PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5A - TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG SƠN PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VỚI TỪ NHIỀU NGHĨA Người
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5A - TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG SƠN PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VỚI TỪ
NHIỀU NGHĨA
Người thực hiện: Lê Thị Luyến Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Sơn
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5A
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG SƠN PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM
VỚI TỪ NHIỀU NGHĨA
Người thực hiện: Lê Thị Luyến Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Sơn
Thị xã Bỉm Sơn
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
BỈM SƠN, NĂM 2017
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trang 4A MỞ ĐẦU I.Lí do chọn đề tài.
Hiện nay việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã và đangthường xuyên được đặt ra và ngày càng cấp bách Những thay đổi trong sự pháttriển kinh tế xã hội, thay đổi trong giáo dục dẫn tới những yêu cầu đòi hỏi trongviệc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng Môn Tiếng Việttrong trường Tiểu học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về hệthống Tiếng Việt (Hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp ) đồng thờihình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) Ngoài ra TiếngViệt còn có chức năng kép đó là: Trang bị cho học sinh một số công cụ để họcmôn học khác Tóm lại dạy Tiếng Việt là đưa các em hòa nhập vào một môitrường năng động trong giao tiếp của thời kì hội nhập.[1]
Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông quagiao tiếp Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ cựcmạnh để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng từ Tiếng Việt
Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong giờ Tiếng Việt được giáoviên đặc biệt quan tâm, chú ý Ngôn ngữ Tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiềukhía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ.[1]
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung mảng kiến thức nghĩa của
từ được tập trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu; vấn đề từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa cũng đã được đưa vào với 4 tiết ở học kì I Trong quá trình dạyhọc, tôi thấy vấn đề từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là một vấn đề khá phức tạp, dễnhầm lẫn Các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, nhưngkhi học xong từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn, lúngtúng, luẩn quẩn trong việc phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.[1]
Vấn đề tìm cách giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đãđược rất nhiều thầy giáo, cô giáo thảo luận trên các diễn đàn Tìm hiểu về vấn đềnày tại trường Tiểu học Đông Sơn - thị xã Bỉm Sơn, tôi nhận thấy Ban Giámhiệu và các đồng nghiệp đã quan tâm tìm biện pháp giảng dạy để các em họcsinh lớp 5 hạn chế sự nhầm lẫn trong mảng kiến thức này nhưng sau khi làm bàikiểm tra giữa kì I năm học 2016 - 2017 vẫn còn nhiều em nhầm lẫn từ đồng âmvới từ nhiều nghĩa
Để khắc phục vấn đề trên, tôi đã mạnh dạn vận dụng kinh nghiệm giảngdạy mảng kiến thức này mà tôi đã nghiên cứu đúc rút của năm học trước vàotrực tiếp giảng dạy tại lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn, năm học 2016 - 2017.Trong quá trình vận dụng thực tế có đúc rút bổ sung thêm giải pháp mới, các emhọc sinh lớp 5A đã nắm vững kiến thức, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩamột cách dễ dàng đồng thời biết sử dụng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để viếtcâu văn, đoạn văn chặt chẽ về cấu trúc liên kết về ý
Tôi xin chia sẻ cùng các đồng chí, đồng nghiệp kinh nghiệm nhỏ của bản thân
dưới dạng văn bản với tiêu đề: " Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A - Trường Tiểu học Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.”
Trang 5II Mục đích nghiên cứu.
- Giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa góp phầnlàm giàu thêm vốn từ cho học sinh
- Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tách được ýnghĩa từ vựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ
- Giúp học sinh có kĩ năng sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong giao tiếp
- Thông qua việc nghiên cứu lí luận, nghiên cứu thực trạng và đề ra giảipháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học mảng kiến thức từ đồng âm và từ nhiềunghĩa cho học sinh trong năm học hiện tại và các năm học tiếp theo
- Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc dạy nội dung từ đồng âm, từnhiều nghĩa cho bản thân và cho các đồng nghiệp
III Đối tượng nghiên cứu.
- Biện pháp phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa
- Học sinh lớp 5A trường Tiểu học Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn
IV Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu (Các tài liệu được trình bày tại phần: Tài liệu tham khảo)
- Phương pháp khảo sát, phân tích thực trạng:
+ Dự giờ đồng nghiệp
+ Khảo sát bài kiểm tra giữa kì 1 năm học 2016 - 2017 của khối 5
+ Ra bài kiểm tra khảo sát
- Tổng hợp số liệu
- Phương pháp khảo nghiệm, áp dụng vào thực tế: Vận dụng kinh nghiệmgiảng dạy mảng kiến thức vào thực tế
V Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Đây là sáng kiến kinh nghiệm tôi đã áp dụng thực tế tại lớp 5A, trườngTiểu học Thành Tâm, huyện Thạch Thành năm học 2011- 2012 Sáng kiến kinhnghiệm đã được Hội đồng Khoa học ngành giáo dục huyện Thạch Thành đánhgiá và áp dụng thực tế có hiệu quả trong những năm học tiếp theo
Căn cứ vào thực trạng học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn, nămhọc 2016 - 2017 có nhiều điểm tương đồng phù hợp để vận dụng kinh nghiệmdạy học sinh phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Trong quá trình vận dụng,bên cạnh việc phát huy kinh nghiệm của năm học trước, tôi bổ sung thêm phần
giải pháp: Tập hợp, nghiên cứu các bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, thiết kế bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa (phân chia các dạng bài
tập theo 4 mức độ phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triểnnăng lực của HS tiểu học) Đồng thời tôi trình bày lại cấu trúc của bản báo cáo Sáng kiến kinh nghiệm theo Công văn số 34/CV - PGDDT V/v nâng cao hiệu quả công tác đúc rút sáng kiến kinh nghiệm Ngành Giáo dục và Đào tạo của
Phòng GD&ĐT thị xã Bỉm Sơn
Trang 6B NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận.
Trong Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, từ có chức năng địnhdanh sự vật Từ Tiếng Việt có đặc điểm là có tính không lí do và không biến đổihình thái Cấu tạo của từ gồm hai mặt đó là nội dung (nghĩa của từ) và hình thức(âm thanh, chữ viết); Các từ khác nhau chính là khác nhau về nội dung và hìnhthức Trong thực tế, số lượng từ có hạn mà sự vật hiện tượng lại hết sức đa dạngphong phú, nó luôn phát sinh và phát triển Hiện tượng từ đồng âm, từ nhiềunghĩa xuất hiện chính là cách để giải quyết mâu thuẫn này.[4]
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là hiện tượng độc đáo của Tiếng Việt, nógóp phần làm cho Tiếng Việt thêm phong phú và mang đậm sắc thái riêng Vấn
đề tìm danh giới cho từ đồng âm và từ nhiều nghĩa hiện nay còn là vấn đề thảoluận sôi nổi của các nhà ngôn ngữ học
Theo tài liệu “88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học” (Tác giả Lê Hữu Tỉnh - Trần Mạnh Hưởng), Khái niệm nghĩa gốc - nghĩa chuyển của một từ
nhiều nghĩa được hiểu như sau:
- Nghĩa gốc: Là nghĩa cơ bản, là nền tảng cho sự phát triển nghĩa của từ.Trong từ điển, nghĩa gốc được nói đến đầu tiên
- Nghĩa chuyển: Là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa gốc, có mối quan hệmật thiết với nghĩa gốc Trong từ điển, nghĩa chuyển được nói đến sau nghĩa gốc
Theo tài liệu “Lý luận - Phương pháp dạy học từ ngữ Tiếng Việt trongnhà trường của PGS - TS Nguyễn Đức Tôn cũng viết:
- Nghĩa gốc - nghĩa chuyển: Đây là cách gọi theo quan điểm lịch đại, nhìnnhận theo quá trình phát triển ý nghĩa của từ Nghĩa gốc là nghĩa vốn có của từngay từ khi xuất hiện, từ đó làm nảy sinh ra nghĩa khác Nghĩa được nảy sinh ra
từ một nghĩa nào đó được gọi là nghĩa chuyển
- Nghĩa chính - nghĩa phụ: Đây là tên gọi theo quan điểm đồng đại Nghĩachính là nghĩa được người ta nghĩ đến đầu tiên khi đọc hoặc nghe thấy một từ.Nghĩa phụ là nghĩa bị phụ thuộc vào vị trí của từ Nghĩa từ chỉ khi kết hợp vớinhững từ đặc thù nhất định thì nghĩa này mới được hiểu
Ví dụ: Từ “răng” dùng để chỉ bộ phận cơ thể người hoặc động vật thì đây
là nghĩa chính (răng người, mọc răng, răng hổ…)
Từ “răng” dùng để chỉ bộ phận giống với răng người ở một số đồ vật thì đó lànghĩa phụ (răng bừa, răng lược…)
Còn từ đồng âm được định nghĩa: Là những từ giống nhau về ngữ âmnhưng khác nhau về ý nghĩa
Ví dụ: - cổ: bộ phận cơ thể con người và cổ: xưa, lạc hậu
- bác: anh, chị của bố mẹ
bác: chưng cất
bác: phủ định
bác: bố (Bác mẹ em nghèo)
(Tài liệu giảng dạy của trường Đại học Vinh - Chu Thị Thủy An)
Trong SGK Tiếng Việt, lớp 5 - NXB Giáo dục cũng đã nêu khái niệm từđồng âm và từ nhiều nghĩa, khái niệm là vậy nhưng vận dụng để giải quyết các
Trang 7bài tập phân biệt nghĩa của từ không phải học sinh nào cũng làm được một cách
dễ dàng Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 nhiều năm liền, tôi nhận thấyviệc rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn luyện
từ và câu cho học sinh là rất quan trọng
II Thực trạng vấn đề.
1 Thuận lợi.
Trường Tiểu học Đông Sơn nằm phía Đông Bắc của thị xã, trước kia trườngđược biết đến với tên gọi Trường Tiểu học Lam Sơn 2, sau khi phường Đông Sơnđược thành lập trường được mang tên mới phù hợp với địa danh của phường Hiệntại nhà trường đã có khu phòng học 2 tầng, khu nhà hiệu bộ, khu nhà bán trú đượcthiết kế đúng tiêu chuẩn phù hợp với học sinh tiểu học, phòng học đã có máy chiếuthuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Nhìn chung cơ sởvật chất đảm bảo cho việc dạy và học Chất lượng học sinh của trường luôn đượcchú trọng và nâng cao do Ban giám hiệu nhà trường có năng lực chuyên môn vànăng lực quản lí tốt Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độchuẩn trở lên, nhiệt tình trong công tác Các em học sinh chăm ngoan, tích cực thamgia các hoạt động học tập Nhà trường có bề dày truyền thống trong công tác giảngdạy: Năm 2014 - 2015 trường đạt được nhiều thành tích xuất sắc và được UBNDtỉnh Thanh Hóa trao cờ thi đua, năm học 2015 - 2016 nhà trường vinh dự được Thủtướng Chính phủ tặng bằng khen, đến năm học 2016 - 2017 trường Tiểu học ĐôngSơn đã chính thức được công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn II
Tất cả các yếu tố trên chính là động lực giúp tôi không ngừng học hỏi vànghiên cứu tìm ra các biện pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học các mônhọc nói chung và mảng kiến thức phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trongphân môn Luyện từ và câu nói riêng
2 Khó khăn.
2.1 Về học sinh.
Trong năm học này, tôi được phân công dạy lớp 5A, lớp có 25 em họcsinh Chất lượng học sinh trong lớp được đánh giá là thấp hơn so với lớp 5B và5C Đa và số học sinh trong lớp là con em các gia đình thuần nông, gia đìnhcông nhân và gia đình buôn bán nhỏ lẻ của thôn Sơn Nam, thôn Trường Sơn ,một số em bố mẹ đi làm ăn xa nhà phải ở nhà với ông bà như em Thuyết, emĐịnh Một số em bố mẹ đi làm trong nhà máy Giày da, Công ty May 10 từ sángsớm đến tối mới về như em: Giang, Đại, Cường, Phúc ,sự quan tâm của cha mẹcòn hạn chế phần nào làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh
Trong thực tế, học sinh hoàn thành bài tập về từ đồng âm nhanh và ít saihơn khi làm các bài tập về từ nhiều nghĩa, cũng có thể do từ nhiều nghĩa trừutượng hơn Đặc biệt khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng
âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúngtúng và làm bài chưa đạt yêu cầu Ban đầu, khi học từng bài về từ đồng âm, từnhiều nghĩa thì phần đa các em làm được bài, song khi làm các bài tập lồng ghép
để phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì học sinh chưa hoàn thành nhiều hơn
Trang 8Những khó khăn mà học sinh lớp 5A của tôi thường gặp phải trong quátrình làm bài tập vận dụng đó là:
- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn giải nghĩa từ sai,diễn đạt lúng túng và còn lủng củng
Ví dụ: Khi học bài tập đọc: Lập làng giữ biển (Sách TV 5, tập 2, trang 36), em Mai Hằng đã hiểu từ vàng lưới là: lưới đánh cá có gắn vàng.
- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, định tính Nhiềuhọc sinh còn chưa phân biệt được đâu là nghĩa gốc, đâu là nghĩa chuyển của từnhiều nghĩa Ngoài thời gian được đọc sách tại thư viện nhà trường các em ítđọc sách ở nhà nên vốn từ hạn chế
Ví dụ: Trong bài tập chính tả: Anh hùng núp tại Cu - ba (Sách TV 5, tập 1,trang 47), có câu: ‘‘Anh Hùng Núp thấy người Cu - ba giống người Tây Nguyên mình quá, cũng mạnh mẽ, cũng sôi nổi, bụng dạ hào phóng như cánh
cửa bỏ ngỏ, thích nói to và đặc biệt thích nhảy múa’’ Một nửa số học sinh trong
lớp không hiểu nghĩa chuyển của từ bụng dạ.
- Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa: chưa chính xác, chưahay, chưa đúng với nét nghĩa yêu cầu Chính vì vậy các em vận dụng viết đoạnvăn còn rời rạc, các câu văn chưa liên kết ý
Ví dụ: Em Mai Hậu viết đoạn văn tả con đường từ nhà đến trường như
sau: ‘‘Con đường từ nhà em đến trường là đường phố Hai bên lề đường có hàng cây hoa sữa và hàng cây bằng lăng thẳng tắp Vượt lên trên vòm lá là con đường điện chạy thẳng về xóm Trường Sơn ’’ (thêm con vào đường điện làm
cho cách dùng từ không hợp lí)
2.2.Về giáo viên
Qua thực tế giảng dạy của bản thân và dự giờ của hai đồng chí giáo viên lớp5C và 5B tại trường tiểu học Đông Sơn, tôi nhận thấy việc dạy từ đồng âm và từnhiều nghĩa còn tồn tại: Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đềulàm đúng vai trò hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tiếp cận kiến thức trong SGK.Tuy nhiên do thời lượng 1 tiết học có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệphân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học Do đó, sau các bài học
đó học sinh chỉ nắm được kiến thức về nội dung học một cách tách bạch
2.3 Về nội dung chương trình.
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, mảng kiến thức từ đồng âm và từnhiều nghĩa rất quan trọng trong phân môn luyện từ và câu đã được đưa vàogiảng dạy ngay từ những tuần đầu nhưng số tiết rất ít, cụ thể như sau:
* Từ đồng âm: Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được
học khái niềm về từ đồng âm Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinhphân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm (Tiết thứ 2 về từđồng âm được trình bày ở trang 61, tuần 6 của TV lớp 5 tập 1 đã được giảm tảitheo công văn 5842/BGDĐT ngày 1tháng 9 năm 2011), vì thế thời lượng còn ít [1]
* Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần
8 Học sinh được học khái niệm về từ nhiều nghĩa Các bài tập chủ yếu là phânbiệt các từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nétnghĩa khác nhau của một từ.[1]
Trang 9Mặt khác từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thứcgiống nhau, đọc giống nhau, viết cũng giống nhau chỉ khác nhau về ý nghĩa Tuykhó phân biệt nhưng dạng bài tập về phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa không
có trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế.[1]
3 Kết quả của thực trạng.
Sau khi học sinh lớp 5A làm bài kiểm tra của tuần 10 (tuần ôn tập và kiểmtra), tôi tổng hợp kết quả và phát hiện nhiều học sinh không hoàn thành câu hỏitìm từ đồng âm, tìm từ nhiều nghĩa trong phần kiểm tra đọc hiểu
Tôi đã ra đề khảo sát mảng kiến thức này (Ngữ liệu để ra đề tôi sưu tầm tại trang mạng Tài liệu.vn và vở Bài tập TV5 – tập 1, Nhà XB Giáo dục):
Bài 1:Khoanh tròn vào chữ cái trước dòng có từ nhiều nghĩa dưới đây:
a đàn gà mới nở - hoa nở - nở nụ cuời
b vàng ươm - vàng hoe - vàng tươi
c thơ thẩn - thơ ca - thơ ngây
Bài 2: Khoanh tròn vào chữ cái trước cặp từ đồng âm dưới đây:
a vỗ bờ - vỗ tay
b vách đá - đá bóng
c mắt cá - mắt lưới
d lưng núi - đau lưng
Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm,
những từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau? Đánh dấu x vào ô thích hợp
âm
Quan hệ nhiều nghĩa
- Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Cô ấy có tấm lòng vàng.
- Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để
chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản
- Cô ấy có tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để
chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản
Tôi lựa chọn đề bài trên bởi đó là dạng đề tổng hợp được kiến thức cầnkhảo sát, đồng thời các sự vật được nhắc tới trong ngữ liệu rất gần gũi trong đờisống của học sinh, các em đã được học
Kết quả thu được như sau:
Trang 10Với kết quả như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại và tôi đã tìm biệnpháp giải quyết những khó khăn trên
III Các biện pháp giải quyết vấn đề.
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung vànâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu cụ thể là mảng kiến thức từđồng âm và từ nhiều nghĩa của lớp 5, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:
1 Biện pháp 1: Nghiên cứu kĩ nội dung, cấu trúc chương trình của mảng kiến thức này.[1]
Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung, cấu trúc chương trình của mảng kiếnthức này, bám sát yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng và công văn5842/BGDĐT ngày 1/9/2011 về giảm tải chương trình Tiểu học để thiết kế bàidạy sao cho đảm bảo việc dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổicủa học sinh của địa phương, giúp các em tự tin trong học tập
1.1 Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:
* Từ đồng âm: Là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa
(theo SGK TV5 - tập 1 - trang 51)
Ví dụ về từ đồng âm:
“- kiến bò: bò chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền bằng cử
động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn
- trâu bò: bò chỉ loài động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có màu
vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa
- đầm sen: đầm chỉ khoảng trũng rộng và sâu giữa đồng để giữ nước.
- bà đầm: chỉ đàn bà, con gái phương Tây.
- cái đầm đất: chỉ vật nặng, có cán dùng để nện đất cho chặt.”[4]
Đối với giáo viên tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trongsách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hayhơn 2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữachúng không có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau)
như trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn có 5 câu” là từ
đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các từ giống nhau
về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt độngchuyển hóa từ loại của từ)
Ví dụ: a) + cuốc (danh từ): cái cuốc;
lý do gì), do từ vay mượn trùng với từ có sẵn (đầm sen, bà đầm, la mắng, nốt la),
do từ rút gọn trùng với từ có sẵn (hụt mất hai ly, cái ly, hai ký, chữ ký ).
Trang 11Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của
từ hoặc dùng với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm.[4]
* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa
chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau
(SGK Tiếng Việt 5 - trang 67).
Ví dụ:
- Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt).
Từ “mắt” mang nghĩa gốc
- Từ “mắt” trong câu “quả na mở mắt” mang nghĩa chuyển
Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiệntượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tếkhách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa
có mối liên hệ mật thiết với nhau
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiềunghĩa với từ một nghĩa Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạtmột khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa.Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật, hiệntượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa
Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ),người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng,tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vẩt ấy Từ chỗ gọi tên sự vật, tínhchất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành độngkhác nghĩa ( nghĩa 2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó
Ví dụ: Chín (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển caonhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng
Chín (2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự
phát triển cao nhất (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
Chín (3) Sự thay đổi màu sắc nước da (ngượng chín cả mặt)
Chín (4) Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm (cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải, miêu
tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa.Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở:
* Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có ba dạng sau:
+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thứcgiữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan vềhình dáng
Ví dụ: mũi 1 (mũi người) và mũi 2 (mũi thuyền): miệng 1 (miệng cười tươi)
và miệng 2 (miệng bát)
+ Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức
năng, của các sự vật, đối tượng
Ví dụ: cắt 1 (cắt cỏ) với cắt 2 (cắt quan hệ).
+ Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác động củacác sự vật đối với con người
Ví dụ: đau 1 (đau bụng) và đau 2 (đau lòng)
* Theo cơ chế hoán dụ có tác dụng
Trang 12+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
Ví dụ: chân 1 , tay 1 , mặt 1 là những tên gọi chỉ bộ phận của cơ thể người,
được chuyển sang chỉ cái toàn thể (Anh ấy có chân 2
trong đội bóng Tay 2 bảo vệ
của nhà máy Xi măng Bỉm Sơn có mặt 2trong hội nghị.)
+ Dạng 2: nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa
Ví dụ1: Nhà 1 Là công trình xây dựng (Tôi chuẩn bị làm nhà.)
Nhà 2 là gia đình (Cả nhà đã có mặt.)
Ví dụ 2: Thúng1: Đồ vật dùng để đựng đan bằng tre hoặc nứa
(Cái thúng này to quá!)
Thúng2 : Chỉ đơn vị (Tôi phải trả nợ hai thúng lúa.)
Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học sinh nắm vững cácthành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu cầu học sinh phảigiải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác định được nghĩagốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm được một
số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa.[1]
1.2 Nắm vững phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
* Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm Giáo viên tổchức các hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh pháthiện các hiện tượng về từ ở các bài tập từ đó rút ra được những kiến thức về từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa Bước tiếp theo giáo viên tổng hợp kiến thức như nội dung phần ghinhớ Đến đây, nếu là HS thường hoàn thành tốt các bài tập, GV có thể cho các em lấy ví
dụ về hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa giúp các em nắm sâu và chắc phần ghi nhớ.Chuyển sang phần luyện tập, giáo viên tiếp tục tổ chức các hình thức dạy học để giúphọc sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập Sau mỗi bài tập giáo viên lại củng cố,khắc sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học, liên hệ thực tế và liên hệ tới các kiếnthức đã học của phân môn LTVC nói riêng và tất cả các môn học nói chung
Trong quá trình dạy học các bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viêncần sử dụng đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàngphân biệt nghĩa của từ Tại phòng học lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn đã cómáy chiếu nên rất thuận lợi cho việc sử dụng hình ảnh trực tiếp để giúp HS nhận
biết mảng kiến thức này Khi dạy tôi đã sử dụng một số tranh, ảnh sau (tranh, ảnh sưu tầm trên trang điện tử Thư viện Tư liệu giáo dục (tulieu.violet.vn)):
- Dạy bài: Từ đồng âm - Sử dụng ảnh (1) và ảnh (2) cho bài tập 1 trang 52sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 - tập 1
(2) đá bóng
Nếu không có tranh thì học sinhlúng túng trong việc diễn đạt cáchhiểu của mình Do vậy, tôi cho các
Trang 13em quan sát tranh các em sẽ nêu được nét nghĩa của từ một cách dễ dàng màkhông mất nhiều thời gian.
- Dạy bài: Từ nhiều nghĩa (trang 66 - SGK Tiếng Việt 5, tập 1), tôi sửdụng ảnh (3), ảnh (4) để giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức mới trongphần nhận xét
- Sau bài: Từ đồng âm và bài Từ nhiều nghĩa cần có bài tập để học sinh phân
biệt đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau Tôi cho học sinh phân biệt nghĩa
của từ “đường” bằng ảnh (5) đường đi, ảnh (6) đường dây điện, một gói đường
minh họa cho từ đường ngọt.
(5) đường đi (6) đường dây điện
Tóm lại khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cần thực hiệntheo quy trình các bước:
- Bước 1: Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu
bản chất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
- Bước 2: Học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và
nêu định nghĩa
- Bước 3: Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới.
Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung của dạy luyện
từ và câu và cũng vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:
- Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân
- Phương pháp giảng giải - Thảo luận nhóm
- Phương pháp trực quan - Tổ chức trò chơi
- Phương pháp luyện tập thực hành