Trên cơ sở khảo sát kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới các nước đã phát triển, các nền kinh tế đang chuyển đổi, các nước đang phát triển, các tác giả đề xuất một số định hướng cung
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS,TS Trần Phúc Thăng
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận trong luận án chưa từng được công bố trên bất cứ một công trình nào khác
Tác giả luận án
Trương Thị Thanh Quý
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận án 8
6 Kết cấu tổng quát của luận án: 9
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến sức khỏe cộng đồng và những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng 10
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận và thực trạng vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng 17
1.3 Những công trình nghiên cứu đề cập đến các giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng 26
Chương 2: VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG - MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN 37
2.1 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cộng đồng 37
2.1.1 Khái niệm sức khỏe 37
2.1.2 Sức khỏe cộng đồng và chăm sóc sức khỏe cộng đồng 44
2.2 Vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng 48
2.2.1 Tính tất yếu của việc nhà nước thực hiện vai trò chăm sóc sức khỏe cộng đồng 48
2.2.2 Nội dung và phương thức thực hiện vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng 53
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng 61
2.3.1 Những yếu tố khách quan 61
2.3.2 Những yếu tố chủ quan 65
Trang 5Chương 3: VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 70
3.1 Thành tựu và nguyên nhân những thành tựu của Nhà nước trong việc thực hiện vai trò chăm sóc sức khỏe cộng đồng 70
3.1.1 Thành tựu 70
3.1.2 Nguyên nhân của những thành tựu 88
3.2 Hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của Nhà nước trong việc thực hiện vai trò chăm sóc sức khỏe cộng đồng 95
3.2.1 Hạn chế 95
3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 107
3.3 Những vấn đề đặt ra với Nhà nước trong việc thực hiện vai trò chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở nước ta hiện nay 112
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 119
4.1 Những quan điểm cơ bản 119
4.2 Một số giải pháp chủ yếu 123
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH Công nghiệp hóa, CNXH Chủ nghĩa xã hội CTQG Chính trị Quốc gia GDP Tổng sản phẩm nội địa HĐH Hiện đại hóa
KTTT Kinh tế thị trường Nxb Nhà xuất bản
XHCN Xã hội chủ nghĩa WHO Tổ chức Y tế thế giới WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1: Tổng chi công cho y tế tính theo % tổng chi ngân sách nhà nước và theo
GDP quốc gia 76
Hình 3.2 Tài chính y tế tính theo đầu người 77
Hình 3.3: Bao phủ bảo hiểm y tế từ 1993 đến 2013 78
Hình 3.4: Thay đổi về nhân lực y tế từ 1985 đến 2012 80
Hình 3.5: Tỷ lệ bác sĩ và dược sĩ có trình độ đại học trở lên trên một vạn dân 81
Hình 3.6: Tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ sản nhi hoặc hộ sinh 81
Hình 3.7: Chi công và tư cho y tế từ 1995 đến 2012 99
Hình 3.8: Tỷ lệ chi tiền túi của hộ gia đình cho y tế 100
Hình 3.9: Chi y tế trung bình của hộ gia đình 2002 đến 2010 100
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỉ XXI, con người trở thành mục tiêu quan trọng của sự phát triển xã hội Do vậy, vấn đề con người, tâm lý con người, tiềm năng con người và sức khỏe con người, nguồn lực con người lại nổi lên mạnh mẽ Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt con người vào vị trí trung tâm, thậm chí coi phát triển con người là cốt lõi của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Cộng đồng quốc tế và công ước quốc tế đều cho sức khỏe là một trong những “nhu cầu cơ bản bậc nhất” của cuộc sống con người, và cao hơn nữa sức khỏe được xem là một trong những quyền con người, có nghĩa là sức khỏe của mỗi người được tôn trọng, mỗi cá nhân và nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện quyền này Chính phủ các nước đã xây dựng chính sách trong cung ứng dịch vụ y tế bằng việc tạo lập các cơ hội bình đẳng, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong việc cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đã góp phần nâng cao hiệu quả, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực và tạo thêm nhiều cơ hội lựa chọn và tiếp cận các dịch
vụ y tế của người dân
Khẳng định con người, sức khỏe con người luôn là vấn đề trọng tâm, nóng bỏng của hiện thực xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “… con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”[42, tr.30] Xuất phát từ quan điểm đó, sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng luôn được hết sức chú trọng Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân”[42, tr.128] Coi công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng là nhiệm vụ và trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định nhất Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường (KTTT) ở nước ta hiện nay, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách cũng như tổ chức thực hiện trong ứng dịch
vụ chăm sóc sức khỏe thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe của nhân dân
Trang 9Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao và
đa dạng, vai trò của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe nhân dân còn bộc lộ nhiều hạn chế: Hệ thống chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay còn rất nhiều vấn đề bất cập, nguồn lực đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực này để cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra Ngành y tế Việt Nam chưa đáp ứng đủ cả về số lượng và chất lượng dịch
vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch
vụ y tế là rất khó khăn, nhất là người nghèo, cận nghèo và dân cư vùng sâu, vùng
xa Sự bất bình đẳng trong việc cung ứng và thụ hưởng các dịch vụ y tế có xu hướng gia tăng Sự thay đổi mô hình và cơ cấu bệnh tật theo hướng gia tăng các bệnh không lây nhiễm và tai nạn thương tích, trong khi tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm vẫn còn cao Cơ chế chính sách trong quản lý điều hành lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập Hệ thống thông tin quản lý về y tế còn thiếu đồng bộ, trùng chéo
Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ y tế cũng như thanh tra chất lượng dịch vụ y tế
ở cả khu vực nhà nước và tư nhân còn yếu Công tác quản lý giá thuốc tại các bệnh viện còn nhiều bất cập đẩy giá thành thuốc tăng cao tạo áp lực về phí bệnh viện cho người bệnh…
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kể trên Ngoài những nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ nguồn gốc lịch sử phát triển của hệ thống y tế, trình
độ non yếu về cơ sở vật chất và chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế, một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó là chính sách, cơ chế cung ứng và việc tổ chức thực hiện các cơ chế chính sách để nhân dân tiếp cận dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập
Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là Nhà nước phải phát huy vai trò chủ đạo của mình như thế nào để bảo đảm quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân Trong những năm qua, ở nước ta và trên thế giới đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng dưới nhiều góc độ khác nhau và có những giá trị
Trang 10đáng kể Tuy nhiên, dưới góc độ triết học, nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng nhằm phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe con người Việt Nam chưa có nhiều và đang là vấn đề có tính cấp thiết cần được quan tâm nghiên cứu Đây là vấn đề cơ bản cần được nhận thức và giải quyết trên
cả phương diện lý luận và thực tiễn
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án Tiến
2.2- Nhiệm vụ
Để đạt mục đích nêu trên, từ góc độ triết học, luận án có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về sức khỏe cộng đồng và vai trò của nhà
nước trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Hai là, phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc chăm sóc sức
khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra
Ba là, đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò
của Nhà nước trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1- Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
ở Việt Nam hiện nay từ góc độ triết học
3.2- Phạm vi nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng bao quát rất nhiều phương diện khác nhau, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần, từ điều kiện ăn, mặc ở đến môi trường
Trang 11sống… Trong giới hạn của đề tài, luận án không có điều kiện nghiên cứu tất cả những phương diện trên mà chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của Nhà nước trong
việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng trên phương diện y tế, thông qua việc ban hành
khung khổ pháp lý, xây dựng mạng lưới y tế, đầu tư ngân sách, xây dựng và sử dụng nguồn nhân lực, kiểm tra, giám sát xử lí vi phạm, tuyên truyền, vận động, cũng như huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào công tác chăm sóc sức khỏe cộng
đồng trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1- Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đồng thời luận án cũng kế thừa các công trình nghiên cứu về những vấn
đề liên quan đến đề tài ở những góc độ khác nhau đặc biệt là triết học, y tế , xã hội học và một số văn bản quốc tế có liên quan…
4.2- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp của khoa học chung như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, khái quát hóa, so sánh nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà luận án đặt ra
5 Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận án
5.1- Đóng góp mới về khoa học
- Luận án góp phần làm rõ quan điểm mác xít về vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam
- Luận án góp phần làm rõ một số ưu điểm và hạn chế trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng của Nhà nước Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đang đặt ra
- Luận án luận chứng, đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
Trang 125.2- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cuả luận án
đề của chủ nghĩa xã hội khoa học trong chương trình Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác-Lênin dành cho các trường cao đẳng, đại học ở nước ta và góp phần
làm cơ sở lý luận cho việc xác định một số nhiệm vụ của ngành y tế Việt Nam
6 Kết cấu tổng quát của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương, 12 tiết
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, phát triển KTTT định hướng XHCN, Đảng hết sức chú trọng nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn Nhà nước và khẳng định rõ chủ trương: “Tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”[42, tr.246] Trong thực tiễn đổi mới, chúng ta nhận thức rằng phát triển xã hội và quản
lý xã hội đều vì hạnh phúc con người, phục vụ con người Trong quá trình ấy, Nhà nước có vai trò nòng cốt, là người xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược và các chương trình quốc gia về việc huy động, quản lý và phân phối các nguồn lực vật chất, nâng cao chất lượng các dịch vụ giáo dục, y tế và tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng các thành quả đó, cũng như được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất Trước yêu cầu đó, việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về chăm sóc sức khỏe cộng đồng và đặc biệt là vai trò của nhà nước đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng đang được đặt ra cấp thiết Trong những năm qua, có khá nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm lý luận ở các góc độ tiếp cận khác nhau về chăm sóc sức khỏe cộng đồng và chức năng của nhà nước đối với lĩnh vực y tế Đã có nhiều đề tài khoa học, sách, tạp chí khoa học, kỷ yếu khoa học, luận án, luận văn và bài viết cả trong và ngoài nước đề cập tới vấn đề này
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến sức khỏe cộng đồng và những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Có khá nhiều tác giả nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và các yếu tố tác động đến sức khỏe cộng đồng, trong số đó là:
Bài viết “Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu khía cạnh xã hội của sức
khỏe, bệnh tật và y tế để đổi mới công tác chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2/2003, trang 67-72 của tác giả
Trần Văn Thụy không chỉ đề cập đến quan niệm sức khỏe mà còn phân tích mối quan hệ giữa sức khỏe và bệnh tật của con người trên cơ sở tư tưởng triết học Trung
Trang 14Hoa cổ đại, Ấn Độ cổ đại, triết học Phương Tây từ thế kỉ XVII đến thể kỉ XIX Tác giả phân tích quan điểm của Ăngghen, coi bệnh tật là biểu hiện, là hậu quả trực tiếp của việc chạy theo lợi nhuận bất chấp cả an toàn công nghiệp và chất lượng sản phẩm Bài viết phân tích định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới, từ đó khẳng định sức khỏe, bệnh tật liên quan đến các yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội, tác giả phân tích thực trạng và những thách thức của nền y tế Việt Nam Tác giả khẳng định: “Mục tiêu nghiên cứu khía cạnh xã hội của sức khỏe, bệnh tật và y tế nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách và quản lý ngành y tế soạn ra được những biện pháp ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe công dân, xây dựng
hệ thống y tế phù hợp nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và khả năng sáng tạo của mỗi thành viên trong xã hội”[96, tr.71]
Bài “Vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Lý luận chính trị(2), tr.77-80, năm 2007 của tác giả Đỗ
Văn Thống cho rằng, quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), nhất
là ở nông thôn cùng với việc xuất hiện nhiều làng nghề, một mặt đã cải thiện đáng
kể đời sống vật chất của người dân Mặt khác, việc khai thác, tiêu hủy các cánh rừng tự nhiên, chất thải độc hại không được xử lý, ô nhiễm môi trường đã tác động rất lớn đến đời sống và sức khỏe của nhân dân Từ việc khảo sát thực trạng sức khỏe người dân từ các làng nghề ở nông thôn Việt Nam, tác giả đưa ra những dẫn chứng
và khẳng định, sức khỏe cộng đồng ở những làng nghề rất đáng lo ngại, họ thường gặp một số bệnh dị ứng, bệnh liên quan đến hô hấp, mắt, cơ khớp, xương… “Kết quả nghiên cứu cho biết hiện nay môi trường không khí ở các khu vực đô thị và các khu công nghiệp đang bị ô nhiễm nặng ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người”[94, tr.79] Những thách thức về môi trường và sự phát triển bền vững là không nhỏ trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam Nhà nước có trách nhiệm giải quyết vấn đề này nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Cuốn sách “Sức khỏe toàn cầu” Nxb Y học, năm 2008 do Nguyễn Thị Kim
Chúc(dịch), đã phân tích các khái niệm sức khỏe và các yếu tố kinh tế-xã hội ảnh hưởng và tác động rất lớn đến tình trạng sức khỏe của người dân ở mỗi quốc gia:
Trang 15thu nhập, công bằng, về hỗ trợ giáo dục, văn hóa, dân tộc, thực phẩm, điều kiện vệ sinh, các yếu tố môi trường, hành vi và đặc biệt là dịch vụ y tế Tác giả của cuốn sách khẳng định muốn nâng cao sức khỏe cộng đồng cần tác động vào nhiều yếu tố trên Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng không phải cứ chi tiêu nhiều thuốc có nghĩa
là sẽ dẫn đến sức khỏe cộng đồng tốt, “Nhật Bản chi 6,5% GDP cho chăm sóc sức khỏe, trong khi Mỹ chi tiêu nhiều gấp đôi Nhưng người Mỹ vẫn có tuổi thọ trung bình thấp hơn người Nhật”[23, tr.311] và khẳng định “có nhiều bằng chứng về phương thức tốt nhất sử dụng tiền và nguồn lực trong lĩnh vực y tế hơn là phương thức phân phối nguồn lực tối ưu nhất cho y tế”[23, tr.312] Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, tác giả cho rằng, việc chi nhiều cho y tế không đồng nghĩa với việc sẽ đem lại sức khỏe tốt nhất cho cộng đồng, mà cần phải tác động một cách đồng thời vào các yếu tố trên, hơn nữa là cần phải sử dụng nguồn lực ấy như thế nào, tức là phân phối nguồn lực ấy một cách tốt nhất, hợp lý nhất mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất Quan trọng hơn là phải xây dựng một chính sách hợp lý cho việc xây dựng hệ thống y tế của mỗi nước
Cuốn sách “Chi phí y tế và đói nghèo ở Việt Nam”, Nxb Lao động, năm 2012
của tập thể tác giả do Đào Văn Dũng (chủ biên) đã nêu các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí y tế của cộng đồng: chính sách, cung ứng dịch vụ y tế…; thực trạng chăm sóc sức khỏe người nghèo trên thế giới và ở Việt Nam Đồng thời, nêu lên sự khác biệt giữa chi phí y tế với các dịch vụ khác, việc không được “mặc cả”, tâm
lý “còn nước còn tát” khi bị bệnh, chi phí y tế cao làm cho những người nghèo càng nghèo hơn, người cận nghèo rơi xuống nghèo đói Trong khi nguồn lực cho
y tế còn hạn hẹp thì việc nghiên cứu chi phí y tế có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, vừa góp phần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống y tế Từ đó, tác giả phân tích một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của chi phí y tế lên tình trạng nghèo hóa: hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ y tế; tăng cường củng cố cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, cán bộ y tế cho các cơ sở y tế đặc biệt ở tuyến xã để người dân tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ y tế…
Trang 16Cuốn sách “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân”, NXB
CTQG, Hà Nội, năm 2012 của tác giả Đào Văn Dũng nêu khái niệm sức khỏe, yếu
tố tác động tới sức khỏe, khái niệm chăm sóc sức khỏe Tác giả không phân tích một cách trực diện vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
mà tiếp cận ở một góc độ khác tới vấn đề này Có thể nói chăm sóc sức khỏe nhân dân chỉ được coi là hoàn thiện khi quốc gia đó tạo điều kiện cho đông đảo người dân tiếp cận được với các dịch vụ y tế Tác giả chỉ ra sự khác biệt của công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe là hoạt động cung cấp dịch vụ trong chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, nhóm người bệnh, gia đình người bệnh, cộng đồng dân cư là những đối tượng bị tổn thương về mặt thể chất, tâm lý, xã hội Những đối tượng này gặp vấn đề với các cơ sở y tế, và họ không tự hòa nhập được với cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe Với phương thức hoạt động như vậy, có thể nói công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe đang chia sẻ trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân trong lĩnh vực y tế
Cuốn sách “Y xã hội học và xã hội học về sức khỏe”, Nxb CTQG, Hà Nội,
năm 2013 của tác giả Đào Văn Dũng và Đỗ Văn Dung (đồng chủ biên), trên cơ sở phân tích khái niệm sức khỏe bằng cách tiếp cận khái niệm này dưới nhiều góc độ: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các tác giả nêu khái niệm sức khỏe cộng đồng và khẳng định có 3 nhóm cơ bản: yếu tố sinh học, yếu tố thiên nhiên khí hậu và các yếu tố kinh tế-xã hội quyết định đến sức khỏe cộng đồng Từ đó, đi đến phân tích bối cảnh tác động đến chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, phân tích những thời cơ, thuận lợi: Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến chăm sóc sức khỏe nhân dân; kinh tế phát triển, có điều kiện đầu tư cho chăm sóc sức khỏe; giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí, tăng cường hiểu biết về chăm sóc sức khỏe trong nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế ngày càng đông đảo với trình độ ngày càng cao; mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y tế…cũng như những thách thức, khó khăn đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng: lúng túng và thiếu triệt để trong thực hiện các chính sách trong lĩnh vực y tế; phân hóa giàu nghèo; cơ cấu bệnh tật có nhiều thay đổi; nhu cầu và chi phí chăm sóc sức
Trang 17khỏe tăng trong khi tỷ lệ chi tiêu công cho y tế còn hạn chế; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm
y tế thấp… Bên cạnh đó, cuốn sách chỉ ra khái niệm những nội dung của chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu chí công bằng trong chăm sóc sức khỏe, công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân ở Việt Nam và trên thế giới; mối quan hệ và ảnh hưởng của chi phí y tế và đói nghèo Từ đó, các tác giả đã phân tích tác động của các chính sách nhằm hỗ trợ người nghèo trong khám chữa bệnh và đưa ra các giải pháp đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân
Luận án Triết học “Khía cạnh triết học-xã hội của vấn đề sức khỏe và chăm
sóc sức khỏe ở Việt Nam hiện nay”, Viện Triết học, Hà Nội, năm 1996 của tác giả
Nguyễn Hiền Lương đã làm sáng tỏ khía cạnh triết học xã hội của vấn đề sức khỏe
và lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam hiện nay cả từ góc độ tiếp cận lẫn giải pháp Tác giả đã phân tích những quan niệm khác nhau trong lịch sử về sức khỏe và những thay đổi bệnh tật trong tiến trình lịch sử, những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và những giải pháp nhằm chăm sóc sức khỏe con người ở Việt Nam
Luận án Tiến sĩ triết học “Ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội
đến sức khỏe con người và vấn đề nâng cao sức khỏe con người ở Việt Nam hiện nay” (2013), Đại học Quốc gia Hà Nội của Trần Quang Tuynh đã phân tích rất sâu
yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội và vai trò của hai yếu tố này đối với sức khỏe con người, đặc biệt, khẳng định yếu tố xã hội: hệ thống y tế, chính sách y tế và nhân lực
y tế là những nhân tố quan trọng tác động rất lớn đến sức khỏe cộng đồng Từ góc
độ triết học, tác giả khẳng định, muốn nâng cao sức khỏe con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cần sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp: tổ chức tốt mạng lưới y tế theo chức năng, nhiệm vụ mới; đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các cơ sở y tế theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch; đổi mới và tăng cường vai trò của Nhà nước đối với hệ thống y tế; hoàn thiện hệ thống chính sách y tế; chú trọng tới đội ngũ cán bộ y tế về số lượng và chất lượng…
Không chỉ ở Việt Nam, nhiều tác giả trên thế giới đã sớm bàn đến lý luận về sức khỏe và những nhân tố tác động đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng Trong
tác phẩm “On the structural constrains to state Intervention in Health”,
Internationnal Journal of Health services, năm 1975 của Renaud đã giải thích việc
Trang 18chăm sóc và chữa bệnh trong xã hội Phương Tây như là một bộ phận của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Rằng phương thức hành động của y học cận đại là hợp pháp hóa nó trong mục đích là tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Với ngành y học, việc chăm sóc sức khỏe đã lớn mạnh thành một ngành công nghiệp đóng góp cho việc duy trì tính hợp pháp của trật tự xã hội, cũng như góp phần tạo ra một lĩnh vực sản xuất mới[115, tr.546] Theo tác giả, bệnh tật và cả những cách chữa trị của nó, vốn là những hành động chính trị Bởi vì, mỗi giai đoạn trong sự phát triển của nền kinh tế lại tạo ra những điều kiện cho sự phát triển những bệnh tật đặc thù và cũng đưa ra một cách chữa bệnh đặc thù
Cuốn “Sociology”, Nxb New York năm 1987 của tác giả Ian Robeetson cho
rằng, giữa thế kỉ XIX, thuyết Vi trùng học của Louis Pasteur thực sự là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực y học Nó chấm dứt cách nhìn siêu thực về bệnh tật, mở
ra một khả năng nghiên cứu về sức khỏe không phải chỉ từ phía các bác sĩ, mà từ cả các nhà tâm lý học, tâm thần học, nhân chủng học và các nhà văn hóa[114, tr.432] Thuyết Vi trùng học là cơ sở khoa học cho việc xem xét bệnh tật và sức khỏe trong mối quan hệ với các nhân tố xã hội và văn hóa trong nhiều thập kỉ giữa thế kỷ XIX
Tiếp đó, tác giả cũng đưa ra thuyết xung đột về y học và sức khỏe, trong đó nhấn
mạnh rằng, sự không bình đẳng trong xã hội ảnh hưởng rất lớn đến mô hình bệnh tật và chăm sóc sức khỏe Sự mất cân đối, không bình đẳng về sức khỏe chính là hậu quả của phân tầng xã hội, sự phân biệt chủng tộc và giai cấp Sức khỏe cũng là một nguồn giá trị như mọi nguồn giá trị khác, còn hệ thống chăm sóc sức khỏe thì được hình thành trên cơ sở sự chạy đua của con người để dành lấy sức khỏe tốt Hệ
thống này có thể là giảm bớt hoặc giữ nguyên, hoặc làm tăng lên những bất bình
đẳng về sức khỏe vốn đã có trong xã hội [114, tr.493-450] Dựa trên quan điểm này, các nhà dịch tễ học ở Phương Tây thời kì đó đã kết luận rằng các loại bệnh của người da đen ở Mỹ đều bắt nguồn từ sự định kiến và tệ phân biệt chủng tộc Quan điểm xung đột về y tế, về sức khỏe và bệnh tật cho đến nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và một số nước Tây Âu
“The solid facts; Social determinants of health” của tác giả Richard Wilkison
và Micheal Marmot, năm 1998 đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 19Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng, để tăng cường sức khỏe, ngoài việc đảm bảo mọi điều kiện cuộc sống, sinh hoạt xã hội như: đô thị, trường học, chỗ làm, cộng đồng nhà ở… thì các chính sách và giải pháp về sức khỏe phải được xây dựng theo hướng tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe nhằm giải quyết những nguyên nhân gây bệnh trước khi xảy ra vấn đề Cần có những chính sách hỗ trợ thu nhập, chính sách can thiệp của y tế công cộng nhằm loại bỏ những rào cản tiếp cận dịch vụ y tế…Đây là một nhiệm vụ khó khăn cho cơ quan các cấp, các tổ chức y tế công cộng
Cuốn sách “Social and cultural contribution to health, diference and
inequality”, Social Medicine Reader Vol 2, pp.4-26, 2005 của tác giả Sue E Estroff
và Gail E Henderson đã phân tích và khẳng định văn hóa, sức khỏe và bệnh tật có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ này đã tạo ra và sẽ tiếp tục tạo ra những thách thức đòi hỏi các thầy thuốc cần phải có kiến thức sâu rộng cũng như các nhà quản
lý, những nhà hoạch định chính sách phải có cái nhìn tổng thể, đa ngành, đa chiều nhằm tiếp tục cải thiện sức khỏe cá nhân và cộng đồng
Từ các góc độ khác, còn có nhiều bài viết bàn đến vấn đề sức khỏe, hướng
tiếp cận những yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam: “Nhân học y
tế- hướng tiếp cận nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở các vùng dân tộc người thiểu số Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”của tác giả Nguyễn Thị
Thanh Vân trong Kỷ yếu Tọa đàm khoa học “Nhân học trong bối cảnh toàn cầu
hóa” năm 2013 tổ chức tại Trường Đại học KHXH&NV, Thành phố Hồ Chí Minh
“Cơ sở lý luận quan điểm sức khỏe là vốn quý”, Tạp chí Công tác Khoa giáo, số 5 năm 2003 “Mấy vấn đề công bằng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ở nước ta hiện
nay”, Tạp chí Triết học, số 8/2003, tr48-52 của tác giả Lê Hồng Khánh, “Nghiên cứu tình trạng sức khỏe và các nhu cầu tác động đến sức khỏe của người cao tuổi tại huyện An Hải, Hải Phòng” Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội, năm 2005
của Đặng Xuân Tín, “Toàn cầu hóa và một số ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe
người lao động”, Nxb Y học, Hà Nội, năm 2005 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú
…đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề sức khỏe ở nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 201.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận và thực trạng vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trên thế giới, đối với cả những nước phát triển và đang phát triển, vấn đề chức năng xã hội của nhà nước được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: kinh tế, pháp luật, chính trị, văn hóa… Không chỉ dừng lại ở đó, ngày nay, chức năng xã hội của nhà nước còn thể hiện ở nhiều phương diện khác, phong phú và đa dạng hơn: thiết lập hệ thống bảo hiểm, an sinh, phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp…đặc biệt, trong lĩnh vực y tế nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này:
Trong cuốn sách “Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công-nhận
thức, thực trạng và giải pháp”, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, năm 2002 của tập
thể tác giả do Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên gồm nhiều bài viết bàn về dịch vụ công,
đã luận giải vai trò của nhà nước trong cung ứng các dịch vụ công như: giáo dục; y tế… xuất phát từ chức năng của nhà nước Trong công trình này, có nhiều bài viết của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài luận án:
Bài viết “Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ
công” (trang 9-20) của tác giả Nguyễn Ngọc Hiến khẳng định, xuất phát từ chức
năng phục vụ, Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm cung ứng cho nhân dân những dịch vụ công cộng, thiết yếu, tối cần thiết của cả cộng đồng: y tế, giáo dục…bởi những dịch vụ này tư nhân không muốn cung ứng vì không có lợi nhuận hoặc không đủ quyền lực và vốn liếng để tổ chức cung ứng (tiêm chủng, cứu hỏa, an ninh…) Tác giả nhấn mạnh: “Cũng có những loại dịch vụ mà tư nhân có thể cung cấp, nhưng cung cấp không đầy đủ, hoặc thị trường tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng, gây ra tình trạng độc quyền, đẩy giá lên cao, làm ảnh hưởng tới lợi ích người tiêu dùng như: dịch vụ y tế, giáo dục, điện nước, sinh hoạt…Khi đó, Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng, hoặc điều tiết, kiểm soát thị trường tư nhân”[52, tr.13] Ngay
cả khi Nhà nước chuyển giao cho tư nhân cung ứng, thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ công, nhằm khắc phục các khiếm khuyết của thị trường
Trang 21Bài viết “Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ chăm sóc sức
khỏe”(trang 154) của Dương Huy Liệu và Nguyễn Quang Cừ cho rằng, nếu coi việc
chăm sóc sức khỏe là quyền được hưởng của mỗi người giống như quyền sống của mỗi dân tộc, thì nhà nước phải có trách nhiệm chính trị đối với việc chăm sóc sức khỏe cho công dân của mình Nền tảng của trách nhiệm đó là chủ nghĩa nhân đạo, là triết lý công bằng xã hội: “Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng chỉ có nguồn tài chính và nhân lực nhất định cho chăm sóc sức khỏe Mọi ước muốn và nhu cầu của con người về vấn đề này không thể thỏa mãn hết được”[52, tr.155] Vì vậy, mỗi quốc gia phải quyết định một chiến lược để khai thác, phân bổ nguồn lực và dịch vụ
ấy theo mục tiêu: công bằng và hiệu quả, nâng cao được sức khỏe nhân dân Trên
cơ sở khảo sát kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới (các nước đã phát triển, các nền kinh tế đang chuyển đổi, các nước đang phát triển), các tác giả đề xuất một số định hướng cung ứng dịch vụ công trong chăm sóc sức khỏe: Nhà nước phải có vai trò quyết định thông qua đường lối, chiến lược, kế hoạch phát triển và quản lý hệ thống y tế quốc gia, trong đó có cả công và tư; Nhà nước cần đầu tư để củng cố, nâng cao chất lượng y tế huyện, xã, đặc biệt ở những vùng khó khăn để người nghèo có thể tiếp cận được với các dich vụ chăm sóc sức khỏe; Nhà nước cần sớm
có chính sách lương cho cán bộ y tế một cách hợp lý, coi chính sách thu hút cán bộ
y tế vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng chính là chính sách khuyến khích nhằm nâng cao điều kiện tiếp cận, sự bao phủ và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; Tăng đầu tư y tế ở các tuyến; phát triển y tế tư nhân; phát triển bảo hiểm y tế; tăng hợp tác quốc tế…
Bài viết “Đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học”(trang
279) của Hà Quang Ngọc khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Vì vậy, Nhà nước có trách nhiệm chăm
lo cho đời sống của nhân dân, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế…Nhu cầu của nhân dân ngày càng tăng, trong khi ngân sách nhà nước thì có hạn, do đó, giải pháp tháo
gỡ mâu thuẫn này đòi hỏi phải xã hội hóa, nhằm chia sẻ gánh nặng về tài chính:
“Việc đẩy mạnh và mở rộng xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, y tế,
Trang 22giáo dục, khoa học có ý nghĩa quan trọng Nó không chỉ làm giảm gánh nặng đối với hoạt động của Nhà nước mà còn góp phần xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội, trực tiếp tham gia vào quá trình cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước vững mạnh”[52, tr.289] Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, mỗi tổ chức doanh nghiệp và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai xã hội hóa trong lĩnh vực y tế đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, nguyên nhân không phải xuất phát từ chủ trương mà do quá trình thực hiện Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp tháo
gỡ những bất cập trên nhằm thúc đẩy dịch vụ y tế phát triển theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Bài “Đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân” , Tạp chí
Cộng sản, số 31/2002, tr.10 của tác giả Phạm Mạnh Hùng cho rằng, để đảm bảo được tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe, hệ thống tài chính cần có hai yếu tố
cơ bản: Một là: Ngân sách nhà nước phải là nguồn kinh phí chính dành cho y tế;
Hai là: Nhà nước phải có chính sách và biện pháp hữu hiệu để tổ chức cho nhân
dân chi trả phần còn lại Từ khảo sát thực trạng, tác giả chỉ rõ: chi tiêu công cho y tế
ở nước ta còn thấp, trong khi đó, việc tổ chức cho nhân dân chi trả phần còn lại chưa được thực hiện tốt Người dân chủ yếu chi trả thông qua viện phí trực tiếp cho các cơ sở khám chữa bệnh Tỷ lệ người dân có bảo hiểm y tế còn thấp Do đó, hệ thống tài chính y tế của nước ta hiện nay chưa đảm bảo được tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe Đòi hỏi, Nhà nước cần từng bước tăng chi tiêu công cho y tế, bên cạnh đó tổ chức tốt để người dân tự chi trả các phần còn lại (bằng hình thức bảo hiểm y tế, quỹ khám chữa bệnh…) đồng thời quản lý tốt hệ thống y tế tư nhân và có các giải pháp để giảm chi tiêu không cần thiết, chi tiêu bất hợp lý của người dân Theo tác giả: “Thực hiện tốt những định hướng này, hệ thống tài chính y tế Việt Nam sẽ mang tính công bằng hơn, góp phần thực hiện mục tiêu: “công bằng”, “chất lượng” và “hiệu quả”[56, tr.13] trong chăm sóc sức khỏe nhân dân
Bài viết “20 năm đổi mới của y tế Việt Nam”, của tác giả Phạm Mạnh Hùng
Tạp chí Công tác Khoa giáo, số 1/2006, tr.38 nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt và
Trang 23nhất quan về chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nước ta, đó là phấn đấu xây dựng một nền y tế sao cho mọi người dân, không phân biệt giàu, nghèo, dân tộc thiểu số hay đa số, nông thôn hay thành thị đều được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, kể cả trong phòng bệnh hay trị bệnh lẫn phục hồi chức năng Tác giả cũng khẳng định, để thực hiện được quan điểm đó, Nhà nước đã có những bước đột phá trong đổi mới và quản lý y tế: coi trọng y tế cơ sở, từng bước hoàn thiện mạng lưới y tế (coi y tế cơ sở là xương sống của y tế Việt Nam- bởi y tế thôn, bản, xã, phường, huyện là tuyến y tế trực tiếp nhất, đảm bảo cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp nhất) góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo tạo niềm tin của nhân dân vào chế độ XHCN Đối với nguồn nhân lực, Nhà nước đã đẩy mạnh đào tạo nhân lực y tế; đề cao khoa học- công nghệ, thông qua bước phát triển hệ thống nhà trường Y- Dược, chỉ đạo Bộ Y tế đưa bác sĩ về công tác tại tuyến xã đã có những chuyển biến tích cực, tác động đến việc đào tạo bác sĩ theo hướng cộng đồng Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quan tâm đến đổi mới cơ chế đầu tư tài chính cho y tế, từng bước hình thành bảo hiểm y tế và mở rộng diện bao phủ qua mỗi năm, giải pháp viện phí đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho chi tiêu các dịch vụ y tế, nhất là khám chữa bệnh tại các bệnh viện….Bên cạnh những kết quả đạt được, tác giả cũng chỉ ra những yếu kém và hạn chế: Chất lượng dịch vụ y tế còn chưa đáp ứng với nhu cầu của nhân dân; hệ thống y tế chậm đổi mới, chưa thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc thiết yếu còn thấp; công tác y tế
dự phòng còn nhiều bất cập; một bộ phận cán bộ y tế còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp, làm phai mờ lòng tin của nhân dân đối với ngành y tế….Theo tác giả, nguyên nhân của thực trạng trên là do: quản lý Nhà nước trong lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập, chưa có hệ thống chính sách tài chính y tế đồng bộ; Đầu tư ngân sách nhà nước cho y tế còn thấp, đặc biệt sử dụng kém hiệu quả; chưa thực sự huy động được các nguồn lực từ cộng đồng; đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu và yếu, chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng; ngay cả lãnh đạo các cấp vẫn còn chưa có nhận thức đúng đắn
về sức khỏe và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trang 24Luận án Chính trị học “Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công
bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay”, Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm
2011 của Võ Thị Hoa phân tích cho chúng ta khái niệm công bằng xã hội, ở đó, Nhà nước có vai trò đảm bảo công bằng xã hội cho mọi người dân về cơ hội và những điều kiện để nắm bắt và tranh thủ cơ hội, biến cơ hội thành hiện thực để phát triển
Từ đó, chỉ ra những thành tựu mà Nhà nước đã đạt được trong việc thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân: các chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách hỗ trợ viện phí, hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho hộ nghèo…được thực hiện khá tốt đem lại niềm tin cho nhân dân vào chế
độ Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: Chính sách phát triển y tế chưa đồng bộ, chưa thực sự chú ý hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, quản lý, giám sát y tế tư nhân còn nhiều lúng túng, chế tài xử phạt các sai phạm chưa cụ thể…gây thiệt hại cho người dân
Bài viết “Củng cố và hoàn thiện y tế công, phát triển y tế tư trong các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe, Tạp chí Tuyên giáo, số 7, năm 2012 của tác giả Phạm Mạnh
Hùng đã khảo sát thực trạng của của y tế công và y tế tư Từ đó, đi đến khẳng định, mặt được của y tế công là bảo đảm tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe vì phân
bổ nguồn lực và tài chính nằm trong tay Nhà nước nên vùng nghèo bao giờ cũng được quan tâm hơn Cũng nhờ đó mà mạng lưới y tế cơ sở được hoàn thiện và củng
cố tạo điều kiện để các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến tới các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng kinh tế khó khăn… Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới,
do việc chậm xác định rõ ràng một cơ chế tài chính trong y tế công nên chúng ta lúng túng về nguồn thu bảo hiểm y tế, dẫn đến hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn hạn chế Theo tác giả, để nâng cao vai trò của y tế công cần: Xác định cơ cấu nguồn ngân sách nhà nước cho chăm sóc sức khỏe sao cho ngân sách nhà nước chiếm ít nhất là trên 50% tổng chi xã hội cho y tế; Phân bổ ngân sách nhà nước theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của từng vùng, miền; Thực hiện các chính
Trang 25sách chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người có công với cách mạng…; Giải quyết mối quan hệ giữa giá thành và giá; Giải quyết mối quan hệ giữa tự chủ về tài chính và nhân lực tại các cơ sở y tế công lập trong việc quản lý chặt chẽ của Nhà nước và sự minh bạch, công khai về tài chính; Tăng thu nhập cho cán bộ y tế, phát triển bảo hiểm y tế toàn dân Để phát huy tác dụng của y tế tư nhân, cần tránh: khuynh hướng lệch lạc mà y tế tư nhân dễ vấp phải khi thực hiện cơ chế KTTT (lạm dụng thuốc, kỹ thuật…gây lãng phí); ít quan tâm đến các vấn đề công bằng trong chăm sóc sức khỏe Cuối cùng, tác giả cho rằng xác định mối quan hệ giữa y tế công và y tế tư là một nội dung cần thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn
Luận án triết học “Vấn đề thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Việt
Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay”, Học viện Chính trị-
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2012 của Dương Thị Thục Anh đã luận giải chức năng xã hội của Nhà nước Trên cơ sở phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam, Luận án đã đi vào khảo sát thực trạng việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước trong chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân và chỉ ra một số thành tựu: hoạt động của Nhà nước trong công tác y tế có nhiều tiến
bộ, tạo điều kiện cho người dân được chăm sóc sức khỏe, có nhiều chính sách ưu tiên đối với các đối tượng, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, người nghèo, người thuộc diện chính sách, chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên…đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe nhân dân: hệ thống y
tế chậm đổi mới; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu của người dân; điều kiện chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế; đầu
tư nhà nước và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển y tế chưa hiệu quả; chính sách sử dụng và đào tạo cán bộ y tế còn nhiều bất cập….Từ đó tác giả Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng xã hội
Bài viết “Hướng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân”, Tạp chí
Tuyên giáo, số 6 năm 2013, trang 68-70 của tác giả Đào Văn Dũng, Phạm Gia
Trang 26Cường cho rằng: “Việc đảm bảo công bằng xã hội, trong đó có công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân thể hiện trình độ phát triển xã hội, bảo đảm nghĩa vụ
và quyền lợi trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội nhằm phát triển hài hòa con người và xã hội theo xu thế và tiến bộ xã hội”[31, tr.68] Sự khác nhau về điều kiện kinh tế, văn hóa, địa lý và sự phát triển xã hội dẫn đến sự phân hóa về trình độ giữa các vùng miền, ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Từ việc phân tích khái niệm công bằng trong chăm sóc sức khỏe: ai có nhu cầu nhiều thì được chăm sóc nhiều hơn, ai chịu thiệt thòi về kinh tế-
xã hội phải được quan tâm nhiều, nói đến công bằng trong chăm sóc sức khỏe nghĩa
là đề cập đến dịch vụ nào được cung cấp và ai là người trả tiền cho dịch vụ đó ở mỗi vùng dân cư có điều kiện khác nhau Theo tác giả, để đảm bảo công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe thì các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phải đảm bảo các nguyên tắc: Cung cấp bảo hiểm xã hội có tính phổ cập và chi phí phải chăng cho tất
cả người dân; hỗ trợ tài chính đủ rộng để bảo đảm các cá nhân và gia đình không bị gánh nặng quá mức khi mua bảo hiểm y tế; sử dụng phúc lợi y tế toàn dân; đảm bảo tài chính công giữ vai trò quan trọng trong tổng chi xã hội cho y tế để hỗ trợ những cá nhân và gia đình có thu nhập thấp mua được bảo hiểm y tế… Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng: củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế nhất là y tế cơ sở; đào tạo và bồi dưỡng nhân lực y tế; cung cấp trang thiết bị y tế tương ứng với từng vùng, miền; đảm bảo tài chính y
tế và y tế dự phòng; hoàn thiện, đồng bộ chính sách bảo hiểm y tế…
Bài “Ngành y tế nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe của nhân
dân”, Tạp chí Cộng sản, số 104/2015, trang 74 của tác giả Lê Thị Thanh Trà đã nêu
lên những thành tựu của Nhà nước trong việc chỉ đạo ngành y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Ngăn chặn và khống chế kịp thời các dịch bệnh có diễn biến phức tạp (Ebola; H7N9; H5N6; MERS-CoV…); công tác khám chữa bệnh đạt được kết quả khả quan: số lần khám, điều trị, phẫu thuật đều tăng; áp dụng khoa học công nghệ vào khám chữa bệnh; đầu tư trang thiết bị y tế và cơ sở vật chất
y tế nâng số lượng bệnh viện và trung tâm y tế, góp phần tăng giường bệnh; chú
Trang 27trọng phát triển mạng lưới y tế thôn bản, xã, tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ y tế, đặc biệt, năm 2014 đã xây dựng và tập trung củng cố mạng lưới y tế biển đảo; giảm thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi khám chữa bệnh cho người dân; tăng cường kiểm tra giám sát để đảm bảo chất lượng thuốc, kiểm tra 100% thuốc nhập khẩu của các công ty có vi phạm, thu hồi thuốc không đảm bảo chất lượng; bảo đảm kinh phí để mua và hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo; tăng cường quản lý hành nghề y dược tư nhân…Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế và thách thức đối với công tác khám chữa bệnh: nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng tăng do: bệnh truyền nhiễm có xu hướng quay trở lại, tai nạn thương tích tăng, khí hậu môi trường, lối sống ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, già hóa dân số đang tạo áp lực cho ngành y tế và quản lý nhà nước trên lĩnh vực này; cơ sở vật chất xuống cấp, trang thiết bị y tế thiếu, lạc hậu, không đồng bộ gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế; nguồn nhân lực y tế còn hạn chế, phân
bố không đồng đều; đầu tư cho y tế dự phòng còn thấp, nhiều địa phương còn chưa phân bổ đủ 30% cho y tế dự phòng theo quy định; mạng lưới y tế cơ sở còn phân cách giữa huyện và xã, chưa có sự kết hợp, không tiết kiệm được nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu tư bị dàn trải…Từ thực tế đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tập trung ngay từ y tế cơ sở…
Báo cáo “ Bình đẳng y tế nhờ giải pháp về các yếu tố xã hội quyết định sức
khỏe”, Tạp chí Y tế Quốc tế, số 4, năm 2009 của Anne- Emanuell Birn Trong khi
viết về “trách nhiệm của thị trường”, tác giả đã bàn đến vai trò của thị trường, của nguồn vốn, quyền lực của các tập đoàn với thái độ trung lập khi cho rằng các tập
đoàn có nguồn vốn khổng lồ này cần phải “đảm nhiệm cung ứng hàng hóa công
cộng, cũng như đảm bảo mục đích kinh tế tư nhân”, cũng như việc khẳng định lợi
ích tư nhân về mặt khái niệm chỉ chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu/cổ đông tư nhân mà thôi Các tập đoàn đa quốc gia hưởng lợi nhuận lớn (đồng thời được khuyến khích làm như vậy) bằng cách thao túng luật pháp, bóc lột người lao động, gây ô nhiễm môi trường Từ đó, tác giả của báo cáo đề xuất hai giải pháp khiến cho
thị trường có “trách nhiệm hơn” Một là, nâng cao vai trò của y tế công cộng trong
Trang 28các đàm phán về chính sách kinh tế, trên cơ sở thể chế hóa đánh giá tác động về
công cộng trong mọi chính sách, hiệp định kinh tế quốc gia, quốc tế Hai là, kêu gọi
tái thiết lập vai trò chính của nhà nước trong cung ứng dịch vụ cơ bản về y tế, trong điều tiết những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe Không kể đến thái độ trung lập, báo cáo này có ba đóng góp lớn: nâng cao giá trị pháp lý của những yếu tố xã hội có ảnh hưởng trong lĩnh vực y tế và kêu gọi tăng cường đánh giá, giám sát vấn đề bất bình đẳng y tế; thảo luận được những khía cạnh toàn cầu của bất bình đẳng xã hội trong
y tế; xác định vai trò quan trọng của hệ thống y tế công cộng
Bài báo “Thực trạng công bằng trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam”, Tạp chí Công tác Khoa giáo, số 9, 2003 của tác Dương Huy Liệu; “Vấn đề định hướng
tài chính y tế trong giai đoạn tới và thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân”, Tạp chí
Công tác Khoa giáo số 3/2003, tr.18 của tác giả Nguyễn Ngọc Hàm; “Bảo hiểm y tế
toàn dân- một vấn đề cấp thiết” Tạp chí Công tác Khoa giáo, số 3/2003, tr.16 của
tác giả Phạm Tất Dong; “Xã hội hóa y tế: Những vấn đề đặt ra” Tạp chí Công tác Khoa giáo, số 10/2005, tr.10 của Phạm Mạnh Hùng “Mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế và bảo đảm công bằng an sinh xã hội”, Tạp chí Tuyên giáo, số 6 năm 2012,
trang 59-65 của tác giả Vũ Văn Phúc “Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và
giải pháp”, Tạp chí Tuyên giáo, số 2 năm 2013, trang 68-70 của tác giả Đào Văn
Dũng, Nguyễn Tất Đạt “Phòng chống dịch bệnh nhiễm trùng truyền vì sức khỏe
nhân dân”, Tạp chí Tuyên giáo, số 5 năm 2013, trang 64-67 của tác giả Đào Văn
Dũng ….đã phần nào nêu lên thực trạng của công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng
ở Việt Nam
Bằng những chiêm nghiệm về sự vận động của nền KTTT tư bản chủ nghĩa, các tác giả tập trung bàn về vai trò của nhà nước –nhân tố quyết định dẫn đến thành công và thất bại ở một số quốc gia trên thế giới Theo các tác giả, nhiều nước rút ra bài học cho rằng, nhà nước không thể thực hiện được lời hứa của mình, các chiến lược do nhà nước đóng vai trò chủ chốt đều thất bại Nhiều người cảm thấy rằng, kết quả logic cuối cùng của tất cả các cải cách đó, nhà nước chỉ đóng vai trò tối thiểu, không có hại nhưng cũng không làm được nhiều điều tốt Nhưng, một thực tế khác cho thấy, lịch sử đã liên tiếp chứng minh rằng, chính phủ là nhân tố cần thiết
Trang 29định hướng phát triển kinh tế và quản lý xã hội, tạo điều kiện cho các tầng lớp dân
cư đều được hưởng các thành quả của sự phát triển nói chung, được phát triển một cách toàn diện- hưởng các dịch vụ giáo dục, y tế, được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nói riêng Vậy, vấn đề đặt ra là nhà nước nên làm gì và làm như thế nào để đạt được kết quả trong chăm sóc sức khỏe cho người dân
1.3 Những công trình nghiên cứu đề cập đến các giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trong nhiều công trình, các tác giả đã nghiên cứu tình hình chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nước trong lĩnh vực y tế, trong số đó, phải kể đến:
Bài “Dịch vụ y tế, đặc điểm và vai trò của Nhà nước” Tạp chí Công tác
Khoa giáo, số 9/2003 của tác giả Lê Văn Sáng đã phân tích nhằm lí giải cũng như phân biệt sự khác nhau giữa dịch vụ y tế công và dịch vụ y tế tư nhân Tác giả nhấn mạnh dịch vụ y tế công có ba đặc điểm cơ bản: mang tính xã hội, phục vụ nhu cầu
và lợi ích của cộng đồng, đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng; được hỗ trợ chủ yếu từ ngân sách nhà nước; mọi người dân đều có quyền được hưởng dịch vụ công này Từ việc phân chia dịch vụ y tế công và tư, tác giả chỉ rõ sự khác biệt giữa dịch
vụ y tế và các dịch vụ thông thường khác nhằm khẳng định vai trò của Nhà nước đối với ngành y tế nói chung và chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói riêng thông qua
chức năng cơ bản sau: Thứ nhất, định hướng thông qua chính sách, các văn bản pháp luật, xây dựng chiến lược phát triển của ngành y tế; Thứ hai, kích thích thông qua
các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung cấp các dịch vụ y tế
cho cộng đồng; Thứ ba, cung cấp ngân sách nhà nước, đầu tư tài chính cho các hoạt động y tế; Thứ tư, phối hợp với các cơ quan, các tổ chức trong bộ máy quản lý nhà
nước về y tế, phối hợp giữa các cơ sở y tế công và tư để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức
khỏe của nhân dân; Thứ năm, kiểm tra giám sát thông qua thanh tra y tế, đảm bảo cho
việc cung cấp các dịch vụ y tế một cách công bằng và hiệu quả
Trong cuốn “Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo ở Việt Nam”, Nxb Y học
năm 2005, tác giả Trần Thị Trung Chiến khẳng định sức khỏe và chăm sóc sức khỏe
là quyền của mỗi người phải được hưởng, giống như quyền được sống của mỗi con
Trang 30người trên thế giới Theo đó, tiếp tục đề cập đến quan điểm về công bằng trong chăm sóc sức khỏe, tác giả cho rằng nhà nước phải có trách nhiệm chính trị đối với công tác chăm sóc sức khỏe cho mọi công dân của mình, không phân biệt nam- nữ, giàu- nghèo, dân tộc, lứa tuổi, vùng, miền Do sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia khác nhau về nguồn tài chính nên mỗi quốc gia có những chính sách thích hợp Xu hướng ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, khi mức sống tăng thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân cũng tăng lên về số lượng và chất lượng, trong khi ngân sách nhà nước thì có hạn cho nên sự tham gia của y tế tư nhân vào hệ thống y tế quốc gia
là hết sức cần thiết Thông qua việc khảo sát các mô hình chính sách về chăm sóc sức khỏe, kinh nghiệm của các nước đã phát triển, các nước đang có nền kinh tế chuyển đổi cũng như các nước đang phát triển và các nước nghèo, tác giả cho rằng, Việt Nam cần rút ra một số bài học liên quan đến chăm sóc sức khỏe cho người nghèo Cuốn sách cũng nêu lên các chính sách và biện pháp cơ bản trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng với phương châm lấy phòng bệnh là chính Bên cạnh việc xây dựng được mạng lưới phòng bệnh, ban hành các chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, cũng như tăng khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ công, tác giả cũng nêu lên những thách thức trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói chung và người nghèo nói riêng Bởi, ở nước ta, sự phát triển kinh tế-xã hội không đồng đều giữa các tầng lớp nhân dân, do đó, các chính sách tăng trưởng kinh
tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội Để thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, từ việc phân tích những mặt tích cực của y tế tư nhân: người dân tiếp cận với các dịch vụ y tế, thuốc men dễ dàng hơn; hệ thống y tế tư nhân chia sẻ gánh nặng với nhà nước về chi phí ngân sách, giảm tải ở bệnh viện công…và chỉ ra mặt trái của việc thừa nhận y tế tư nhân: nhiều người nghèo không thể chi trả chi phí y tế tư nhân; y tế tư nhân không thể phát triển ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa…; những vấn đề tiêu cực như lạm dụng thuốc, xét nghiệm, lãng phí… tác giả đã chỉ ra những giải pháp mang tính định hướng chăm sóc sức khỏe cho người nghèo: xây dựng kế hoạch hành động toàn diện và đồng bộ về chăm sóc sức khỏe người nghèo; tăng cường tài chính cho y tế từ ngân sách nhà nước; hướng đầu
tư ưu tiên cho y tế xã, cho y tế dự phòng; phát triển bảo hiểm y tế toàn dân
Trang 31Cuốn sách “Vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, Nxb CTQG- Sự thật, Hà
Nội, năm 2011 của Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên) đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng về công tác y tế, về vai trò của Nhà nước trong tổ chức, quản lý và phát triển y tế Đặc biệt, được nhấn mạnh trong 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị với 5 quan điểm về chăm sóc sức khỏe nhân dân Xuất phát từ chức năng
xã hội, tác giả cho rằng Nhà nước có vai trò quan trọng đối với quản lý phát triển y
tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân được thể hiện thông qua những khía cạnh sau:
Ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về y tế- Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền tạo ra hệ thống cơ sở pháp lý để quản lý đối với các hoạt động y
tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong toàn quốc; Hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình bảo vệ sức khỏe; Đầu tư cho y tế; Quản lý các cơ sở y
tế thuộc mọi thành phần kinh tế- Nhà nước tạo điều kiện cho các loại hình y tế tư nhân, tập thể hoạt động; Tổ chức bộ máy, cán bộ y tế; Thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra y tế và xử lý vi phạm; Cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y tế Trên cơ sở thực tiễn, tác giả khẳng định
Nhà nước Việt Nam đã đạt được một số thành tựu trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân: xây dựng, ban hành văn bản, xác định cụ thể mục tiêu phấn đấu của ngành y tế; triển khai đồng bộ các nội dung quản lý phát triển y tế; đạt được những kết quả tích cực trong phát triển và quản lý y tế Đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế bất cập về vai trò của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; vấn đề hành nghề dược tư nhân chưa chặt chẽ, quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm chưa tốt; đào tạo và bồi dưỡng giáo dục
y đức còn hạn chế, chưa đảm bảo cân đối giữa đào tạo và sử dụng, cán bộ y tế vùng sâu, vùng xa còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng, một bộ phận cán bộ y
tế còn suy thoái về đạo đức; Đầu tư cho y tế cơ sở còn chưa đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, dẫn đến hiện tượng vượt tuyến…Cùng với việc chỉ ra xu hướng phát triển của lĩnh vực y tế, tác giả nêu ra một số quan điểm phát huy vai trò của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Hệ thống y tế công lập phải giữ
Trang 32vai trò chủ đạo; tăng tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho y tế; đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính; tăng cường vai trò quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với các hoạt động y tế… Để nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tác giả đã đề xuất các giải pháp chung từ 2011-2020: Quy hoạch mạng lưới y tế từ Trung ương đến địa phương đáp ứng nhu cầu cơ bản về khám, chữa bệnh của nhân dân; phát triển y tế dự phòng, phòng chống các bệnh truyền nhiễm; giảm tải tác hại do môi trường đối với sức khỏe cộng đồng; quy hoạch tổng thể phát triển ngành y tế Việt Nam đến năm 2020, định hướng cho lộ trình phát triển ngành y tế Việt Nam; định hướng phát triển y tế địa phương và một
số vùng khó khăn- đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực
Cuốn sách “Phát triển dịch vụ xã hội ở nước ta đến 2020- Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, NXB CTQG, Hà Nội, năm 2012 của Trần Hậu, Đoàn Minh
Tuấn cho rằng, nhu cầu khách quan quy định trách nhiệm của nhà nước cần phải bảo đảm các dịch vụ xã hội thuần công, trong đó có y tế Bởi, đây là lĩnh vực liên quan đến toàn xã hội: Tư nhân không đủ vốn liếng để cung cấp cũng như huy động các nguồn lực cần thiết để đáp ứng; nếu tư nhân cung cấp sẽ giảm phúc lợi, dẫn tới bất bình đẳng trong thụ hưởng dịch vụ y tế; xuất phát trừ thất bại của thị trường khi
tư nhân chỉ quan tâm đến lợi nhuận Các tác giả đã nêu các mô hình và cách thức can thiệp của nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ y tế: mô hình độc quyền nhà nước; mô hình nhà nước can thiệp vào hoạt động y tế dựa vào quy luật của thị trường; mô hình nhà nước can dự vào hoạt động cung ứng dịch vụ xã hội bằng cách chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước với thị trường dân sự[51, tr.66] Trong cuốn sách này, tác giả còn phân tích bốn mô hình phát triển dịch vụ xã hội nói chung và dịch
vụ y tế nói riêng của các nước phát triển: mô hình dân chủ xã hội của các nước Bắc
Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch trong đó y tế được tài trợ thông qua hệ thống thuế[51, tr.123]; mô hình nghiệp đoàn đại lục ở các nước Pháp, Áo, Đức, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ trong đó, dịch vụ y tế được hoạt động từ nguồn vốn của nhà nước, công ty tư nhân và các tổ chức tự nguyện, sự trợ cấp của nhà nước tập trung cho đối tượng thất nghiệp, hưu trí và trẻ em; mô hình tự do Anglo- Saxon ở
Trang 33Anh, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhà nước đóng vai trò chủ đạo thông qua
Ủy ban Dịch vụ sức khỏe quốc gia, được đánh giá là cơ quan chăm sóc và cung cấp
hệ thống dịch vụ sức khỏe lớn nhất trên thế giới; mô hình Địa Trung Hải gồm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hy Lạp còn có tên gọi khác là mô hình định hướng gia đình do các gia đình vẫn giữ vai trò thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến mô hình chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc, kế hoạch cải tổ
y tế theo hướng nâng cao vai trò của nhà nước đối với y tế (quản lý bệnh viện nhà nước, chính sách y tế, trách nhiệm của chính quyền trung ương và địa phương…), huy động các lực lượng xã hội tham gia bằng nhiều hình thức (điển hình là hợp tác xã) đã đem lại sự tiến bộ vượt bậc trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong một quốc gia đông dân… So sánh với các nước trên thế giới, tác giả cho rằng, Việt Nam nằm trong nhóm có chi tiêu công cho y tế thấp, chi tiêu của hộ gia đình cho chăm sóc sức khỏe còn cao, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế còn thấp Mặc dù nguồn đầu tư của Nhà nước cho y tế có xu hướng tăng, nhưng mức tăng còn chậm, nguồn tài chính từ bảo hiểm dần được mở rộng, nhưng chưa phát huy được vai trò trong khám chữa bệnh cho người nghèo đã gây bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam, ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế của các hộ nghèo Y tế Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề cấp bách: tình trạng bệnh viện quá tải, bảo hiểm y tế vừa rườm rà về thủ tục lại vừa kém hiệu quả, tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng… Từ thực trạng đó, tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với quản lý và phát triển các dịch vụ
xã hội nói chung và dịch vụ y tế nói riêng: phải tăng cường mạng lưới y tế cơ sở (đầu tư cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, ưu tiên sử dụng, đãi ngộ cán bộ y tế cơ sở, tăng cường hỗ trợ ngân sách nhà nước cho y tế cấp xã và huyện); Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho các thành phần xã hội tham gia chăm sóc sức khỏe nhân dân, khuyến khích tư nhân đầu tư vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng; tăng đầu tư ngân sách nhà nước, có trọng tâm, trọng điểm tránh dàn trải; đổi mới cơ chế chính sách dịch vụ y tế; cần thường xuyên tổng kết kinh nghiệm ở mỗi giai đoạn, mỗi địa phương để tìm ra những điển hình trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng; nâng cao chế độ đãi ngộ cho nhân viên y tế…
Trang 34Cuốn sách “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam”,Nxb CTQG,
Hà Nội, năm 2012 của tác giả Nguyễn Minh Phương góp phần cung cấp lý luận và thực tiễn, cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đẩy mạnh xã hội hóa y tế trong giai
đoạn hiện nay Theo tác giả, cần phải hiểu đúng khái niệm xã hội hóa y tế là quá
trình huy động sự tham gia dưới các hình thức khác nhau của các chủ thể và cộng đồng xã hội, đồng thời tăng cường vai trò của Nhà nước đối với y tế nhằm, nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ và mở rộng đối tượng thụ hưởng, đảm bảo công băng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng các dịch vụ y tế Tác giả khẳng định
quan điểm xã hội hóa y tế được Đảng ta đề xuất trong Nghị quyết số 04-NQ/HNTW (khóa VII) ngày 14-01-1993, và liên tục được khẳng định trong tất cả các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI: “Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, y tế…; đồng thời phát huy mọi tiềm năng trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng”[39, tr.104] Tác giả luận giải vai trò, chức năng, của Nhà nước trong việc xã hội hóa y tế: vai trò của y tế là chăm sóc sức khỏe, tạo nền tảng để phát triển con người toàn diện và nguồn nhân lực khỏe mạnh để lao động sản xuất, nên chi phí cho chăm sóc sức khỏe không phải là khoản chi tiêu công cộng mà là đầu tư cho phát triển; y tế là lĩnh vực đặc biệt, là “thị trường của niềm tin”, người bệnh không thể “mặc cả” nên cần phải có sự quản lý của Nhà nước và Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ các nhóm dễ tổn thương đang gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; xuất phát từ chức năng xã hội, Nhà nước phải
có nghĩa vụ và trách nhiệm tổ chức cung ứng các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân, Nhà nước không thể “ôm’hết mọi việc mà là “trụ cột” của hệ thống chính trị để tổ chức, quản lý và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội Từ lý luận tác giả đi vào khảo sát thực trạng xã hội hóa y tế của một số nước trên thế giới và Việt Nam, chỉ ra một số những hạn chế vướng mắc trong xã hội hóa y tế ở Việt Nam: tình trạng lạm thu xét nghiệm ở cả cơ sở y tế công và tư, mức độ xã hội hóa y tế không đồng đều giữa các vùng miền, vùng sâu, vùng xa
Trang 35thiếu đội ngũ y bác sĩ có trình độ cao; việc phân bố, sử dụng ngân sách, chính sách viện phí chưa hợp lý và hiệu quả; Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích y tế
tư nhân tham gia vào lĩnh vực y tế dự phòng, chưa chú trọng công tác đào tạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của cán bộ y, dược tư nhân; công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa y tế Nguyên nhân của những hạn chế đó, một phần do Nhà nước chưa thực hiện vai trò của mình: chế độ, chính sách về xã hội hóa y tế còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều văn bản pháp quy chậm được các bộ ngành, địa phương phổ biến, hướng dẫn; một số nội dung trong các văn bản hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thực tế; nhận thức về trách nhiệm của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe người dân chưa thực sự rõ ràng, thiếu nhất quán, ngân sách nhà nước chi cho y tế còn thấp Từ
đó, tác giả đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa y tế ở nước ta: 1) Phát triển nhanh mạng lưới các cơ sở y tế ngoài công lập, nhất là các bệnh viện tuyến trên và các cơ sở y tế chất lượng cao; 2) Tăng ngân sách nhà nước và đổi mới phân
bổ ngân sách nhà nước cho y tế, điều chỉnh chính sách thu viện phí; 3) Đa dạng hóa các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước và hình thức đầu tư cho phát triển y tế; 4) Đổi mới chế độ bảo hiểm y tế, tạo đột phá để có bảo hiểm toàn dân và chi trả tất cả qua bảo hiểm y tế, đồng thời phát triển bảo hiểm y tế tự nguyện đáp ứng nhu cầu cho nhóm người có khả năng chi trả; 5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở y tế ngoài công lập và các hoạt động dịch vụ liên doanh, liên kết trong các bệnh viện công lập; 6) Chú trọng củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; 7) Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và vận động toàn xã hội tham gia công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
Bài viết “Xây dựng y tế cơ sở- một chiến lược quan trọng của ngành y tế Việt
Nam”, Tạp chí Tuyên giáo, số 3 năm 2013, trang 67-72 của tác giả Phạm Mạnh
Hùng khẳng định, “y tế cơ sở là xương sống của Y tế Việt Nam”[60, tr.68] Thời kỳ kháng chiến chống xâm lược, y tế nông thôn được xem là mặt trận của Y tế Việt Nam Ngày nay, trong nền KTTT định hướng XHCN, Nhà nước Việt Nam coi y tế
cơ sở có vai trò rất quan trong trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng Theo
Trang 36tác giả, xây dựng y tế cơ sở là cần thiết, ở đâu có dân cư sinh sống, ở đó cần phải xây dựng mạng lưới y tế để mọi người dân khi ốm đau có thể tiếp cận ngay với nhân viên y tế tại nơi cư trú; nhân lực y tế cơ sở có vai trò cốt yếu, do đó, cần đào tạo nhân lực đặc thù cho địa phương, đi đôi với sử dụng là chế độ đãi ngộ thích hợp; xây dựng cơ chế tài chính, đầu tư cho y tế cơ sở và coi đây là trọng điểm Sự phân tích của tác giả về tầm quan trọng của y tế cơ sở có ý nghĩa lớn đối với Nhà nước trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở nước ta hiện nay
“Chính sách an sinh xã hội và vai trò của của Nhà nước trong việc thực hiện
chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2014
của tác giả Nguyễn Văn Chiều không đề cập một cách trực diện vào chính sách y tế, nhưng việc khẳng định chính sách an sinh xã hội có vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định, phát triển bền vững về chính trị-kinh tế-xã hội cũng là một cách khẳng định vai trò của những chính sách chăm sóc sức khỏe cộng đồng của Nhà nước Từ việc đánh giá những thành tựu và hạn chế, lý giải một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, tác giả đã cung cấp cho chúng ta một góc nhìn khác, gợi mở thêm một cách tiếp cận mới cho việc nghiên cứu chính sách y tế và nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở nước ta hiện nay
Bên cạnh việc nghiên cứu về sức khỏe, các tác giả còn đưa ra những giải
pháp nâng cao sức khỏe cộng đồng: “Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phúc lợi xã hội”,Tạp chí Kinh tế Phát triển, số 36 năm 2009 của tác giả Trần
Thị Lý; “Phát triển dịch vụ y tế trong triển vọng xúc tiến gia nhập và thành viên
WTO” trong “Việt Nam tích cực chuẩn bị gia nhập WTO trong một số lĩnh vực dịch vụ” do Đinh Văn Ân (chủ biên) (2004), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội…
Đặc biệt dưới góc độ y-sinh học, các công trình của tác giả Lê Nam Trà:
“Bàn về đặc điểm sinh thể, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe con người Việt Nam hiện nay”,“Dinh dưỡng người Việt Nam”, “Thích nghi người Việt Nam”, Nxb
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, năm 1995; “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thể,
tình trạng sức khỏe của một số nhóm người lao động xét dưới góc độ yêu cầu của
Trang 37quá trình CNH và HĐH đất nước”, chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước
KX.05.12, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, năm 2005, đã đi sâu nghiên cứu tương đối tổng thể về thể lực, các đặc điểm tăng trưởng, đặc điểm sinh thể, chỉ số sinh học, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, khả năng thích nghi với môi trường
tự nhiên và xã hội của con người Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao sức khỏe cá nhân và cộng đồng… Các công trình này đã góp phần củng cố, làm rõ thêm nhiều kết luận khoa học hết sức có ý nghĩa và là những luận chứng khoa học rất quan trọng cho việc nghiên cứu con người nói chung và quá trình chăm sóc, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho con người Việt Nam nói riêng Ngoài ra có rất nhiều bài báo công trình quốc tế đã nghiên cứu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới chăm sóc sức khỏe và vai trò của nhà nước cũng như các hệ
thống y tế công cộng đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng: “Xã hội học y tế trong
thời kì mới”, Nxb Khoa học xã hội, New York, 2004 của tác giả Bryan Tuner; “Bốn
mô hình quan hệ bác sỹ-bệnh nhân”, Nxb Khoa học xã hội, New York, 1992, của
tác giả Ezekil J Emanuel và Linda L Emanuel; “Giải pháp chiến lược nâng cao
sức khỏe nhân dân”, Tạp chí Cộng sản(1) năm 2001, tr.34 của Lê Ngọc Trọng…
Các tác giả đã cung cấp cho chúng ta khái niệm sức khỏe, các yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới sức khỏe cũng như công tác chăm sóc sức khỏe, những giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao sức khỏe cá nhân, cộng đồng
Trang 38Tiểu kết chương 1
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu của những đề tài trong nước và quốc
tế trên cho thấy quan điểm về vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chức năng
xã hội nói chung và vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói riêng khá phong phú Tuy được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng các
công trình đó đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị giúp tác giả hoàn thành luận án
Tác giả tiếp thu, kế thừa có chọn lọc một số quan điểm tư tưởng trong
các công trình khoa học có liên quan đến đề tài:
- Quan niệm về sức khỏe, sức khỏe cộng đồng, về mối quan hệ giữa sức khỏe và sự phát triển của xã hội;
- Quan điểm về chức năng xã hội của nhà nước từ góc độ triết học chính trị, một số lý giải vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ thiết yếu, trong
đó có dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng;
- Tham khảo những giải pháp của các tác giả ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong cung cấp các dịch vụ y tế nói chung, đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói riêng…
Có thể nói, tùy thuộc vào chủ đích của từng chủ thể nghiên cứu nên mỗi công trình có giá trị về mặt lí luận và thực tiễn khác nhau Những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến luận án và đều có giá trị khoa học đáng được trân trọng Tuy nhiên, từ góc độ triết học cũng như góc độ y học nói chung chưa có một công trình nào trực diện đi vào nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay, nên chưa đưa ra các luận điểm khoa học làm cơ sở lý luận cho các giải pháp tổng thể nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay
Mặt khác, trong tình hình nước ta đang phát triển nền KTTT định hướng XHCN, hơn nữa trong xu thế toàn cầu hóa, vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng đang nảy sinh những vấn đề phức tạp trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu Vì vậy, việc phân tích làm sáng
Trang 39tỏ vấn đề vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt
Nam hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng cần thiết
Trên cơ sở đánh giá, tiếp thu có chọn lọc những giá trị của các công trình
trên, trong luận án này, tác giả tập trung làm rõ và bổ sung một số nội dung sau:
- Làm sáng tỏ thêm quan niệm về chăm sóc sức khỏe cộng đồng và vai trò của sức khỏe cộng đồng đối với phát triển xã hội trong giai đoạn hiện nay
- Làm sáng rõ luận cứ khoa học về thực hiện vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích rõ thêm thực trạng vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra
- Đề xuất và luận chứng một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay
Trang 40Chương 2: VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG - MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN 2.1 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Những mối quan hệ trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng của bất cứ xã hội nào, cũng đều được biểu hiện thông qua những chính sách, chiến lược vĩ mô nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ở mỗi giai đoạn nhất định Để thực hiện được nhiệm vụ chiến lược này, việc tiếp cận với các khái niệm sức khỏe
là thực sự cần thiết
2.1.1 Khái niệm sức khỏe
Theo quan điểm chung, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn nhân lực Một quốc gia không thể phát triển nếu người dân không có sức khỏe, không được học hành với những kiến thức và kỹ năng cần thiết Sức khỏe rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mọi quốc gia và là một trong những quyền lợi cơ bản nhất của con người Do vậy, sức khỏe cần phải được nhìn nhận như tài sản của con người và xã hội, hơn cả bất cứ của cải vật chất nào Nhưng sức khỏe là gì, thì nhân loại từng có một thời gian dài chưa thống nhất về quan niệm Sức khỏe là yếu tố quan trọng đối với sự sống, vì thế không có
gì ngạc nhiên khi hầu hết các tác giả trên thế giới đều nêu định nghĩa về sức khỏe dưới nhiều góc độ khác nhau: Các ngành khoa học: Y học, xã hội học, kinh tế học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học… đều có quan niệm về sức khỏe của mình Trong luận án, tác giả tập trung nghiên cứu sức khỏe từ góc độ triết học
Ngay từ thời cổ đại, người Phương Đông với quan niệm tương đối toàn diện, xem sức khỏe của con người không chỉ đơn thuần là sự cường tráng về thể chất mà còn thoải mái cả về đời sống tinh thần Theo Triết học Ấn độ Cổ đại, vũ trụ bao gồm 5 yếu tố; đất, nước, lửa, không khí và phần siêu trần của bầu trời, tạo nên những yếu tố cơ bản của cơ thể con người Tuy nhiên, trong cơ thể con người, sự sống không chỉ phụ thuộc vào 5 thành phần của cơ thể mà còn phụ thuộc vào sự hiện diện bình thường của các giác quan, vào tinh thần và tâm hồn[27, tr.44] Quan niệm sức khỏe là do “chất khí” quy định, nên theo họ, quá trình hô hấp của con