SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG MÔN ĐỊA LÍ 11 THÔNG QUA PHẦN VÀO BÀI Người thực hiện: Tống Văn T
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG MÔN ĐỊA
LÍ 11 THÔNG QUA PHẦN VÀO BÀI
Người thực hiện: Tống Văn Thành Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa lý
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
Tran g
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GÓP PHẦN NÂNG CAO
HỨNG THÚ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG MÔN ĐỊA LÍ 11
THÔNG QUA PHẦN VÀO BÀI
Người thực hiện: Tống Văn Thành Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa lý
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 21 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 1
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận 2
2.2 Thực trạng dạy học Địa lí tại trường THPT Tĩnh Gia 3 2
2.3 Giải pháp tổ chức thực hiện……… 3
2.4 Hiệu quả của đề tài……… 18
3 Kết luận, khuyến nghị 19
3.1 Kết luận…… ……… 19
3.2 Kiến nghị……….……… 19
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Người thầy giáo có thể say mê giảng bài suốt 45 phút của một tiết học màkhông có cảm giác mệt mỏi Nhưng với học sinh, việc tập trung nghe thầy giảngbài suốt 45 phút trong một buổi học thường có từ 4 - 5 tiết học lại không phải làđiều dễ dàng Hiện tượng uể oải, ngáp vặt, ngủ gục, nói chuyện riêng trong lớpdiễn ra khá phổ biến
Từ thực tế trên, ta thấy trong quá trình dạy học thì việc tạo hứng thú, tạoniềm đam mê học tập là rất quan trọng Khi có được sự hứng thú thì các em sẽtiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và hiểu quả
Trong các môn học ở lớp 11, thì bộ môn Địa lí được học sinh coi là khákhô khan và đơn điệu Chương trình Địa lí 11 các em sẽ đi tìm hiểu khái quátnền kinh tế - xã hội thế giới, địa lí khu vực và quốc gia – là những vấn đề mà các
em nghĩ là xa xôi, các em chưa hiểu tới, Từ những suy nghĩ ban đầu đó sẽ làmcho các em có tâm lí chán học, không có hứng thú đối với bộ môn Đây cũngchính là những lí do làm cho chất lượng dạy – học của thầy và trò chưa đạt kếtquả như mong muốn
Vậy làm sao để tạo hứng thú cho học sinh khi học môn Địa lí 11?
Theo tôi, người giáo viên phải đầu tư cho khâu soạn giảng của mình, phảihướng dẫn học sinh biết cách khám phá tri thức, phải tạo tâm thế thoải mái trongcác tiết học và đôi khi cũng phải hài hước một chút, không dễ dàng nhưng cũngkhông quá cứng nhắc,
Có nhiều cách để tạo hứng thú cho một tiết học, trong đó khâu vào bàicũng góp một phần rất quan trọng
Một phần vào bài hay, lôi cuốn sẽ kích thích được sự tò mò từ học sinh,giúp các em phấn chấn hơn, muốn tìm hiểu xem tiếp sau đó là gì? Và như thế sẽ
có một tiết học thoải mái và đạt kết quả cao
Vì những lí do đó, sau nhiều năm giảng dạy Địa lí 11 tôi muốn chia sẻ
cùng quý thầy cô một số kinh nghiệm được viết trong đề tài:“ Một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong môn địa lí 11
thông qua phần vào bài”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong môn địa lí 11 thông qua phần vào bài” với mục đích:
Nâng cao hiệu quả học tập môn Địa lý trong từng giờ dạy Tạo nguồn hứng thú
để học sinh tập trung và tiếp thu nội dung bài học tốt hơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Hứng thú học tập môn Địa lý của học sinh lớp 11 trường THPT Tĩnh Gia
3 thông qua phần vào bài
Trang 41.4 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: nhằm nghiên cứu cơ sở
lí luận cho đề tài
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: nhằm nắm bắt
được thực trạng dạy và học của bộ môn Địa lí ở trường THPT Tĩnh Gia 3, từ đóthực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
+ Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: việc thống kê và xử lí số liệu để có
những thông số cần thiết đánh giá hiệu quả trước và sau khi thực hiện đề tài
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo” Sự sáng
tạo của nghề dạy học là người thầy phải nghiên cứu, phải tìm hiểu kiến thức, rènluyện kĩ năng dạy học để lôi cuốn học sinh vào bài dạy của mình để rồi từ đó các
em chủ động lĩnh hội kiến thức, biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Để đạt được yêu cầu đó đòi hỏi người giáo viên phải biết “đào sâu” cũngnhư vận dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau không chỉ ở nội dungchính của bài mà cả những phần phụ như vào bài, chuyển ý hay là liên hệ thực
tế Đối với bộ môn Địa lí, trong quá trình dạy học tôi thường sử dụng cácphương pháp sau để vào bài một tiết học mới:
Giải quyết vấn đề
Ở phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một (hay hệ thống) vấn
đề nhận thức, chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề, sau đó giáo viên phốihợp cùng học sinh (hướng dẫn, điều khiển học sinh) giải quyết vấn đề, đi đếnnhững kết luận cần thiết của nội dung học tập
Đàm thoại gợi mở
Là phương pháp, trong đó giáo viên soạn ra câu hỏi lớn, thông báo chohọc sinh Sau đó, chia câu hỏi lớn ra thành nhiều câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệlôgic với nhau, tạo ra những cái mốc trên con đường thực hiện câu hỏi lớn
Trong quá trình dạy học giáo viên có thể sử dụng 6 dạng câu hỏi: nhậnbiết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá
Phương pháp trực quan
Là phương pháp sử dụng tranh ảnh, lược đồ, biểu đồ, mô hình…để minhhọa nội dung kiến thức hoặc cao hơn là thông qua đó học sinh rút ra được kiếnthức cần thiết cho nội dung bài học
Dạy học nhóm
Dạy học nhóm là một hình thức của dạy học, trong đó học sinh của mộtlớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗinhóm tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làmviệc Kết quả của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp
Tóm lại, không có phương pháp nào là tối ưu cho một tiết học, cho nêntùy theo đối tượng học sinh, thời gian, kiến thức…mà giáo viên đưa ra nhữngphương pháp dạy phù hợp nhất, trong đó có phần vào bài mới
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trang 5Chương trình Địa lí 11 gồm hai phần lớn: khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới và địa lí khu vực, quốc gia Trong quá trình dạy học phần vào bài tôi
thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
Cơ sở vật chất kĩ thuật, giáo cụ phục vụ cho việc dạy và học Địa lý đãđược tăng cường Từ bản đồ, tranh ảnh đến máy tính, máy chiếu, ti vi,… giúpquá trình dạy học tốt hơn, trong đó có phần dạy vào bài mới
2.2.2 Khó khăn
Trong chương trình địa lí lớp 11, các em sẽ tìm hiểu về một số châu lục,khu vực và các quốc gia trên thế giới Nội dung học khá đơn giản nhưng nếukhông hướng dẫn học sinh tiếp cận kiến thức đúng thì nó có thể biến thành “đơnđiệu” và trùng lặp gây tâm lí chán nản với học sinh trước khi đi vào tiết học
Những khó khăn lớn mà giáo viên Địa lí gặp khó khăn trong quá trình dạyhọc nói chung và vào bài nói riêng là:
- Những kiến thức về địa lí thế giới, khu vực, quốc gia các em học từ lớp
7, lớp 8 nên để nhớ lại kiến thức cũ là khó khăn Mỗi bài học nếu học sinh
không xem trước bài ở nhà thì nó sẽ trở nên xa lạ và khó tiếp thu bài ở trên lớp
- Để hiểu được những nét khái quát về tự nhiên, dân cư, xã hội và kinh tếcủa các quốc gia hay châu lục đòi hỏi học sinh phải linh hoạt, biết vận dụngnhững kiến thức đại cương từ lớp 10 Các em phải thấy được mối liên hệ gữacác nhân tố đó để phân tích, giải thích một vấn đề Điều này “hơi khó” đối vớinhững học sinh có học lực trung bình và học sinh yếu
- Hiện nay, trong quan điểm của một số học sinh thì môn Địa lí được coi
là môn học phụ, cho nên chưa đầu tư tìm hiểu, suy nghĩ để phát huy hết khảnăng nhận thức của mình trong quá trình học tập
2.3 Giải pháp tổ chức thực hiện
2.3.1 Ý nghĩa của phần vào bài trong một bài học
Vào bài hay còn được gọi là khởi động, định hướng có ý nghĩa rất quantrọng trong một tiết học
Nếu một khởi đầu hay, hấp dẫn nó sẽ thu hút sự chú ý của học sinh từnhững phút đầu tiên Như vậy, có thể nói phần vào bài nhằm tạo tâm thế học tậpcho học sinh trong một tiết học
Trang 6Ngược lại, nếu một vào bài chưa thuyết phục có thể làm học sinh thấtvọng, không muốn hợp tác với giáo viên và ảnh hưởng đến cả quá trình học.Hoặc nếu giáo viên bước vào dạy bài mới mà không vào bài có thể sẽ khôngkích thích được sự tò mò cũng như hứng thú học tập của học sinh.
Trong một tiết học sẽ không có hai lần vào bài, do đó giáo viên cần phải xem xét nhiều yếu tố để quyết định cách mở đầu hiệu quả nhất
2.3.2 Nguyên tắc chung khi vào bài một tiết học mới
Theo tôi, để vào bài trong bộ môn Địa lí 11 phát huy tác dụng và phù hợp
với phương pháp giảng dạy bộ môn cần chú ý một số nguyên tắc chung sau:
Phần vào bài mới phải đặt ở đầu tiết dạy, thường được giáo viên tiếnhành sau khi kiểm tra bài cũ (đối với những bài học liên quan đến nhau) hoặcđầu tiết (đối với các bài bắt đầu của chương mới)
Thời gian vào bài phải phù hợp với nội dung kiến thức dạy bài mới Trongmôn Địa lí 11 nên diễn ra trong khoảng thời gian 2 – 3 phút cho một tiết học
Phần vào bài mang tính chất định hướng bài học, khơi gợi sự tò mò, hứngthú học tập của học sinh vào đầu giờ học nên phải sử dụng hợp lí, không bỏ quanhưng cũng không được lạm dụng Vào bài mới được coi là thành công khi thỏamãn hai yêu cầu: gây hứng thú cho học sinh và gắn kết bài mới
Cũng giống như một đơn vị kiến thức, học sinh sẽ đón nhận phần vào bàitheo hướng tích cực nếu phù hợp với trình độ nhận thức của mình Vì vậy, tùyđối tượng học sinh ở từng lớp mà giáo viên chọn cho mình một cách vào bàithích hợp nhất Điều này yêu cầu giáo viên không được rập khuôn máy móc mộtcách vào bài cho nhiều lớp, nhiều năm học Giáo viên phải sáng tạo, tìm tòi đểmỗi bài học ở mỗi lớp học có một “cánh cửa” đi vào khác nhau
2.3 2 Một số hình thức vào bài trong môn Địa lí 11
a Vào bài bằng phương pháp đặt câu hỏi
Vào bài bằng câu hỏi là giáo viên chuẩn bị trước các câu hỏi, có thể theohình thức đàm thoại gợi mở hoặc nêu vấn đề để học sinh chủ động, tự lực suynghĩ trả lời Giáo viên dựa vào nội dung của câu hỏi để dẫn dắt vào bài mới
Ưu điểm lớn nhất của việc đặt câu hỏi trước khi vào bài mới là giúp học sinhtích cực học tập, không khí lớp học sôi nổi Càng kích thích học sinh học tậphơn nếu giáo viên cho điểm (điểm miệng) cho những câu trả lời hay, có sự sángtạo và hiểu biết Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có hạn chế là mất nhiềuthời gian (vì phụ thuộc nhiều vào câu trả lời của học sinh)
Để phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế của phương pháp này yêu cầugiáo viên phải chuẩn bị trước nội dung và đáp án của câu hỏi Kiến thức trongcâu hỏi phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh từng lớp
Ví dụ 1:
Bài 3 Một số vấn đề mang tính toàn cầu
Đối với bài này tôi sử dụng những câu hỏi đàm thoại để đánh giá trình độnhận thức của học sinh vào bài học (lưu ý : khi đặt câu hỏi, yêu cầu học sinhkhông được mở sách giáo khoa)
Câu 1: Kể tên một số vấn đề toàn cầu mà em biết?
Học sinh trả lời, bổ sung
Trang 7Giáo viên chuẩn kiến thức: Bùng nổ dân số, già hóa dân số, ô nhiễm môi trường,biến đổi khí hậu toàn cầu, khủng bố,…
Câu 2: Theo em, tại sao những vấn đề trên mang tính toàn cầu?
Học sinh trả lời, bổ sung
Giáo viên chuẩn kiến thức: Là vấn đề toàn cầu vì chúng gây ra những hậuquả nghiêm trọng; cần sự hợp tác, chung sức của toàn nhân loại để giải quyết
Giáo viên dẫn dắt vào bài: Bên cạnh xu hướng toàn cầu hóa , khu vực hóa
để phát triển kinh tế - xã hội, ngày nay các quốc gia trên thế giới đang phải đốimặt với một số vấn đề mang tính toàn cầu trên Vậy những vấn đề đó có biểuhiện, nguyên nhân và giải pháp khắc phục gì? Chúng ta cùng bước sang bài 3.Một số vấn đề mang tính toàn cầu
Như vậy, việc đặt câu hỏi ngay trong phần mở đầu bài học này vừa đánhgiá được sự hiểu biết của học sinh đối với bài mới, vừa tạo được không khí họctập sôi nổi và định hướng được những nội dung trong bài học mới
Ví dụ 2:
Bài 5 Một số vấn đề của khu vực và châu lục
Tiết 1 Một số vấn đề của châu Phi
Tiết 2 Một số vấn đề của Mĩ La Tinh
Tiết 3 Một số vấn đề của khu vực Tây Nam Á và khu vực Trung Á
Ở cả 3 tiết này, học sinh đều được tìm hiểu những nét nổi bật về các châulục (châu Phi, Mĩ la tinh) và khu vực (Tây Nam Á, Trung Á) Những nét nổi bậtnày các em đã có thể bắt gặp ở đâu đó trên truyền hình, trên mạng Internet, báochí hay kiến thức ở những năm học trước Vì vậy, để vào bài mới giáo viên cóthể sử dụng câu hỏi sau:
Câu hỏi: Em biết gì về châu Phi?
Gợi ý trả lời:
- Là một châu lục nghèo đói, lạc hậu, có số người nhiễm HIV cao nhất thế giới
- Châu lục mà người dân ở đây có đặc điểm: da đen, tóc xoăn, răng trắng…
- Có nền văn minh lâu đời (văn minh sông Nin), với các kim tự tháp (ở Ai Cập),
- Là châu lục giàu tài nguyên khoáng sản
- Có con sông Amazon, rừng Amazon…
- Là “sân sau” của Hoa Kì
- Là cái nôi của nền bóng đá thế giới : Brazin, Achentina,
- Ý khác
Câu hỏi: Em biết gì về khu vực Tây Nam Á và khu vực Trung Á?
Gợi ý trả lời :
- Là những khu vực giàu có về tài nguyên dầu khí
- Khí hậu khô hạn, nhiều cảnh quan hoang mạc và bán hoang mạc
- Thường xảy ra mâu thuẫn, xung đột sắc tộc, tôn giáo
- Phần lớn dân cư theo đạo Hồi
Trang 8Với câu hỏi Em biết gì…? Ngoài sử dụng cho bài 5 thì giáo viên cũng có
thể sử dụng cho các tiết học về các quốc gia (Hoa Kì, Nhật Bản, Liên Bang Nga,Trung Quốc, Ô-xtrây-li-a)
Ví dụ: Em biết gì về đất nước Liên Bang Nga
Gợi ý trả lời
- Liên bang Nga được tách ra từ Liên bang Xô Viết
- Là đất nước có diện tích lớn nhất trên thế giới
- Được mệnh danh là “xứ sở Bạch Dương”
- Tỉ lệ gia tăng dân số ở mức âm
- Có nhiều thành công trong lĩnh vực “Vũ Trụ”
- Là “người bạn” của Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước
- Ý khác
Ví dụ: Em biết gì về đất nước Ô-xtrây-li-a
Gợi ý trả lời
- Ô-xtrây-li-a là quốc gia nằm ở Bán cầu nam
- Là quốc gia duy nhất trên thế giới chiếm cả một lục địa
- Có nhiều loại động vật đặc trưng, như: Căng-gu-ru, gấu túi, rái mỏ vịt
- Là đất nước có nền kinh tế phát triển
Hạn chế của phần vào bài bằng hình ảnh trực quan là có thể làm cho họcsinh thiếu tập trung và chú ý vào những dấu hiệu cơ bản
Trang 9Để sử dụng hình thức vào bài bằng hình ảnh đạt hiểu quả thì phải có haiđiều kiện sau: Một là, nhà trường phải có phòng máy (máy tính, máy chiếu, loa,
âm li,…) Hai là, giáo viên phải đầu tư soạn giảng, biết sử dụng Power Point,phải tìm ra những hình ảnh phù hợp, tạo sự đa dạng, lôi cuốn nhưng không quálạm dụng
Hầu như tiết học, bài học nào (lí thuyết) giáo viên cũng có thể vào bàibằng phương tiện trực quan Dưới đây tôi xin đưa ra một số ví dụ cụ thể sau:
Ví dụ 1:
Bài 5 Một số vấn đề của châu lục và khu vực
Tiết 1 Một số vấn đề của châu Phi
Các hình ảnh được sử dụng trong phần vào bài (có kèm theo chữ minhhọa và nhạc không lời làm nền để tạo tâm lí thoải mái nhất cho học sinh)
Slide 1
ông Nin
Slide 2
Slide 2
Giáo viên chỉ sử dụng bốn hình ảnh nhưng học sinh sau khi theo dõi có
Châu Phi – nơi có con sông dài nhất
Xa-ha-Kim tự tháp Ai – cập
Nền văn minh sông Nin rực rỡ từ
thời cổ đại
Nhưng hiện nay châu Phi vẫn còn
là châu lục nghèo nàn, lạc hậu.
Trang 10thể thấy được sự tương phản:
- Châu lục có sông dài nhất thế giới (sông Nin) nhưng cảnh quan chính ởchâu Phi là hoang mạc
- Có nền văn minh lâu đời (văn minh sông Nin) nhưng hiện nay người dânvẫn sống trong đói nghèo, lạc hậu
Giáo viên chuyển ý vào bài: Vậy tại sao lại có sự tương phản đó? Nguyênnhân do đâu? Ngoài những đặc điểm trên, châu lục này còn có gì nổi bật về tự
nhiên, kinh tế, xã hội, chúng ta cùng bước vào tìm hiểu bài 5 Một số vấn đề của châu lục và khu vực Tiết 1 Một số vấn đề của châu Phi.
Khi tôi đưa ra phần vào bài này là muốn sử dụng hình ảnh để đặt ra tìnhhuống có vấn đề mà muốn giải quyết nó các em phải học xong tiết học
Ví dụ 2:
Bài 9 Nhật Bản
Tiết 2 Các ngành kinh tế và các vùng kinh tế
Đặc trưng lớn nhất của chương trình Địa lí 11 là khi học về quốc giathường có ba tiết (tiết 1 học về tự nhiên, dân cư và xã hội; tiết 2 học về kinh tế;tiết 3 học thực hành) Phần vào bài của tiết 1 thường được bắt đầu ngay khi vàobài mới, tiết 2 và tiết 3 thường được bắt đầu sau khi kiểm tra bài cũ Để phầnvào bài hay, liên tục thì tôi thường lựa chọn những hình ảnh liên quan đến câuhỏi bài cũ để đưa tiếp các hình ảnh vào bài mới Ưu điểm của cách làm này làhọc sinh không phải chuẩn bị tâm thế mới cho bài học, giúp các em hệ thốngkiến thức bước vào bài mới một cách hiệu quả nhất
Cụ thể, ở tiết 2 của bài 9 Nhật Bản tôi làm như sau:
Bước 1 : kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: a Kể tên 4 hòn đảo lớn của Nhật Bản.
b Phân tích những thuận lợi và khó khăn của vị trí địa lí và điều kiện
tự nhiên Nhật Bản đối với phát triển kinh tế
Học sinh lên bảng trả lời, cho học sinh khác nhận xét, bổ sung
Giáo viên nhận xét, cho điểm
Bước 2 : vào bài
Giáo viên trình chiếu các slide:
Slide 1
Đất nước Nhật Bản được tạo nên bởi 4 hòn đảo lớn (Hô-cai-đô, Hôn-xu, Xi-cô-cư, Kiu-xiu) và hàng nghìn đảo nhỏ
Trang 11Slide 2
Slide 3
Sóng thần
Về tự nhiên, Nhật Bản được biết đến là một đất nước nghèo tài nguyên khoáng sản,
thường xuyên chịu nhiều thiên tai: động đất, núi lửa, sóng thần…
Động đất
Núi lửa Sakurajima
Thuận lợi lớn nhất mà vị trí địa lí và tự nhiên đem lại cho đất
nước này là phát triển tổng hợp kinh tế biển.