1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh nghiệm rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 4

15 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 141,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, dạy tập đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học vì nó có cả các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của con người ở thời đại văn minh.. Còn giáo viên lúng túng khi dạy t

Trang 1

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU Trang 2

1.1.Lí do chọn đề tài Trang 2 1.2 Mục đích nghiên cứu Trang 2 1.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 3 1.4 Phương pháp nghiên cứu Trang 3 1.4.1 Phương p háp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn Trang 3 1.4.2 Phương pháp quan sát……… Trang 3 1.4.3 Phương pháp thực nghiệm……….Trang 3 1.4.4 Phương pháp điều tra………Trang 3

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Trang 3 2.2 Thực trạng của việc rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 4 Trang 3

2.2.1 Về phía giáo viên Trang 3 2.2.2 Về phía học sinh……….Trang 4 2.2.3 Về chương trình sách giáo khoa và học sinh lớp 4 Trang 4

2.3 Các giải pháp ……….……… Trang 5

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… Trang 13 3.1 Kết luận……… Trang 13

3.2 Kiến nghị……… Trang 14

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài.

Đọc là một phân môn của chương trình Tiếng việt bậc Tiểu học Phân môn Tập đọc có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho HS kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của HS ở bậc học đầu tiên trong chương trình phổ thông Biết đọc, con người biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn học, con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức, mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, bồi dưỡng tâm hồn Đọc trở thành đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với những người đi học Đầu tiên các em phải học đọc, sau đó phải đọc để học Đọc giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập các môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập suốt đời Đó là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh Dạy đọc cho HS sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng cho các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgíc, cũng như tư duy trìu tượng

Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà

xã hội dành cho họ, không thể hình thành một nhân cách toàn diện.Trong xã hội bùng nổ thông tin thì biết đọc càng quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta sử dụng các nguồn thông tin Vì vậy, dạy tập đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học vì

nó có cả các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của con người ở thời đại văn minh

Việc dạy Tập đọc ở các trường Tiểu học hiện nay bên cạnh những thành công vẫn còn nhiều hạn chế Một số học sinh chưa đọc được như mong muốn, chưa hiểu được tư tưởng tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản được đọc Còn giáo viên lúng túng khi dạy tập đọc, nặng về truyền đạt, quen sử dụng phương pháp truyền thống, không kích thích được hứng thú học tập của học sinh tham gia tìm hiểu, xây dựng cách đọc bài Học sinh đọc bài tự do không diễn cảm.Với ý nghĩa quan trọng của phân môn Tập đọc và thực trạng về phương pháp dạy - học Tập đọc ở các trường Tiểu học hiện nay, là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy nhiều năm ở lớp 4 tôi luôn trăn trở tìm ra biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học.Tôi mạnh dạn chọn phân môn Tập đọc để nghiên cứu việc đổi mới phương pháp dạy - học Tập đọc ở Tiểu học Đó cũng là lý do tôi

chọn đề tài: “ Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 4 trong giờ Tập đọc ”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

- Tìm ra phương pháp dạy đọc tốt nhất để giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc

- Củng cố, nâng cao kĩ năng đọc cho HS: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc ngày càng thành thạo ở cả hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm

Trang 3

- Mở rộng vốn hiểu biết trau dồi vốn Tiếng việt, vốn văn học, phát triển tư duy, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh Đáp ứng với mục tiêu

đào tạo của bậc Tiểu học: “ Giáo dục con người phát triển toàn diện”.

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Biện pháp rèn đọc thành tiếng cho HS lớp 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn.

-Nghiên cứu tài liệu tâm lý học sinh tiểu học; sách hướng dẫn giảng dạy Tiếng việt 4; phương pháp dạy học các môn ở tiểu học và kết quả đọc của các năm trước

- Thu thập kết quả đọc của các lớp thông qua GV chủ nhiệm lớp 4-Trường tiểu học Hoàng Hoa Thỏm

1.4.2 Phương pháp quan sát.

- Quan sát tư thế ngồi đọc, đứng đọc, cách cầm sách khi đọc và giọng đọc của HS

1.4.3 Phương pháp thực nghiệm :

- Thực nghiệm giảng dạy theo các phương pháp đề xuất trong đề tài, so sánh, đối chiếu để thấy tính ưu việt của đề tài

1.4.4 Phương pháp điều tra

- Điều tra thực trạng đọc và những sai lầm chủ yếu của học sinh khối 4 Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thỏm

- Dự giờ thăm lớp.- Đàm thoại trực tiếp với GV khối 4

- Ra đề kiểm tra chất lượng đọc của HS

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận

Phương pháp dạy đọc phải dựa trên những cơ sở khoa học, những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, văn học, sư phạm học, tâm lý ngữ học để xây dựng, xác lập nội dung và phương pháp dạy học

Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương tiện Thứ nhất, đó là quá trình vận động bằng mắt, sử dụng bộ mã chữ- âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Quá trình này được gọi là quá trình đọc thành tiếng Thứ hai, đó là sự vận động tư tưởng, tình cảm sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa con người và ý tưởng,các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu

Mục đích của quá trình đọc thành tiếng là chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các kí hiệu văn tự âm thanh Vì vậy, chất lượng của đọc thành tiếng trước hết được đo bằng hai phẩm chất Đọc đúng, đọc nhanh( lưu loát, trôi chảy) Đó cũng là hai kĩ năng đầu tiên của đọc

2.2 Thực trạng của việc rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 4 :

2.2.1 Về phía giáo viên.

Trang 4

Trong những năm học qua, các trường đều được học về vấn đề “ Đổi mới

sách giáo khoa Tiếng việt” Mỗi năm giáo viên đều học chuyên đề dạy Tiếng

việt theo phương pháp mới “ Lấy học sinh làm trung tâm” Các chuyên đề “ Đổi

mới phương pháp dạy Tập đọc lớp 2, 3, 4, ”.

Nhà trường còn được tiếp thu chương trình BDTX của Bộ Giáo dục - Đào tạo

về “ Thực hiện đổi mới phương pháp dạy - học”.

Phòng giáo dục tổ chức chuyên đề cụm về việc đổi mới phương pháp dạy học Nhưng trên thực tế ở các trường Tiểu học vẫn còn một số giáo viên lại đi sâu

vào giảng từ ngữ, biến giờ Tập đọc thành giờ “Giảng văn” nặng nề, không phù

hợp đối tượng học sinh Thời gian luyện đọc ít, áp đặt cách đọc để học sinh phải đọc thụ động, ít gợi ý để học sinh khám phá, tìm hiểu cách đọc, dẫn đến HS đọc chưa tốt

- Phương tiện trực quan chủ yếu trong tiết Tập đọc là ngôn ngữ của giáo viên và bài tập đọc trong sách giáo khoa, tranh màu phóng to minh hoạ và một số vật thật hoặc mô hình để giảng từ và ý chưa được sử dụng thường xuyên, triệt để Một số GV nói tiếng địa phương nên giọng đọc chưa chuẩn, chưa hay

2.2.2.Về phía học sinh:

- Đầu năm 2014- 2015, tôi được phân công giảng dạy lớp 4b Tổng số HS lớp là

36 em , trong đó có 20 nam và 16 nữ Khi nhận lớp, sau khi tìm hiểu gia đình,

ổn định tổ chức lớp, tôi bắt đầu khảo sát chất lượng đầu năm hai môn Tiếng Việt, Toán cho cả HS khối 4 để nắm bắt năng lực của HS Môn tiếng việt, phần đọc thành tiếng tôi yêu cầu HS đọc một đoạn văn trong bài: (TV3-T2) Riêng phần đọc thành tiếng của lớp tôi và các lớp trong khối tôi chưa hài lòng lắm vì

HS đọc chưa đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi chưa chính xác, một số tiếng phát âm chưa chuẩn Vì vậy, chất lượng đọc đầu năm của lớp 4b, và các lớp trong khối đạt kết quả sau :

Lớp Sĩ số

Mức độ đọc thành tiếng

Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 – 6 4A 36 8 22,2% 17 47,2% 11 30,6% 4B 36 8 22,2% 16 44,4% 12 33,4% 4C 38 7 18,9% 18 51,3% 13 29,8% 4D 37 7 18,3% 19 51,3% 11 30,4% 4E 38 8 21% 18 47,3% 12 31,7%

2.2.3 Về chương trình sách giáo khoa và học sinh lớp 4

- Năm học 2006-2007, lớp 4 bắt đầu thay SGK, mỗi tuần có 2 bài tập đọc dạy trong 2 tiết Về ND các bài tập đọc ở lớp 4 xoay quanh 10 chủ điểm sau :

1- Thương người như thể thương thân 6-Người ta là hoa đất

2- Măng mọc thẳng 7- Vẻ đẹp muôn màu

3- Trên đôi cách ước mơ 8- Những người quả cảm 4- Có chí thì nên 9- Khám phá thế giới

5- Tiếng sáo diều 10- Tình yêu cuộc sống

- Bài tập đọc ở sách Tiếng việt lớp 4 gồm các phần: tranh minh hoạ, văn bản ( Bài văn, bài thơ hoặc kịch), chú giải, phần tìm hiểu bài Phần tìm hiểu bài gồm

Trang 5

những câu hỏi, bài tập giúp học sinh hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của bài văn, bài thơ ở nhiều bài còn có yêu cầu học thuộc lòng rất thuận lợi cho người dạy- người học Mặt khác cấu trúc bài tập ở Sách giáo khoa Tiếng việt mới không có phần hướng dẫn đọc giống sách giáo khoa cũ, điều này giúp học sinh

tự khám phá, tìm tòi giọng đọc không áp đặt theo hướng dẫn

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Hiện nay trong một lớp trình độ học sinh không đồng đều Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã phân loại để nắm được trình độ của HS, từ đó có kế hoạch luyện đọc cho từng em

Từ điều tra cụ thể trên, ta thấy được chất lượng đọc thực tế còn rất thấp Để khắc phục tình trạng này, qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi đã đúc rút kinh nghiệm và năm học 2015-2016 tôi tiếp tục áp dụng vào lớp 4E, trao đổi cụ thể

một số giải pháp với GV bộ môn để cùng áp dụng về " Rèn kỹ năng đọc thành

tiếng cho học sinh lớp 4" nhằm nâng cao kỹ năng đọc đúng, đọc hay và diễn

cảm

Giải pháp 1: Chuẩn bị cho việc đọc.

Giáo viên:

- GV phải luyện đọc bài nhiều lần ở nhà để có giọng đọc chuẩn.

- GV cần nắm chắc mục đích , yêu cầu của bài học

- Có kế hoạch cụ thể cho bài học, lựa chọn hệ thống câu hỏi

- Chuẩn bị đồ dùng dạy học như vật thật, bảng phụ có ghi câu văn, đoạn văn cần hướng dẫn đọc

Chú ý đến tư thế đọc của HS khi ngồi đọc, khoảng cách từ sách đến mắt là 30

-35cm

Học sinh:

- Đọc trước bài nhiều lần Tìm hiểu cách đọc, giọng đọc của câu, đoạn, bài Lựa

chọn ý kiến trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa

- Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, tự tin không hấp tấp Tư thế đọc phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay

Giải pháp 2: Đọc mẫu của giáo viên

Việc rèn luyện nói, đọc đúng chính âm biết xây dựng ngôn ngữ thân thiện, thanh lịch chính là xây dựng nét văn hóa trong giao tiếp là xây dựng nét mô phạm cao quý cho mỗi người thầy Mọi lời nói, viết, đọc của người thầy phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Vì thế việc đọc mẫu của người thầy, theo tôi cần đạt được những yêu cầu sau:

- Giáo viên đọc đúng chính âm, không mắc lỗi về thanh điệu ( dấu hỏi/ ngã) Phụ âm đầu r/d/gi; s/x; ch/tr và vần có nguyên âm đôi iê, uô, ươ; không dùng các

từ địa phương( trừ việc cần thể hiện bản sắc xứ Thanh trong tác phẩm nghệ thuật)

- Loại bỏ các lỗi lệch chuẩn( dùng từ, phát âm) khi đọc

Đọc hay, diễn cảm, nhấn giọng thể hiện đúng lời nhân vật, sắc thái tình cảm trong đoạn văn, bài văn; phát huy được tinh hoa đặc sắc trong từ ngữ, giọng điệu

Trang 6

Để đạt được yêu cầu trên tôi có những biện pháp thực hiện sau:

- Nắm chắc nội dung, yêu cầu của bài đọc

- Nắm được thể loại bài kể chuyện hay kịch, thơ, văn xuôi để có cách đọc đúng

- Luyện đọc bài nhiều lần ở nhà để có giọng đọc chuẩn

- Tìm hiểu và học cách đọc chuẩn tiếng phổ thông của các phát thanh viên trên đài truyền hình VTV1

- Luyện hơi thở để có giọng đọc hay

- Khi đọc nhấn mạnh bằng ngữ điệu đọc

- Tư thế đứng thẳng, đầu thẳng, tay cầm sách cách mắt 35- 40cm, đưa mắt giao lưu với học sinh gây sự cuốn hút học sinh nghe và chú ý bài đọc

Giải pháp 3: Rèn cho học sinh đọc đúng.

- Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không

có lỗi Đọc đúng là không đọc thừa, không đọc bỏ tiếng, phát âm, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ và đọc đúng giọng bài văn

* Cách thực hiện:

+ Đối với HS phát âm sai:

- Trước khi lên lớp, tôi dự tính các lỗi mà học sinh trong lớp dễ mắc, những từ

có chứa âm vần khó trong bài để luyện đọc trước và chữa lỗi phát âm sai bằng biện pháp luyện theo mẫu hay biện pháp cấu âm rồi kết hợp giải nghĩa từ khó.Việc giải nghĩa từ sẽ giúp các em có khái niệm ban đầu về đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật Từ đó, khi đọc bài, các em sẽ biết chú ý tìm hiểu và thưởng thức vẻ đẹp của ngôn từ trong văn bản cũng như sức sáng tạo vô tận của nhà văn mà có giọng đọc phù hợp

Ví dụ : Khi dạy bài : “Người ăn xin” - (TV 4 T1).

Trước tiên tôi cho HS đọc thầm và nêu ra những từ khó đọc, tôi kết hợp ghi

lên bảng: "sưng húp, run rẩy, rên rỉ" Đây là lỗi phổ biến mà địa phương Thanh

Hoá thường mắc phải đọc sai phụ âm s, r Sau đó tôi cho HS luyện đọc cá nhân

để bạn nhận xét Nếu HS vẫn đọc sai tôi đọc mẫu và hướng dẫn cách phát âm từng tiếng sau đó cho HS đọc lại, nếu cần thiết tôi cho cả lớp đọc đồng thanh Tiếp theo tôi cho HS đọc theo đoạn Học sinh A đọc đoạn 1, học sinh B nhận xét phát hiện tiếng, từ bạn đọc sai rồi tôi cho học sinh A đọc lại cho đúng từ Sau đó tôi gọi 2 đến 3 em hay mắc lỗi phát âm sai như học sinh A đọc lại Hoặc khi HS đọc tôi theo dõi, nếu thấy HS đọc sai chỗ nào tôi cho HS dừng đọc và đọc lại tiếng từ phát âm chưa đúng đó Việc làm này cần phải tiến hành thường xuyên ở tất cả các bài tập đọc Khi đọc sai tiếng, từ trong văn bản người nghe sẽ hiểu sai ý của tác giả Vì vậy đọc đúng văn bản là rất cần thiết

+ Đối với học sinh đọc còn bỏ dòng, ngập ngừng chưa đúng tốc độ:

Nguyên nhân là các em chưa chuẩn bị bài ở nhà, chưa biết làm chủ tia mắt, chưa biết lấy hơi đúng chỗ Vì vậy, tôi luyện cho HS làm chủ tia mắt bằng cách

GV đọc mẫu rồi cho HS luyện đọc theo để đảm bảo tốc độ Hay đọc đồng thanh

cả lớp để giúp HS đọc không bỏ sót tiếng, không lạc dòng.Tôi dạy các em phải biết kết hợp chỗ ngừng nghỉ để lấy hơi và nuốt nước bọt, vì nước bọt nhiều

Trang 7

trong miệng phát âm sẽ không rõ ràng Tôi còn yêu cầu các em đọc bài nhiều lần

ở nhà và giao đọc thêm các văn bản khác trong trương trình tiểu học

+ Đối với học sinh đọc ngắt, nghỉ hơi; các kiểu câu chưa đúng:

Khi đọc ngừng nghỉ tùy tiện dẫn đến hiểu lệch về ý nghĩa Đọc sai kiểu câu

sẽ không thể hiện đúng ý nghĩa, cảm xúc cần có trong văn bản

Ví dụ: Trong bài “Dòng sông mặc áo” của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (Tiếng

việt 4.T2) học sinh đọc :

Khuya rồi sông/ mặc áo đen

Nép trong rừng bưởi lặng yên/ đôi bờ

Sáng ra thơm đến/ ngẩn ngơ

Dòng sông đã mặc/ bao giờ áo hoa

Khi ngắt nhịp như khổ thơ trên, người nghe không còn thấy hay mà hình ảnh

ở đây trở nên bình thường không sâu sắc, ý thơ không chặt chẽ Nếu học sinh ngắt nghỉ nhịp thơ đúng như sau:

Khuya rồi/ sông mặc áo đen

Nép trong rừng bưởi/ lặng yên đôi bờ

Sáng ra/ thơm đến ngẩn ngơ

Dòng sông đã mặc bao giờ/ áo hoa

Dòng sông được nhân hoá, trở nên điệu đà , thích làm đẹp, làm duyên như thiếu

nữ Ban đêm, dòng sông đã “ nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ”, nên sáng ra, sông mới mặc aó hoa, mùi thơm của áo mới, làm “ ngẩn ngơ” lặng người như

thế đó

Vì lí do trên mà tôi hướng dẫn HS đọc ngắt, nghỉ như sau:

*Đối với văn xuôi :

+ Ngắt sau dấu phẩy : nghỉ ngắn

+ Ngắt sau dấu chấm: nghỉ dài, hạ thấp giọng

+ Ngắt sau dấu hỏi: cao giọng

+ Ngắt sau dấu chấm lửng: kéo dài hoặc hơi ngừng giọng(đứt quãng)

* Còn đọc thơ tôi hướng dẫn HS cần đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để thể hiện sắc thái tình cảm, ý tưởng của tác giả gửi gắm trong bài thơ

Thời gian ngắt nghỉ sau mỗi dấu câu, ý thơ là khác nhau và rất quan trọng, nó giúp người đọc hiểu nội dung văn bản.Vì vậy, tôi hướng dẫn học sinh dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng Ngắt giọng

mà tách một từ ra làm hai, tách từ chỉ loại với danh từ, tách danh từ ra khỏi định ngữ đi kèm, ngắt giọng sau một hư từ là sai

Ví dụ : Khi đọc bài “Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa ”- (TV4-T2)

Học sinh đọc “ Ông được Bác Hồ/ đặt tên mới là/ Trần Đại Nghĩa và giao

nhiệm vụ/ nghiên cứu chế tạo vũ khí phục vụ cuộc/ kháng chiến chống thực dân Pháp //.

- Tôi chép câu văn lên bảng và giúp học sinh nhận ra chỗ ngắt giọng sai và thiếu kết hợp giải thích sai vì sao rồi nêu cách sửa lại Sau đó tôi treo bảng phụ chép sẵn câu văn đã ngắt sẵn để HS đối chiếu như sau:

Trang 8

“ Ông được Bác Hồ đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa/ và giao nhiệm vụ nghiên

cứu chế tạo vũ khí/ phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp //.

- Sau đó tôi yêu cầu học sinh đọc lại để so sánh hai cách xem cách đọc nào đúng

Hay: Trong bài : “Trung thu độc lập” ( TV 4 – tập 1)

Học sinh đọc như sau:

Đêm nay anh đứng gác ở trại/ Trăng ngàn và gió núi bao la khiến lòng anh man mác/ nghĩ tới trung thu và nghĩ tới các em.

- Tôi đọc lại câu văn và yêu cầu học sinh lắng nghe, phát hiện chỗ cô giáo ngắt giọng :

Đêm nay/ anh đứng gác ở trại Trăng ngàn và gió núi bao la /khiến lòng anh

man mác nghĩ tới trung thu/ và nghĩ tới các em.

Ngoài những cách làm trên, trong giờ tập đọc tôi thường dùng cách phát huy khả năng của HS khá, giỏi bằng cách treo bảng phụ viết sẵn câu văn, thơ yêu cầu 1 HS khá hoặc giỏi lên bảng đánh dấu chỗ ngắt, nghỉ và đọc mẫu để các bạn trong lớp nhận xét, rồi thống nhất cách đọc đúng

Ở đâu/ tre cũng/ xanh tươi

Cho dù /đá sỏi/ đá vôi /bạc màu

Có gì đâu/ có gì đâu

Mỡ màu ít /chắt dồn lâu /hoá nhiều

"Tre Việt Nam ”(TV4- T1) Câu thơ lục bát ở trên ngắt theo nhịp 2/2, đến câu thơ sau đổi thành nhịp 3/3

Đối với bài thơ, tôi hướng dẫn HS chú ý ngắt, nghỉ đúng với nhịp của từng

dòng thơ

Ví dụ: Khi đọc bài:" "Tre Việt Nam ”(TV4- T1)

Khổ thơ cuối bài đột ngột thay đổi cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng tôi hướng dẫn HS đọc như sau:

Mai sau/

Mai sau/

Mai sau/

Đất xanh tre/ mãi xanh màu/ tre xanh

Hay : Những bài thơ ở thể thơ lục bát, nhịp thơ phổ biến là 2/4 và 4/4 Tuỳ

từng bài thơ, tôi lưu ý HS khi đọc phải chú ý tới âm điệu và nhịp thơ để ngắt cho đúng

Tôi hướng dẫn HS ngắt nghỉ như sau:

“Đường non /khách tới/ hoa đầy (2/2/2)

Rừng sâu quân đến/ tung bay chim ngàn (4/4)

Việc quân/ việc nước /đã bàn (2/2/2) Xách bương/ dắt trẻ/ ra vườn/ tưới rau (2/2/2/2)

(Không đề – TV4 T2)

Nhác trông/ vắt vẻo trên cành (2/4)

Trang 9

Một anh gà trống/ tinh ranh lõi đời (4/4)

Cáo kia/ đon đả ngỏ lời (2/4) Kìa anh bạn quý/ xin mời xuống đây (4/4)

( Gà Trống và Cáo – TV4 T1)

- Sau khi HS ngắt nhịp xong, tôi lưu ý luôn cách đọc: nhịp ngắn khi đọc cần đọc nhanh thể hiện sự dồn dập 2/2/2; nhịp dài 4/4 cần đọc chậm thể hiện tình cảm sâu lắng, trầm tĩnh

- Đặc biệt đối với những bài ở thể thơ tự do, thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ học sinh phải chú ý tới vần, nhịp để ngắt, nghỉ đúng Cụ thể như:

Không có kính/ không phải vì xe không có kính

Nhìn thấy gió/ vào xoa mắt đắng

Thấy con đường/ chạy thẳng vào tim

Không có kính/ ừ thì ướt áo

Mưa ngừng/ gió lùa/ mau khô thôi

( Bài thơ về tiểu đội xe không kính- TV4T2)

Như vậy, từ một số biện pháp trên tôi đã giúp học sinh dần dần có ý thức tìm hiểu cách đọc đúng và tự tin hơn khi đọc

Giải pháp 4: Hướng dẫn tốc độ đọc cho học sinh

Như chúng ta đã biết, đối với học sinh Tiểu học, việc rèn cho các em đọc lưu

loát cần phải có thời gian và lòng kiên trì Đọc lưu loát là nói đến phẩm chất đọc

về mặt tốc độ, đọc không ê a, ngắc ngứ Tốc độ đọc nhanh chỉ thực hiện khi đã đọc đúng, khi đọc phải chú ý xác định tốc độ để cho người nghe hiểu kịp được

Nhưng đọc nhanh ở đây không phải là đọc liến thoắng Tốc độ đọc thành

tiếng của lớp 4 là 120 tiếng / phút Song không phải cứ đọc nhanh, lưu loát là đọc đúng tốc độ, mà tôi lưu ý HS phải phụ thuộc văn bản, có những chỗ cần đọc nhanh, dồn dập, khẩn trương, có chỗ đọc chậm rãi, nhịp giãn ra

Ví dụ: Khi đọc bài "Tre Việt Nam": Khổ 1 giọng đọc chậm, sâu lắng, gợi suy

nghĩ, liên tưởng, nghỉ hơi ngân dài sau chấm lửng ở dòng thứ 3; khổ 2,3 giọng đọc sảng khoái; khổ 4 ngắt nhịp đều đặn ở các dấu phẩy, tạo âm hưởng nối tiếp, dấu luyến như trong bản nhạc

* Cách thực hiện:

- Tôi hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách giáo viên đọc mẫu hoặc chọn học sinh đã đọc tốc độ chuẩn đọc mẫu để tất cả học sinh đọc thầm theo Ngoài ra, tôi còn dùng biện pháp đọc tiếp nối trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ, đọc có tính thời gian

Ví dụ: Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc một khổ thơ, một đoạn văn

tôi đều nhắc cả lớp đọc thầm theo Học sinh đọc GV cần lắng nghe để đưa ra

một số lệnh như:"Đọc hơi nhanh ; đọc hơi chậm; đọc nhanh hơn; đọc chậm lại

" để HS kịp thời điều chỉnh Nếu HS không điều chỉnh được thì GV đọc mẫu để

HS đọc theo Tôi còn gây hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi như: Thi đọc tiếp sức, đọc thơ truyền điện, …Kết thúc trò chơi bao giờ tôi cũng cho học sinh chọn và tuyên dương nhóm đọc đúng nhất, nhanh nhất, giỏi nhất và rút kinh nghiệm về cách đọc

Trang 10

Mặt khác muốn học sinh đọc lưu loát, đúng tốc độ cần có sự chuẩn bị bài ở nhà tốt, học sinh phải được đọc trước nhiều lần.Vì vậy tôi thường yêu cầu HS đọc trước bài nhiều lần ở nhà Em nào đọc còn chậm tôi giúp học sinh luyện thêm sau giờ học và ở buổi học tăng buổi Ngoài ra, để các em có điều kiện giúp đỡ nhau đọc tốt, trong lớp tôi xếp một em đọc tốt ngồi cùng một em đọc chưa tốt để các em điều chỉnh tốc độ đọc cho nhau mỗi khi đọc theo nhóm

Giải pháp 5 : Rèn cho học sinh có ý thức đọc diễn cảm.

Để đọc diễn cảm được văn bản thì ngoài đọc đúng kiểu câu còn phải đọc đúng kiểu văn bản Đọc đúng kiểu văn bản trước hết phải biết giọng đọc một văn bản công vụ, hành chính, một mẩu tin khác với giọng đọc một văn bản nghệ thuật Đọc văn bản nghệ thuật, giọng đọc truyện khác giọng đọc kịch ,đọc thơ Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn hoặc các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ để biểu đạt đúng nội dung và tình cảm mà tác giả

đã gửi gắm trong bài đọc Đồng thời thể hiện được sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao

và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát

* Cách tiến hành:

Bước 1: Nội dung của bài đọc đã quy định ngữ điệu của nó nên tôi không

bao giờ áp đặt sẵn giọng đọc của mỗi bài mà tôi khuyến khích học sinh tự tìm hiểu và nêu cách đọc và đọc trên cơ sở hiểu từ, hiểu nghĩa Tôi lắng nghe, sửa cách đọc cho từng học sinh.Tôi cũng luôn kích thích, động viên học sinh cố gắng đọc diễn cảm dưới nhiều hình thức khác nhau để tạo sự hứng thú cho các em

Ví dụ: Khi dạy bài: : “Mẹ ốm” ( TV4 – T1).

Tôi yêu cầu học sinh đọc nối tiếp và tự phát hiện ra giọng đọc phù hợp với

mỗi khổ thơ:

- Khổ 1-2: giọng trầm buồn

- Khổ 3: giọng lo lắng

- Khổ 4,5: giọng vui

- Khổ 6,7: giọng thiết tha

Cuối mỗi tiết tập đọc, tôi yêu cầu học sinh đọc lại đoạn văn (hoặc khổ thơ)

mà em thích và nói lên lí do vì sao mình lại thích đoạn văn, khổ thơ đó Hoặc tổ chức thi đọc diễn cảm, đọc phân vai, đóng kịch ( Đối với các tác phẩm có nhiều

lời hội thoại như “Một người chính trực” và “Chú Đất Nung”(TV4) Vì vậy trong

giờ Tập đọc, lớp tôi các em rất thích tham gia đọc diễn cảm

Bước 2: Đọc diễn cảm chỉ có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc Đọc

diễn cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với từng ý cơ bản của bài đọc, phù hợp với kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời nhân vật, lời tác giả

Để đọc diễn cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng làm chủ được tốc độ đọc, làm chủ được cường độ và ngữ điệu Vì vậy, ở mỗi bài tập đọc

Ngày đăng: 14/10/2017, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w