Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người thầy phải biết vậndung linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao chophù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ v
Trang 1MỤC LỤC
I: PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1
I: NỘI DUNG Trang 3
2 Thực trạng của việc dạy môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 Trang 3
3.1 Hướng dẫn phương pháp học tập làm văn Trang 43.2 Hướng dẫn học sinh thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu Trang 63.2.1 Tác dụng của các nghi thức lời nói tối thiểu Trang 63.2.2 Khi thực hành các nghi thức về lời nói tối thiểu phải chú ý
cả cử chỉ, thái độ, tình cảm Trang 63.3 Hướng dẫn HS thực hành các hình thức về các nghi thức
lời nói tối thiểu Trang 103.3.1 Làm việc cá nhân Trang 103.3.2 Làm việc theo cặp Trang 103.3.3 Làm việc theo nhóm Trang 113.3.4 Các trò chơi vận dụng Trang 11
4 Hiệu quả Trang 15
III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang 17
Trang 2hẹp Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàn cảnh
sống của HS ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình không có điều kiện đểquan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức kháchậm, HS nghèo vốn từ ngữ… Do vậy, gây không ít khó khăn cho giáo viên, đòihỏi người giáo viên phải tìm mọi cách để giúp đỡ các em
Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người thầy phải biết vậndung linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao chophù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh để giờ họcdiễn ra tự nhiên nhẹ nhàng và có hiệu quả Trong giảng dạy giáo viên phải cónghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinh giải quyết các tình huống
và thông qua việc xử lí các tình huống đó học sinh lĩnh hội được kiến thức bài
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục thì trách nhiệm của người giáo viênphải nâng cao và được đặt lên hàng đầu Đặc biệt năm học 2015 – 2016 là nămhọc thứ 2 thực hiện thông tư 30/2014/TT – BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về cách đánh giá học sinh tiểuhọc Người thầy trong giai đoạn giáo dục hiện nay, không còn giữ vai trò trang
bị kiến thức cho học sinh mà phải biết định hướng đúng đắn, giúp học sinh pháttriển toàn diện về năng lực và phẩm chất đạo đức Đánh giá được sự tiến bộ củahọc sinh theo giai đoạn về các mặt cụ thể: kiến thức, kĩ năng, năng lực, phẩmchất của từng em Trong bậc Tiểu học môn Tiếng Việt vừa là môn học chính,vừa là môn công cụ giúp học sinh tiếp thu các môn học khác được tốt, hơn nữaTập làm văn là phân môn có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp dạyhọc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao các kỹ năng
sử dụng Tiếng Việt, đặc biệt là kỹ năng sản sinh văn học cho học sinh Tiểu học.Tập làm văn lớp Hai cung cấp cho học sinh các kĩ năng nói, viết, nghe, phục vụcho học tập và giao tiếp Ngoài các dạng bài dạy về các nghi thức lời nói tốithiểu, về một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, phân môn Tậplàm văn lớp Hai còn rèn cho HS kĩ năng diễn đạt và kĩ năng nghe Ở lớp Một,thông qua môn Tiếng Việt học âm, vần, HS được luyện nói từng câu ngắn, đãđược tập kể lại câu chuyện Tuy nhiên, do vốn từ của các em còn ít nên việc diễnđạt còn rất hạn chế Thực tế đến đầu năm lớp Hai hầu hết HS chỉ nói đượcnhững câu ngắn, trả lời chưa đủ ý, diễn đạt còn rời rạc Do đó, nhiệm vụ củagiáo viên lớp Hai là tiếp tục rèn kĩ năng diễn đạt cho các em Như vậy, nói rằngphân môn Tập làm văn góp phần to lớn trong việc hiện đại hoá mục tiêu quantrọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học là hình thành, phát
Trang 3triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập trong nhà trường vàgiao tiếp một cách đúng đắn, tự nhiên, tự tin trong các môi trường hoạt động củalứa tuổi Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làmthế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cốgắng để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh củalớp mình.
Chính vì muốn để các em có khả năng hiểu Tiếng Việt hơn, biết dùng từ mộtcách phù hợp trong các tình huống giao tiếp nên tôi đã chọn nghiên cứu và thực
nghiệm đề tài “Đổi mới hình thức và phương pháp dạy phân môn Tập làm
văn lớp 2 nhằm rèn kĩ năng nói cho học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu:
Bản thân tên đề tài tôi đã chỉ rõ mục đích nghiên cứu: “Đổi mới hình
thức và phương pháp dạy phân môn Tập làm văn lớp 2 nhằm rèn kĩ năng nói cho học sinh” Vì thế trong nội dung đề tài này tôi đi sâu nghiên cứu những vấn
Nhằm giúp học sinh phải chú ý đến quy tắc ngôn ngữ và quy tắc giao tiếp
mà mục đích giao tiếp là những bài văn tốt
Khi dạy Tập làm văn cho học sinh cần phải chú ý tới việc dạy nói, viếtđúng quy tắc giao tiếp, đúng nghi thức lời nói, nghĩa là phải chú ý đầy đủ nhữngyếu tố ngoài ngôn ngữ nhưng để lại dấu ấn đậm nét trong ngôn ngữ
Giúp đỡ học sinh tự học và vận dụng vốn hiểu biết của bản thân vào quátrình học tập của các em Riêng bản thân tôi cũng không ngừng học tập trau dồicho mình một kĩ năng vững vàng về phương pháp tập làm văn Từ đó tôi thấy rõtrọng trách của người giáo viên chủ nhiệm lớp là phải từng bước giúp học sinhlàm tập làm văn nhằm nâng cao chất lượng học cho các em
3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 2A- Trường Tiểu học Quảng Thịnh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong qua trình nghiên cứu, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu thu thập tài liệu, đọc sách và các tài liệu thamkhảo
Phương pháp thống kê, trao đổi, tranh luận
Trong các phương pháp trên, khi nghiên cứu tôi vận dụng hài hoà các phương pháp
để tìm ra các giải pháp của mình đạt kết quả tối ưu nhất
Trang 4II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
Làm văn có nghĩa là tạo lập văn bản Nhiệm vụ chính của phân môn Tập
làm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản Ở đây thuật ngữ
“văn bản ” được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàncảnh giao tiếp cụ thể Đó không nhất thiết là một bài văn gồm nhiều câu; nhiềuđoạn; cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là loại văn kểchuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật Trong hoàn cảnh giao tiếp cụthể, sản phẩm lời nói hoàn chỉnh mà một người tạo lập được có thể chỉ là mộtcâu chào, một lời cảm ơn hay vài dòng thăm hỏi, chúc mừng trên tấm thiếp Thật vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy, dạy học sinh học văn tốt
sẽ góp phần rèn luyện đạo đức và tính cách con người Ta dạy cho các em viếtđúng yêu cầu, viết đủ số lượng câu, viết gọn, rõ ràng, mạch lạc và sáng tạo làgóp phần rèn luyện cho các em ý thức học tập, tính kỷ luật, tính cẩn thận, thậntrọng trong công việc, lòng tự tin của bản thân… Đồng thời, học tốt môn Tậplàm văn chính là cơ sở, là nền tảng để học tốt các môn học khác nhằm thực hiệnđúng mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra nhằm đào tạo con người mới
Nội dung bài học về Tập làm văn lớp 2 giúp học sinh thực hành rèn luyệncác kỹ năng nói, viết, nghe, phục vụ việc học tập và giao tiếp hằng ngày, cụ thể:
Trong đề tài này tôi xin được giới thiệu cách dạy Thực hành về các nghithức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi; tự giới thiệu; cảm ơn; xin lỗi; khẳng định;phủ định; mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị; chia buồn, an ủi; chia vui, khen ngợi; ngạcnhiên, thích thú; đáp lại lời chào, lời tự giới thiệu; đáp lời cảm ơn; đáp lời xinlỗi; đáp lời khẳng định; đáp lời phủ định; đáp lời đồng ý; ; đáp lời chia vui; đáplời khen ngợi; đáp lời từ chối; đáp lời an ủi Ngôn ngữ dưới dạng viết giữ vai tròquan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội Chính vì vậy, hướng dẫnhọc sinh học tốt phân môn Tập làm văn là hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề
đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phânmôn Tập làm văn nói riêng
2 Thực trạng của việc dạy học môn tập làm văn cho học sinh lớp 2.
a.Về phía giáo viên
Qua thực tế dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp trong trường tôi nhận thấy:
- Cách tổ chức các hoạt động trong giờ tập làm văn còn lúng túng Giáo viênchưa biết nội dung trọng tâm cần truyền tải đến học sinh mà chỉ biết dựa vàosách giáo viên và thậm chí đi theo sự hướng dẫn trong sách giáo viên để dạy bàinào cũng giống bài nào Giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn,kiền thức còn hạn hẹp
- Khả năng diễn đạt của giáo viên còn hạn chế, ngôn ngữ chưa được trau chuốt,giáo viên còn “bí từ” khi giảng Kiến thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trong sáchgiáo khoa và chỉ biết nêu lên trình tự trong sách giáo khoa chứ chưa biết khắc
sâu, chốt nội dung khi dạy xong một tiết học Trên thực tế đa số giáo viên khai
thác bài học theo cách tuân thủ đã được biên soạn trong sách giáo khoa mà việctuân thủ theo sách giáo khoa đến nay có phần không còn phù hợp nữa, nhất là
Trang 5trong bối cảnh đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách đánh giá học sinhtheo Thông tư 30 như hiện nay.
b Về phía học sinh
Các em học sinh lớp 2 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất
sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết văn câu còn cụt lủn Hoặc câu có thể có
đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng.Việc trình bày, diễn đạt ý của các em rất sơ lược, đặc biệt là khả năng miêu tả
Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm quen với phân môn Tập làmvăn ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có phương pháp học tập bộmôn một cách khoa học và hợp lý Phân môn Tập làm văn là một phân môn mới
lạ với học sinh nên các em rất tò mò, háo hức được học, được tìm hiểu
Đối với học sinh tiểu học việc nhận thức của học sinh đi từ trực quan sinhđộng đến tư duy trừu tượng mà đồ dùng dạy học cần thiết như băng hình, tranhảnh, mẫu vật phục vụ cho tiết học chưa đáp ứng đủ cho từng bài học
Do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duyđơn giản trực quan nên việc viết câu văn trong các tình huống của học sinh còngặp nhiều khó khăn
Vốn sống và vốn kiến thức trong giao tiếp của học sinh nhất là học sinhvùng nông thôn quê chúng tôi còn hạn chế Việc dạy tập làm văn cho học sinhlớp 2 là một việc khó
Chính vì vậy, đó là động lực thúc đẩy yêu cầu mỗi giáo viên dạy lớp 2 chú ýquan tâm đến việc dạy Tập làm văn cho học sinh
Qua khảo sát thực tế đối với 35 em học sinh lớp 2A và 33 em học sinh lớp2B trước khi áp dụng sáng kiến tôi đã ra đề khảo sát và thu được kết quả sau:
* Đề Khảo sát đầu năm học 2015- 2016
Bài 1: Nói lời cảm ơn của em trong những trường hợp sau:
a Bạn cùng lớp giúp em làm trực nhật
b Bố mua cho em cái cặp sách mới
Bài 2: Nói lời xin lỗi của em trong những trường hợp sau:
a Em lỡ tay làm bẩn vở của bạn
b Em mải chơi quên việc mẹ đã dặn
Bảng 1: Chất lượng khảo sát phân môn Tập làm văn hai lớp 2A
Qua thực tế giảng dạy và từ những thực trạng trên, tôi nhận thấy kết quảchưa cao là do nguyên nhân cả hai phía; Người dạy và người học Do vậy tôimạnh dạn đưa ra những giải pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượngphân môn Tập làm văn cho lớp tôi
3 Những giải pháp
3.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập làm văn
Muốn có kết quả tốt trước hết phải giúp học sinh nắm được phương pháp
Trang 6học tập làm văn theo từng kiểu, dạng bài.
a Mỗi tiết học Tập làm văn trong tuần thường gồm 2, 3 bài tập; riêng các tuần Ôn tập giữa học kỳ và cuối học kỳ, nội dung thực hành về Tập làm văn được rải ra trong nhiều tiết ôn tập
Ở từng bài tập, hướng dẫn học sinh thực hiện theo hai bước:
- Bước 1:
Chuẩn bị: Xác định yêu cầu của bài tập, tìm hiểu nội dung và cách làm bài, suynghĩ để tìm từ, chọn ý, diễn đạt câu văn…
- Bước 2:
Làm bài: Thực hành nói hoặc viết theo yêu cầu của bài tập; có thể tham khảo các
ví dụ trong sách giáo khoa để nói, viết theo cách của riêng mình
b Hướng dẫn học sinh làm bài tập:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, lời giới thiệu,tranh ảnh…)
- Giúp học sinh chữa một phần của bài tập làm mẫu (một HS chữa mẫu
trên bảng lớp hoặc cả lớp làm vào vở) – HS thực hành
- HS làm bài vào vở GV uốn nắn
- GV tổ chức cho HS trao đổi, nhận xết về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ
- Nêu yêu cầu, hướng dẫn HS thực hiện những hoạt động tiếp nối nhằm củng
cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp (Thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sửdụng kỹ năng đã học vào thực tế cuộc sống…)
d Quy trình và phương pháp dạy học đối với mỗi bài Tập làm văn nên tiếnhành như sau:
- Hướng dẫn HS đọc kỹ đề để nắm được yêu cầu của đề
- GV giải mẫu (hoặc HS nêu cách giải mẫu) rồi hướng dẫn HS giải tiếp đề.Nên giải miệng trước rồi sau đó cho HS viết bài giải vào vở Khi giải miệng bàitập, có thể có nhiều lời giải, GV hướng dẫn HS thảo luận về các lời giải ấy, xácnhận những lời giải chấp nhận được và HS tuỳ chọn một lời giải để viết vào vở
- Mỗi bài tập làm xong đều được chữa ngay Không đợi đến cuối tiết mớichữa tất cả vì nhịp độ theo dõi chữa bài của các em không đều nhau, các emchậm có thể không kịp chữa
- Khi tất cả các bài tập đã được chữa xong, GV có lời nhận xét chung, rút kinh nghiệm Mỗi tiết Tập làm văn, GV nên chú ý đến một số em hoàn thành bàinhanh, một số em làm bài còn chậm song có tiến bộ để nội dung nhận xét khôngchung chung quá GV không quên nhận xét về những yêu cầu tích hợp trong tiếthọc; kĩ năng nói, tư thế ngồi viết, cầm bút, chữ viết… và nhất là lưu ý, nhắc nhở
HS thực hành những điều đã học được
Trang 73.2 Hướng dẫn học sinh thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu: 3.2.1 Tác dụng của các nghi thức lời nói tối thiểu:
Trước hết GV cần cho HS thấy được sự cần thiết và tác dụng của các nghithức lời nói tối thiểu
Ví dụ:
- Lời chào khi mới gặp nhau cũng như trước khi chia tay là phép lịch sự, thểhiện người có văn hoá trong tiếp xúc, khiến cho mọi ngời thấy thân mật, gần gũinhau hơn
- Việc tự giới thiệu một đôi điều cần thiết về bản thân giúp cho những ngườimới gặp nhau lần đầu thấy thân thiện, hoà đồng hơn
- Cảm ơn và xin lỗi là những tình huống giao tiếp thường gặp trong cuộcsống Một người nào đó (có thể là người thân trong gia đình, có thể là thầy cô hay bạn bè ở trường, có thể là người hàng xóm láng giềng hay những người xa
lạ ta mới gặp) đã giúp ta một điều gì đó (có thể là một lời khuyên, một việc làm,một vật tặng… ) ta đều phải cảm ơn Ngược lại, ta phải xin lỗi khi trót để xảy ra một điều gì đó gây hậu quả không hay cho người khác Ví dụ một lời nói, một việc làm dẫu vô tình hay khi nóng nảy…làm xúc phạm, gây ảnh hưởng không tốt đến người khác Đấy là lý do vì sao ta phải cảm ơn hay xin lỗi
Chào bạn khi gặp nhau ở trường: - Chào bạn!
Hoặc: - Chào cậu!
- Chào các bạn!
- Chào An!
* Lời cảm ơn hay xin lỗi khi nói phải chân thành, lịch sự, lễ phép và đi liền vớicách biểu hiện, tình cảm, thái độ củả mình khiến mọi người thông cảm, bỏ quacho lỗi của em
Em nhớ xác định rõ đối tượng cần cảm ơn:
- Nếu là bạn bè (cùng lứa tuổi), lời cảm ơn cần thể hiện thái độ chân thành, thânmật
Trang 8Từng cử chỉ, nét mặt, giọng nói đều góp phần bộc lộ nội dung của lời cảm
ơn hay xin lỗi
Nội dung của lời cảm ơn hay xin lỗi đều có ba phần:
+ Thứ nhất là các từ ngữ biểu hiện như cảm ơn, chân thành cảm ơn, xin lỗi, vôcùng xin lỗi
+ Thứ hai là ta cảm ơn hay xin lỗi ai?
+ Thứ ba là cảm ơn hay xin lỗi về điều gì, việc gì?
- Cách diễn đạt lời cảm ơn hay xin lỗi cũng rất phong phú, đa dạng
Ví dụ: Em lỡ bước, giẫm vào chân bạn Em nói:
+ Xin lỗi bạn nhé!
+ Mình xin lỗi bạn
+ Xin lỗi bạn, mình vô ý quá!
* Khi nói lời khẳng định hay phủ định, ngữ điệu của lời nói có phần quan trọngđối với nội dung Cần nhấn giọng ở những từ ngữ có nghĩa khẳng định hay phủđịnh HS cần chú ý: Lời khẳng định thường có các từ có; còn lời phủ địnhthường có các từ hoặc cặp từ không, không …đâu, có đâu, …đâu có
Ví dụ: + Mẹ có mua báo không?
+ Có, mẹ có mua báo
Hoặc: + Không, mẹ không mua báo
Chú ý: Các mẫu câu chỉ khác nhau ở những từ in đậm còn đều nêu ý giống nhaunhưng được diễn đạt bằng ba cách khác nhau:
+ … không đâu; có đâu; …đâu có
* Lời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị thường gắn với cử chỉ, nét mặt, giọng nói Vìvậy khi nói ta cần có cử chỉ, giọng điệu cho phù hợp
Ví dụ: Bạn đến thăm nhà em Em mở cửa và mời bạn vào chơi:
- Vui quá, chào Lan! Mời bạn vào nhà chơi (nếu bạn mới quen)
Hoặc: - Hải đấy à, Hải vào nhà chơi đi (nếu bạn thân)
* Khi nói lời chia buồn, an ủi cần bày tỏ tình thương yêu, sự quan tâm, thôngcảm với nhau
Chú ý giọng hỏi thăm phải nhẹ nhàng, tình cảm Khi nói lời an ủi với ngườitrên, em cần tỏ thái độ ân cần nhưng lễ phép (thể hiện qua giọng nói và cáchxưng hô)
Ví dụ: Khi cây hoa do ông bà (trồng) bị chết Em nói:
Trang 9- Bà ơi! Bà đừng buồn Cháu sẽ cùng bà trồng lại cây khác, bà nhé!
Hoặc: - Bà đừng buồn, con sẽ nhờ bố kiếm cây khác trồng lại để bà vui
* Khi nói lời chia vui cần chú ý: ngời mình chia vui là ai? Chia vui về
chuyện gì? Tình cảm, thái độ, cử chỉ khi nói phải nh thế nào cho phù hợp?
Chúng ta cần nói với thái độ chân thành, tự nhiên, vui vẻ nhằm thể hiện sự chiavui hay khâm phục, tự hào, phấn khởi
Ví dụ: Nói lời chúc mừng của em với chị Hương:
- Em xin chúc mừng chị!
Hoặc: - Chúc chị học giỏi hơn nữa!
- Chúc chị năm sau được giải cao hơn
- Chị học giỏi quá, em rất tự hào về chị
* Khi khen, trong câu thường dùng các từ rất, quá, thật làm sao, và khi viết dùngdấu chấm than ở cuối câu
Ôi! ồ! A! Ôi chao! Ối! Á! và chú ý hơi lên cao giọng ở cuối câu nói
Ví dụ: Được bố tặng một cái vỏ ốc biển đẹp Em nói:
- Đây là món quà con rất thích, cảm ơn bố
- Sao cái vỏ ốc đẹp thế, lạ thế, con cảm ơn bố
- Cái vỏ ốc biển mới to và đẹp làm sao!
- Con chưa bao giờ thấy một cái vỏ ốc đẹp đến thế
* Lời đồng ý hay lời từ chối phải phù hợp với người đưa ra đề nghị và phải phùhợp với hoàn cảnh cụ thể Nói lời từ chối cần nhẹ nhàng, khéo léo cho khỏi mấtlòng nhau Nói lời đồng ý cần thể hiện sự sẵn sang, vui vẻ
Ví dụ: Bạn thông cảm, bây giờ mình còn phải học bài nên không đi đá bóng vớibạn được Hẹn bạn đến hôm khác nhé
* Đáp lại lời chào, cần nói thế nào để tỏ thái độ lịch sự, thân mật? Đáp lại lời tựgiới thiệu cần nói thế nào để tỏ thái độ vui vẻ, phấn khởi, đón chào
Chú ý khi nói lời đáp lại lời chào, lời tự giới thiệu chúng ta cần xác định từ xưng
hô của em với người đối thoại sao cho phù hợp
Ví dụ: - Chào các em!
- Chào chị ạ! (Chúng em chào chị ạ!)
- Chị tên là Hương, chị được cử phụ trách sao của các em
- Ôi, thích quá! Chúng em mời chị vào lớp ạ!
(Thế thì thích quá! Chúng em mời chị vào lớp chúng em ạ!)
* Đáp lời cảm ơn cần chú ý ngữ điệu, cách xưng hô:
+ Với người lớn tuổi: chân tình
+ Với bạn bè: lễ phép, khiêm tốn
+ Với bạn bè thân quen lời đáp cần thể hiện thái độ gần gũi, quan tâm
Trang 10+ Với người lạ (khách) lời đáp cần thể hiện thái độ lịch sự, lễ phép.
Ví dụ: Em rót nước mời khách đến nhà Khách nói:
- Cảm ơn cháu Cháu ngoan quá!
Em đáp:
- Dạ, thưa bác, không có gì đâu ạ!
Hoặc: - Dạ, có gì đâu Bác uống nước đi cho đỡ khát ạ!
- Dạ, cháu cảm ơn bác đã khen
* Đáp lời xin lỗi:
- Với những sự việc nhỏ, không đáng kể thì lời đáp của em cần thể hiện thái độnhẹ nhàng, vui vẻ, sẵn sàng bỏ qua
- Với những sự việc đáng buồn hay đáng tiếc xảy ra, lời đáp của em cần thể hiệnthái độ lịch sự, nhẹ nhàng nhưng cũng có thể kèm theo ý nhắc nhở để lần sau họkhông mắc lỗi như vậy nữa
Ví dụ: Một bạn vô ý đụng vào người em, vội nói:
- Xin lỗi Tớ vô ý quá!
Ví dụ: - Con báo có trèo cây được không ạ?
- Được chứ! Nó trèo giỏi lắm
- Thế ạ
Hoặc: - Ôi, nó giỏi quá!
- Nó chẳng bao giờ bị ngã đâu, mẹ nhỉ?
* Đáp lời đồng ý cần chú ý cách nói, giọng nói phải tuỳ từng đối tượng mà mìnhgiao tiếp cũng như nội dung của lời nói phải phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể
HS phải tự sáng tạo lời đồng ý cho phù hợp với từng nội dung giao tiếp Khiđược người khác đồng ý hay cho phép, ta thường đáp lại bằng lời cảm ơn chânthành
Ví dụ: - Hương ơi, cho tớ mượn cái tẩy nhé?
- Ừ
- Tớ cảm ơn bạn
* Đáp lời chúc mừng (chia vui) em cần nói thế nào để bày tỏ niềm vui của mình
và sự biết ơn đối với các bạn