1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng giải một số dạng toán bằng sơ đồ đoạn thẳng cho học sinh lớp 4

21 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 293,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

năng giải một số dạng toán bằng sơ đồ đoạn thẳng cho học sinh lớp 4’ đểđồng nghiệp và các cấp lãnh đạo giáo dục tham khảo.. Thực trạng của việc giảng dạy và học giải toán bằng phương phá

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Mục tiêu của Giáo dục tiểu học là: “Hình thành cho học sinh những cơ sởban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở

Trong các môn học ở trường Tiểu học hiện nay, mỗi môn đều có một vị trí

vô cùng quan trọng Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, phẩm chất đạođức con người phù hợp với thời đại mới Cũng như các môn học khác môn Toán

có một vị trí đặc biệt trong đời sống của học sinh Tiểu học Thông qua mônToán hình thành cho các em những kiến thức cơ bản ban đầu về các mặt pháttriển trí tuệ, tạo điều kiện tốt nhất để học sinh tìm kiếm khám phá và nắm vững

hệ thống tri thức toán học và những kỹ năng cơ bản cần thiết Bồi dưỡng cho các

em niềm tin trong hoạt động học tập Cụ thể là các kiến thức về số học, các phéptính đối với số tự nhiên, một số yếu tố về đại lượng, hình học và giải toán

Giải toán nói chung và giải toán ở bậc Tiểu học nói riêng là hoạt động quantrọng trong quá trình dạy học toán, nó chiếm khoảng thời gian tương đối lớntrong nhiều tiết học cũng như toàn bộ chương trình Thông qua việc giải toángiúp học sinh được ôn tập, hệ thống hóa, củng cố hóa kiến thức và kĩ năng đãhọc Để giúp các em giải toán có lời văn và trình bày cách giải phù hợp, đúngquy trình thì có nhiều phương pháp giải khác nhau Đối với học sinh Tiểu học,phương pháp mà học sinh quan sát và dễ hiểu vấn đề hơn cả là phương pháp giảidùng sơ đồ đoạn thẳng

Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng là phương pháp giải toán mà trong đó mốiquan hệ giữa các đại lượng đã cho và đại lương phải tìm trong bài toán đượcbiểu diễn bởi các đoạn thẳng Việc lựa chọn độ dài các đoạn thẳng để biểu diễncác đại lượng và sắp xếp thứ tự các đoạn thẳng trong sơ đồ hợp lí sẽ giúp họcsinh tìm được lời giải một cách tường minh Phương pháp này các em đã đượclàm quen ngay từ lớp 1, nhưng đến lớp 4 thì các đại lượng phong phú, đa dạng

và phức tạp hơn Việc tư duy trừu tượng của học sinh lại còn nhiều hạn chế Dovậy phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các em dễ hiểu và dễ vận dụngtrong việc giải toán ở dạng này Từ việc đọc đề, phân tích dữ kiện đến việc thiếtlập các mối quan hệ giữa các đại lượng, việc dùng sơ đồ đoạn thẳng thay thế chocác đại lượng trong bài toán, các em sẽ dễ dàng nhận thấy mối quan hệ ràngbuộc phụ thuộc lẫn nhau của các đại lượng trên hình ảnh đoạn thẳng, các em sẽgiải toán một cách dễ dàng hơn

Từ những băn khoăn, trăn trở làm thế nào để học sinh hiểu và giải dạng toánbằng sơ đồ đoạn thẳng nhuần nhuyễn, thành thạo, tỉ lệ các em hiểu và giải được

nhiều hơn, cao hơn Tôi mạnh dạn đề xuất “Kinh nghiệm trong việc rèn kĩ

Trang 2

năng giải một số dạng toán bằng sơ đồ đoạn thẳng cho học sinh lớp 4’ để

đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo giáo dục tham khảo Qua đây nhằm góp phầnvào nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán ở Tiểu học, cụ thể là môn Toánlớp 4

II Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu phương pháp và thực trạng dạy và học toán 4

- Tìm ra phương pháp dạy học giải toán nhằm giúp học sinh phát triển tưduy trừu tượng, óc khái quát, ngôn ngữ toán học và giải quyết một số dạng toán

có lời văn điển hình của lớp 4

- Học sinh biết biến những bài toán có nâng cao thành những bài toán cónội dung đơn giản thông qua việc biểu diễn bằng “sơ đồ đoạn thẳng”, nhận dạng cácloại toán và diễn đạt được nội dung bài toán thông qua sơ đồ, từ đó tìm ra cách giảibài toán

III Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Quảng Phú năm học 2015 - 2016

IV Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

Một trong những phương pháp sử dụng giải toán có hiệu quả nhất làphương pháp “sử dụng sơ đồ đoạn thẳng” Phương pháp này mang tính “chủđạo” và xuyên suốt cả quá trình tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5) vì phương pháp nàyvừa đơn giản phù hợp với đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học vừa giúp các

em hiểu và nắm chắc kiến thức mà mình đã học

II Thực trạng của việc giảng dạy và học giải toán bằng phương pháp dùng

sơ đồ đoạn thẳng trong dạy học toán lớp 4 ở trường Tiểu học Quảng Phú

1 Thực trạng dạy của giáo viên:

Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học được hầu hết giáo viên trườngTiểu học Quảng Phú chúng tôi tích cực tham gia Các đồng chí không nhữngtrao đổi trực tiếp với đồng nghiệp mà còn tham khảo thêm các ý kiến hay trênmạng nên trong giờ học đã biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học để học sinhhoạt động tích cực, tự tìm ra kiến thức mới Trong việc giải toán, giáo viên đã

Trang 3

hướng dẫn học sinh tìm tòi ra nhiều cách giải trong đó có cách giải bằng sơ đồđoạn thẳng Đây là một phương pháp đặc biệt quan trọng dùng để giải hầu hếtcác dạng toán điển hình ở lớp 4 Tuy nhiên, qua tìm hiểu tôi thấy một số ít đồngnghiệp dạy lớp 4 còn hơi lúng túng khi hướng dẫn học sinh giải và hiểu bàitoán, thậm chí còn cho rằng học sinh lớp 4 khó có thể ứng dụng phương pháp sơ

đồ đoạn thẳng nên giáo viên còn làm thay học sinh ( Nhất là ở các lớp 1, 2, 3hầu hết giáo viên đều vẽ lên bảng và hướng dẫn học sinh, chưa yêu cầu họcsinh vẽ) Mặt khác khi dạy các dạng toán điển hình, giáo viên chưa khai thác hếtnội dung bài dạy, còn thụ động trong cách giải ở sách giáo khoa làm cho họcsinh tiếp thu bài thụ động, máy móc Một số giáo viên chưa chú trọng đến việctập cho học sinh cách tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nên học sinh chưa

có kĩ năng vẽ

2 Thực trạng học giải toán của học sinh:

Qua thực tế nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số học sinh có họclực trung bình và yếu rất ngại giải toán có lời văn, đặc biệt là các dạng toán phải

dùng đến “sơ đồ đoạn thẳng” Bởi vì hầu hết các em chưa biết biểu diễn các yếu

tố toán học bằng các đoạn thẳng Nếu có thì cách biểu diễn chưa chính xác, nhìnvào sơ đồ chưa toát lên được nội dung cần biểu đạt

Từ lớp 1, 2, 3 học sinh đã gặp các dạng toán này, nhưng hầu hết là giáo viên

vẽ lên bảng và hướng dẫn giải, chưa yêu cầu học sinh vẽ Lên lớp 4 các đạilượng toán học cần biểu thị bằng đoạn thẳng đa dạng và phức tạp hơn Nếukhông có hình vẽ thì học sinh không thể hình dung được, nên dùng sơ đồ đoạnthẳng là hết sức cần thiết Mà thực tế học sinh chưa có kỹ năng này Mặt kháckhả năng tư duy ở nhiều học sinh trung bình và yếu còn nhiều hạn chế, không cókhả năng thiết lập các mối liên hệ giữa các đại lượng trong bài toán, gặp nhữngbài tập biến dạng một chút là học sinh rất khó khăn, không tóm tắt bằng sơ đồđoạn thẳng được

Một số học sinh chưa đọc kĩ đề bài, khả năng phân tích để xác định dạng

toán chưa đúng, thiếu suy nghĩ về dữ kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán, các

em thường làm bài theo mẫu nên rất dễ quên Học sinh chưa có thói quen tóm tắt

bằng sơ đồ Các em chưa biết được bài toán nào nên tóm tắt bằng sơ đồ, bài toánnào nên tóm tắt bằng chữ

Học sinh không dùng đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng cho bài toán

hoặc không biết sắp xếp các đoạn thẳng một cách thích hợp để làm nổi bật cácmối liên hệ phụ thuộc của các đại lượng ấy

3 Kết quả của thực trạng trên:

Thực trạng trên cho thấy chất lượng giảng dạy các bài toán dùng sơ đồ đoạn

thẳng để minh hoạ còn nhiều hạn chế Nhiều học sinh không nắm được cách giải

và giải toán còn sai nhiều Giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về tầm quantrọng của sơ đồ trong việc tóm tắt bài toán nên việc khai thác còn sơ sài Bảnthân giáo viên chưa thấy được cái hay và lí thú của toán học ẩn trong sơ đồ đoạn

Trang 4

thẳng Nhìn chung trong những năm học gần đây chất lượng môn toán nói chung

và chất lượng môn toán lớp 4 nói riêng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầudạy học đặt ra Là một giáo viên nhiều năm được nhà trường phân công giảngdạy ở lớp 4, điều đó khiến tôi rất trăn trở

Bởi vậy, ngay từ đầu năm học 2015 - 2016, tôi đã tiến hành khảo sát kĩ nănggiải toán của học sinh lớp 4B (lớp thực nghiệm do tôi phụ trách) và so sánh vớilớp 4B năm học 2014- 2015 cũng do tôi phụ trách (đây là hai lớp có chất lượngtương đối đồng đều) với đề kiểm tra như sau:

Đ ề bài: ( thời gian 40 phút)

Bài 1: Một buổi tập múa có 6 bạn nam, số bạn nữ gấp 3 lần số bạn nam Hỏi

buổi tập múa có bao nhiêu bạn nữ?

Bài 2: Một thùng đựng 24l mật ong, lấy ra1

3 số mật ong đó Hỏi trong thùng cònlại bao nhiêu l mật ong?

Bài 3: Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài 24m, chiều rộng kém chiều dài7m Tính chu vi mảnh đất đó

Bài 4: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu kg gạo?

Cách đánh giá: Toàn bài cho 10 điểm.

Bài 1: ( 2.5 điểm)Vẽ sơ đồ, đặt lời giải và làm phép tính đúng cho 2 điểm, đáp

Kết quả học sinh làm bài được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1: Chất lượng môn Toán đầu năm của lớp 4B trong 2 năm học.

số

năm học

Từ thực tế dạy học cũng như kết quả khảo sát trên, tôi rất trăn trở về chất

lượng dạy và học toán hiện nay của lớp tôi cũng như các lớp khối 4 trường tôi,cần phải tìm ra một giải pháp để giải quyết tình hình trên

Trang 5

III Các giải pháp và tổ chức thực hiện:

Việc ứng dụng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán ở các lớp lớn khi học sinh đã học các dạng toán cơ bản tổng - hiệu, tổng - tỉ, hiệu - tỉ có phần

tương đối dễ dàng nhưng với học sinh lớp 4 làm thế nào để học sinh hiểu và ứngdụng được là điều tôi trăn trở vì công bằng mà nói học sinh lớp 4 vốn hiểu biếtcòn hạn chế Sau một thời gian nghiên cứu, tôi mạnh dạn đưa ra một số giảipháp sau:

1 Phân dạng các bài toán giải có sử dụng phương pháp sơ đồ đoạnthẳng ở lớp 4

2 Áp dụng cách dạy học tích cực để dạy học sinh giải toán bằng phươngpháp vẽ sơ đồ đoạn thẳng các dạng toán giải trên

3 Dạy thử nghiệm trên lớp 4B năm 2015-2016 và tổ chức kiểm tra so sánh,đối chứng kết quả học tập với lớp 4B tôi dạy năm 2014-2015 mà bản thân tôi đãdạy trong hai năm học

1 Các dạng toán ở lớp 4 có thể dùng phương pháp vẽ sơ đồ đoạn thẳng

để giải:

- Dạng 1: Tìm số trung bình cộng

- Dạng 2: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó

- Dạng 3: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó

- Dạng 4: Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

Tuy nhiên những dạng toán nói trên không chỉ đơn thuần áp dụng cách tính

một cách máy móc và tồn tại độc lập mà nội dung của chúng được thể hiện lồngghép với các dạng toán khác với nội dung phức tạp đòi hỏi người học vừa phảinắm vững đặc điểm riêng của từng dạng vừa phải vận dụng linh hoạt mới tìm racách giải bài toán

2 Áp dụng cách dạy học tích cực để dạy học sinh giải toán bằng phương pháp vẽ sơ đồ đoạn thẳng các dạng toán giải trên:

Dạy học giải toán là cách thức giúp học sinh hình thành được các thao tác

để giải được các bài toán theo yêu cầu với những dạng toán khác nhau Cũngnhư các phương pháp giải khác, để giải bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng tathường thực hiện qua 4 bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề:

Xác định đâu là những cái đã cho, đâu là cái phải tìm?

Trong bước này cần lưu ý: Cần hướng sự tập trung suy nghĩ của học sinhvào những từ quan trọng của đề toán, từ nào chưa hiểu hết ý nghĩa, thì phải tìmhiểu ý nghĩa của nó

Học sinh cũng cần phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán đểhướng sự chú ý của mình vào những chỗ cần thiết

Bước 2: Tóm tắt bài toán:

Trang 6

Bước đầu học sinh tóm tắt bằng lời, nhớ được các điều kiện đã cho, các yếu

tố phải tìm, mối tương quan lẫn nhau giữa các đại lượng Tiếp theo cho học sinh

tự tóm tắt bằng lời sang dạng biểu thị bằng sơ đồ đoạn thẳng

Cụ thể là sau khi đọc kỹ đề bài, học sinh phải xác định được bài toán chobiết gì? Yêu cầu tìm gì? phân tích đề bài loại bỏ yếu tố thừa Thiết lập các mốiquan hệ để từ đó dùng các đoạn thẳng thay cho các số (số đã biết, số phải tìm).Sắp xếp các đoạn thẳng (đoạn biểu thị cái gì trước, đoạn biểu thị cái gì sau) đểminh hoạ cho mối quan hệ trong bài

Lưu ý khi dùng các đoạn thẳng giáo viên nên cho học sinh chọn độ dài thíchhợp như: số lớn dùng đoạn thẳng dài, số bé dùng đoạn thẳng ngắn Học sinh tự

so sánh hơn kém, tỉ lệ giữa các đoạn thẳng sao cho phù hợp cân đối

Giáo viên hướng dẫn các em sắp xếp các đoạn thẳng phù hợp với điều kiệnbài toán, các số liệu trừu tượng dùng nét đứt

Học sinh dựa trên tóm tắt sơ đồ, học sinh có thể đọc được nội dung bài toán,thấy được mối liên hệ phụ thuộc vào các đại lượng toán học để từ đó tìm ra cáchgiải

Bước 3: Lập kế hoạch giải toán:

Lập kế hoạch giải toán tức là dùng lối phân tích đi từ câu hỏi chính của bàitoán, tìm ra câu hỏi phụ có liên quan đến câu hỏi chính Bằng suy luận từ cáccâu hỏi ấy kết hợp với các điều kiện đã cho của đầu bài, học sinh lập thành mộtquy trình giải Nói cách khác muốn tìm được yếu tố chưa biết cần dựa vào đâu?dựa vào yếu tố nào? đã biết chưa?

Tóm lại loại bài này giải được cần tìm cái gì trước? Cái gì sau?

Bước 4: Giải toán và thử lại kết quả:

Sau khi đã lập xong kế hoạch giải toán, giáo viên hướng dẫn học sinh thựchiện kế hoạch đó Bước này cần hướng dẫn học sinh tính toán và trình bày lờigiải sao cho phù hợp

Chú ý cần thử lại sau khi làm xong từng phép tính, cũng như thử lại đáp số

xem có phù hợp với đề toán không

2.1 Dạng toán “Tìm số trung bình cộng”.

Ở lớp 3 các em đã học nhưng chưa thành dạng toán cụ thể điển hình Đối với

dạng này các em có thể dùng các quy tắc về tìm trung bình cộng của hai haynhiều số, tìm trung bình cộng của một dãy số gồm số lẻ (số chẵn) Nguyên tắc

để giải dạng toán này gồm hai bước:

- Bước 1: Tìm tổng các số hạng

- Bước 2: Lấy tổng chia cho số số hạng

Nhưng để học sinh hiểu sâu, nắm được bản chất của tìm số trung bình cộng

và linh hoạt trong cách giải thì dùng sơ đồ đoạn thẳng có hiệu quả tốt

* Ví dụ 1: Bài toán 2 (trang 27 - SGK Toán 4)

Trang 7

Số học sinh của 3 lớp lần lượt là 25 học sinh, 27 học sinh, 32 học sinh Hỏi trung bình cộng của mỗi lớp có bao nhiêu học sinh?

Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề toán:

- Bài toán cho biết gì? (Số học sinh của 3 lớp lần lượt là 25 học sinh, 27 họcsinh, 32 học sinh)

- Bài toán hỏi gì? (Trung bình cộng của mỗi lớp có bao nhiêu học sinh) Bước 2: Tóm tắt bài toán:

Giáo viên cho học sinh giải dùng sơ đồ đoạn thẳng để minh họa cho số họcsinh của mỗi lớp trên cùng một đoạn thẳng và đoạn thẳng thứ 2 bằng đoạn thẳngthứ nhất nhưng được chia thành 3 phần bằng nhau biểu thị cho số học sinh trungbình của 3 lớp

Qua gợi ý hướng dẫn, phân tích trên học sinh đã tóm tắt bài toán như sau:

25 học sinh 27 học sinh 32 học sinh

? học sinh ? học sinh ? học sinh

Bước 3: Lập kế hoạch giải toán

Từ sơ đồ trên học sinh nhận thấy muốn tìm số trung bình cộng phải tính đượctổng số học sinh của cả 3 lớp bằng một phép tính cộng nhiều số:

25 + 27 + 32 = 84( học sinh) Tiếp theo tìm số học sinh trung bình của mỗi lớp ta lấy tổng đó chia cho 3:

84 : 3 = 28( học sinh) Bước 4: Giải toán và thử lại kết quả:

Bài giải Tổng số học sinh của cả 3 lớp là:

Tóm lại : Với dạng toán tìm số trung bình cộng (tuỳ theo từng bài) ta có thể

dùng sơ đồ đoạn thẳng thì việc giảng giải của giáo viên sẽ nhẹ nhàng hơn màhọc sinh vẫn hiểu bài và biết cách giải

Trang 8

Lưu ý: Ở dạng toán này học sinh thường lúng túng ở bước vẽ sơ đồ, vì 3

đoạn thẳng thay cho 3 số không đều nhau So sánh bằng mắt của học sinh cònhạn chế nên giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ

*Ví dụ 2: Số trung bình cộng của hai số bằng 20 Biết một trong hai số đó bằng

30 Tìm số kia.

Bài toán này dạng ngược lại của bài toán trên vừa giải Đó là bài toán cho

biết số trung bình cộng của hai số và một số cho trước, tìm số kia Đối với bàinày giáo viên cần hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ khi tóm tắt

Ta có thể sử dụng bằng hai sơ đồ sau

Một sơ đồ biểu thị trung bình cộng của hai số Đoạn thẳng tổng hai số đượctạo bởi hai số bằng nhau có số chỉ là 20

Một sơ đồ có độ dài bằng sơ đồ trên nhưng có chỉ số khác nhau để biểu thị

Hoặc ví dụ một bài toán như sau:

*Ví dụ 3: Một đội công nhân sửa chữa đường sắt ngày thứ nhất sửa được 15m

đường, ngày thứ hai hơn ngày thứ nhất 1m, ngày thứ ba hơn ngày thứ nhất 2m Hỏi trung bình mỗi ngày đội công nhân ấy sửa chữa được bao nhiêu mét đường sắt?

* Nếu giải theo cách thông thường sẽ giải như sau:

Ngày thứ hai đội công nhân sửa được số mét đường là:

15 + 1 = 16 (mét)Ngày thứ ba đội công nhân sửa được số mét đường là:

15 + 2 = 17 (mét) Trung bình mỗi ngày đội công nhân ấy sửa được số mét đường là:

Trang 9

Ngày thứ hai:

2m Ngày thứ ba:

Nhận xét: Quan sát kỹ sơ đồ ta thấy nếu chuyển một mét từ ngày thứ 3 sang

ngày thứ nhất thì số mét đường sửa được trong các ngày đều bằng 16m

15m 1m

Ngày thứ nhất:

1m

Tóm lại: Với dạng toán tìm số trung bình cộng các em có thể giải theo quy

tắc mà sách giáo khoa đã nêu Nhưng học sinh nên dùng sơ đồ đoạn thẳng đểgiải sẽ bớt khó khăn trong quy trình hướng dẫn của giáo viên mà học sinh hiểusâu, nắm chắc được bài hơn

2.2 Dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” (Dạng cơ

bản).

Để học sinh giải được dạng toán này trước hết người giáo viên cần cho họcsinh xác định được đâu là tổng của hai số và đâu là hiệu của hai số Đa số cácbài toán cho biết tổng và hiệu song cũng nhiều bài tổng và hiệu chưa cụ thể, dovậy học sinh cần xác định được tổng và hiệu trước khi vẽ sơ đồ đoạn thẳng Dạng toán này học sinh thường có quan niệm là dễ bởi lẽ các em chỉ cầnnắm được cách tính

Số bé = (Tổng - hiệu ) : 2

Số lớn = (Tổng + hiệu) : 2

Những học sinh trung bình yếu thường ghi nhớ một cách máy móc nên khi

gặp những bài dạng này nhưng không có từ tổng hai số và hiệu hai số thì lập tứccác em bị rối và bí, không nhận ra dạng toán mà mình đã học Chính vì vậy khidạy bài toán mẫu phải giúp các em nắm vững "bản chất" của việc tìm số lớnhoặc tìm số bé Bên cạnh đó khi giải các bài toán không nêu rõ tổng và hiệu thì

Trang 10

yêu cầu học sinh nhất thiết phải xác định được tổng và hiệu của hai số đó trướckhi vẽ sơ đồ

Để thấy rõ tổng và hiệu của hai số thì bắt buộc các em phải vẽ sơ đồ đoạn

thẳng Khi hướng dẫn học sinh vẽ giáo viên lưu ý các em biểu thị số bé, số lớn,tổng và hiệu hai số Tránh tình trạng sơ đồ vẽ rườm rà mà không nêu bật đượccác yếu tố cơ bản của bài toán

Các bước giải bài toán : Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.

*Ví dụ 1: (Bài 1- SGK Toán 4 –Tr 47) :

Tuổi bố và tuổi con cộng lại được 58 Bố hơn con 38 tuổi Hỏi bố bao nhiêu

tuổi? Con bao nhiêu tuổi?

Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề:

- Bài toán cho biết gì? (Tuổi bố và tuổi con cộng lại được 58.( tổng)

Bố hơn con 38 tuổi ( hiệu))

- Bài toán hỏi gì? (Hỏi bố bao nhiêu tuổi? con bao nhiêu tuổi?)

Bước 2: Tóm tắt bài toán:

Khi đã xác định được các yếu tố nêu trên, các em tiến hành tóm tắt bàitoán bằng sơ đồ đoạn thẳng Lưu ý học sinh sơ đồ biểu thị tuổi bố và tuổi con.Qua phân tích trên học sinh đã vẽ 2 sơ đồ sau

Lưu ý: Đây là dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu, nên bao giờ cũng

có số lớn và số bé, số lớn biểu thị đoạn thẳng dài chính là số tuổi của bố, số bébiểu thị đoạn thẳng ngắn chính là số tuổi con Điểm lưu ý nữa khoảng cách hiệuhai số phải xác định sao cho phù hợp yêu cầu của bài toán

Giáo viên giúp học sinh nhận xét được sự khác nhau của hai sơ đồ đó

- Sơ đồ ( I) biểu thị tuổi bố hơn tuổi con

Ngày đăng: 14/10/2017, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Như vậy, sơ đồ giúp ta hình dung rõ khái niệm, đôi khi sơ đồ còn giúp ta tính nhẩm nhanh kết quả - Kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng giải một số dạng toán bằng sơ đồ đoạn thẳng cho học sinh lớp 4
h ư vậy, sơ đồ giúp ta hình dung rõ khái niệm, đôi khi sơ đồ còn giúp ta tính nhẩm nhanh kết quả (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w