài học hiện tượng đời sống
Phấn : Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đã nghịluận
* Một số đề tham khảo.
- Đề 1: Quan điểm của em về lòng yêu quê hương
- Đề 2 : Tình thương là hạnh phúc của con người
- Đề 3 : Nêu suy nghĩ về Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại
Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
Đề tài :
-Ô nhiễm môi trường
-Nạn bạo hành trong gia đình
-Bạo lực học đường
-Những tấm gương người tốt việc tốt
-Tiêu cực trong học tập và các tệ nạn trong XH
Dàn ý lí thuyết nghị luận về sự việc, hiện tượng trong đời sống.
a/ Mở bài : Gợi – Đưa - Báo
Gợi : Là gợi ý ra vấn đề cần nghị luận
Đưa : Sau khi gợi là đưa vấn đề nghị luận ra
Báo : Là báo phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận(Có tính chuyển ý )
b/ Thân bài : Thực- Nguyên – Hậu – Biện
Thực : Nêu lên thực trạng đời sống đưa ra nghị luận
Nguyên : Là nguyên nhân nào xảy ra hiện tượng đời sống đó(Nguyên nhânkhách quan và nguyên nhân chủ quan)
Hậu : Là hậu quả của hiện tượng đời sống mang lại, gồm có hậu quả tốt và hậuquả xấu
Trang 9Biện : Là biện pháp tác động vào hiện tượng đời sống để ngăn chặn(Nếu gây rahậu quả xấu) hoặc phát triển(Nếu hậu quả tốt)
c/ Kết bài : Tóm- Rút- Phấn
Tóm: Tóm tắt, khái quát vấn đề nghị luận
Rút : Rút ra ý nghĩa, từ bài học hiện tượng đời sống
Phấn : Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đã nghịluận
Ví dụ
- Đề 1: Hiên tượng chán học của học sinh hiện nay
- Đề 2: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội
Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Đề tài:
Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm vănhọc(Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã họctrong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà
HS chưa được học)
Dàn ý nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Tùy thuộc vào vấn đề trong tác phẩm văn học là tư tưởng đạo lí hay vấn
đề chính trị xã hội để dựa vào dàn ý đã nêu ở trên và lưu 2 vấn đề sau:
a/ Phần một: Phân tích văn bản (Hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút
ra ý nghĩa của vấn đề (Hoặc câu chuyện)
b/ Phần hai (Trọng tâm): Nghị luận (Phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút
ra từ tác phẩm văn học (Câu chuyện)
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con
Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam
Trang 10- Nghị luận về tác phẩm truyện( Hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận
xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật một tác phẩm
cụ thể
- Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ là trình bày những nhận xét đánh giá
của mình về giá trị nội dung hay giá trị nghệ thuật của đoạn thơ hay bài thơ ấy
*
Một số thao tác cần lưu ý khi làm bài thuộc kiểu Nghị luận một tác phẩm văn học.
Bước 1: Nắm chắc nội dung toàn tác phẩm
Để biết mình đã nắm chắc tác phẩm hay chưa, bạn hãy trả lời các câu hỏisau Tác phẩm này do ai sáng tác? Trong hoàn cảnh nào? Nội dung chính của tácphẩm là gì? Tác phẩm này có mấy luận điểm? Những luận cứ nào để làm sáng tỏluận điểm?
Đối với tác phẩm thơ thì không chỉ nắm nội dung toàn tác phẩm, bạn cònphải học thuộc lòng những phần nội dung nằm trong chương trình học Các thủpháp nghệ thuật chủ đạo trong tác phẩm này là gì? v.v
Bước 2: Trước một đề bài cần xem xét các dạng đề đối với tác phẩm đó (dạng
đề ở đây được hiểu là về thể loại và nội dung):
- Phân tích đặc điểm nhân vật
- Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật
- Phân tích một vấn đề của tác phẩm văn học
- Phân tích tác phẩm văn học
Bước 3: Dàn ý lí thuyết
a Nghị luận về tác phẩm truyện hay đoạn trích
- Mở bài: Giới thiệu tác phẩm(Tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu
ý kiến đánh giá sơ bộ của mình về vấn đề chính của tác phẩm truyện hay đoạntrích
- Thân bài:
+ Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có phântích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực
+ Đánh giá mở rộng vấn đề
+ Liên hệ thực tế xã hội và bản thân có liên quan đến vấn đề
- Kết bài: Nêu nhận định đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện(Hoặc đoạn trích)
b Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ
- Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giácủa mình( Nếu là phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trongtác phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó)