1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 khắc phục một số lỗi sai chính tả

23 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 205 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt việc viết đúng chính tả của học sinh là vô cùng quan trọng.. Chính vì thế, dạy học chính tả là rèn cho học sinh biết quy tắc và có thóiquen viết ch

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 3 KHẮC PHỤC MỘT SỐ LỖI SAI CHÍNH TẢ

Người thực hiện : Trịnh Thị Loan Chức vụ : Giáo viên

Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3

Thạch Thành - Thanh Hóa SKKN thuộc lĩnh vực(môn) : Tiếng Việt

THẠCH THÀNH, NĂM 2016

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài 2

II Mục đích nghiên cứu 2

III Đối tượng nghiên cứu 2

IV Phương pháp nghiên cứu 3

B NỘI DUNG SÁNG KIẾN I Cơ sở lí luận 3

II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 4

III Giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện 5

IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 19

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I Kết luận 20

II Kiến nghị, đề xuất 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

A MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài.

Chất lượng học tập của học sinh hiện nay là vấn đề cần được quan tâm, đặcbiệt là chất lượng học tập của học sinh tiểu học Vì bậc tiểu học là bậc nền móngcủa hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho

sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩnăng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở

Một trong những môn học đóng góp vai trò quan trọng trong trường tiểu học

là môn Tiếng Việt Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ giúp học sinh lĩnh hội được hệthống kiến thức, kĩ năng cơ bản về Tiếng Việt để góp phần đào tạo thế hệ trẻ nănglực sử dụng Tiếng Việt

Môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho họcsinh bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết Thực hiện mục tiêu hình thành và pháttriển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt giúp học tập và giao tiếp trong cácmôi trường hoạt động của lứa tuổi Môn Tiếng Việt cấp tiểu học đã lấy nguyên tắcdạy học giao tiếp làm định hướng cơ bản

Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt việc viết đúng chính tả của học sinh là

vô cùng quan trọng Chữ viết là một hình thức của ngôn ngữ giao tiếp Vì vậy,phân môn Chính tả có vai trò quan trọng ở cấp Tiểu học Học sinh viết đúng, viếtnhanh mới có điều kiện học môn Tiếng Việt và các môn học khác được thuận lợi

Chữ viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ dạng văn bản, là sựmiêu tả lại ngôn ngữ thông qua các ký hiệu hoặc biểu tượng Chữ viết trong mỗi

ngôn ngữ được cấu thành từ bảng chữ cái đặc trưng của ngôn ngữ đó Chữ viết

hiện nay là chữ viết ghi lại theo phát âm vì ngôn ngữ Tiếng Việt thuộc nhóm MônKhơme nên đọc thế nào viết như thế Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng,đọc đúng là cơ sở cho viết đúng

Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi có khác nhau, dochưa nắm chắc những quy tắc chính tả dẫn đến việc viết đúng chính tả trong họcsinh hiện nay nói chung vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy học sinh hiện nay còn nhiều

em mắc lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở mônTiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác Việc rèn cho học sinh ở các lớpđầu cấp khắc phục lỗi chính tả để viết đúng là rất cần thiết Trong quá trình giảngdạy thực tế tôi đã trăn trở tìm ra một số biện pháp giúp học sinh khắc phục được lỗi

chính tả Do đó, tôi mạnh dạn đúc rút sáng kiến kinh nghiệm: “Kinh nghiệm giúp

học sinh lớp 3 khắc phục một số lỗi sai chính tả.”.

II Mục đích nghiên cứu.

Đưa ra các biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh nhằm khắc phục tìnhtrạng sai lỗi chính tả

III Đối tượng nghiên cứu

- Thống kê, phân loại các lỗi chính tả mà học sinh mắc phải

- Phân tích, chỉ ra nguyên nhân của các loại lỗi chính tả đó

- Biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả

- Áp dụng thực tế và rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 4

IV Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết (Đọc tài liệu có liên quan đếncác vần đề cần nghiên cứu; Nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 3, Vở bài tậpTiếng Việt 3, )

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

- Phương pháp thực nghiệm (quan sát, luyện tập, thực hành)

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thu thập, xử lí, đánh giá số liệu

B NỘI DUNG SÁNG KIẾN

I Cơ sở lí luận.

Theo Từ điển Hán Việt: Chính tả là Viết đúng Chính tả là hệ thống các quytắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác chính tả lànhững quy ước của xã hội trong ngôn ngữ đảm bảo cho người viết và người đọcđều hiểu thống nhất nội dung văn bản, là sự quy định có tính chất xã hội, nó khôngcho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính sáng tạo cá nhân

Chính vì thế, dạy học chính tả là rèn cho học sinh biết quy tắc và có thóiquen viết chữ ghi tiếng Việt đúng với chuẩn Kĩ năng chính tả giúp cho người đọcchiếm lĩnh được tiếng Việt, là công cụ để giao tiếp, tư duy và học tập

Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị được ghi bằngmột con chữ, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Đọc như thế nào thìviết như thế ấy, nếu đọc sai thì viết sẽ sai

Lỗi chính tả là lỗi viết sai chuẩn chính tả Lỗi chính tả bao gồm hiện tượng

vi phạm các quy định chính tả về viết hoa, viết tắt, dùng từ, và hiện tượng viphạm diện mạo ngữ âm của từ thể hiện trên chữ viết, tức chữ viết ghi sai từ

Muốn dạy học sinh viết đúng chính tả thì điều kiện tiên quyết là học sinhphải đọc đúng; Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác.Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chungnhưng việc "viết đúng chính tả" đối với học sinh còn mắc nhiều

Muốn viết đúng chính tả cần phải dạy học sinh hiểu đúng nghĩa của từ; quytắc chính tả, mẹo luật chính tả,

Trong giờ học chính tả, học sinh sẽ xác định được cách viết đúng chính tảbằng việc tiếp nhận chính âm thanh lời nói (Hình thức chính tả Nghe – viết) Muốnviết đúng là phải xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa đọc vàviết vì chính tả chính là sự chuyển hóa văn bản âm thanh thành chữ viết

Trong thực tế, sự biểu hiện của mối quan hệ giữa âm thanh và chữ viết kháphong phú và đa dạng Bởi vì cách phát âm thực tế của các phương ngữ vùng miềnkhác nhau, có những sai lệch so với chính âm, nên không thể nghe như thế nào viếtnhư thế ấy được Như thế, muốn viết đúng chính tả thì dứt khoát phải nắm vữngnghĩa của từ Có thể nói rằng: Chính tả Tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa

Đối với người sử dụng tiếng Việt, viết đúng chính tả chứng tỏ là nắm vững

về mặt ngôn ngữ Viết đúng chính tả giúp cho con người ta sẽ có điều kiện sửdụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập, giao tiếp,

Việc dạy học giúp học sinh viết đúng chính tả sẽ cung cấp cho các em quytắc và rèn luyện để có kĩ năng và thói quen viết đúng chính tả Chính tả rèn cho

Trang 5

nét), óc thẩm mĩ (vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, sạch đẹp, ) qua đó bồidưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng Việt và chữ Việt, cách biểu thị tình cảm tốtđẹp trong việc viết đúng chính tả.

II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

1 Thực trạng chung:

Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3 thuộc địa bàn xã Thạch Cẩm, huyện ThạchThành Xã Thạch Cẩm là một xã miền núi đời sống của nhân dân chủ yếu làmnông nghiệp, nền kinh tế thực sự khó khăn Trình độ dân trí chưa cao cho nên các

em đi học đều giao khoán cho Nhà trường Bố mẹ các em đi làm ăn xa Chính vìthế các em đi học thiếu sự quan tâm của bố mẹ nên cũng ảnh hưởng một phần đếnchất lượng giáo dục

Học sinh nằm rải rác trên ba thôn: Cẩm Mới, Thạch Môn và Đồng Tiến là bathôn vùng 135 của xã Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3 lại đóng trên thôn ThạchMôn Trường đã khó khăn lại khó khăn hơn, các em đi học xa trường Trường có

ba lớp học ở khu lẻ dẫn đến việc quản lí học sinh khó khăn Chính vì vậy ban giámhiệu nhà trường đã không quản ngại khó khăn đưa trường vươn lên từng bước Tậpthể giáo viên trong trường không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên mônnghiệp vụ

2 Thực trạng về giáo viên:

- Đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độ chuẩn trở lên: trên chuẩn

13 đồng chí, đạt chuẩn 2 đồng chí, có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhiệt tìnhtrong công tác

- Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, một số giáo viên dạy học theo kiểu chưachú ý được hết tất cả các đối tượng học sinh, nhất là học sinh tiếp thu bài chậm,đặc biệt đối với môn Tiếng Việt đọc, viết chậm Khi đọc, viết còn sai lỗi chính tả.Mặt khác giáo viên lại cho các em đứng bên lề trong các tiết học, nhất là các tiếtthao giảng

- Nhiều giáo viên chưa có phương pháp định hướng cụ thể trong việc rèn chữ,sửa lỗi chính tả cho học sinh

- Đa số giáo viên chỉ chú trọng phát âm chuẩn trong giờ chính tả

- Một số giáo viên nói chưa chuẩn tiếng phổ thông, giọng nói còn mang đặctrưng tiếng địa phương nên ảnh hưởng đến việc luyện viết chính tả cho học sinh,đặc biệt là chính tả nghe viết

3 Thực trạng về học sinh:

Năm học 2015 - 2016 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3A (15em) Sau một thời gian giảng dạy đầu năm tôi nhận thấy số lượng học sinh cònmắc lỗi chính tả rất nhiều

Mặt khác, Tiếng Việt là môn học khó, lứa tuổi của các em ý thức tự giác họcchưa cao, khả năng ghi nhớ chưa sâu, vốn từ còn hạn chế 13/15 em là người dântộc Mường nên việc ảnh hưởng của phương ngữ địa phương cũng dẫn đến việc các

em mắc lỗi chính tả Vì thế qua giờ chính tả tôi nhận thấy học sinh mắc lỗi chính tảrất nhiều

Điều tra số liệu khảo sát chất lượng đầu năm về việc viết chính tả như sau:

Trang 6

0-1 lỗi

Tỉ lệ (%)

Sai

2 - 3 lỗi

Tỉ lệ (%)

Sai

4 - 5 lỗi

Tỉ lệ (%)

Sai

6 - 7 lỗi

Tỉ lệ (%)

Sai trên

7 lỗi

Tỉ lệ (%)

Qua nghiên cứu thực tế cho thấy học sinh mắc lỗi chính tả là do:

+ Bản thân các âm, vần, thanh khó (khó phát âm, cấu tạo phức tạp)

+ Học sinh không nắm vững quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ

+ Do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương

+ Do học sinh bất cẩn khi viết Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bàichính tả khoảng 60 chữ

+ Một số em đọc chưa trôi chảy

Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy các em thường viết sai các lỗi như: + Về thanh điệu:

Học sinh không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã (Em: Điệp, Ánh, Phong )

Ví dụ: suy nghỉ, nghĩ ngơi, hướng dẩn…

- ch / tr : cây che, chiến chanh,

- s / x : chia xẻ, sung phong,

- r / d / gi : dừng núi, da đình,

Bên cạnh đó học sinh còn dễ viết sai các âm vần khó (Em Huyền, Anh,Hoạt) như: uênh, uêch, uych, uya, oeo, ….Viết sai các vần dễ lẫn lộn như:ươn/ương; iên/iêng; au/âu; ay/ây; ưi/ươi…

Đôi khi còn viết sai tên riêng Việt Nam và tên riêng nước ngoài Viết hoatùy tiện, sai quy định chính tả (Em: Duy, Hằng, Thủy, Kiên)

Do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương (87% là dân tộc Mường) các emđọc và viết sai tiếng phổ thông (Em: Điệp, Hoa, Linh, Ánh, Ly, ):

Ví dụ: Con trâu học sinh viết là: con châu

Con ong học sinh viết là con ông

Lòng mẹ học sinh viết là lồng mẹ.

Từ những lỗi sai đó cùng với sự phức tạp của chữ quốc ngữ nếu người giáoviên không có biện pháp uốn nắn kịp thời thì sẽ dẫn đến hình thành thói quenkhông tốt cho học sinh Vì vậy để giúp học sinh có kĩ năng viết đúng, đẹp nên tôi

đã đi sâu và nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗichính tả và thực tế đã mang lại hiệu quả hết sức đáng mừng Chính vì thế tôi đã

đúc rút lại thành sáng kiến: “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 khắc phục một số

lỗi sai chính tả”để chia sẻ cùng đồng nghiệp.

III Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện

Trang 7

1 Giải pháp

Từ thực trạng trên, tôi đi tìm hiểu nguyên nhân và nghiên cứu lại những kiếnthức liên quan, tôi rút ra một số giải pháp góp phần giúp học sinh viết đúng chính

tả như sau:

1.1 Giáo viên cần trang bị cho mình vốn kiến thức, nắm chắc về quy luật chính tả

Biết lựa chọn nội dung giảng dạy linh hoạt, sáng tạo.

1.2 Luyện phát âm

1.3 Luyện tập về phân tích và so sánh, giải nghĩa từ

1.4 Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập và ghi nhớ mẹo luật chính tả

1.5 Hướng dẫn học sinh ghi Sổ tay chính tả.

1.6 Khắc phục lỗi chính tả thông qua trò chơi

1.7 Yêu cầu học sinh chép lại chữ viết đúng

1.8 Hướng dẫn học sinh đọc nhiều - nhớ lâu

1.9 Khuyến khích học sinh chép các bài thơ vui, những câu thơ hay để rèn chính

tả Đồng thời khắc phục lỗi thông qua giao tiếp

1.10 Tích hợp việc dạy chính tả qua các môn học khác

1.11 Làm tốt công tác phối kết hợp với phụ huynh học sinh

1.12 Kịp thời động viên, khích lệ học sinh

1.13 Tham mưu với nhà trường, tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp có nội dung liên quan đến việc viết chính tả của học sinh

2 Biện pháp tổ chức thực hiện.

2.1 Giáo viên cần trang bị cho mình vốn kiến thức, nắm chắc về quy luật chính tả Biết lựa chọn nội dung giảng dạy linh hoạt, sáng tạo

Là người truyền đạt kiến thức cho học sinh, nếu người giáo viên có vốn kiếnthức về chính tả mơ hồ, hời hợt thì là một điều vô cùng khó để có thể giúp các emhọc tốt, viết đúng được chính tả Đặc biệt, lỗi về chính tả xảy ra ở hầu hết các phânmôn Vì lẽ đó, muốn học sinh học tốt, nắm chắc được luật chính tả thì bản thânngười giáo viên phải luôn luôn có tinh thần học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu, nắm chắc,chuyên sâu về quy luật chính tả Nắm vững kiến thức tiếng Việt

Trong quá trình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, đòihỏi người giáo viên cần xác định được trọng tâm của bài, dạy chính tả phải biết kết

hợp với việc dạy chuẩn âm, tức là“phát âm đúng” Yêu cầu giáo viên phải là người

chuẩn mực trong việc đọc, nói Vì cơ sở cơ bản của chính tả Tiếng Việt là nguyêntắc ngữ âm.Chính tả âm vị đọc thế nào, nói thế nào viết thế ấy Hầu hết học sinhchưa nắm vững nguyên tắc chính tả nên dẫn đến viết sai chính tả

Ở mỗi địa phương có một số trọng điểm chính tả riêng Chính vì vậy, giáoviên cần chú ý vận dụng nguyên tắc dạy chính tả theo địa phương, theo khu vực.Nguyên tắc này yêu cầu giáo viên trước khi dạy cần tiến hành điều tra cơ bản nắmlỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựạ chọn nội dung giảng dạy thích hợp

Đây chính là thời gian giáo viên cung cấp cho học sinh các mẹo, luật chính

tả cũng như phân tích ngữ nghĩa các từ ngữ mà các em dễ nhầm lẫn

Cụ thể: Khi hướng dẫn làm bài tập chính tả Đối với dạng bài tập lựa chọncho từng vùng phương ngữ Nội dung các bài tập này là luyện viết phân biệt những

âm, vần dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương Trong sách giáo khoa

số hiệu của các bài tập lựa chọn bao gồm 1, 2 hoặc 3 bài tập nhỏ (kí hiệu là a, b

Trang 8

hay c), mỗi bài tập nhỏ dành cho vùng phương ngữ nhất định Bản thân tôi luôncăn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của mỗi học sinh mình dạy đểchọn bài tập nhỏ thích hợp cho các em Trong cùng một lớp, có thể giao cho họcsinh này bài tập a, học sinh khác bài tập b, tùy theo lỗi phát âm và lỗi chính tả các

em thường mắc Thậm chí dựa theo mẫu bài tập sách giáo khoa, giáo viên có thể tự

ra bài tập cho phù hợp với yêu cầu khắc phục lỗi chính tả và lỗi phát âm của địaphương mình Vì thế trong quá trình giảng dạy, theo tôi người giáo viên phải biếtthay đổi và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phần bài tập chính tả lựa chọngiúp các em học sinh của mình khắc phục những lỗi sai để viết đúng chính tả màvẫn đảm bảo được mục tiêu bài học, môn học

Ví dụ: Điền vào chỗ trống ut hay uc? (VBT TV3 - tập 2 - trang 24 )

Con chim chiền chiệnBay v ́ v ́́́ caoLòng đầy yêu mếnKh ́ hát ngọt ngàoTôi thấy học sinh lớp tôi khi điền hai vần này học sinh không sai Mặt khác

do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương học sinh thường nhầm ong hay ông tôi

thay bài tập trên bằng bài tập:

Điền vào chỗ trống ong hay ông?

s ́ sánh d ̀ suốitr ngóng mênh m

Bên cạnh đó, việc chấm - nhận xét - chữa bài thường xuyên giúp giáo viêntìm ra được từ, tiếng học sinh viết sai, chỉ ra từng lỗi sai để yêu cầu học sinh phát

âm lại và viết lại từ, tiếng đúng

Ví dụ: Khi học sinh viết bài Chính tả: Chiếc áo len.(đoạn 4) - trang 22 - TV3 tập 1.

Có đoạn: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá.Học sinh viết: Nằm cuộn chòn trông chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hậnquá

Khi nhận xét bài viết của học sinh, tôi gạch chân tiếng viết sai, yêu cầu họcsinh đó đọc lại (nếu học sinh đó đọc sai thì yêu cầu bạn ngồi bên giúp bạn sửa), sauđó yêu cầu học sinh đó viết lại tiếng đã viết sai

2.2 Luyện phát âm.

Vì hầu như các em đọc như thế nào viết như thế ấy Muốn cho học sinh viếtđúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh Giáo viên phải làngười phát âm rõ tiếng, đúng, chuẩn, tốc độ vừa phải đồng thời chú ý luyện phát

âm cho học sinh để phân biệt các dấu thanh (đặc biệt là thanh hỏi, thanh ngã), các

âm đầu, phần vần ( chủ yếu là các tiếng đọc sai do ảnh hưởng phương ngữ) qua đógiúp học sinh chú ý đến những hiện tượng chính tả cần viết đúng Việc rèn phát âm

cơ bản phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên,liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học, không chỉ ở môn Tiếng Việt mà còn ở cácmôn học khác

Ví dụ:

+ Khi đọc từ : say sưa học sinh thường đọc sai thành xay xưa

Trang 9

Giáo viên cần cho học sinh phân tích cấu tạo tiếng Giáo viên đọc mẫu sau đó chohọc sinh đọc lại

+ Ở địa phương tôi dạy khi đọc từ lòng mẹ các em phần đa thường đọc sai thành lồng mẹ Vì thế khi viết các em cũng viết sai.

Học sinh đọc - viết sai lỗi: lòng thành lồng Đây là do ảnh hưởng phương

ngữ (phần lớn các em là người dân tộc Mường) Giáo viên yêu cầu học sinh phântích cấu tạo tiếng, đánh vần lại Giáo viên phát âm mẫu sau đó yêu cầu học sinhluyện đọc lại nhiều lần

Đặc biệt với những học sinh sai lỗi chính tả nhiều Trong giờ tập đọc tôi chocác em luyện phát âm, cho đánh vần những từ, tiếng các em đọc sai Đôi lúc còngiao cho các em viết vài câu trong bài mà chứa từ, tiếng em đọc sai chép vào vở.Tiết tập đọc sau tôi kiểm tra

2.3 Giúp học sinh nắm vững nghĩa của từ để viết đúng chính tả

Do đặc điểm của phương ngữ vùng miền nên học sinh còn nói giọng địaphương nhiều Điều ấy làm các em dễ viết sai chính tả nếu chưa hiểu rõ nghĩa của

từ mình viết Vì vậy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ bằng cáchluyện tập phân tích và so sánh, giải nghĩa từ

* Khi dạy bài tập đọc : Đất quý, đất yêu (TV3)

Có câu: Ngày xưa, có hai người khách du lịch đến nước Ê-ti-ô-pi-a

Học sinh đọc thành: Ngày sưa, có hai người khách du lịch đến nước Ê-ti-ô-pi-a

Chính vì đọc sai nên khi viết chính tả các em cũng thường viết xưa thành sưa Sau đó tôi phân tích cho các em hiểu xưa và sưa

+ xưa: Đã quá lâu(ngày xưa, thuở xưa, )

+ sưa: thưa (răng thưa)

* Khi dạy bài tập đọc: Về quê ngoại (TV3 )

Có câu: Bóng tre mát rợp vai người

Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm

Học sinh đọc thành: Bóng che mát rợp vai người

Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm

Do đọc sai nên khi viết chính tả các em cũng thường viết tre thành che Sau đó tôi phân tích cho các em hiểu tre và che.

+ tre: loại cây nhỏ, cao, ruột rỗng có nhiều đốt

+ che: làm cho khuất, cho kín

Trong các giờ chính tả tập chép hay nghe viết, tôi thường xuyên hướng dẫncác em phân tích về cấu tạo tiếng rồi so sánh những tiếng có vần dễ lẫn lộn, nhấnmạnh ở những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ (ví dụ: ươn/ương;iên/iêng; au/âu; ay/ây; ưi/ươi, uôn/uông; ươt/ươc; in/inh….), luyện viết bảng contrước khi viết vào vở

Trang 10

Khi điền "ưi" học sinh cũng dễ lẫn với vần "ươi"

Chẳng hạn: học sinh điền : mát rựi, khung cưởi

Ở đây giáo viên cho học sinh phân biệt phân tích cấu tạo từng tiếng, choghép tiếng rựi và tiếng rượi với tiếng mát để cho từ có nghĩa, hợp lý

rựi = âm r + vần ưi + thanh nặng

rượi = âm r + vần ươi + thanh nặng

So sánh để thấy được sự khác nhau đó nhằm mục đích giúp học sinh ghinhớ, khi viết các em sẽ không bị sai

* Đối với trường hợp cần giải nghĩa từ: Việc giải nghĩa từ tôi thường thực hiệntrong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, Việc làm này giúp học sinh nắm được nghĩacủa từ để phục vụ cho việc viết đúng chính tả Khi giúp học sinh hiểu nghĩa của từtôi dùng các cách giải nghĩa từ như: Giải nghĩa bằng từ điển; Giải nghĩa bằng đặtcâu (đặt trong ngữ cảnh); Giải nghĩa bằng đồ dùng trực quan; Giải nghĩa bằng từđồng nghĩa, trái nghĩa,

Ví dụ:

Bài tập: Điền vào chỗ trống iên hoặc iêng :

cái ch… ch… xàol… lạc r… lẻ

Ở bài tập này học sinh thường mắc lỗi là điền sai vần Ví dụ: "chiêng" điềnthành "chiên"

Để phân biệt "chiêng" hoặc "chiên":

Chiêng: giáo viên có thể cho học sinh quan sát bằng đồ dùng trực quan đó làcái chiêng hoặc nói lên đặc điểm của cái chiêng(dựa vào từ điển) là nhạc cụ bằngđồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang…

Chiên: giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ "chiên" (như: Mẹ làmmón chiên cá rất ngon) hoặc giải nghĩa bằng định nghĩa "chiên" (dựa vào từ điển)

“làm làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trênbếp”

* Có trường hợp học sinh đọc là "suy nghĩ" nhưng viết "suy nghỉ" nên giáo viêngiúp học sinh cần hiểu "nghỉ" có nghĩa là hoạt động bị ngừng lại, còn "nghĩ" là tínhtoán điều gì đó Vì vậy phải viết là "suy nghĩ"

Riêng với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đótrong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa của từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ

Ví dụ:

Khi tôi đọc cho học sinh đọc viết câu: Mẹ ơi, mẹ hãy dành hết tiền mua áo

ấm cho em đi

Tôi nhận thấy học sinh lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của

từ này Nhưng nếu tôi đặt đó vào một ngữ cảnh hay gắn nó vào một nghĩa xác định

như: Em để dành tiền mua một cái bút máy/ Trong cuộc thi ngày mai, em phải giành được chiến thắng/ Em cần nói rõ ràng, rành mạch để cả lớp cùng nghe

Như vậy học sinh sẽ dễ dàng viết đúng chính tả

2.4 Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập và ghi nhớ mẹo luật chính tả.

Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phốihàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu

Trang 11

Giáo viên có thể sửa ngay khi học sinh làm các bài tập chính tả, khắc sâu thêmkiến thức bằng cách đưa ra hệ thống bài tập ôn luyện cho học sinh vào các giờ họctăng buổi

Sau mỗi dạng bài tập tôi cho học sinh luyện phát âm lại các từ có tiếng âm,vần đã ghép Vừa rèn đọc vừa cho viết lên bảng con hoặc giấy nháp để ghi nhớ

a) Khắc phục lỗi s - x:

Việc nắm rõ quy tắc chính tả, tìm hiểu kĩ các lỗi sai của học sinh khi viết s

-x từ hệ thống bài tập, tôi cung cấp cho học sinh một số mẹo để phân biệt s - -x thông

qua các dạng bài tập như sau:

Ví dụ:

Bài 1: Điền vào chỗ trống x hoặc s:

sáng ….uốt xao ….uyến

sóng …ánh xanh …ao

Bài 2: Tìm một số từ chỉ thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến thức ăn có âm x hoặc s.

Bài 3: Nối tiếng con với tiếng có thể ghép với nó:

sóc xên

sáo

xáo

Qua ba bài tập trên, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số mẹo để

phân biệt s - x như sau:

- Tên thức ăn thường đi với x (ví dụ: xôi, xúc xích, xà lách, cải xoong, … )

- Đa số các từ chỉ người, tên cây, tên con vật, hiện tượng thiên nhiên, tên đồ vật mà

viết với s là những từ như sau:

Ví dụ: * Chỉ người: sứ giả, bà sãi, ông sư…

* Chỉ cây: cây si, cây sả, cây sắn, cây sung, cây su su…

* Hiện tượng thiên nhiên: sao, sông, sương…

* Nói đến đồ vật: hòn sỏi, sợi dây, súc vải…

* Chỉ con vật: con sam, con sán, con sáo, con sóc, con sên…

- Ngoài ra còn một số trường hợp ngoại lệ khác Ví dụ như: xương, cây xoan, trạm

xá, mùa xuân, cái xuồng, cây xoài, cái xe, sạch sẽ …

- Chữ s không đứng trước các vần: oa, oă, oe, uê, uâ Ngoại trừ các trường hợp: soát, soạt, soạng, soạn, suất Do đó nếu gặp các vần này ta chọn x đứng trước chứ không chọn s (Ví dụ: xuề xòa, xum xoê, )

b) Khắc phục lỗi tr- ch:

Khi viết những âm đầu mà khi phát âm gần giống nhau Giáo viên cầnthường xuyên chú ý giúp học sinh so sánh, phân biệt sao cho chính xác tức là giúp

học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả để phân biệt được tr - ch Tôi tiến hành

khắc phục những lỗi này qua những dạng bài tập như sau:

Ví dụ:

Bài 1: Điền vào chỗ trống ch hay tr:

Con ai, cái …ai, ân thật , chậm … ễ

Bài 2: Tìm và viết tên các đồ vật dùng trong nhà có âm ch:

Bài 3: Điền vào chỗ trống ch hay tr:

Con

Ngày đăng: 14/10/2017, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w