Đến nay, sau 04 năm kể từ ngày Luật Lưu trữ và sau 03 năm kể từ ngày Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, chưa có văn bản nào của nhà nước quy định cụ thể về các hành vi vi phạm ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƯU TRỮ
Ở CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lưu trữ
Hà Nội, 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƯU TRỮ
Hà Nội, 2016
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Để thực hiện được Đề tài: “Nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt
vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ ở các cơ quan nhà nước cấp tỉnh”
tác giả đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía:
Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Giảng viên hướng dẫn PGS.TS
Vũ Thị Phụng, người đã nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ và góp ý kiến cho tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo thuộc Khoa Lưu trữ học
và Quản trị văn phòng - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, những người đã luôn giúp đỡ và chia sẻ rất nhiều thông tin quý báu giúp tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Ngoài ra, tác giả chân thành cảm ơn sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các lãnh đạo, công chức của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước nơi tác giả công tác; các lãnh đạo, công chức, viên chức lưu trữ tại các sở, ban, ngành nơi tác giả đến khảo sát
Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến phản hồi và góp ý
Xin chân thành cảm ơn./
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thùy Dung
LỜI CAM ĐOAN
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong luận văn có sử dụng một số thông tin trong các văn bản của Nhà nước, của giáo trình, từ điển; tham khảo các Báo cáo của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Báo cáo công tác của các tỉnh nhưng đã được chú thích Công trình này chưa được tác giả nào công bố./
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu 9
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Bố cục của đề tài 13
7 Các nguồn tài liệu tham khảo 14
8 Đóng góp của đề tài 15
Chương 1 17
KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ 17
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 17
1.1 Các khái niệm 17
1.1.1 Hành chính 17
1.1.2 Vi phạm hành chính 18
1.1.3 Xử phạt vi phạm hành chính 22
1.2 Hệ thống các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính 24
1.2.1 Các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính 24
1.2.2 Nội dung các quy định về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành 26
Chương 2 36
XÁC ĐỊNH CÁC HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG 36
CÔNG TÁC LƯU TRỮ Ở CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH 36
2.1 Quy định của nhà nước Việt Nam về vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ 36
2.1.1 Quy định về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ trong công tác lưu trữ 36
2.1.2 Các hành vi bị nghiêm cấm 37
2.2 Quy định của một số nước trên thế giới xử phạt vi phạm hành chính 38
2.2.1 Trung Quốc 38
2.2.2 Pháp 40
2.2.3 Hàn Quốc 41
2.2.4 Nga 42
2.2.5 Slovenia 43
2.3 Một số vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ từ thực tế hoạt động của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh 45
2.3.1.Vi phạm hành chính do các cán bộ, công chức, viên chức thực hiện 46
2.3.2.Vi phạm hành chính do các cá nhân, tổ chức khác thực hiện 56
2.4 Xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ 61
2.4.1 Vi phạm trong công tác thu thập tài liệu lưu trữ 62
2.4.2 Vi phạm trong công tác xác định giá trị tài liệu lưu trữ 63
2.4.3 Vi phạm trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ 63
2.4.4 Vi phạm trong công tác tiêu hủy tài liệu lưu trữ 63
2.4.5 Vi phạm trong công tác khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ 63
2.4.6 Vi phạm trong hoạt động dịch vụ lưu trữ 64
Chương 3 66
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT 66
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƯU TRỮ 66
3.1 Sự cần thiết nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ 66
3.2 Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ 73
Trang 63.2.1 Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đối
với cán bộ, công chức và viên chức 73
3.2.2 Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đối với cá nhân, tổ chức khác 74
3.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ 91
3.3.1 Thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức và viên chức 91
3.3.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các cá nhân, tổ chức khác 92
3.3.2.1 Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ 92
3.4 Kiến nghị 95
3.4.1 Đối với Bộ Nội vụ và Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước 96
3.4.2 Đối với cơ quan quản lý ở địa phương (UBND tỉnh) 103
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại tới lợi ích của nhà nước, của cộng đồng Chính vì lẽ đó mà công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính luôn là vấn đề được quan tâm Từ trước đến nay, nhà nước
đã ban hành khá nhiều các văn bản pháp luật quy định về vi phạm hành chính
và biện pháp xử lý đối với vi phạm này Trong đó có thể kể đến các văn bản như: Sắc lệnh số 131/SL ngày 20 tháng 7 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký quy định việc truy tầm các sự phạm pháp; Sắc lệnh số 175/SL ngày 18 tháng 8 năm 1953 quy định các biện pháp quản chế hành chính; Nghị quyết số 49/NQ-TVQH năm 1961 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành vi nguy hại xã hội; Ngày 28 tháng 11 năm 1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Việt Nam về
xử lý vi phạm hành chính Đến nay, sau nhiều lần sửa đổi, thay thế, năm
2012, Luật xử lý vi phạm hành chính được ban hành, góp phần nâng cao hiệu quả của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính Sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, các ngành, lĩnh vực đều đã chủ động ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực của mình theo thẩm quyền được giao
Đối với ngành lưu trữ, trước khi Luật Lưu trữ có hiệu lực, việc xử phạt những vi phạm trong công tác lưu trữ cũng đã được đề cập tại Điều 29 Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001 và tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định số 111/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia
Đến năm 2011, khi Luật Lưu trữ được ban hành, tại Điều 8 của Luật Lưu trữ cũng chỉ quy định một số hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: chiếm đoạt, làm hỏng, làm mất tài liệu lưu trữ; làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội
Trang 8dung tài liệu lưu trữ; mua bán, chuyển giao, hủy trái phép tài liệu lưu trữ; sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài trái phép
Đến nay, sau 04 năm kể từ ngày Luật Lưu trữ và sau 03 năm kể từ ngày Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, chưa có văn bản nào của nhà nước quy định cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật, biện pháp xử phạt đối với từng đối tượng, từng hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ
Từ thực trạng công tác lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức nói chung và các quan, tổ chức nhà nước cấp tỉnh nói riêng cho thấy, các hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ ít nhiều đều xuất hiện trong hoạt động các cơ quan, tổ chức Qua khảo sát, thanh tra, kiểm tra thực tế tại các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, Bộ Nội vụ, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã chỉ rõ những sai phạm trong quá trình thực hiện công tác lưu trữ như: không giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ
cơ quan đúng thời hạn; tự ý tiêu hủy tài liệu trái phép, không theo đúng quy trình thủ tục; chiếm đoạt, làm hỏng, mất mát tài liệu lưu trữ; Sau khi thanh tra, kiểm tra, cơ quan quản lý đã có chỉ đạo, kết luận tại buổi làm việc và gửi văn bản chính thức đến các cơ quan, tổ chức được kiểm tra Tuy nhiên, hiệu quả sau thanh tra, kiểm tra còn chưa cao, sai phạm vẫn tiếp diễn
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng
7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Xử lý vi phạm hành chính thì trong trường hợp cán bộ, công chức, viên
chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành
vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không
bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử
lý theo quy định của pháp luật có liên quan Tuy nhiên cho đến nay, trong các
tiêu chí đánh giá công chức, viên chức hàng năm chưa coi các hành vi vi
Trang 9phạm trong công tác lưu trữ là một trong các tiêu chí đánh giá về mức độ hoàn thành công việc và chưa có quy định nào của nhà nước để cụ thể hóa quy định nói trên như: đối với cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp
có các hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ sẽ bị khiển trách, cảnh cáo, … Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan, tổ chức nhà nước cấp tỉnh chưa có Lưu trữ cơ quan hoặc có Lưu trữ cơ quan nhưng chưa thực hiện đúng các quy định của nhà nước về công tác này
Còn đối với các cá nhân, tổ chức khác thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật xử lý vi phạm hành chính thì hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vấn đề này Điều này dẫn đến việc các quy định của nhà nước về công tác lưu trữ chưa được thực hiện nghiêm túc
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ ở các
cơ quan nhà nước cấp tỉnh” làm đề tài luận văn cao học của mình Trên cơ
sở pháp lý hiện có và từ thực tế công tác lưu trữ từ các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, chúng tôi xác định các hành vi vi phạm và đề xuất việc áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ nói chung
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về chế tài xử phạt trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ được quy định trong luật pháp các thời kỳ, như:
- Các đề tài nghiên cứu luật pháp của các triều đại phong kiến về công
tác công văn giấy tờ: Hà Thị Thúy Hoàn, Luật pháp của triều Lê về công tác
công văn giấy tờ qua Quốc triều hình luật năm 2000; Nguyễn Hoài Thu, Những quy định và chế tài về công tác công văn, giấy tờ trong Hoàng Việt luật lệ, năm 2000; Nguyễn Thị Trang Nhung, Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ với công tác công văn giấy tờ, năm 2004 và Trương Thị Nga, Chế tài về công tác công văn giấy tờ thời phong kiến Việt Nam - Bài học kinh nghiệm, năm 2008 Các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu các quy định của nhà
nước phong kiến về công tác công văn giấy tờ, trong đó có quy định về xử
Trang 10phạt nếu vi phạm Ví dụ: Một số quy định trong Quốc triều hình luật:“Thảo
chiếu, chế mà quên nhầm hay viết chiếu, chế mà sai chữ thì xử phạt 60 trượng, thảo sai ý chỉ của nhà vua thì xử tội biếm hay tội đồ tùy theo trường hợp nặng nhẹ”; “Các quan, sảnh viện làm công văn, giấy tờ về việc ban thưởng chỉ dựa vào tờ khai của đương sự mà không xét rõ quan tước trong sổ gốc của từng người thì xử phạt 20 trượng”
- Các đề tài nghiên cứu về pháp luật thời kỳ hiện đại liên quan đến công
tác công văn, giấy tờ: Nguyễn Quốc Dũng, Tìm hiểu về chế định của Bộ luật
hình sự hiện hành về các loại tội danh liên quan đến văn bản giấy tờ, năm
2000; Nguyễn Thùy Trang, Luật pháp hiện hành về giám sát, kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật,
năm 2005
- Bài viết tạp chí: trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, qua nghiên cứu, thống kê cho thấy số lượng bài viết, nghiên cứu về vấn đề này không
nhiều Liên quan đến nội dung này có bài viết Bộ luật hình sự của nước
CHXHCN Việt Nam (trích một số điều liên quan đến công tác văn thư, lưu trữ,
bảo mật), Tạp chí Lưu trữ Việt nam, 2000, số 2, trang 1
Trong bài tạp chí trên, tác giả có trích trong Bộ luật hình sự năm 1999 những vi phạm trong công tác văn thư, lưu trữ, bảo mật và biện pháp xử phạt đối với các hành vi vi phạm Tác giả bài tạp chí đã phân loại những quy định
về từng nhóm công tác văn thư, công tác lưu trữ và công tác bảo mật Ví dụ
Điều 264 quy định: “Người nào vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất tài
liệu bí mật nhà nước, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”
Khoản 1 Điều 268 quy định: “Người nào chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ
trái phép con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không thuộc tài liệu bí mật nhà nước hoặc bí mật công tác, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến hai năm”
Trang 11Như vậy, có thể khẳng định đề tài mà tác giả lựa chọn ở đây không trùng lặp với đề tài nào được nghiên cứu trước đó Các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu các chế tài trong công tác công văn, giấy tờ mà chưa đề cập đến công tác lưu trữ Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu đã giúp tác giả thấy được hiện nay chúng ta cần phải xây dựng và ban hành được một văn bản pháp lý quy định cụ thể về chế tài xử phạt những vi phạm trong công tác văn thư, lưu trữ nói chung và công tác lưu trữ nói riêng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài của chúng tôi đặt ra và giải quyết 2 mục tiêu cơ bản:
+ Xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ; + Đề xuất các biện pháp để áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu trên, chúng tôi phải thực hiện các nhiệm vụ sau: + Tìm hiểu các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính;
+ Hệ thống các quy định về công tác lưu trữ; các quy định về hành vi vi phạm và xử phạt vi phạm trong công tác lưu trữ;
+ Tìm hiểu quy định của một số nước trên thế giới về hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ;
+ Nghiên cứu, xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ
+ Nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi của Đề tài này, chúng tôi nghiên cứu các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ của hai nhóm đối tượng:
Trang 12- Thứ nhất: các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ của cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh nói riêng
Đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, theo quy định tại Điều 1 của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP: “Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan” Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này,
chúng tôi không đề xuất xử lý vi phạm hành chính đối với đối tượng này
- Thứ hai là các hành vi vi phạm hành chính của các cá nhân, tổ chức khác, bao gồm: các cá nhân, tổ chức đủ điều kiện được hoạt động dịch vụ lưu trữ theo quy định của Luật Lưu trữ và Luật Doanh nghiệp Lí do chúng tôi đưa đối tượng này vào trong đề tài bởi đây là đối tượng bị điều chỉnh chính trong Luật xử lý vi phạm hành chính và các cá nhân, tổ chức đang thực hiện việc cung cấp các dịch vụ lưu trữ cho các cơ quan nhà nước ở cấp tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu và đề xuất các hình thức xử lý các hành vi vi phạm
về công tác lưu trữ từ thực tế công tác lưu trữ tại các cơ quan nhà nước cấp tỉnh từ năm 2011 đến nay Năm 2011 là một mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của công tác lưu trữ khi Luật Lưu trữ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày
11 tháng 11 năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp khảo sát: áp dụng phương pháp này để điều tra khảo sát thực trạng công tác lưu trữ hiện nay tại các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh để thấy rằng việc thực hiện các quy định về công tác lưu trữ còn nhiều bất cập, vi phạm Việc điều tra, khảo sát được tác giả kết hợp với các đoàn kiểm tra của
Trang 13Cục Văn thư và Lưu trữ năm 2015 tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: An Giang, Khánh Hòa, Bạc Liêu, tỉnh Hải Dương, Yên Bái, Cao Bằng, Sơn La, Cần Thơ, Hưng Yên, Hà Nam
- Phương pháp tổng hợp, hệ thống: áp dụng phương pháp này để tổng hợp hiện nay tại Việt Nam đã có quy định nào về xử phạt vi phạm trong công tác lưu trữ; tổng hợp các quy định về hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ của một số nước trên thế giới
- Phương pháp phân tích, so sánh: áp dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu mức xử phạt vi phạm hành chính giữa những hành vi tương tự nhau của các ngành, lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở so sánh, đối chiếu, tác giả
đề xuất quy định chung về việc xử phạt vi phạm trong công tác lưu trữ
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi: áp dụng phương pháp này trong những lần kiểm tra thực tế công tác lưu trữ tại các địa phương, trong các buổi Hội thảo, Hội nghị về ngành, lĩnh vực lưu trữ Tác giả đã có cơ hội trao đổi với lãnh đạo Chi cục Văn thư - Lưu trữ các tỉnh, công chức, viên chức là những người trực tiếp làm công tác lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức để thấy được sự thấu hiểu, quan tâm của các lãnh đạo đối với công tác lưu trữ, thực trạng công tác lưu trữ hiện nay, việc thực hiện các quy định của nhà nước về lưu trữ còn nhiều vấn đề bất cập, trách nhiệm của các cán bộ, công chức, viên chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan đối với công tác lưu trữ và sự cần thiết phải có một văn bản quy định về chế tài xử phạt những hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 phần:
Chương 1: Khái quát các quy định của nhà nước Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính
Nội dung Chương 1 tác giả làm rõ một số vấn đề về vi phạm hành chính, đối tượng vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính Đồng thời tác giả cũng làm rõ quy định chung hiện nay về xử phạt vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính Đây là nội dung tiền đề làm cơ sở
Trang 14cho việc xác định những vi phạm hành chính, việc xử phạt vi phạm hành
chính trong công tác lưu trữ ở Chương tiếp theo
Chương 2: Xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ ở cơ quan nhà nước cấp tỉnh
Nội dung Chương 2 tác giả tìm hiểu quy định của nhà nước hiện nay về
xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ; đồng thời tham khảo quy định của một số quốc gia trên thế giới về vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ Trên cơ sở đó tác giả xác định được các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ Các hành vi vi phạm được xác định ở chương này, sẽ
là cơ sở để xác định hình thức xử phạt, mức độ xử phạt đối với từng hành vi
càng phát triển
7 Các nguồn tài liệu tham khảo
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi đã tham khảo các nguồn tư liệu sau:
- Các giáo trình về lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ, giáo trình Luật Hành chính
- Tạp chí Văn thư - Lưu trữ Việt Nam
Trang 15- Tài liệu dịch hiện đang được bảo quản tại Thư viện của Trung tâm Khoa học và Công nghệ văn thư, lưu trữ - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
- Các văn bản của Nhà nước quy định về xử phạt vi phạm hành chính nói chung, xử phạt vi phạm hành chính các ngành, lĩnh vực khác và các văn bản quy định về công tác lưu trữ;
- Báo cáo về công tác lưu trữ của các tỉnh; Báo cáo thống kê cơ sở công tác lưu trữ của các tỉnh; Báo cáo tại các cuộc Hội nghị, Hội thảo của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
- Là cơ sở cho các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý ngành lưu trữ tham mưu và giúp cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
về xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng nhận được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các lãnh đạo, công chức của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước nơi tác giả công tác; các lãnh đạo, công chức, viên chức lưu trữ tại các sở, ban, ngành nơi tác giả đến khảo sát và các thầy, cô Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng Đặc biệt là sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của NGƯT.PGS.TS Vũ Thị Phụng Qua đây cho phép tác giả gửi lời cảm
ơn chân thành sâu sắc đến sự giúp đỡ quý báu đó
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn không tránh khỏi những sơ suất, thiếu
Trang 16sót Tác giả mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Hành chính
Hiện nay, thuật ngữ hành chính được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
Theo nghĩa rộng, “Hành chính là một thuật ngữ chỉ một hoạt động
hoặc tiến trình chủ yếu có liên quan tới những biện pháp để thực thi những mục tiêu, nhiệm vụ đã vạch sẵn Khi có hai người trở lên cùng hợp tác để thực hiện một mục tiêu chung mà một cá nhân không làm nổi thì ở đó xuất hiện thể thức thô sơ của quản lý nói chung và hành chính là một dạng của quản lý” [15; tr5] Như vậy, theo nghĩa rộng, hành chính có thể được định
nghĩa như những biện pháp tổ chức và điều hành của các tổ chức, các nhóm, các đoàn thể hợp tác trong hoạt động của mình để đạt được mục tiêu chung
Vì quản lý liên quan tới nhiều thể thức hoạt động hợp tác vì vậy tất cả những
ai tham gia vào hoạt động hợp tác đều có nghĩa là tham gia vào một dạng hoạt động của quản lý - đó là công việc hành chính Tất cả các cơ quan, tổ chức, các hiệp hội, trường học và cả gia đình đều cần đến hành chính để đạt được mục tiêu chung
Như vậy, với nghĩa rộng nhất, có thể định nghĩa hành chính như là loại hoạt động quản lý chung nhất của các nhóm người hợp tác với nhau để hoàn thành các mục đích chung
Theo nghĩa hẹp, Hành chính được nhiều học giả xem là hoạt động quản
lý các công việc của Nhà nước, xuất hiện cùng với Nhà nước Ở Trung Quốc, thuật ngữ hành chính có một lịch sử lâu dài Trong bộ “Tả truyện” viết cách đây hơn 2000 năm đã có ghi “hành kỳ chính sự”, “hành kỳ chính mệnh” để chỉ những hoạt động có liên quan đến nhà nước và quyền lực nhà nước Theo nghĩa này hành chính thường đi kèm với khái niệm hành chính công [15; tr 6]
Trang 18Trong từ điển Pháp - Việt, Pháp luật và hành chính có định nghĩa hành
chính công như sau: “ là tổng thể các tổ chức và quy chế hoạt động của bộ
máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng những văn bản dưới luật để giữ gìn trật tự công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của công dân” [41; tr26]
- Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "Hành chính" được hiểu như sau: + Thuộc phạm vi chỉ đạo quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách của Nhà nước, cơ quan hành chính các cấp
+ Thuộc về những công việc sự vụ như: văn hoá, tổ chức, kế toán trong cơ quan Nhà nước; Công tác hành chính, cán bộ hành chính; Có tính chất giấy tờ, mệnh lệnh khác với giáo dục, thuyết phục; Biện pháp hành chính
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Hành chính là lĩnh vực hoạt
động của chính phủ thực thi quyền hành pháp, thi hành những chính sách và pháp luật của nhà nước” [16, tr215]
Tóm lại, hiện nay có 03 cách hiểu về hành chính:
1- Hành chính là hoạt động tổ chức, quản lý và điều hành;
2- Hành chính là hoạt động tổ chức, quản lý và điều hành của các cơ quan nhà nước;
3- Hành chính là hoạt động tổ chức, quản lý và điều hành của các cơ quan thuộc khối Hành pháp
Trong phạm vi luận văn này, hành chính được hiểu theo nghĩa thứ 2, tức là hoạt động tổ chức, quản lý và điều hành của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực lưu trữ được thể hiện qua những quy định của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó quy định nhiều việc được phép và không được phép, những chuẩn mực cần tuân thủ và thực hiện
1.1.2 Vi phạm hành chính
1.1.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính
Trang 19Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu được nêu ra trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30 tháng 11 năm 1989 Điều 1 Pháp lệnh này
đã chỉ rõ: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 không trực tiếp đưa ra quy định về vi phạm hành chính nhưng Khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh này đã
quy định gián tiếp như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối
với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Tại Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính năm 2002
quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ
quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô
ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng quan điểm về vi phạm hành chính trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất về dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này Trên cơ sở những nội dung đã được nêu ra trong các văn bản quy phạm pháp luật trên, có thể khái quát vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm, do cá nhân, tổ chức thực hiện, với lỗi cố ý hoặc vô ý và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
Như vậy, vi phạm hành chính có 4 dấu hiệu sau:
Trang 20Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại hay tính nguy hiểm do
hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Thứ hai, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực
hiện
Thứ ba, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện,
phải là một việc đã xảy ra thật, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận
thức được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả
và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm
Trên đây là 04 dấu hiệu cơ bản để xác định vi phạm đó có phải là vi phạm hành chính hay không Tuy nhiên, các vi phạm hành chính phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định trong các văn bản pháp luật, có chế tài xử phạt cụ thể, chủ thể vi phạm có nguy cơ phải gánh chịu các hình thức
xử phạt vi phạm hành chính
Từ các đặc điểm, dấu hiệu của vi phạm hành chính nói chung, có thể xác định đặc điểm của vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ như sau:
Thứ nhất, vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ là hành vi trái
pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật trong công tác lưu trữ; tác hại
hay tính nguy hiểm do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Trang 21Thứ hai, hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ do một cá
nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện
Thứ ba, hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đã được
thực hiện Hiện nay, việc vi phạm các quy định về nhà nước trong công tác lưu trữ diễn ra khá phổ biến và đã gây ra những hậu quả nhất định như việc không bảo quản tài liệu theo đúng quy định dẫn đến việc cháy kho tài liệu hoặc mất tài liệu
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận
thức được vi phạm của mình Hiện nay, hầu hết các cá nhân, cơ quan, tổ chức đều nhận thức được việc thực hiện không đúng các quy định của nhà nước về công tác lưu trữ là không đúng Tuy nhiên, vì các lí do khác nhau nên các cá nhân, cơ quan, tổ chức không có biện pháp hoặc không tìm biện pháp để khắc phục, xử lý các vi phạm đang diễn ra
1.1.2.3 Đối tượng vi phạm hành chính
Căn cứ vào các dấu hiệu vi phạm hành chính trên, có thể xác định đối tượng vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính
Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính được quy như sau:
- Đối với cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ vì thông thường người thực hiện hành vi với lỗi cố
ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp
Trang 22- Đối với tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng
vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật; cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
Như vậy, đối tượng vi phạm hành chính ở đây bao gồm tất cả cá nhân,
tổ chức, không phân biệt đối tượng, có hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà thì đều là vi phạm hành chính
1.1.3 Xử phạt vi phạm hành chính
1.1.3.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Khoản 2, Điều 2, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
“Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng
hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm sau đây:
- Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Nói cách khác, vi phạm hành chính là cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Luật xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 và các Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt hành chính áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước cụ thể là những cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
- Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Luật xử lý vi phạm pháp luật và các văn bản pháp luật khác có quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ
Trang 23xử phạt hành chính mà họ được phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
- Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt
áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Việc quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Việc xử phạt vi phạm hành chính còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung, ý thức tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể xảy ra
1.1.3.2 Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính
Như đã đề cập ở trên, đối tượng vi phạm hành chính là các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính Tuy nhiên, không phải cá nhân, tổ chức nào vi phạm hành chính đều bị xử phạt theo quy định xử phạt vi phạm hành chính Theo Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm
hành chính có quy định: Đối với trường hợp cá nhân là các cán bộ, công
chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm
vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức Như vậy, đối với các
cán bộ, công chức, viên chức, nếu vi phạm hành chính thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức
Về mặt bản chất thì đã có hành vi vi phạm hành chính thì đều bị xử phạt vi phạm hành chính Nhưng việc xử phạt đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm hành chính không gọi là xử phạt vi phạm hành chính mà gọi là
Trang 24xử lý kỷ luật theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức Còn đối với các cá nhân, tổ chức khác khi vi phạm hành chính thì bị xử phạt theo quy định xử phạt vi phạm hành chính
1.2 Hệ thống các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính
1.2.1 Các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính của Nhà nước Đến nay, hệ thống những quy định về xử phạt vi phạm hành chính nói chung đã từng bước được hoàn thiện góp phần quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính ở nước ta, bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội
Cụ thể các văn bản: Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/7/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định việc truy tầm các sự phạm pháp; Sắc lệnh số 175/SL ký ngày 18/8/1953 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định các biện pháp quản chế hành chính; Nghị quyết số 49/NQ-TVQH năm 1961 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành vi nguy hại xã hội; Quyết định số 123/CP năm 1961 của Hội đồng Chính phủ về cấm cư trú ở những khu vực quan trọng xung yếu về chính trị, kinh tế, quốc phòng; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28 tháng 11 năm 1987 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1990 Đây là văn bản đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm hành chính Pháp luật xử lý vi phạm hành chính được nâng lên một tầm mới với nhận thức về một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Các văn bản thay thế, sửa đổi Pháp lệnh ngày 28/11/1987 bao gồm: Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 07/12/1989 thay thế Pháp lệnh 1987; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 06/7/1995 thay thế cho Pháp lệnh 1989; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 02/7/2002 thay thế cho Pháp lệnh năm 1995; Năm 2007, Pháp lệnh này được sửa đổi bằng Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH sửa đổi một số điều Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh số 44/2008/PL-UBTVQH12 ngày
Trang 2502/4/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002
Đến ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
Sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực, ngày 19 tháng 7 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính Bên cạnh đó, các ngành, các cấp đều đã ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các ngành, lĩnh vực Theo số liệu thống kê tính đến tháng 6 năm 2015, có 51 Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính và Nghị định sửa đổi bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính của 46 ngành, lĩnh vực, bao gồm: an ninh trật tự và an toàn xã hội, kế toán, thống kê, quản lý tài sản nhà nước đã được ban hành và có hiệu lực thi hành
Đối với các cán bộ, công chức, viên chức vi phạm, thì việc xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức Cụ thể,
hệ thống các văn bản bao gồm: Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003; Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức và Thông tư số 03/2006/TT-BNV ngày 08 tháng 02 năm 2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức
Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, năm 2008 Luật Cán bộ, Công chức được ban hành thay thế hệ thống Pháp lệnh cán bộ, công chức trước đây Sau
đó, một loạt các Nghị định quy định chi tiết những nội dung của Luật Cán bộ, công chức được ban hành, trong đó về vấn đề xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức được quy định tại Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức Ngoài ra, năm 2010,
Trang 26Luật viên chức cũng được ban hành để quy định riêng cho đối tượng là viên chức và năm 2012, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức cũng được ban hành
Nhìn chung đến nay, hệ thống các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm, không phân biệt đối tượng
là cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước hay các cá nhân, tổ chức khác cơ bản đầy đủ và hoàn chỉnh, góp phần lớn trong công cuộc đảm bảo trật
tự, an toàn xã hội
1.2.2 Nội dung các quy định về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành
1.2.2.1 Quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức
a) Quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức
Theo quy định tại Điều 78 Luật Cán bộ, công chức thì cán bộ vi phạm quy định của Luật Cán bộ, công chức và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây: khiển trách; cảnh cáo; cách chức và bãi nhiệm Đối với công chức vi phạm quy định thì phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức và buộc thôi việc (Điều 79 Luật Cán bộ, công chức) Nội dung cụ thể từng hình thức kỷ luật được quy định tại Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức như sau:
* Khiển trách
Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
- Có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với
cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong thi hành công vụ;
- Không thực hiện nhiệm vụ được giao mà không có lý do chính đáng; Gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
Trang 27- Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc trong một tháng;
- Sử dụng tài sản công trái pháp luật;
- Xác nhận giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;
- Vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống
tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công tác
* Cảnh cáo
Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
- Cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;
- Sử dụng thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị để vụ lợi;
- Không chấp hành quyết định điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;
- Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tham gia đào tạo, bồi dưỡng; được dự thi nâng ngạch công chức;
- Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 05 đến dưới 07 ngày làm việc trong một tháng;
- Sử dụng trái phép chất ma túy bị cơ quan công an thông báo về cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công chức đang công tác;
- Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật
* Hạ bậc lương
Hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
Trang 28- Không thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao mà không có lý do chính đáng, gây ảnh hưởng đến công việc chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Lợi dụng vị trí công tác, cố ý làm trái pháp luật với mục đích vụ lợi;
- Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
kỷ luật;
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong phạm vi phụ trách mà không có biện pháp ngăn chặn
* Cách chức
Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
- Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ;
- Không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả rất nghiêm trọng;
- Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ;
- Vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới;
Trang 29phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
* Buộc thôi việc
Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
- Bị phạt tù mà không được hưởng án treo;
- Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;
- Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 03 lần liên tiếp;
- Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
b) Quy định xử lý kỷ luật đối với viên chức
Đối với viên chức vi phạm thì chịu một trong bốn hình thức xử lý kỷ luật sau: khiển trách, cảnh cáo, cách chức và buộc thôi việc theo quy định tại Điều 52 Luật Viên chức So với công chức, viên chức vi phạm bị xử lý kỷ luật
ít hơn hai hình thức là hạ bậc lương và giáng chức Chi tiết xử lý kỷ luật đối với viên chức được quy định tại Nghị định 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức Về cơ bản, các hành vi vi phạm bị xử lý
kỷ luật đối với viên chức cũng giống như đối với công chức Ngoài ra, đối với viên chức vi phạm cũng bổ sung thêm một số hành vi nếu vi phạm bị xử lý như sau:
* Khiển trách
- Vi phạm các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập đã được người có thẩm quyền nhắc nhở bằng văn bản;
Trang 30- Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp, đã được người có thẩm quyền nhắc nhở bằng văn bản;
* Cảnh cáo
- Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng;
- Phân biệt đối xử dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức;
- Lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đối với thuần phong, mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp;
- Viên chức quản lý không thực hiện đúng trách nhiệm quản lý, để viên chức thuộc quyền quản lý, phụ trách vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp;
* Buộc thôi việc
- Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
1.2.2.2 Quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức khác
Hệ thống các hình thức xử phạt của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thiết kế đa dạng, bao gồm 5 hình thức xử phạt (Khoản 1 Điều 21 Luật
Xử lý vi phạm hành chính), bao gồm các hình thức: cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính và trục xuất Trong đó có 03 hình thức xử phạt
Trang 31chính là cảnh cáo, phạt tiền và trục xuất Còn lại là hình thức xử phạt bổ sung, chúng không được áp dụng một cách độc lập mà luôn được áp dụng kèm theo các hình thức xử phạt chính Điều này có nghĩa là khi tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính, nhất thiết sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt chính
Ngoài ra có thể bị áp dụng kèm theo các hình thức xử phạt bổ sung
a) Cảnh cáo
Hình thức này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Khi
xử phạt cảnh cáo, người có thẩm quyền quyết định xử phạt bằng văn bản
Như vậy, có thể chia thành hai trường hợp áp dụng hình thức phạt cảnh cáo là:
Một là: các cá nhân chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính
Hai là: các cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạm hành chính Khi áp dụng hình thức cảnh cáo với đối tượng này phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện được văn bản pháp luật quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo Nếu loại vi phạm
mà tổ chức, cá nhân đó thực hiện mà pháp luật quy định chỉ bị áp dụng hình thức phạt tiền thì không được phép áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo
- Việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính
b) Phạt tiền
Phạt tiền là hình thức xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Nhìn chung, các tổ chức,
cá nhân vi phạm hành chính thường bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền Luật
Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm
Trang 32hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ một số trường hợp khác Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội
Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, mức phạt tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được quy định tại Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính
c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề
Việc quy định tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn đối với hành vi vi phạm hành chính phải trên cơ sở các căn cứ sau đây:
- Trực tiếp vi phạm các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
- Vi phạm có tính chất, mức độ nghiêm trọng xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước
Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:
- Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;
Trang 33- Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội
Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định rõ thời hạn tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thời hạn đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành Người
có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề
d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để
vi phạm hành chính
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến
vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng
do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức
Việc quy định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính phải trên cơ sở các căn cứ sau đây:
- Vi phạm nghiêm trọng được thực hiện do lỗi cố ý;
- Vật, tiền, hàng hóa, phương tiện là tang vật trực tiếp của vi phạm hành chính hoặc được trực tiếp sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính, mà nếu không có vật, tiền, hàng hóa, phương tiện này, thì không thể thực hiện được hành vi vi phạm
Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm, vật thuộc loại cấm lưu hành, thì phải quy định tịch thu
Trang 34đ) Trục xuất
Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trục xuất vừa là hình thức xử phạt chính, vừa là hình thức phạt bổ sung Trục xuất là hình thức xử phạt chính khi được áp dụng độc lập hoặc áp dụng với hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn và tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Hình thức này là hình thức xử phạt bổ sung khi được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính khác
1.2.2.3 Quy định biện pháp khắc phục hậu quả
Trong nhiều trường hợp ngoài việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, các tổ chức, cá nhân khi vi phạm hành chính còn có thể bị
áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra Về mặt bản chất, biện pháp này không có tính trừng phạt người vi phạm hành chính mà chỉ nhằm mục đích khắc phục những hậu quả do vi phạm hành chính đã để lại Các biện pháp này bao gồm:
- Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn
- Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm
- Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;
Tiểu kết chương 1:
Trong chương này chúng tôi đã tìm hiểu và làm rõ các quy định của nhà nước về xử phạt vi phạm hành chính mà chủ yếu là các quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Đây là các văn bản hiện nay có giá trị pháp lý
Trang 35cao nhất trong hệ thống văn bản quy định xử phạt vi phạm hành chính Trên
cơ sở tìm hiểu các quy định chung về xử phạt vi phạm hành chính sẽ là tiền đề
để chúng tôi nghiên cứu về việc xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ Cụ thể là nghiên cứu về các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ Vấn đề này sẽ được chúng tôi giải quyết ở chương 2 và chương 3
Trang 36Chương 2 XÁC ĐỊNH CÁC HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƯU TRỮ Ở CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH 2.1 Quy định của nhà nước Việt Nam về vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ
Hiện nay chưa có một văn bản riêng quy định về hành vi vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ Tuy nhiên trong một số văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành có một số quy định về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong công tác lưu trữ và những hành vi bị nghiêm cấm Cụ thể như sau:
2.1.1 Quy định về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ trong công tác lưu trữ
Luật Lưu trữ cũng như các văn bản dưới Luật đã có quy định cụ thể về trách nhiệm của từng đối tượng trong cơ quan, tổ chức Cụ thể:
- Trách nhiệm trong việc lập hồ sơ và nộp lưu trữ hồ sơ, tài liệu vào
Lưu trữ cơ quan, cụ thể: “Người được giao giải quyết, theo dõi công việc của
cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lập hồ sơ về công việc được giao và nộp lưu
hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan” (Điều 9 Luật Lưu trữ)
- Trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức “trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý về lưu trữ, áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thu thập, quản lý, bảo quản và sử dụng tài liệu lưu trữ; ban hành quy chế về công tác lưu trữ của cơ quan, tổ chức mình” (Điều 6 Luật Lưu trữ); cụ thể: “quản lý tài liệu lưu trữ của cơ quan, tổ chức; chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan” (Khoản 2, Điều 9 Luật Lưu trữ); “chỉ đạo, tổ chức việc chỉnh lý tài liệu thuộc phạm vi quản lý” (Khoản 1 Điều 15 Luật Lưu
trữ); “xây dựng, bố trí kho lưu trữ, thiết bị, phương tiện cần thiết và thực hiện
các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ
và bảo đảm việc sử dụng tài liệu lưu trữ” (Khoản 1 Điều 25 Luật Lưu trữ)
Trang 37- Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc sử
dụng tài liệu lưu trữ, cụ thể về quyền: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền sử
dụng tài liệu lưu trữ để phục vụ công tác, nghiên cứu khoa học, lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác” (Khoản 1 Điều 29); “Tài liệu lưu trữ tại các lưu trữ lịch sử được sử dụng rộng rãi, trừ tài liệu thuộc Danh mục tài liệu hạn chế sử dụng và Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật” (Khoản 1 Điều
30) Song song với quyền là nghĩa vụ và trách nhiệm: Cơ quan, tổ chức, cá
nhân sử dụng tài liệu lưu trữ có nghĩa vụ “ Không xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Nộp phí sử dụng tài liệu lưu trữ theo quy định của pháp luật; Thực hiện các quy định của Luật này, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ và các quy định khác của pháp luật có liên quan”; Cơ quan, tổ chức có tài liệu lưu
trữ (Lưu trữ lịch sử, Lưu trữ cơ quan, Thư viện, Bảo tàng) có trách nhiệm
“Chủ động giới thiệu tài liệu lưu trữ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử
dụng tài liệu lưu trữ đang trực tiếp quản lý; Hằng năm rà soát, thông báo tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật đã được giải mật”
Những quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nhiệm của các đối tượng trong công tác lưu trữ là cơ sở yêu cầu các đối tượng phải thực hiện nghiêm túc các quy định của của nhà nước Nếu các đối tượng này không thực hiện đúng thẩm quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm thì cần phải bị xử phạt
2.1.2 Các hành vi bị nghiêm cấm
Nhằm ngăn chặn các hành vi gây hại đến tài liệu lưu trữ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, Điều 8 Luật Lưu trữ đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
“- Chiếm đoạt, làm hỏng, làm mất tài liệu lưu trữ;
- Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ;
- Mua bán, chuyển giao, hủy trái phép tài liệu lưu trữ;
- Sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Trang 38- Mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài trái phép”
Tại Điều 12 Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lưu trữ cũng
có quy định thêm về hành vi bị nghiêm cấm đối với việc quản lý tài liệu lưu
trữ điện tử, đó là: “truy cập, thay đổi, giả mạo, sao chép, tiết lộ, gửi, hủy trái
phép tài liệu lưu trữ điện tử; tạo ra hoặc phát tán chương trình phần mềm làm rối loạn, thay đổi, phá hoại hệ thống điều hành hoặc có hành vi khác nhằm phá hoại phương tiện quản lý tài liệu lưu trữ điện tử”
Tuy nhiên, đây mới chỉ là một số hành vi bị nghiêm cấm quy định trong Luật Lưu trữ và Nghị định số 01/2013/NĐ-CP, bên cạnh đó còn rất nhiều hành vi khác không được quy định trong văn bản mà nếu vi phạm thì sẽ gây hậu quả cho công tác lưu trữ
Như vậy, có thể thấy rằng những quy định trên mới chỉ là một số quy định về việc phải làm và việc không được làm trong công tác lưu trữ Những quy định này là một trong những căn cứ pháp lý để xử phạt những vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ hiện nay nhưng quy định này còn chung chung và chưa đầy đủ Vì vậy cần phải có một văn bản do cơ quan nhà nước
có thẩm quyển (Chính phủ) ban hành, trong đó quy định đầy đủ các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ
2.2 Quy định của một số nước trên thế giới xử phạt vi phạm hành chính
2.2.1 Trung Quốc
Tại Chương V (Chương “Trách nhiệm pháp luật”), điều 24 và 25 Luật Lưu trữ nước CHND Trung Hoa (ngày 01/01/1988) có quy định cụ thể về hình thức xử phạt đối với những hành vi vi phạm những điều khoản được quy
định tại Luật này [26; tr31] Cụ thể như sau:
Điều 24: Đối với một trong những hành vi sau đây, thì cơ quan quản lý lưu trữ thuộc UBND cấp huyện trở lên, cơ quan chủ quản hữu quan căn cứ vào pháp luật để xử phạt hành chính đối với nhân viên chủ quản phụ trách
Trang 39trực tiếp hoặc nhân viên có trách nhiệm trực tiếp khác, trường hợp cấu thành
tội phạm thì căn cứ pháp luật có thể truy cứu trách nhiệm hình sự:
1 Làm hư hỏng, mất mát những hồ sơ, tài liệu thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
2 Tự ý cung cấp, ghi chép, công bố, tiêu hủy những hồ sơ lưu trữ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
3 Sửa chữa, làm giả tài liệu lưu trữ
4 Vi phạm quy định tại điều 16, 17 của Luật này (quy định về bảo quản tài liệu thuộc sở hữu tập thể và cá nhân, quy định cấm bán tài liệu lưu trữ thuộc sở hữu nhà nước, quy định cấm bán tài liệu lưu trữ để kiếm lời, nghiêm cấm bán hoặc tặng cho người nước ngoài), tự ý bán hoặc chuyển nhượng hồ sơ lưu trữ
5 Bán hồ sơ lưu trữ kiếm lời hoặc bán, tặng hồ sơ lưu trữ cho người nước ngoài
6 Làm trái quy định tại điều 10, 11 của Luật này (quy định về giao nộp
hồ sơ tài liệu vào Lưu trữ), lập hồ sơ không theo quy định hoặc chuyển giao
hồ sơ không đúng thời gian
7 Biết rõ hồ sơ được lưu giữ đang gặp phải nguy hiểm nhưng không tìm biện pháp kịp thời, tạo ra những tổn hại cho tài liệu lưu trữ
8 Nhân viên công tác lưu trữ do thiếu trách nhiệm công tác mà gây tổn thất cho tài liệu lưu trữ
Điều 25: Những người mang theo hồ sơ lưu trữ mà bị cấm xuất cảnh hoặc những bản phục chế khác xuất cảnh thì sẽ bị hải quan tịch thu và còn có thể bị xử phạt tiền, đồng thời chuyển giao những hồ sơ lưu và những bản phục chế tịch thu được này cho cơ quan quản lý hành chính lưu trữ; nếu cấu thành tội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Điều 27 của Lệnh số 01 ngày 19 tháng 11 năm 1990 của Tổng cục Lưu trữ nhà nước Trung Quốc về biện pháp thực thi Luật Lưu trữ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định tiến hành xử phạt hành chính đối với các vi phạm sau:
Trang 40- Giữ tài liệu làm của riêng, từ chối giao nộp cho bộ phận lưu trữ, cán
bộ lưu trữ đưa vào lưu trữ đối với những tài liệu, tư liệu được hình thành trong hoạt động công vụ cần được đưa vào Lưu trữ;
- Kiên quyết giao nộp tài liệu lưu trữ vào kho lưu trữ nhà nước không theo quy định của nhà nước;
- Làm trái quy định của nhà nước, tự ý mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi tiếp nhận tài liệu lưu trữ;
- Biết rõ tài liệu lưu trữ được bảo quản đang phải đối mặt với rủi ro những không áp dụng các biện pháp bảo vệ, gây ra tổn thất đối với tài liệu lưu trữ;
- Cán bộ lưu trữ, cán bộ chịu trách nhiệm lãnh đạo công tác lưu trữ xao lãng công việc, gây ra tổn thất đối với tài liệu lưu trữ
- Đối với mọi cá nhân khi thôi trách nhiệm mà biển thủ tài liệu công do mình nắm giữ dù không có ý gian lận đều bị phạt tù 1 năm và nộp phạt 3.750
Eu hoặc một trong hai hình thức trên
- Mọi hành vi tiêu huỷ, chuyển nhượng hoặc bán tài liệu tư đã được phân loại mà không có sự nhất trí của chủ sở hữu và cơ quan quản lý tài liệu
sẽ bị phạt số tiền là 4.500 Eu
Ngoài ra, Luật số 79-18 ngày 03/01/1979 của Lưu trữ Cộng hòa Pháp
về tài liệu lưu trữ cũng quy định các hành vi vi phạm và mức xử phạt đối với những vi phạm quy định về tài liệu lưu trữ tư nhân, bao gồm các hành vi: phá hủy tài liệu lưu trữ tư nhân đã được xếp loại; chuyển nhượng tài liệu lưu trữ
đã được xếp loại mà không thông báo cho cơ quan quản lý lưu trữ biết; bán tài