Mỗi bài Tập làm văn của học sinh lớp 5 nói riêng, của các em học sinh Tiểu học nói chung là một sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiếnthức, kĩ năng mà do chính các em tạo ra trên cơ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP 5B - TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nhiên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Sơn
SKKN môn: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 26 B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIÊM 2
Trang 3MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN TẢ NGƯỜI CHO
HỌC SINH LỚP 5B – TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG SƠN
thức về ngôn ngữ Tiếng Việt là vô cùng quan trọng Vì vậy việc dạy Tiếng Việt
trong nhà trường một cách cẩn thận, khoa học, có hệ thống, phù hợp với thực tiễn
và thực hành vận dụng tốt là rất quan trọng với học sinh Tiểu học
Trong đó, phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy vàhọc Tiếng Việt Đó là phân môn tổng hợp các kiến thức kĩ năng của các phân mônkhác trong môn Tiếng Việt Qua việc học và thực hành làm văn, học sinh được: mởrộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ và hìnhthành một nhân cách tốt Mỗi bài Tập làm văn của học sinh lớp 5 nói riêng, của các
em học sinh Tiểu học nói chung là một sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiếnthức, kĩ năng mà do chính các em tạo ra trên cơ sở các em được tiếp nhận từ thực tếcuộc sống và vốn kiến thức Văn - Tiếng Việt tích lũy được trong quá trình học tập
Học sinh lớp 5 dù khá quen với văn miêu tả song bây giờ các em mới bắtđầu thực hiện làm bài văn tả người Trong quá trình giảng dạy thực tế của họcsinh lớp 5B trường Tiểu học Đông Sơn, tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tảngười của các em còn viết lan, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật.Lời văn của các em còn nghèo nàn, thiếu hình ảnh, sử dụng các từ ngữ miêu tả chưaphù hợp với đặc điểm hình dáng và tính cách của nhân vật, làm cho nhân vật trở nênméo mó, thiếu tính chân thật trong bài viết của các em Phần đông các em viết mởbài theo kiểu trực tiếp nêu chưa hấp dẫn người đọc và phần kết bài các em thườngviết theo kiểu không mở rộng nêu chưa thể hiện hết cảm xúc của người viết đối vớinhân vật được miêu tả Giáo viên giảng dạy thường chú trọng lý thuyết coi nhẹ
kỹ năng thực hành Vì vậy các em ít được khai thác và tính sáng tạo trong bàiviết
Để giải quyết những vấn đề trên đây hay nói cách khác là để giúp họcsinh lớp 5B nói riêng, học sinh lớp 5 Tiểu học Đông Sơn nói chung có kỹ năngviết bài văn tả người hay, chân thật, giàu hình ảnh bài văn có giá trị nội dung
và nghệ thuật cao Với những lý do trên, tôi chọn và viết sáng kiến “Một số biện pháp rèn kĩ năng làm bài văn tả người cho học sinh lớp 5”
II Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra biện pháp rèn kĩ năng làm văn tả người cho học sinh lớp 5B trườngTiểu học Đông Sơn để các em viết các bài văn tả người hay hơn, hấp dẫn hơn
Trang 4- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập làm văn về thể loạivăn tả người, theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinhlớp 5 trường Tiểu học Đông Sơn Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học mônTiếng Việt nói chung của trường tiểu học Đông Sơn.
III Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp rèn kĩ năng làm bài văn tả người cho học sinh lớp 5BTrường Tiểu học Đông Sơn - Bỉm Sơn - Thanh Hóa”
IV Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu: + Nghiên cứu các tài liệu như nội dung chươngtrình giảng dạy phân môn tập làm văn lớp 5, đọc tạp trí, sách báo văn học tuổi trẻ,đọc tài liệu trên In-to- nét (như trang vantieuhoc.com… )
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra, khảo sát học sinh lớp 5B trường Tiểu học Đông Sơn nhận diện vàvận dụng làm tập làm văn tả người
+ Ra đề kiểm tra cho học sinh lớp 5B làm vào tuần 16
- Phương pháp quan sát: Dự giờ đồng nghiệp trong trường giáo viên dạykhối 5, các tiết dạy tập làm văn tả người
- Phương pháp hỏi đáp: Trao đổi với đồng nghiệp về phương pháp dạy họctập làm văn tả người
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy thực nghiệm theo phướng phápmới cho học sinh lớp 5B trường tiểu học Đông Sơn
- Phương pháp đối chứng: Kiểm tra đối chứng kết quả trước và sau khi dạytập làm văn tả người theo phương pháp mới
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
I.Cơ sở lí luận:
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao Hệthống các kiến thức, kĩ năng từ các phân Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ vàcâu, là tiền đề để giúp học sinh viết được một bài Tập làm văn hiệu quả
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục chủđiểm và các bài đọc Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặtchẽ với nhau Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả (tả cảnh, tảngười) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện
từ và câu.Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập luyện từ- câuthường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất rõ về cảnh vật, thiênnhiên, con người, [2]
Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, gópnhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ nhưtâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi
Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năngnghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tậptích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất lượngmôn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học
Trang 5Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩnăng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiến thức, kĩnăng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định số 16 của Bộ GD-ĐT) vàphù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà “Hướng dẫn 896” của Bộ GD-ĐT
đã đề ra
Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại hiệuquả cao cho việc dạy phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng mônTiếng Việt lớp 5
II Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến:
1 Thực trạng:
Năm nay (2016 – 2017), tôi được phân công phụ trách lớp 5B với 27 họcsinh Hầu hết 27 học sinh của lớp 5B tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bàiTập làm văn tả người Học sinh lớp 5 dù khá quen với văn miêu tả song bây giờcác em mới bắt đầu thực hiện làm bài văn tả người.Trong quá trình giảng dạythực tế của học sinh lớp 5B, tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tả người của các
em còn viết lan man, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật Lờivăn của các em còn nghèo nàn, thiếu hình ảnh, sử dụng các từ ngữ miêu tả chưaphù hợp với đặc điểm hình dáng và tính cách của nhân vật, làm cho nhân vật trởnên méo mó, thiếu tính chân thật trong bài viết của các em Phần đông các emviết mở bài theo kiểu trực tiếp nêu chưa hấp dẫn người đọc và phần kết bài các
em thường viết theo kiểu không mở rộng nêu chưa thể hiện hết cảm xúc củangười viết đối với nhân vật được miêu tả
2 Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Qua thực tế khảo sát (tuần 16 năm học 2016 - 2017 với đề bài văn "tảngười" ở lớp 5B do tôi chủ nhiệm và giảng dạy Kết quả đạt mức như sau:
Bài viết dùng từngữ miêu tả phùhợp, kết bài hay,
mở bài chưa hay
Bài viết dùng
từ ngữ miêu tảchưa phù hợp,viết còn lanman, mở bài vàkết bài chưahay
Trang 6Đứng trước thực trạng trên để học sinh viết được bài văn tả người hay, độcđáo có nét riêng biệt của mỗi bài viết tôi hết sức lo lắng và đã cố gắng tìm tòicách dạy nhằm hướng dẫn cho học sinh làm bài văn tả người được tốt hơn.
Để giải quyết những vấn đề trên đây hay nói cách khác là để giúp các em
có kỹ năng viết bài văn hay, bài văn có giá trị nội dung và nghệ thuật cao cầngiải quyết những vấn đề sau:
III Giải quyết vấn đề:
Từ thực trạng trên của lớp 5B tôi đang dạy, để giúp các em đạt hiệu quả tốthơn trong học tập phân môn Tập làm văn nói chung và văn tả người nói riêng tôi đã
tìm ra các giải pháp để giúp học sinh làm tốt các bài văn tả người
1.4/ Giúp học viết được mở bài hay, hấp dẫn cho bài văn tả người
1.5/ Giúp học viết được những kết bài hay, giàu cảm xúc cho bài văn tả người
2 Các biện pháp để tổ chức thực hiện:
2.1 Biện pháp1: Giúp học sinh biết dùng từ ngữ miêu tả phù hợp với đặc điểm hình dáng, lứa tuổi, tính tình, hoạt động của nhân vật và sử dụng các từ ngữ gợi tả khi làm văn tả người.
Thực trạng trong lớp 5B, có nhiều học sinh khi viết bài văn tả người dùng từ ngữ chưa phù hợp với đặc điểm hình dáng, lứa tuổi, tính tình của nhân vật và chưa biết sử dụng các từ ngữ gợi tả Để khắc phục tình trạng trên tôi đã tìm ra các giải pháp sau:
a) Giúp học sinh hiểu: Tả người là ghi lại những nét riêng về hình dáng và tính
tình của một người mà em đã nhìn thấy bằng cách sử dụng các từ ngữ miêu tả phù hợp
Trang 7Chính vì vậy phải hướng cho các em dùng từ ngữ phù hợp với những nétriêng của người mình tả Cụ thể những từ ngữ thường dùng để tả người như:
+ Tuổi tác:
- Chừng tám tuổi (Tả một bạn nhỏ)
- Tuổi ngoài ba mươi (Tả người Trung tuổi)
- Tám mươi tuổi thọ (Tả người già)
- Đây là khoảng hai lăm đến ba mươi
Trang 8- Mới sinh ra chưa tròn một tuổi (Tả em bé)
- Đầu tròn, tóc đem mượt
- Đầu dài tóc đem huyền
- Đầu hói, vài cọng tóc bạc phất phơ
- Khuôn mặt trái xoan
- Khuôn mặt dài, xương xương
- Khuôn mặt tươi tỉnh
- Khuôn mặt xanh xao
- Khuôn mặt buồn ủ rũ
- Đó là một em bé có khuôn mặt hồng hào, tròn quay, bầu bĩnh
Trên đầu có mấy sợi tóc đem ngả màu nâu, phất phơ xuống đỉnh trán rộngtrông thật ngộ nghĩnh thông minh và dễ thương
+ Diện mạo:
- Con người chững chạc
- Con người cở mở
- Con người kín đáo
- Con người nghiêm khắc
- Con người có duyên
Trang 9- Con người cau có
- Con người chỉ mới nhìn là đã có thiện cảm [1]
+ Cái mũi:
- Cái mũi hếch ngược
- Cái mũi cao
- Đôi mắt thông minh
- Đôi mắt đen trong sáng
- Đôi mắt nhìn ngây thơ
- Đôi mắt có nét nhìn ngay thẳng trung thực
- Đôi mắt có nét nhìn đáng mến
- Đôi mắt nhìn đầy âu yếm
- Đôi mắt đầy quyến rũ
- Đôi mắt nhìn đầy quả quyết
- Đôi mắt đã có dấu chân chim.[1]
- Đôi môi dày
- Đôi môi hình quả tin làm cho cái miệng trở nên duyên dáng
- Hàm răng sứt
- Đôi hàm răng đã rụng gần hết nên cái miệng móm
- Hai hàm răng đều như hạt bắp khiến nụ cười của cô càng đẹp,
càng dễ nế hơn
Trang 10- Cái cằm vuông có chòm râu trắng khiến ông nội đáng kính, đáng trọng
+ Thân mình - nước da:
- Thân mình tròn trịa
- Thân mình gân gốc với làn da đen sạm
- Thân hình mảnh mai với làn da trắng hồng
- Thân mình mập ú, béo phệ như dưới lớp da trăng kia chứa đầy cả mỡ
- Thân mình khỏe mạnh, đôi tay, đôi chân cân đối
- Dáng điệu ngượng nghịu
- Dáng điệu rụt rè, dáng điệu quý phái, nhiều mơ mộng
- Dáng điệu trang nghiêm nhưng vẻ mặt lại vô cùng hiền từ
- Vẻ mặt chất phác
+ Lời nói - giọng nói:
- Lời nói lịch sự, giọng nói nhẹ nhàng chứng tỏ chị là một người hòa nhã
- Lời nói dịu dàng, nhỏ vừa đủ nghe
- Giọng nói truyền cảm, êm đềm
- Giọng nói khàn khàn
- Giọng nói vâng vang, lanh lảnh vang dến tận nơi xa
+ Trang phục:
- Quần áo lịch sự bảnh bao
- Áo dài đên, quần trắng
- Áo quần được ủi cẩn thận
- Đội mũ lưỡi trai
- Đeo nữ trang đánh phấn thoa son
- Chân đi đôi dép da
- Đi đôi giày đúng mốt
- Cổ có đeo sợi dây chuyền vàng.[1]
b) Khi dạy Thể loại văn tả người giáo viên chẳng những cung cấp cho học sinh một
số từ ngữ hay về tả hình dáng mà còn phải bồi dưỡng cung cấp cho các em một số vốn từ “đắt” về tả tính tình của một người để bài văn hoàn hảo và có hồn
Trang 11Giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng các từ ngữ tả tính tình phù hợp, chính xác với nhân vật được miêu tả Từ cần dùng để tả tính tình của một người đó là:
+ Một đứa trẻ có thể:
- Một đứa trẻ hiền lành, thông minh, sáng trí
- Một đứa trẻ chậm chạp, lười biếng
- Một đứa trẻ hiếu thảo, đáng thương
- Một đứa trẻ biết vâng vâng lời, ngoan ngoãn
- Một đứa trẻ có những cử chỉ tàn nhẫn, bội bạc
- Một đứa trẻ tinh nghịch, xấc xược
+ Một học sinh có thể:
- Một học sinh có kỉ luật
- Một học sinh siêng năng chăm chỉ, thông minh hoạt bát, ngăn nắp
- Một học sinh lười biếng, kém kiêm tốn, khoe khoang, kiêu ngạo
- Một người tận tâm với nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng
- Một người có tình dè dặt, kín đáo, thích phiêu lưu
+ Một bà mẹ có thể có:
- Một người mẹ hiền lành, dịu dàng
- Một người mẹ bao dung
- Một người mẹ có cái nhìn âu yếm
- Một người mẹ tận tụy với con cái
- Một người mẹ cẩn thận
- Một người mẹ can đảm
Để cung cấp thêm vốn từ cho học sinh, trước tiên phải dạy tốt các tiết Luyện
và câu, Tập đọc, Kể chuyện, chính tả để các em có vốn từ vững chắc là tiền đề chophân môn Tập làm văn Khi dạy cần chú ý xây dựng vốn từ cho học sinh ngoàinhững từ đã có trong sách giáo khoa các em có thể tự bổ sung thêm một số từ ngữkhác đưa vào bằng sự hiểu biết của mình
Để học sinh viết được bài văn tả người giàu hình ảnh và sinh động, tôi đãhướng dẫn các em cách sử các từ cần thiết và có giá trị nhất là từ láy, từ tượngthanh, từ tượng hình
Trang 12Ví dụ: - Tả màu da có thể dùng: xanh xao, hồng hào, trắng trẻo.
- Tả về đôi mắt có thể dùng: lay láy, long lanh
- Tả hình dáng: lênh khênh, mập mạp, gầy gầy, thon thả, thướt tha, dong dỏng
- Tả tiếng cười, giọng nói: thỏ thẻ, ríu rít, khúc khích, thì thào…
Với cách vận dụng biện pháp trên vào việc dạy tập làm văn tả người, tôi thấyhầu hết các em không những sử dụng các từ ngữ miêu tả phù hợp với nhân vật được
tả trong bài mà nhiều em còn biết sử dụng các từ láy tượng hình, tượng thanh phùhợp trong bài viết của mình, làm cho bài văn trở nên sinh động hơn
2 2 Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh chọn một số nét đặc trưng để tả:
Tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tả người của các em học sinh lớp 5B cònviết lan, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật Vậy để khắc phục tìnhtrạng trên tôi đã hướng dẫn học sinh chọn tả những nét đặc trưng của nhân vật bằngcách sau
- Trong giờ tập làm văn tả người tôi đã tổ chức để hầu hết học sinh được nói
về các đặc điểm riêng của nhân vật mình định tả
+ Trước tiên là yêu cầu các em nói cho bạn trong nhóm nghe về đặc điểmriêng của nhân vật mình định tả (Thảo luận nhóm đôi)
+ Sau đó tổ chức cho học sinh thi nói về đặc điểm riêng của nhân vật mìnhđịnh tả trước lớp Cả lớp nhận xét Bình chọn bạn nói đúng, nói đủ, nói hay Giáoviên nhận xét, kết luận
Giáo viên lưu ý học sinh: Tả người không cần thiết bao giờ cũng tả đẹp, tảnhững nét tốt, mà cần tả những nét tiêu biểu, nét riêng biệt, vài nét nổi bật của nhânvật mình tả
Ví dụ: Khi tả về người mẹ kính yêu của em
Mỗi người mẹ của từng em có những đặc điểm về hình dáng khác nhau và dotính chất nghề nghiệp khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau dẫn đến sự khác biệt vềcách ăn mặc, đặc điểm về ngoại hình, về tính cách, về thói quen, về tính chất côngviệc
Dưới đây là hình ảnh ba người mẹ với ba nghề nghiệp khác nhau: Một người
mẹ làm nghề nông, một người làm nội chợ, một người là giáo viên
Trang 13Mẹ làm nghề nông Mẹ làm nội trợ Mẹ làm giáo viên
Giáo viên giúp học sinh lựa chọn những nét tiêu biểu, nét riêng biệt, vài nétnổi bật của nhân vật mình tả
- Đối với người mẹ làm nghề nông: [2]
Ví dụ: Cùng tả về một người mẹ: Một em học sinh viết: "Mẹ của em phải làm
lụng vất vả, các ngón tay của mẹ gầy gầy, xương xương Mái tóc của mẹ đã điểmbạc và làn da có nhiều nếp nhăn"