1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn địa lí lớp 11 ở trường THPT thạch thành 2

17 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 405 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, ở trong các trường phổ thông một thực trạng đáng buồn là hầu hết các em học sinh vẫn còn xem nhẹ và đều chưa yêu thích môn học Địa Lí trong đó có Địa lí lớp 11 do nhiều

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

1 Mở đầu 1.1

1.2 1.3 1.4

Lí do chọn đề tài

Mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

3

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 6

3 Kết luận,

kiến nghị

Tài liệu tham khảo

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ DẠNG BẢNG TRONG DẠY - HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài:

Xuất phát từ thực tiễn của việc đổi mới CT - SGK Địa lí lớp11, thực tiễn của việc giảng dạy môn Địa lí ở lớp11 trong những năm vừa qua Khuynh hướng dạy học phát triển nhằm chuyển từ trạng thái học tập thụ động sang chủ động lĩnh hội tri thức ở học sinh

Hiện nay, ở trong các trường phổ thông một thực trạng đáng buồn là hầu hết các em học sinh vẫn còn xem nhẹ và đều chưa yêu thích môn học Địa Lí trong

đó có Địa lí lớp 11 do nhiều nguyên nhân khác nhau như tư tưởng không liên quan đến việc thi Trung học phổ thông quốc gia…

Vì vậy là một giáo viên giảng dạy môn Địa lý trong trường Phổ thông với mong muốn tìm ra cho mình một phương pháp dạy học tích cực, phù hợp với đối tượng học sinh Phần nào làm thay đổi suy nghĩ của các em về môn Địa lý, giúp các em cảm thấy dễ học, dễ hiểu, tăng hứng thú và đem lại hiệu quả khi học bộ môn nói chung và Môn Địa Lí lớp 11 nói riêng

Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “ Sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy - học nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn Địa lí lớp 11 ở trường THPT Thạch Thành 2”

1.2 Mục đích nghiên cứu :

Giúp học sinh có khả năng nhận thức kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức

từ đó tạo ra hứng thú cho bản thân trong quá trình học tập để có kết quả cao hơn

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp sơ đồ dạng bảng cho Giáo viên và học sinh trong

dạy - học môn Địa lí ở lớp 11 tại trường THPT Thạch Thành 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu xây dựng trên cơ sở lí thuyết

+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

+ Phương pháp thống kê toán học

Trang 3

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận.

Trên cơ sở yêu cầu của Bộ, Sở GD & ĐT và nhà trường về việc áp dụng các phương pháp dạy học tích để đem lại hứng thú và hiệu quả cao trong học tập của học sinh Dựa vào chương trình cụ thể của SGK và yêu cầu thực tiễn, tôi đã lựa chọn sử dụng sơ đồ nói chung và sơ đồ dạng bảng nói riêng trong dạy – học môn Địa lí lớp 11 ở một số bài cụ thể

2.1.1 Khái quát về sơ đồ:

- Khái niệm về sơ đồ.

Sơ đồ là một trong những hình thức trực quan hóa kiến thức Sơ đồ tạo thành một tổ chức hình, khối phản ánh cấu trúc và logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể

- Một số loại sơ đồ.

Trong giảng dạy Địa lí PTTH có một số loại sơ đồ được dùng như:

+ Sơ đồ cấu trúc

+ Sơ đồ dạng bảng

+ Sơ đồ quá trình

+ Sơ đồ logic

- Tuy nhiên giáo viên thường rất ít khi sử dụng chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong 1 tiết giảng dạy là rất thấp

- Việc nghiên cứu và thử nghiệm để đi đến ứng dụng cho giáo viên dạy Địa lí có

ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn

2.1.2 Khái quát về sơ đồ dạng bảng :

- Khái niệm: Sơ dạng bảng là dạng sơ đồ bao gồm hệ thống các cột, dòng

tùy thuộc vào nội dung cần trình bày mà số lượng nhiều hay ít thể hiện sẵn các tiêu chí của vấn đề đặt ra

- Ý nghĩa: Sơ đồ dạng bảng là một trong các loại sơ đồ dễ dàng sử dụng

Trang 4

sơ đồ dạng bảng trong dạy – học, học sinh có thể dễ dàng thấy được nhiệm vụ của mình phải thực hiện( Vì đã được Giáo viên xác định rõ đối tượng và các tiêu chí cần đạt được khi tìm hiểu đối tượng trên sơ đồ) Như vậy, học sinh đã được đưa ra tình huống trước và trên cơ sở được gợi ý các em sẽ dựa vào kênh chữ, kênh hình trong sách giáo khoa để tìm hiểu nội dung cần đạt Do đó các em sẽ chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức hơn việc chỉ được truyền đạt theo phương pháp truyền thống Vì vậy, học sinh sẽ tích cực trong học tập hơn vì thế kết quả học tập cuối cùng của học sinh sẽ hiệu quả hơn

2.2 Thực trạng vấn đề.

Chương trình Địa lí lớp 11 gồm 2 phần: Phần A: Khái quát nền kinh tế – xã hội Thế giới; Phần B: Địa lí khu vực và quốc gia Với thời lượng 1 tiết

trên tuần nên phần lớn kiến thức chỉ được đề cập một cách khái quát Để nắm bắt được nội dung ngoài kiến thức được cung cấp trong SGK học sinh cần phải tự tìm hiểu cập nhật cho mình thông qua phương tiện tivi, đài báo,mạng…Tuy nhiên phần lớn với ý thức học tập của học sinh ở nông thôn miền núi thì rất hạn chế Từ đó các em cảm thấy không hứng thú trong học tập, mỗi tiết học trở nên nhàm chán, nặng nề, học với tư tưởng đối phó

Trong quá trình giảng dạy giáo viên ít khi sử dụng sơ đồ để truyền đạt kiến thức cho học sinh Vì thế làm cho học sinh khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức Điều này thể hiện qua kết quả kiểm tra những năm học trước, nhìn chung kết quả học tập của các em thấp Và tôi đã thống kê thực trạng ba trong các lớp tôi trực tiếp dạy năm học trước kết quả đạt được như sau:

Về chất lượng:

Tôi thống kê ở 3 lớp (11B2, 11B3 và 11B5) với tổng số học sinh là 138, trong đó:

Học

Trang 5

quả lượng5 (%)3,6 lượng48 34,8(%) lượng74 53,6(%) lượng (%)11 8,0

Về nhận thức:

Trong quá trình tìm hiểu tôi nhận thấy khả năng khái quát, tổng hợp hệ thống

và so sánh kiến thức của học sinh còn yếu Không nắm bắt được yêu cầu đặt ra

là do một số nguyên nhân sau:

- Đối với học sinh:

+ Ý thức tự giác chưa cao, chưa chủ động trong học tập lĩnh hội kiến thức

+ Chưa có phương pháp học tập đúng đắn

+ Chưa thấy được các mối quan hệ trong Địa lí

- Đối với giáo viên:

+ Chưa tích cực trong việc đổi mới phương pháp cũng như hình thức dạy học + Chưa chịu khó đầu tư trong chuẩn bị bài giảng trong các tiết dạy thường ngày ( không phải tiết thao giảng)

+ Kiến thức cũng như khả năng áp dụng tin học trong soạn bài và giảng dạy còn nhiều hạn chế…

- Đối với nhà trường:

Còn thiếu phương tiện, thiết bị hiện đại phục vụ cho việc áp dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực trong đó có sử dụng sơ đồ trong dạy học…

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện

2.3.1 Giới thiệu một số loại sơ đồ thường gặp trong dạy học Địa lí:

Trang 6

*Sơ đồ cấu trúc: là loại sơ đồ thể hiện các thành phần, yếu tố trong một chỉnh

thể và mối quan hệ giữa chúng Ví dụ:

SƠ ĐỒ CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

*Sơ đồ dạng bảng: Là loại sơ đồ thể hiện mối liên hệ, sự so sánh hoặc nêu đặc

điểm của các đối tượng theo một cấu trúc nhất định

- Ví dụ dạy Bài 6: HỢP CHÚNG QUỐC HOA KÌ – TIẾT 1: TỰ NHIÊN

VÀ DÂN CƯ.

Nội dung phần II – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:

1 Phần lãnh tổ Hoa Kì nằm ở trung tâm Bắc Mĩ phân hóa thành 3 vùng tự nhiên có thể xây dựng thành bảng tổng hợp kiến thức như sau:

Các

điều

kiện tự

nhiên

Phạm

vi

- Gồm vùng núi

Cooc-đi-e và các

đồng bằng ven

Thái Bình Dương

- Nằm giữa dãy A-pa-lát và dãy Rốc-ki

- Gồm dãy A-pa-lat

và các đồng bằng ven Đại tây Dương

Địa

hình

- Gồm các dãy

núi cao trên

2000m, chạy song

song theo hướng

Bắc – Nam

- Xen giữa là các

bồn địa và cao

nguyên

- Phía Tây và phía Bắc là gò đồi thấp

- Phía Nam là đồng bằng châu thổ rộng lớn

- Dãy núi già A-pa-lat, có nhiều thung lũng cắt ngang, độ cao trung bình

- Các đồng bằng ven Đại Tây Dương khá rộng lớn

Khí hậu - Ở các bồn địa và - Các bang phía bắc - Khí hậu mang tính

Trang 7

cao nguyên có khí

hậu khô hạn

- Ven Thái Bình

Dương có khí hậu

cận nhiệt và ôn

đới hải dương

có khí hậu ôn đới và các bang ven vịnh Mê-hi-cô có khí hậu cận nhiệt

chất ôn đới hải dương và cận nhiệt

Tài

nguyên

- Khoáng sản

phong phú như

vàng, đồng, bôxit,

chì

- Trữ lượng thủy

năng lớn, diện

tích rừng, đồng cỏ

và đất trồng

- Khoáng sản phong phú như than, sắt, dầu khí

- Đồng cỏ rộng lớn, đất đai màu mỡ

- Khoáng sản trữ lượng lớn như than

và quặng sắt

- Trữ lượng thủy năng khá lớn, đất đai màu mỡ

*Sơ đồ quá trình: là loại sơ đồ thể hiện vị trí các thành phần, các yếu tố và các

mối quan hệ của chúng trong quá trình vận động Ví dụ:

SƠ ĐỒ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT QUANH MẶT TRỜI VÀ CÁC MÙA Ở BẮC BÁN CẦU

*Sơ đồ logic: là loại sơ đồ biểu hiện mối quan hệ về nội dung bên trong của

các sự vật - hiện tượng địa lí Ví dụ:

Trang 8

SƠ ĐỒ TUẦN HOÀN CỦA NƯỚC TRÊN TRÁI ĐẤT

2.3.2 Cách sử dụng sơ đồ dạng bảng:

Giáo viên dựa vào chính sơ đồ để soạn ra các tình huống dạy học cũng như các thao tác, phương pháp dạy; lúc này sơ đồ chính là mục đích - phương tiện truyền đạt của giáo viên và lĩnh hội kiến thức của học sinh

Trong khi sử dụng giáo viên phải hình thành rõ nội dung của sơ đồ thể hiện mối quan hệ nhân qủa, mối quan hệ tác động hoặc sự liên kết các đơn vị kiến thức trên sơ đồ

2.3.3 Sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy học một số bài Địa lí lớp 11 - Cơ bản.

Trên cơ sở của việc đưa ra một số loại sơ đồ nêu trên tôi đã áp dụng để đưa vào sử dụng dạng sơ đồ thường gặp nhất trong quá trình dạy học và cũng dễ dàng áp dụng ở nhiều bài trong nhiều tiết dạy chương trình Địa lí lớp 11- đó là

sơ đồ dạng bảng.

Ví dụ 1 Dạy bài 1 Phần II Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế – xã hội của các nhóm nước Giáo viên đưa ra sơ đồ dạng bảng yêu cầu học sinh

sau khi dựa vào phần kênh chữ kết hợp bảng số liệu trình bày dưới dạng bảng

và kết quả cần đạt được như sau:

Trang 9

Giữa các nước Phát triển và Đang phát triển có sự chênh lệch lớn về các chỉ số Kinh tế – xã hội

Tiêu chí Nhóm nước Phát triển Nhóm nước Đang phát

triển GDP/Người Cao và rất cao Thấp hơn mức trung bình của

Thế giới và thấp hơn nhiều các nước Phát triển

Cơ cấu GDP

theo khu vực

kinh tế

Tỉ trọng khu vực III>70%, khu vực I rất nhỏ <= 2%

Tỉ trọng khu vực I còn cao: 25%, khu vực III còn

thấp<50%

Tuổi thọ trung

bình

Cao > 75 tuổi Thấp, nhất là các nước Châu

Phi < 50 tuổi

HDI Cao, năm 2003 là 0,8555 Thấp, năm 2003 là 0,6694 Sau khi học sinh trình bày song không những các em thấy được các tiêu chí kinh tế – xã hội mỗi nhóm nước mà còn có thể so sánh giữa hai nhóm nước

Ví dụ 2 Bài 2: “XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA, KHU VỰC HÓA NỀN KINH TẾ” GV có thể sử dụng sơ đồ sau để yêu cầu HS trình bày hệ quả của Toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế.

Tích cực - Thúc đẩy sản xuất phát triển

và tăng trưởng kinh tế toàn cầu

- Đẩy nhanh đầu tư và khai thác triệt để khoa học công nghệ

- Tăng cường sự hợp tác giữa các nước

- Tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, hiện đại hóa nền kinh tế

- Tăng cường tự do hóa thương mại, dịch vụ

- Mở rộng thị trường mỗi nước, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa

Tiêu cực - Làm tăng khoảng cách giàu

nghèo

- Ảnh hưởng đến sự tự chủ kinh tế, suy giảm quyền lực quốc gia

Như vậy sau khi học sinh trình bày dưới dạng bảng xong các em vừa thấy được hệ quả của mỗi xu hướng vừa thấy được sự khác nhau giữa chúng

Ví dụ 3 Khi dạy phần “ Một số vấn đề Dân cư và xã hội Châu Phi” giáo viên đưa ra các vấn đề cần đạt được như: Trình bày đặc điểm, ảnh hưởng

và giải pháp cho các vấn đề dân cư – xã hội Châu Phi Sau khi chia lớp

Trang 10

thành 2 nhóm tìm hiểu một vấn đề, GV đưa ra sơ đồ dạng bảng và yêu cầu

HS hoàn thành và kết quả các em cần đạt được như sau:

Các vấn

đề

Đặc

điểm

- Tỉ suất sinh, tỉ suất tử, tỉ suất gia tăng tự nhiên cao nhất Thế giới

- Tuổi thọ trung bình thấp

- Đa số các nước có dân số đông

- Xung đột tôn giáo, sắc tộc thường xuyên xảy ra

- Dịch bệnh: HIV, Ebola…

- Trình độ dân trí thấp, nhiều hủ tục lạc hậu…

Ảnh

hưởng

- Gây sức ép lớn cho kinh tế – xã hội, tài nguyên – môi trường

- Gây khó khăn cho phát triển kinh tế

Giải

pháp

Giảm tỉ lệ sinh Cần sự giúp đỡ của

cộng đồng quốc tế

Sau khi được hệ thống thành bảng các em thấy các nội dung mà mình cần phải nắm được một cách dễ dàng hơn nhiều so với việc không trình bày dưới dạng bảng

Ví dụ 4 Khi dạy phần I “ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC TÂY NAM Á VÀ TRUNG Á”, GV chia lớp thành các nhóm tìm hiểu về từng khu vực sau đó đưa

ra sơ đồ dạng bảng và yêu cầu HS dựa vào kênh chữ, kênh hình SGK để hoàn thành và kết quả cuối cùng các em cần đạt được trình bày dưới dạng bảng như sau:

Vị trí địa lí - Nằm ở ngã ba của 3

châu lục Á – Phi – Âu

- Giáp Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, biển đen, biển đỏ

- Nằm ở trung tâm của châu Á

Ý nghĩa của vị

trí

- Có vị trí địa chính trị

quan trọng

- Là cầu nối giữa phương Đông với

Trang 11

phương Tây.

Đặc điểm tự

nhiên

- Có khí hậu khô nóng

- Cảnh quan chủ yếu là hoang mạc, bán hoang mạc

- Nhiều dầu mỏ, khí tự

nhiên

- Khí hậu lục địa khô hạn

- Cảnh quan nhiều thảo nguyên, hoang mạc

- Có dầu khí, muối mỏ, uranium

Đặc điểm dân

cư - xã hội

- Là cái nôi của nền văn minh Thế giới

- Đa số dân cư theo đạo hồi

- Xung đột, chiến tranh, khủng bố thường xuyên xảy ra

- Đa dân tộc, mật độ dân số thấp

- Phần lớn dân cư theo đạo hồi

- Chính trị thiếu ổn định

Qua việc sử dụng sơ đồ dạng bảng học sinh không những nắm được một

số đặc điểm về vị trí, tự nhiên và dân cư – xã hội của từng khu vực một cách dễ dàng mà còn có thể so sánh giữa hai khu vực

Ví dụ 5 Khi dạy mục II: Điều kiện tự nhiên “Bài 8 – Liên Bang Nga - Tiết

1 Tự nhiên và dân cư”; giáo viên chia lớp thành hai nhóm yêu cầu dựa vào

SGK phần kênh chữ kết hợp với bản đồ để hoàn thành bảng sau Sau khi học sinh trao đổi trong nhóm, các em sẽ cử đại diện lên trình bày và hoàn thiện bảng kiến thức như sau:

Yếu tố

Phạm vi Từ sông Ê-nit-xây về phía Tây Từ sông Ê-nit-xây về phía

Đông

Đặc điểm

địa hình

Phần lớn là đồng bằng, ngoài

ra còn có dãy núi già Uran

Phần lớn là núi và cao nguyên

Đặc điểm

khí hậu

Bao gồm: kiểu khí hậu ôn đới hải dương, cận nhiệt đới và cận

Gồm khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới lục địa và cận cực

Trang 12

Đặc điểm

sông ngòi

Có các con sông lớn như sông Ô-bi, sông Vôn-ga chảy về phía Nam

Có nhiều sông lớn chảy lên phía Bắc như sông Lê-na Ngoài ra có hồ nước ngọt Bai-can sâu nhất thế giới

Đất và

rừng

Có đất đen ở đồng bằng Đông

Âu và rừng taiga

Đất pôt –dôn nghèo chất dinh dưỡng Diện tích rừng tai-ga rộng lớn với trữ lượng lớn nhất thế giới

Khoáng

sản

Nhiều dầu khí, than và sắt Phong phú nhưng nhiều

nhất là vàng, dầu khí, than kim cương…

Như vậy thông qua cách truyền đạt kiến thức dạng bảng học sinh không những nắm kiến thức là theo tự nhiên Liên Bang Nga được chia thành hai phần Phía Tây và Phía Đông, ranh giới là sông Ê-nit-xây, nắm được đặc điểm tự nhiên của mỗi bộ phận mà các em còn dễ dàng so sánh được đặc điểm tự nhiên của hai bộ phận lãnh thổ của LB Nga

Tương tự như vậy giáo viên có thể áp dụng sơ đồ dạng bảng trong nhiều

phần học của các bài khác trong phần Địa lí lớp 11 như: Phần đặc điểm tự nhiên Trung Quốc, đặc điểm tự nhiên khu vực Đông Nam Á… để đem lại hiệu quả cao hơn trong học tập

2.4 Hiệu quả.

Năm học này sau khi được Chuyên môn nhà trường phân công dạy lớp 11,

tôi đã nung nấu việc đưa vào dạy – học sơ đồ dạng bảng ở những bài những

phần có thể áp dụng Qua việc thực hiện sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy học một số bài ở lớp 11 trong các lớp tôi đang trực tiếp giảng dạy năm học này Tôi chọn ba lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống như năm trước gồm lớp 11B2,11B4, 11B6 và đưa vào thực nghiệm ở ba lớp là 11B1, 11B3, 11B7 Bản thân tôi nhận thấy các em hiểu bài hơn, lớp học sôi nổi, tích cực hơn Vì thế kết quả thu được cũng tốt hơn so với các lớp không áp dụng sơ đồ dạng bảng vào quá trình dạy học Kết quả cụ thể như sau:

Ngày đăng: 13/10/2017, 21:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Chưa tích cực trong việc đổi mới phương pháp cũng như hình thức dạy học. + Chưa chiu khó đầu tư trong chuẩn bi bài giảng trong các tiết dạy thường ngày ( không phải tiết thao giảng). - Sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy   học nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn địa lí lớp 11 ở trường THPT thạch thành 2
h ưa tích cực trong việc đổi mới phương pháp cũng như hình thức dạy học. + Chưa chiu khó đầu tư trong chuẩn bi bài giảng trong các tiết dạy thường ngày ( không phải tiết thao giảng) (Trang 5)
Trong khi sử dụng giáo viên phải hình thành rõ nội dung của sơ đồ thể hiện mối quan hệ nhân qủa, mối quan hệ tác động hoặc sự liên kết các đơn vi kiến thức trên sơ đồ. - Sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy   học nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn địa lí lớp 11 ở trường THPT thạch thành 2
rong khi sử dụng giáo viên phải hình thành rõ nội dung của sơ đồ thể hiện mối quan hệ nhân qủa, mối quan hệ tác động hoặc sự liên kết các đơn vi kiến thức trên sơ đồ (Trang 8)
ra sơ đồ dạng bảng và yêu cầu HS dựa vào kênh chữ, kênh hình SGK để hoàn thành và kết quả cuối cùng các em cần đạt được trình bày dưới dạng bảng như  sau: - Sử dụng sơ đồ dạng bảng trong dạy   học nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn địa lí lớp 11 ở trường THPT thạch thành 2
ra sơ đồ dạng bảng và yêu cầu HS dựa vào kênh chữ, kênh hình SGK để hoàn thành và kết quả cuối cùng các em cần đạt được trình bày dưới dạng bảng như sau: (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w