Trong các mạch kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì mạchkiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối vớihọc sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Môn toán ở tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt Thông qua môn toántrang bị cho học những kiến thức cơ bản về toán học rèn cho hs kỹ năng tínhtoán, kỹ năng giải toán Đồng thời qua dạy toán giáo viên hình thành cho họcsinh phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quan sát, trí tưởngtượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy
Trong các mạch kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì mạchkiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối vớihọc sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp 1 Bởi vì đối với lớp 1 :Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các emcòn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinh chưa biếtcách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán cólời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trảlời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiệnnay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số
em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đườnglối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếulôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếuchính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán Các
em học toán và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểmxuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đường cho các em đivào thế giới kỳ diệu của toán học, giúp các em biết vận dụng những kiếnthức đã học vào cuộc sống hàng ngày một cách thực tế Qua thực tế giảngdạy nhiều năm tôi nhận thấy học sinh còn nhiều khiếm khuyết trong việcgiải toán Đặc biệt là giải toán có lời văn
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, qua thực tế giảng dạy tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“ Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng dạy giải toán có
lời văn cho học sinh lớp một ”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn
- Học sinh đọc hiểu bài toán, phân tích bài toán, tóm tắt bài toán
- Học sinh nắm được dạng toán đơn về thêm, bớt để xác định phép tính cộng hay trừ của bài toán
- Học sinh tìm được lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
- Học sinh trình bày được bài giải theo 3 bước : câu lời giải, phép tính, đáp số
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- 28 em học sinh lớp 1B tại trường tiểu học Quảng Long – Quảng Xương
- Giải toán có lời văn ở lớp 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Trao đổi với đồng nghiệp
Trang 2- Điều tra ,khảo sỏt thực tế
- Quan sỏt, thu thập, tổng hợp thụng tin
- Đối chứng, thực nghiệm
- Đỳc rỳt kinh nghiệm thực tiễn
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của sỏng kiến kinh nghiệm :
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sựthách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ
đang đòi hỏi phải đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, trong đó
có sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy học Nhữngphương pháp dạy học kích thích sự tìm tòi, đòi hỏi sự tưduy của học sinh được đặc biệt chú ý Mục tiêu giáo dục của
Đảng ta đã chỉ rõ: “ Đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hoá phổ thông và hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt ”
Muốn đạt được mục tiêu này thì dạy và học Toán trong trườngphổ thông là một khâu quan trọng của quá trình dạy học
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói về vị trí vai trò của bộ
môn Toán: “ Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu Nó là một môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo Nó còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như: Cần cù và nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý.” Để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra, Giáo
dục và đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay
đổi về nội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảngdạy cho phù hợp Hội nghị BCH trung ương khoá VIII lần thứ 2 đã
chỉ rõ: " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học" Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24 đã ghi: " Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
Trang 3hứng thú học tập cho học sinh" Đổi mới phương phỏp dạy học là vấn
đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay Mục đích của đổi mới phương phỏp dạy họcchính là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ
động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trongquá trình lĩnh hội tri thức kĩ năng nhằm phát triển và hoànthiện nhân cách của mình trang bị cơ bản cần thiết cho việchọc tập tiếp theo hoặc bước vào cuộc sống lao động Rồi mai
đây, các em lớn lên , nhiều em trở thành vĩ nhân, trở thànhanh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ trở thành nhữngngười lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đờisống ; trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏtúi nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầutiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3 học các phéptính cộng, trừ Các em không quên được vì đó là kỷ niệm
đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số,những phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời
Đối với mạch kiến thức : "Giải toán có lời văn", là một trong
năm mạch kiến thức cơ bản xuyờn suốt chương trỡnh toỏn cấp tiểu học.Thụng qua giải toỏn cú lời văn, các em được phát triển trí tuệ, rènluyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết diễn đạt, trình bày, tínhtoán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạchkiến thức toán học khỏc Nắm được giải toán có lời văn các em sẽnắm được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu
tố hình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nốigiữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các mônhọc khác
Giải toỏn cú lời văn gúp phần củng cố kiến thức toỏn, rốn luyện kĩ năng diễn đạt, tớch cực gúp phần phỏt triển tư duy cho học sinh tiểu học
Đối với trẻ là học sinh lớp 1, mụn toỏn tuy cú dễ nhưng để học sinh hiểu bài toỏn cú lời văn quả khụng dễ dàng, vả lại việc viết lờn một cõu lời giảiphự hợp với cõu hỏi của bài toỏn cũng là vấn đề khụng đơn giản Bởi vậy nỗibăn khoăn của giỏo viờn là hoàn toàn chớnh đỏng
Vậy làm thế nào để giỏo viờn núi - học sinh hiểu, học sinh thực hành, diễnđạt đỳng yờu cầu của bài toỏn Đú là nguyờn nhõn chớnh mà tụi chọn đề tài này
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi ỏp dụng sỏng kiến kinh nghiệm
Trong quỏ trỡnh giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tụi nhận thấy hầunhư giỏo viờn nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toỏn cú lời văn ở lớp 1.Học sinh rất lỳng tỳng khi nờu cõu lời giải, thậm chớ nờu sai cõu lời giải, viết saiphộp tớnh, viết sai đỏp số Những tiết đầu tiờn của giải toỏn cú lời văn mỗi lớpchỉ cú khoảng 20% số học sinh biết nờu lời giải, viết đỳng phộp tớnh và đỏp số
Số cũn lại là rất mơ hồ, cỏc em chỉ nờu theo quỏn tớnh hoặc nờu miệng thỡ đượcnhưng khi viết cỏc em lại rất lung tỳng, làm sai, một số em làm đỳng nhưng khi
Trang 4cô hỏi lại không biết để trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắcchắn cách giải bài toán có lời văn Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạyđến phần này
2.2.1 Về học sinh
Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy củacác em còn mang tính trực quan là chủ yếu Mặt khác ở giai đoạn này các emchưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toánrồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọclại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán Vì vậy học sinh không làm đúngcũng là điều dễ hiểu Vậy làm thế nào để học sinh nắm được cách giải một cáchchắc chắn chính xác?
Kết quả khảo sát tại lớp 1B trường tiểu học Quảng Long – Quảng Xương (Cuối năm học: 2014-2015 )
Đề bài: (Bài tập 3 SGK Toán 1 trang 155)
Lớp 1A trồng được 35 cây, lớp 2A trồng được 50 cây Hỏi hai lớp trồng được tất
cả bao nhiêu cây?
STT Lỗi của học sinh trong bài khảo sát
Số học sinh đạt/Tổng số
a/ Ưu điểm
- Phần lớn học sinh biết làm phép tính trong bài toán có lời văn Kết quả của bài toán đúng
- Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn toán nói chung và “ Giải bài toán
Có lời văn” nói riêng
- Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế
b/Hạn chế
- Trình bày bài làm chưa sạch đẹp
- Một số học sinh chưa biết cách đặt câu lời giải phù hợp
Trang 5- Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đến không làm được bài.
2.2.2 Về đồ dùng dạy học :
Tư duy của học sinh lớp 1 là tư duy cụ thể, để học sinh học tốt “Giải toán
có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ dùng thiết bị dạy học đểminh hoạ
Trong những năm qua, các trường tiểu học đã được cung cấp khá nhiềutrang thiết bị và đồ dùng dạy học cho từng khối lớp nhưng thống kê theodanh mục thì số lượng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu dạy “Giảitoán có lời văn”
2.2.3 Về giáo viên
Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài học trước.Những bài toán nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài toánnày hầu như học sinh đều làm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnhhoặc không chú ý lắm, chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán cho họcsinh mà quên mất rằng đó là những bài toán làm bước đệm của dạng toán có lờivăn sau này Khi dạy cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thườngxuyên rèn cho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán Có thể tập chonhững em giỏi tập nêu câu trả lời Trong một thời gian chuẩn bị như thế thì đếnlúc học đến phần bài toán có lời văn học sinh sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ
dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng
Một số giáo viên tiếp cận phương pháp dạy học tích cực còn lúng túng,chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạyhọc truyền thống “ Thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ” đã ăn sâu vào tư duy vào
lề lối dạy học hàng ngày
Một số giáo viên còn ngại đầu tư làm thêm đồ dùng dạy học để phục vụcho tiết dạy, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, ít sử dụngphương pháp phân tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm cách giải vàgiải toán còn khó hiểu
2.2.4 Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khi dạy và học mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp 1.
Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy “Giải toán có lời văn” cho họcsinh lớp 1 là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương phápgiảng dạy có hiệu quả
Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của học sinh lớp 1 còn rất hạn chế.Khi giảng dạy cho học sinh lớp 1 giáo viên lại diễn đạt như với các lớp trên làmhọc sinh lớp 1 khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức và không đạt kếtquả tốt trong việc giải các bài toán có lời văn
Khả năng phối, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy mạch kiến thức: “ giảitoán có lời văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt
Giáo viên còn lúng túng khi thiết lập các tình huống sư phạm để nêu vấn đề Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý cho các nhóm cũngnhư các đối tượng học sinh trong quá trình học
Trang 6Khả năng kiờn trỡ của học sinh lớp 1 trong quỏ trỡnh học núi chung cũng như học “Giải toỏn cú lời văn” núi riờng chưa cao.
2.3 Cỏc giải phỏp đó sử dụng để giải quyết vấn đề :
2.3.1 Nắm bắt nội dung chương trỡnh
Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, "Giải bài toán có lờivăn" nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thậtchắc nội dung chương trình, sách giáo khoa Nhiều ngườinghĩ rằng Toán tiểu học, đặc biệt là toán lớp 1 thì ai cũng cúthể dạy được Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũngrất chủ quan và có những suy nghĩ tương tự như vậy Qua dựgiờ một số đồng nghiệp tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nàochỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ
có liên quan giáo viên bắc cầu chưa tốt Trong chương trìnhtoán lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên sỏchgiỏo khoa chưa thể đưa ngay "Bài toán có lời văn" Nhưng giỏoviờn chưa hiểu sõu được, đến tận tuần 23 học sinh mới đượcchính thức học cách giải
"Bài toán có lời văn" song sỏch giỏi khoa đã có ý ngầm chuẩn bị
- Xem tranh vẽ - Nêu bài toán bằng lời - Nêu câu trả lời - Điềnphép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)
Ví dụ: Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời :
"Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi có tất cả mấyquả bóng?" rồi
tập nêu miệng câu trả lời : "có tất cả 3 quả bóng", sau đóviết vào dãy năm ô trống để có phép tính :
* Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen vớiviệc đọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời sau đó nêu cáchgiải rồi tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy năm ôtrống Ở đây không còn tranh vẽ nữa (xem bài 3b - trang 87,bài 5 - trang 89)
* Việc ngầm chuẩn bị cho hs các tiền đề để giải toán cólời văn là chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và
Trang 7viết phép tính Chính vì vậy ngay sau các bài tập "nhìntranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống" chỳng tachịu khú đặt thờm cho cỏc em những cõu hỏi để cỏc em trả lời miệng.
Ví dụ: Từ bức tranh "3 con chim trên cành, 1 con chim baytới" ở trang 47 - SGK, sau khi học sinh điền phép tính vàodãy ô trống:
* Tiếp theo, trước khi chính thức học "Giải các bài toán cólời văn" học sinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán
có lời văn (gồm hai thành phần chính là những cái đã cho(đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vì khó có thểgiải thích cho học sinh "Bài toán là gì?" nên mục tiêu củatiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bàitoán:
+ Những cái đã cho (dữ kiện)
+ Cái phải tìm (câu hỏi)
Để làm việc này sách Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo
là bốn đề toán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếucâu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu thị bằngdấu ) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau
đó điền số vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi(còn để trống) Từ đó giáo viên giới thiệu cho các em " Bàitoán thường có hai phần " Bài này giúp các em hiểu sâu hơn
về cấu tạo của "Bài toán có lời văn"
* Các loại toán có lời văn trong chương trình chủ yếu làhai loại toán
"Thêm Bớt" thỉnh thoảng có biến tấu một chút:
- Bài toán "Thêm" thành bài toán gộp, chẳng hạn: "An có 4quả bóng, Bình
có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?", dạng nàykhá phổ biến
- Bài toán "Bớt" thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn : "Lớp 1A có 35 bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có baonhiêu bạn nam?", dạng này ít gặp vì dạng này hơi khó (trước
đây dạy ở lớp 2)
Trang 8* Về hình thức trình bày bài giải, học sinh phải trình bày bài giải đầy đủ theo quy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5:
- Câu lời giải
- Phép tính giải
- Đáp số
Ví dụ: Xét bài toán "Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?"
* Học sinh lớp 1 cũ chỉ cần giải bài toán trên như sau:
Bài giải
5 + 4 = 9 ( con gà ) Học sinh lớp 1 hiện nay phải giải như sau:
Bài giải
Nhà An cú tất cả số con gà là :
5 + 4 = 9 ( con gà )
Đáp số : 9 con gà
* Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời gian cho trẻ viết câu lời giải Chẳng hạn trước đây trong 1 tiết " Bài toán nhiều hơn" học sinh phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập) , thì bây giờ trong tiết " Giải toán có lời văn (thêm) " học sinh phải giải 4 bài (1 bài
mẫu, 3 bài luyện tập)
* Để lường trước về vốn từ và khả năng đọc hiểu của học sinh khi "Giải bài toán có lời văn" chương trình toán 1 đã có những giải pháp: - Hạn chế dùng các vần khó và tiếng khó trong đề toán như: thuyền, quyển, Quỳnh, tăng cường dùng các vần và tiếng dễ đọc , dễ viết như : cam, gà, Lan, trong các đề toán - Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa một chút xíu thôi là được ngay câu lời giải - Cài sẵn "cốt câu" lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt mà viết câu lời giải - Khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải khác nhau Chẳng hạn, với bài toán : "An có 4 quả bóng Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?"; học sinh có thể đặt lời giải theo rất nhiều cách như: + Cả hai bạn có:
+ Hai bạn có:
+ An và bình có:
+ Tất cả có:
+ Số bóng tất cả là:
Trang 92.3.2 Sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học
Như chúng ta đã biết, con đường nhận thức của học sinh tiểu học là: "Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừutượng trở lại thực tiễn" Đồ dùng thiết bị dạy học là phươngtiện vật chất, phương tiện hữu hình cực kỳ cần thiết khidạy "Giải toán có lời văn" cho học sinh lớp 1 Cũng trong cùngmột bài toán có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt, dùnglời để hướng dẫn học sinh làm bài thì vừa vất vả tốn công,vừa không hiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng
đồ dùng thiết bị, tranh ảnh, vật thực để minh hoạ Chínhvì vậy rất cần thiết phải sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học
để dạy học sinh "Giải bài toán có lời văn" Một điều hết sứcquan trọng là một số giáo viên còn ngại, hoặc lúng túng trongviệc sử dụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khidạy "Giải toán có lời văn" nói riêng Để khắc phục tình trạngnờu trờn, giáo viên cần có ý thức chuẩn bị sử dụng đồ dùng dạyhọc trước khi lên lớp Cần cải tiến nội dung sinh hoạt chuyênmôn đưa việc thống nhất sử dụng đồ dùng dạy học vàphương pháp sử dụng đồ dùng dạy học vào cỏc chuyờn đề của tổchuyờn mụn
2.3.3 Cỏch dạy "Giải bài toỏn cú lời văn" ở lớp 1.
a Dạy “ Giải toỏn cú lời văn ’’ ở lớp 1 theo từng mức độ
Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I cỏc bài toỏn được giới thiệu ở mức độ nhỡn
hỡnh vẽ- viết phộp tớnh Mục đớch học sinh hiểu bài toỏn qua hỡnh vẽ, suy nghĩ
chọn phộp tớnh thớch hợp Thụng thường cú 5 ụ vuụng cho học sinh chọn ghi
phộp tớnh và kết quả phự hợp Ban đầu để giỳp học sinh dễ thực hiện, sỏch giỏokhoa ghi sẵn cỏc số và kết quả
VD: Bài 5 trang 46 :Chỉ yờu cầu hs viết dấu cộng vào ụ trống để cú : 1 + 2 = 3 a)
b) Đến cõu này nõng dần mức độ - học sinh phải viết cả phộp tớnh và kết quả
Yờu cầu tăng dần, học sinh cú thể nhỡn từ một tranh vẽ ( bài 4 trang 77 ) diễnđạt theo 2 cỏch
Trang 10Cách 1: Có 8 hộp thêm 1 hộp, tất cả là 9 hộp
Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp, tất cả là 9 hộp
Đến bài 3 trang 85 : Học sinh quan sát và cần hiểu được:
Lúc đầu trên cành có 10 quả Sau đó rụng 2 quả Còn lại trên cành 8 quả
Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh trình bày miệng và động viên các
em viết được phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh vì tư duytoán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh
Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng lời:
Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thểđộng viên học sinh năng khiếu làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ mộthình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa
Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với
một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện ( tiết81- bài toán có lời văn ) Tư duy học sinh từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ,thành chữ viết Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng
là phù hợp với tư duy của học sinh
Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần: phần cho biết và phần hỏi
Trang 11Mức độ 4: Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu
một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làmquen ( Bài toán- trang 117)
Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán thông qua việc tóm tắt đềtoán Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn
Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số
Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán nhưng phần tóm tắtcần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác Câu lời giảitrong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều kiệncho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành thạogiải bài toán có lời văn bằng phép tính cộng Giáo viên chỉ hướng dẫn cách làmtương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán Ở lớp 1, học sinh chỉ giảitoán về thêm, bớt với 1 phép tính cộng hoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều
có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể
b Dạy quy trình" Giải bài toán có lời văn " thông thường qua 4 bước:
- Tìm hiểu đề bài và tóm tắt bài toán
- Tìm đường lối giải bài toán
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra lại bài giải
Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằngcách đàm thoại
" Bài toán cho gì? Hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tómtắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rấttốt để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán Nếu học sinh gặp khó khăntrong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh trả lời câu hỏi
Ví dụ : Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:
- Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (Dưới ao có 5 con vịt)
- Trên bờ có mấy con vịt? ( Trên bờ có 4 con vịt)
- Đàn vịt có tất cả mấy con? (Có tất cả 9 con)